1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY XI MĂNG HẢI PHÒNG

62 244 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng về tổ chức công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty xi măng Hải Phòng
Tác giả Phạm Thị Mai Anh
Trường học Viện Đại Học Mở Hà Nội
Thể loại Luận văn
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 116,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phục vụ cho công tác tính giá thành, chi phí sản xuất tại công ty được phân loại thành 3 khoản mục: chi phí nguyên vật liệu NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản x

Trang 1

THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN

HẢI PHÒNG

I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XI MĂNG HẢI PHÒNG:

1 Đặc điểm tình hình chung của Công ty Xi măng Hải Phòng:

Công ty Xi măng Hải Phòng thành lập theo quyết định số 353/BXD-TCLĐ ngày 09/08/1993 của Bộ trưởng bộ Xây dựng Công ty là doanh nghiệp nhà nước, là đơn vị thành viên hạch toán kinh tế độc lập thuộc Tổng công ty Xi măng Việt Nam, tổ chức và hoạt động theo điều lệ của Tổng công ty.

* Trụ sở: Số 1 đường Hà Nội, phường Thượng lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

* Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh: sản xuất cung ứng xi măng, bao bì và khai thác đá.

2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Xi măng Hải Phòng.

Tiền thân của công ty xi măng Hải Phòng là nhà máy xi măng Hải Phòng được khởi công xây dựng vào ngày 25 tháng 12 năm 1899 trên vùng ngã ba sông Cấm và kênh đào Hạ Lý Hải Phòng Đây là nhà máy xi măng lớn đầu tiên tại Đông Dương được người Pháp khởi công xây dựng Trong thời kỳ Pháp thuộc, xi măng Hải Phòng là cơ sở duy nhất ở Đông Dương sản xuất xi măng phục vụ chính cho chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Đến năm 1955, chính phủ cách mạng tiếp quản và đưa vào sử dụng, sản lượng cao nhất trong thời kỳ Pháp thuộc là 39 vạn tấn Đến năm 1961 nhà máy khởi công xây dựng mới 2 dây chuyền lò quay Đến năm 1964 với toàn bộ dây chuyền 7 lò quay nhà

Trang 2

máy đã sản xuất được 592.055 tấn xi măng, là mức cao nhất trong những năm hoà bình xây dựng Với sự giúp đỡ của nước bạn Rumani, năm 1969 nhà máy sửa chữa và xây dựng được 3 lò nung mới Thời kỳ này sản lượng cao nhất là

67 vạn tấn Tháng 8 năm 1993, theo quyết định của nhà nước sáp nhập nhà máy

xi măng Hải Phòng với số vốn điều lệ là 76.911.593 triệu với ngành nghề sản xuất, kinh doanh xi măng, vận tải, sửa chữa, khai thác đá Hiện nay công ty có hơn 40 cửa hàng bán lẻ và trên 160 cửa hàng đại lý rải rác khắp nội ngoại thành Hải Phòng ngoài ra công ty còn có một chi nhánh ở Thái Bình Công ty là nơi sản xuất và cung ứng xi măng với chất lượng cao, khối lượng lớn, ngoài sản xuất xi măng đen công ty còn sản xuất xi măng trắng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của công ty

3 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty xi măng Hải Phòng.

Xi măng Hải Phòng sản xuất xi măng với khối lượng lớn, sản xuất kiểu liên tục, có sản xuất theo đơn đặt hàng.

Trang 3

Công ty xi măng Hải phòng có khu vực sản xuất rộng 5000m2 với tổng số cán bộ công nhân viên là 1.956 người trong đó số nhân viên ở bộ phận quản lý chiếm 25% người Hoạt động sản xuất của công ty được tổ chức theo từng phân xưởng, dưới các phân xưởng bố trí thành tổ, đội nhỏ Công ty có:

+ 4 phân xưởng sản xuất chính: Phân xưởng máy đá, Phân xưởng than mịn, Phân xưởng lò nung, Phân xưởng nghiền đóng bao.

+ 4 phân xưởng sản xuất phụ trợ: Phân xưởng cơ khí, Phân xưởng động lực, Phân xưởng lắp ráp, Phân xưởng sửa chữa công trình

+ Bộ phận phục vụ sản xuất: tổng kho, kho sản phẩm.

Ngoài ra công ty còn có 5 xí nghiệp phụ thuộc: xí nghiệp đá Tràng Kênh, xí nghiệp vận tải và sửa chữa thuỷ, xí nghiệp bao bì xi măng, chi nhánh Thái Bình, và ban quản lí dự án nhà máy xi măng Hải Phòng mới.

Các phân xưởng sản xuất chính và phân xưởng sản xuất phụ tạo thành một

hệ thống sản xuất hoàn chỉnh, hỗ trợ cho nhau trong quá trình tạo ra sản phẩm.

4 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.

Hiện nay công ty xi măng Hải Phòng có 2 dây chuyền sản xuất xi măngDây chuyền sản xuất xi măng Đen có 4 lò là lò số 6,7,8,9

Dây chuyền sản xuất xi măng Trắng: có lò số 3

Cả 2 dây chuyền đều sản xuất theo công nghệ lò quay phương pháp ướt vớisản lượng 400.000đến 500.000 tấn xi măng Đen/ năm

Từ 20.000đến 40.000 tấn xi măng Trắng / năm

Sau đây là sơ đồ tổng quát phản ánh quy trình công nghệ sản xuất xi măngĐen (sản phẩm chủ yếu) của công ty xi măng Hải Phòng:

Trang 4

Ủ Clinker

Lò nung clinker

Lò nung

Quặng sắtThan

Trang 5

Đặc điểm của quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm đã chi phối đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty Xi Măng Hải Phòng:

Mặc dù xi măng đen và xi măng trắng được sản xuất trên hai dây chuyền khác nhau, nhưng đều tuân theo quy trình công nghệ lò quay phương pháp ướt Việc tổ chức sản xuất xi măng đen và xi măng trắng được diễn ra tại từng phân xưởng theo từng công đoạn sản xuất Nghiền đá tại phân xưởng máy đá, nghiền than mịn tại phân xưởng than, sản xuất Clinker tại phân xưởng lò nung Ở mỗi phân xưởng thực hiện sản xuất cả hai sản phẩm xi măng đen và xi măng trắng trên hai dây chuyền sản xuất khác nhau Do đó, đối tượng kế toán tập hợp chi phí là theo từng công đoạn sản xuất hay theo từng phân xưởng.

Đối với những chi phí nào có liên quan trực tiếp tới từng loại sản phẩm xi măng đen và xi măng trắng thì được tập hợp trực tiếp, còn với những chi phí như bi đạn, gạch chịu lửa, dầu nhờn, mỡ máy xuất dùng cho từng phân xưởng

mà không hạch toán riêng được thì kế toán tiến hành phân bổ cho từng sản phẩm.

Do đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, kiểu liên tục, chi phí nguyên vật liệu tham gia vào nhiều quá trình sản xuất sản phẩm và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất, do vậy công ty đã lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp Mặt khác, với quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, chế biến kiểu liên tục, sản phẩm được tạo ra từ nhiều phân xưởng và được chế biến ở các phân xưởng tiếp theo Cứ như vậy cho đến khi tạo thành thành phẩm Như vậy, để phù hợp với

quy trình công nghệ đó công ty đã lựa chọn phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm Với phương pháp này vừa tạo điều

kiện cho doanh nghiệp quản lý giá thành cho từng sản phẩm, vừa tạo điều kiện

để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.

II CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ Ở CÔNG TY XI MĂNG HẢI PHÒNG

1 Tổ chức bộ máy quản lý ở công ty xi măng Hải Phòng.

Công ty xi măng Hải Phòng đựơc tổ chức theo mô hình cơ cấu trực tuyến từ ban Giám đốc xuống các phòng ban phân xưởng.

Đứng đầu là giám đốc công ty, người có quyền hành cao nhất, chịu trách nhiệm trước cơ quan chủ quản, trước nhà nước và trước tập thể công nhân Giúp việc cho giám đốc là các phó giám đốc chuyên ngành Công ty có: 4 Phân xưởng chính, 4 phân xưởng phụ trợ, 2 đơn vị phụ trách đầu vào, 1 đơn vị phụ trách tiêu thụ, 8 phòng ban quản lý Ngoài ra còn có 5 đơn vị phụ thuộc là: xí nghiệp đá Tràng Kênh, xí nghiệp vận tải và sửa chữa Thuỷ, xí nghiệp bao bì xi

Chất trợnghiền

Trang 6

măng, Chi nhánh Thái Bình, Ban quản lý dự án nhà máy Xi măng Hải Phòng mới.

Mỗi phòng ban phân xưởng đều có trưởng và phó phòng giúp giám đốc phụ trách ngạch chuyên môn của mình.

Cụ thể:

* Giám đốc: phụ trách trực tiếp các phân xưởng chính: Máy đá, Than, Lò nung, ngoài ra còn trực tiếp phụ trách các phòng ban: phòng kế hoạch, phòng kế toán tài chính, phòng tổ chức lao động, phòng vật tư, phòng xây dựng cơ bản, ban thanh tra pháp chế, phòng kinh doanh.

* Phó giám đốc cơ điện: trực tiếp chỉ đạo khối sản xuất như: phòng kỹ thuật cơ điện, phòng điều độ sản xuất, phòng an toàn, phân xưởng cơ khí, động lực, lắp ráp.

* Phó giám đốc công nghệ: Trực tiếp chỉ đạo khối kỹ thuật và các phòng ban như: phòng kỹ thuật sản xuất, phòng KCS, phân xưởng Máy đá, Than, Lò nung, Nghiền đóng bao.

* Các phòng ban:

+ Phòng kinh doanh: tiếp cận và tìm hiểu thị trường, giúp phòng kế hoạch xây dựng kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, ký hợp đồng với khách hàng + Phòng tài chính kế toán: Hạch toán kế toán, xây dựng kế hoạch tài chính,

tổ chức triển khai sử dụng vốn, kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính của công ty.

+ Phòng KCS: Kiểm tra chất lượng sản phẩm, giải quyết khiếu nại, tổ chức theo dõi về chất lượng sản phẩm.

+ Phòng vật tư: theo dõi tình hình sử dụng, cung ứng vật tư của toàn công ty.

+ Văn phòng: giải quyết các công việc mang tính chất hành chính.

+ Phân xưởng Lò nung: tổ chức sản xuất Clinker.

+ Phân xưởng Nghiền đóng bao: tổ chức sản xuất xi măng Đen và Trắng từ Clinker đen, trắng, cung cấp xi măng bột, xi măng bao cho tiêu thụ và kho thành phẩm.

+ Phân xưởng Cơ khí: gia công, chế tạo, phục hồi cơ khí các chi tiết, thiết

bị, máy móc.

+ Phân xưởng Động lực: sửa chữa, lắp đặt hệ thống thiết bị máy móc phần thiết bị điện trong dây truyền sản xuất và cung cấp điện cho toàn công ty.

Trang 8

Kế toán trưởng

Phòng kế toán tài chính Kế toán các xí nghiệp phụ thuộcKế toán ban quản lý dự án

2 Tổ chức công tác kế toán tại công ty xi măng Hải Phòng.

2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán.

Xi măng Hải Phòng là một công ty hoạt động với qui mô lớn trên nhiều địa

bàn, tổ chức sản xuất kinh doanh thành nhiều phân xưởng, xí nghiệp, chi nhánh

với nhiệm vụ chính là sản xuất, cung ứng xi măng, bao bì và khai thác đá Do

đó, để phù hợp vớí điều kiện sản xuất kinh doanh công ty đã lựa chọn mô hình

tổ chức công tác kế toán vừa tập trung, vừa phân tán.

Theo mô hình này, công việc phòng kế toán các đơn vị phụ thuộc thực hiện

tương đối đầy đủ công tác kế toán theo sự phân cấp của phòng kế toán trung

tâm như thu nhận, lập chứng từ, kiểm tra, phân loại và nhập chứng từ vào máy,

hệ thống hoá thông tin trên máy với chương trình được cài đặt để truyền dữ liệu

về phòng kế toán trung tâm.

Đối với các bộ phận phụ thuộc ở xa văn phòng, có thể sẽ được công ty phân

cấp cho bộ phận kế toán của các bộ phận chi nhánh đó thực hiện, định kỳ tổng

hợp số liệu gửi về phòng kế toán trung tâm Đối với các bộ phận chi nhánh trực

thuộc gần công ty thì toàn bộ công việc kế toán từ khâu thu nhận, xử lý, luân

chuyển chứng từ, ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán, phân tích hoạt động kinh

doanh đều được tập trung thực hiện ở phòng kế toán trung tâm.

Dưới đây là sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại công ty xi măng Hải Phòng:

8 8

Trang 9

Công ty xi măng Hải Phòng là một công ty lớn với số lượng cán bộ công nhân viên rất đông đảo, mặt khác quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, nguyên vật liệu đầu vào đa dạng, phong phú, sản phẩm đầu ra gồm nhiều loại.

Do vậy yêu cầu về quản lý rất cao, để nắm bắt kịp thời mọi tình hình sản xuất kinh doanh công ty đã tổ chức một đội ngũ cán bộ kế toán đông đảo Phòng kế toán tài chính của công ty có 28 người, trong đó có 16 người công tác tại phòng

kế toán trung tâm và 12 nhân viên kế toán ở các phân xưởng.

Đứng đầu là kế toán trưởng chịu trách nhiệm cao nhất về công tác kế toán tài chính của công ty.

Dưới kế toán trưởng là 2 phó phòng kế toán, trong đó 1 phó phòng phụ trách

kế toán tổng hợp và một phó phòng kế toán phụ trách về tình hình tiêu thụ sản phẩm.

Tại phòng kế toán trung tâm được chia làm 4 tổ:

+Tổ kế toán tổng hợp: thực hiện phần hành kế toán tổng hợp như: tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm, kế toán doanh thu xác định kết quả +Tổ kế toán vật tư: phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn nguyên vật liệu, công

cụ dụng cụ, tổ chức đánh giá, phân loại vật tư, vào sổ, tài khoản kế toán (TKKT) phù hợp với phương pháp hạch toán hàng tồn kho

Trang 10

+Tổ kế toán tài vụ: phản ánh tình hình thu, chi, ghi chép các nghiệp vụ kinh

tế phát sinh làm biến động lượng tiền tệ trong công ty, theo dõi lương và các khoản trích theo lương của cán bộ công nhân viên.

+Tổ kế toán tiêu thụ: hạch toán tình hình tiêu thụ sản phẩm, xác định doanh thu, kết quả tiêu thụ và theo dõi tình hình bán hàng.

2.2 Đặc điểm tổ chức sổ sách kế toán tại công ty XMHP.

Hiện nay công ty xi măng Hải Phòng đang áp dụng hình thức sổ kế toán nhật ký chung Mọi thao tác nhập liệu vào sổ được sử dụng bởi máy vi tính do vậy mà công việc theo dõi trên sổ kế toán được tiến hành nhanh gọn và kịp thời Việc áp dụng máy vi tính trong quá trình xử lí thông tin, số liệu kế toán là rất phù hợp với qui mô hoạt động của công ty, đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác.

Trình tự luân chuyển chứng từ trong điều kiện áp dụng kế toán máy tại công

ty được mô tả bằng sơ đồ sau:

Căn cứ vào chứng từ gốc, kế toán viên nhập các dữ liệu trên chứng từ gốc vào máy tính Với các thông tin được nhập vào, máy tính sẽ tự động xử lí theo

Trang 11

chương trình Khi nhấn “Lưu” các dữ liệu sẽ tự động lưu vào nhật kí chung, sổ

kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết.

Đối với hình thức kế toán nhật ký chung: sau quá trình xử lý của máy muốn

in ra các sổ sách báo cáo theo hình thức này ta vào menu:

Kế toán tổng hợp\ Sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung.

Hiện nay Công ty xi măng Hải Phòng đang sử dụng phần mềm kế toán Fast Việc ứng dụng kế toán máy không những làm giảm nhẹ được khối lượng tính toán mà còn tăng được hiệu quả của công tác kế toán nói riêng, công tác quản

lý tài chính nói chung Kế toán chỉ cần thực hiện một số công việc như:

- Phân loại, bổ sung thông tin chi tiết vào chứng từ gốc.

- Nhập dữ liệu từ chứng từ vào máy.

- Kiểm tra, phân tích số liệu trên các sổ, báo cáo kế toán để có thể đưa ra quyết định phù hợp.

Máy tính sẽ tự động tính toán, ghi sổ kế toán chi tiết, tổng hợp, chuyển số liệu từ các sổ kế toán sang các báo cáo kế toán.

2.3 Các chế độ và phương pháp kế toán áp dụng.

- Niên độ kế toán: bắt đầu từ ngày 1/1/N, kết thúc ngày 31/12/N.

- Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán: đồng VN.

- Chế độ kế toán áp dụng: kế toán doanh nghiệp.

- Kì kế toán là hàng tháng.

- Tuân thủ chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam.

- Phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

* Các chính sách kế toán đối với hàng tồn kho như sau:

+ Nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho: theo giá thực tế.

+ Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho cuối kì: bình quân gia quyền

+ Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kì theo chi phí nguyên vật liệu chủ yếu.

Trang 12

+ Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: công ty sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên

- Các mặt hàng dễ định lượng, dễ kiểm đếm: xác định lượng và giá cho từng lần nhập, xuất.

- Các mặt hàng rời ngoài bạt bãi khó kiểm đếm: xác định số xuất trong kì theo công thức:

Tồn đầu kì + nhập trong kì - tồn cuối kì

+ Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

số 02 ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính

Công ty xi măng Hải Phòng sử dụng hệ thống tài khoản theo chế độ kế toán mới do bộ tài chính ban hành, được sử dụng thống nhất trong tổng công ty xi măng Việt Nam Căn cứ vào hệ thống tài khoản do tổng công ty quy định, công

ty được phép mở tài khoản chi tiết để phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty

Mọi nghiệp vụ phát sinh trong công ty đều được phản ánh đầy đủ trong hệ thống chứng từ kế toán Công ty xi măng Hải Phòng áp dụng đầy đủ các chứng

từ bắt buộc do bộ tài chính quy định, ngoài ra công ty còn sử dụng một số chứng từ hướng dẫn mà ở đó các yếu tố chứng từ được hoàn chỉnh theo đặc thù của công ty Việc xử lý và luân chuyển chứng từ nhìn chung được chấp hành nghiêm túc từ bước kiểm tra chứng từ, hoàn chỉnh chứng từ, luân chuyển chứng

từ, bảo quản và lưu trữ chứng từ.

III KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY XI MĂNG HẢI PHÒNG.

1 Phân loại chi phí sản xuất

Để phục vụ cho công tác tính giá thành, chi phí sản xuất tại công ty được phân loại thành 3 khoản mục: chi phí nguyên vật liệu (NVL) trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp kiểm tra, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, đồng thời là tài liệu tham khảo để xây dựng kế hoạch giá thành cho kì sau Nội dung của từng khoản mục chi phí như sau:

Trang 13

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, năng lượng dùng trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm Chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn từ 40-50% giá thành xi măng.

Nguyên vật liệu chính dùng vào sản xuất xi măng gồm có: đá xanh, đá trắng, đất sét, quỳ khê, quặng sắt, thạch cao, khoáng hoá (CaF2), cao lanh, chất trợ nghiền Khoản chi phí này thường chiếm từ 8%-9% giá thành.

Vật liệu phụ chiếm từ 15% -17% giá thành gồm có: bi đạn, gạch chịu lửa, giấy kiện, tạp phẩm, phụ gia v v

Nhiên liệu: than cám, than chất bốc, xăng, dầu Năng lượng: điện Khoản này chiếm 17%-19% giá thành.

Chi phí nhân công trực tiếp :

Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các chi phí tiền lương phải trả cho người lao động; chi phí bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn phải nộp cho người lao động tham gia trực tiếp vào việc tạo ra sản phẩm Việc trả lương thường bao gồm 3 hình thức chính là: lương sản phẩm, lương thời gian và lương khoán Chi phí nhân công trực tiếp thường chiếm từ 8% -10% giá thành sản xuất

Chi phí sản xuất chung:

Bao gồm :

+ Chi phí nhân viên phân xưởng: thuộc về yếu tố chi phí này có chi phí tiền lương, chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ phải nộp cho nhân viên quản lý phân xưởng

+ Chi phí vật liệu, dụng cụ sản xuất: các chi phí vật liệu, dụng cụ sản xuất dùng cho từng phân xưởng.

+ Chi phí khấu hao TSCĐ: chi phí khấu hao thường chiếm tỷ trọng khá lớn trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng (18%), hầu hết các doanh nghiệp đều

áp dụng khấu hao theo phương pháp đường thẳng (theo QĐ 206/2004 của Bộ tài chính) Chi phí cho TSCĐ tại các doanh nghiệp xi măng chia thành chi phí khấu hao TSCĐ và chi phí sửa chữa lớn TSCĐ

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm chi phí vệ sinh thuê ngoài phân xưởng, chi phí thuê TSCĐ, chi phí thuê sửa chữa thường xuyên, chi phí vận chuyển bốc xếp, điện mua ngoài Trong các khoản chi phí này, chiếm tỷ trọng lớn nhất là chi phí điện mua ngoài

Trang 14

+ Chi phí khác bằng tiền: bao gồm chi phí chống nóng, độc hại phân xưởng, chi phí an toàn lao động phòng cháy chữa cháy, chi phí bảo vệ phân xưởng và chi phí bằng tiền khác.

Ngoài ra để phục vụ cho việc quản lý các yếu tố chi phí và lập chỉ tiêu “Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố” trong Thuyết minh báo cáo tài chính, chi phí sản xuất còn được phân loại theo nội dung kinh tế thành 5 yếu tố chi phí là: Chi phí nguyên vật liệu, Chi phí nhân công, Chi phí khấu hao, Chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền.

2 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.

Để tập hợp chi phí sản xuất hợp lí, chính xác thì kế toán phải xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên quan trọng của hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Xác định đối tượng chi phí sản xuất là xác định nội dung chi phí, phạm

vi, giới hạn mà chi phí cần phải được tập hợp Thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí Kế toán phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, mục đích công dụng chi phí, yêu cầu trình độ quản lí của doanh nghiệp

để xác định đối tượng tập hợp chi phí phù hợp.

Căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty xi măng Hải Phòng, cũng vậy do quá trình sản xuất sản phẩm cho ra nhiều sản phẩm khác nhau như

xi măng đen và xi măng trắng Mặt khác quy trình sản xuất sản phẩm phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau, và sản phẩm của công đoạn trước là nửa thành phẩm của công đoạn sau, quy trình công nghệ cứ diễn ra liên tục sản phẩm được chuyển từ phân xưởng nọ sang phân xưởng kia, cứ như thế dây chuyền được diễn ra liên tục cho đến khi cho ra thành phẩm Theo quy trình đó thì để

có được sản phẩm cuối cùng là xi măng bao thì phải trải qua 4 phân xưởng sản xuất chính: từ phân xưởng máy đá cho ra bùn pate, sau đó bùn pate được chuyển sang phân xưởng lò nung và dùng than ở phân xưởng than để nung cho

ra sản phẩm là Clinker sau đó lại tiếp tục đưa Clinker sang phân xưởng nghiền đóng bao để sản xuất ra xi măng bột và xi măng bao Như vậy, mỗi phân xưởng sản xuất đồng thời cả 2 loại sản phẩm khác nhau xi măng đen và xi măng trắng

cả 2 sản phẩm có cùng quy trình công nghệ như nhau nhưng được sản xuất trên

2 dây chuyền công nghệ khác nhau

Trang 15

Mặt khác, các bán thành phẩm của công ty có thể chuyển sang công đoạn sau để chế biến tiếp hoặc bán ra ngoài Vì vậy, cần hạch toán chi phí phát sinh tại từng giai đoạn công nghệ, phục vụ cho công tác quản lý, công tác tính giá thành và xác định kết quả.

Qua đó, căn cứ vào đặc điểm trên, công ty xi măng Hải Phòng đã xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là theo từng công đoạn sản xuất hay theo từng phân xưởng, vì mỗi một phân xưởng có chức năng nhiệm vụ hoàn tất một công đoạn của quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm.

3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất tại công ty xi măng Hải Phòng.

Để tập hợp chi phí sản xuất toàn công ty, kế toán tiến hành tập hợp chi phí theo từng khoản mục chi phí, theo từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất đã xác định, sau đó sẽ tập hợp chi phí toàn doanh nghiệp.

Công ty xi măng Hải Phòng sử dụng các tài khoản 621, 622, 627 để tập hợp chi phí sau đó toàn bộ chi phí được tập hợp trên tài khoản 154.

3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

Nguyên vật liệu trực tiếp là một bộ phận quan trọng tạo nên sản phẩm đặc biệt ở một doanh nghiệp sản xuất như công ty xi măng Hải Phòng, chi phí nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí.

Công ty sử dụng tài khoản 621 để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Tài khoản này được mở chi tiết đến các tài khoản cấp 2 giúp cho việc theo dõi các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh từng phân xưởng:

TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

TK 6211: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho phân xưởng than (Phân xưởng cho ra than mịn).

TK 6212: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho phân xưởng Máy đá (Phân xưởng sản xuất ra bùn Pate).

TK 6213: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho phân xưởng lò Nung (Sản xuất ra Clinker).

TK 6214: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho phân xưởng nghiền đóng bao (sản xuất ra xi măng bột).

Trang 16

TK 6215: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho phân xưởng nghiền đóng bao ( sản xuất ra xi măng bao).

TK 6216: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho phân xưởng phụ.

Do nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất sản phẩm nhiều và đa dạng, mặt khác Công ty xi măng Hải Phòng có sử dụng phần mềm kế toán vào phục vụ công tác kế toán Do vậy để thuận tiện cho việc phản ánh số liệu và đồng thời quản lý được nhanh chóng Công ty xi măng Hải Phòng đã tiếp tục phân tài khoản cấp 2 thành các tiểu khoản để chi tiết cho từng loại vật liệu, phục vụ cho từng loại sản phẩm ví dụ như:

TK 62121: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất bùn Pate xi măng đen.

TK 62122: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất bùn Pate xi măng trắng.

TK 62128: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất bùn Pate(chờ phân bổ).

* Trình tự kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tập hợp trực tiếp từ các phiếu xuất vật

- Đối với vật tư thuộc kho công ty:

Các phân xưởng căn cứ vào nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu cho sản xuất, cán bộ phân xưởng lập Giấy xin lĩnh vật tư, trong đó ghi rõ loại vật tư cần xuất,

số lượng, chủng loại, mục đích và bộ phận sử dụng rồi thông qua Phòng kỹ thuật chuyên ngành xác nhận về nhu cầu Sau khi được giám đốc duyệt thì chuyển cho phòng kế toán làm căn cứ lập Phiếu xuất vật tư Phiếu xuất vật tư được viết thành 3 liên: 1 liên lưu gốc tại phòng kế toán (cùng Giấy xin lĩnh vật

Trang 17

tư), 1 liên chuyển xuống Tổng kho làm căn cứ xuất kho, 1 liên do bộ phận lĩnh vật tư giữ Sau 7 ->10 ngày, thủ kho chuyển Phiếu xuất vật tư cho kế toán làm căn cứ nhập dữ liệu vào máy.

- Đối với vật tư thuộc kho phân xưởng:

Trong tháng được đưa vào sử dụng theo kế hoạch sản xuất, cuối mỗi tháng

kế toán kiểm kê, tiến hành tính toán lập Bảng cân đối sử dụng vật liệu đã có chữ ký của xưởng lên phòng kỹ thuật thẩm định, sau đó trình giám đốc hoặc phó giám đốc ký duyệt, rồi chuyển qua phòng kế toán làm căn cứ viết phiếu xuất vật tư.

Mỗi loại vật tư xuất kho được viết vào 1 phiếu Sau đây là 1 mẫu phiếu xuất:

Đơn vị : Công ty xi măng Hải Phòng Mẫu số: 04 - VT

Số lượng

Đơn giá

Thàn h tiền

Yêu cầu Thực

xuất

621 41

1521 15

Trang 18

Xỉ Phả Lại 21.15.00.011 tấn 312.541 312.541

PT bộ phận sử dụng PT phòng cung tiêu Người nhận Thủ kho

Căn cứ vào phiếu xuất kho do thủ kho gửi lên, kế toán tiến hành nhập dữ liệu vào máy Phiếu xuất vật tư sau khi nhập vào máy, nhấn: “Lưu” sẽ được lưu vào Nhật ký chung, sổ cái TK 152, Bảng tổng hợp nhập, xuất tồn vật tư, Bảng tổng hợp xuất vật tư, Bảng phân bổ nguyên vật liệu

Khi nhập số liệu trên phiếu xuất chỉ cần nhập chỉ tiêu số lượng, còn trị giá xuất kho của vật tư là do máy tính tự động tính toán vào cuối tháng theo công thức đã được lập trình sẵn:

+ Trường hợp vật tư xuất dùng cho sản xuất, đơn giá và trị giá vật tư xuất kho được tính theo phương pháp bình quân gia quyền:

Đơn giá

xuất

kho

=

TGTT của vật tư tồn đầu kỳ + TGTT cuả vật tư nhập trong kì

Số lượng vật tư tồn đầu kỳ + Số lượng vật tư nhập trong kỳ

TGTT xuất kho = Đơn giá vật tư xuất kho x Số lượng vật tư xuất dùng + Trường hợp vật tư xuất cho các đơn vị phụ thuộc thì trị giá xuất kho được tính theo phương pháp đích danh Tức là khi xuất kho NVL thuộc lô hàng nào thì căn cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá mua thực tế của lô hàng đó để tính giá thực tế.

Cuối tháng, để phục vụ công tác tính giá thành sản phẩm kế toán tiến hành kết chuyển CPNVLTT sang TK 154.

Chương trình sẽ tự động kết chuyển số liệu từ các TK 62121, 62131, 62141 sang các chi tiết tương ứng của TK 154

Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất tại công ty xi măng Hải Phòng là theo từng phân xưởng Như vậy, có thể hiểu CP NVLTT cho sản xuất bùn Pate

sẽ được tập hợp tại phân xưởng máy đá (phân xưởng sản xuất ra bùn Pate) Khi

đó toàn chi phí tập hợp được cho sản xuất bùn Pate tại phân xưởng máy đá

Trang 19

Tại phân xưởng lò nung cũng phải tập hợp được CPNVLTT để sản xuất ra

Clinker

Tại phân xưởng nghiền đóng bao cũng tập hợp được CPNVLTT Tuy nhiên

tại phân xưởng này được tổ chức thành hai khâu rõ ràng là nghiền và đóng bao.

Có nghĩa là từ Clinker qua quá trình nghiền sẽ cho ra sản phẩm là xi măng bột,

sau đó từ xi măng bột phải được đóng thành bao sẽ cho ra sản phẩm là xi măng

bao Như vậy ở đây CPNVLTT phải bỏ ra để sản xuất xi măng bột và sau đó

CPNVLTT cần phải bỏ ra để sản xuất thành xi măng bao (xi măng được đóng

thành bao) Do đó, tuy là một phân xưởng nghiền đóng bao nhưng CPNVLTT

được tập hợp ở 2 khâu khác nhau cho các mục đích khác nhau

Qua các số liệu trên đã phản ánh được CPNVL tập hợp ở các khâu, các phân

xưởng, từ phân xưởng máy đá, phân xưởng lò nung, phân xưởng nghiền đóng

bao Tuy nhiên, CPNVLTT còn được tập hợp ở cả phân xưởng than và các

phân xưởng sản xuất phụ trợ CPNVLTT ở các phân xưởng này sẽ không phân

bổ cho các phân xưởng sản xuất chính ngay mà sẽ được tập hợp trên tài khoản

154, sau đó mới phân bổ cho các phân xưởng sản xuất chính theo chi phí

nguyên vật liệu trực tiếp

Như vậy, chi tiết tài khoản 621 được theo dõi theo từng phân xưởng Số liệu

trên các sổ này được tập hợp và phản ánh trên sổ cái tài khoản 621 theo từng

mục tương ứng.

Cuối tháng căn cứ vào nhật kí chung, các bảng tổng hợp phân bổ như bảng

phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ kế toán viên lập sổ cái các tài khoản

chi tiết của tài khoản 621 cho từng phân xưởng và sổ cái tài khoản 621 cho toàn

Trang 20

PX nghiền đóng bao( XM bột đen PCB30)

915597647

PX nghiền đóng bao( XM bột trắng

PX nghiền đóng bao(XM bao đen PCB30) 2665672980 2665672980

PX nghiền đóng bao(XM bao trắng

152 Nguyên liệu vật liệu 9.155.976.47 7

1521 Nguyên liệu vật liệu chính 1.073.385.786

152115 Phụ gia trơ (xỉ, đá đen ,đá xám) 911.113.491

Trang 21

152121 Chất trợ nghiền 5.060.000

1526 Clinker mua ngoài cho SX 3.947.911.367

152612 Clinker mua ngoài 3.947.911.367

1527 Xi măng bột mua ngoài cho SX 3.504.679.324

152712 Xi măng bột mua ngoài 3.504.679.324

1521 Nguyên liệu vật liệu chính 3.669.239.865

Trang 22

152612 Clinker mua của các đv trong nội bộ TCT 3.947.911.367

1527 Xi măng bột mua ngoài 3.504.679.324

152712 XM bột mua của các đv trong nội bộ TCT 3.504.679.324

3314 PT cho cty CPH từ đvị trực thuộc 1.066.648.011

Trang 23

3.2 Chi phí nhân công trực tiếp.

Chi phí nhân công trực tiếp (CP NCTT) bao gồm các khoản phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ dịch vụ như: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, tiền BHXH, KPCĐ

Công ty xi măng Hải Phòng áp dụng phương pháp trả lương cho cán bộ công nhân viên theo hình thức lương thời gian và lương theo sản phẩm, lương khoán.

Việc trả lương của công ty cho cán bộ công nhân viên theo nguyên tắc : Căn cứ vào đơn giá Tổng công ty giao, kế hoạch quĩ lương và hiệu quả sản xuất kinh doanh năm trước, công ty phân phối và giao lại đơn giá tiền lương sản phẩm, lương khoán, lương thời gian cho các đơn vị thành viên theo hiệu qủa sản xuất, năng suất, chất lượng và độ phức tạp công việc từng đơn vị Từ đơn giá Tổng công ty giao các đơn vị thành viên (các xí nghiệp trực thuộc, các đơn vị hưởng lương sản phẩm, lương khoán) có trách nhiệm phân phối, trả lương tới tổ và người lao động theo qui chế trả lương nội bộ phù hợp với luật lao động và quy chế công ty Việc trả lương cá nhân người lao động trong quy chế của công ty cũng như ở các đơn vị theo lương khoán, lương thời gian, lương sản phẩm không phân phối bình quân Những bộ phận sản xuất chính, bộ phận đòi hỏi kỹ thuật cao, những lao động giỏi chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ giữ vai trò và đóng góp quan trọng cho việc hoàn thành sản xuất kinh doanh của đơn vị thì mức lương được trả cao hơn người làm công việc chuyên môn nghiệp vụ thông thường Lao động phục vụ giản đơn, phổ biến thì mức lương được trả cân đối với lao động cùng loại trên thị trường Hệ số chênh lệch do công ty và đơn vị quyết định.

Lương thời gian: Đối với cán bộ công nhân viên quản lý trong công ty và một số nhân viên thuộc các đơn vị không đủ điều kiện làm khoán (KCS, BVQS) thống nhất trả lương thời gian theo hệ số chức danh Công thức chung xác định tiền lương thanh toán cho các đối tượng này:

Lt = (Lcb + PC) x K1 x K2 x K3 x N1+ (Lk + PCk) x N2.

Trong đó:

Lt : tổng lương tháng của mỗi cán bộ công nhân viên.

(Lcb+PC): lương cơ bản và phụ cấp.

Trang 24

K1: hệ số chức danh chung của mỗi cán bộ công nhân viên

K2: hệ số thanh toán theo quỹ lương hàng tháng.

K2 = Quĩ lương thực hiện/ Quĩ lương kế hoạch.

K3: hệ số chất lượng lao động, là hệ số đánh giá chất lượng lao động

hiệu quả của từng người trong tháng do thủ trưởng đơn vị nhận xét xếp loại theo nhiều mức khác nhau.

N1: ngày công lao động có hệ số.

Lương sp = số lượng sp làm ra x Đơn giá lương sản phẩm

Sau đó, mỗi phân xưởng tự tính tiền lương trả cho từng cán bộ công nhân viên trực thuộc phân xưởng mình.

Lương khoán : được tính cho các phân xưởng động lực cơ khí, sửa chữa công trình, an toàn lao động Đối với các đơn vị này công ty giao giá cụ thể cho một khối lượng công việc hoàn thành.

Đối với các khoản chi phí nhân công trực tiếp gồm:

Trang 25

+ Tiền lương công nhân trực tiếp: Đây là khoản phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm Tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm được tập hợp theo từng phân xưởng, sau đó tiến hành phân bổ cho từng sản phẩm theo đơn giá tiền lương.

+ Đối với các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, Công ty tiến hành trích theo quy định đã ban hành đó là:

- Bảo hiểm xã hội: trích 20% lương cơ bản, trong đó 15% tính vào chi phí, 5% người lao động phải nộp Đối với khoản này công ty cũng tập hợp bảo hiểm

xã hội theo từng phân xưởng sau đó mới tiến hành phân bổ cho các sản phẩm theo sản lượng sản xuất thực tế.

- Bảo hiểm y tế: trích 3% lương cơ bản, trong đó 2% tính vào chi phí, 1% người lao động phải nộp Sau khi tập hợp bảo hiểm y tế theo từng phân xưởng

kế toán tiến hành phân bổ cho các sản phẩm theo sản lượng sản xuất thực tế.

- Kinh phí công đoàn: trích 2% lương thực tế Sau khi tập hợp chi phí cho từng phân xưởng kế toán tiến hành phân bổ cho các sản phẩm theo sản lượng sản xuất thực tế.

+ Ngoài các khoản như tiền lương, các khoản trích theo lương thì trong chi phí nhân công trực tiếp còn các khoản như: Tiền ăn ca, phụ cấp độc hại, phụ cấp an toàn viên cho người lao động Đối với các khoản này, kế toán cũng tập hợp theo từng phân xưởng sau đó lựa chọn tiêu thức phân bổ để phân bổ cho các sản phẩm.

- Tiền ăn ca: mức bình quân là 7.000 đ/ công

- Phụ cấp độc hại: có 3 mức tuỳ thuộc mức độ độc hại: 2.000đ/công ; 3.000 đ/công; 4.000đ/ công.

- Phụ cấp ca 3: đối với công nhân trực tiếp sản xuất, thường xuyên làm ca 3, công nhân vận hành 4 phân xưởng chính => mức phụ cấp 9.500 đ/công.

Công ty sử dụng TK622 để tập hợp chi phí nhân công trực tiếp toàn doanh nghiệp.

Trang 26

Để thuận lợi trong việc vận dụng phần mềm máy vi tính vào công tác kế toán tại doanh nghiệp thì tài khoản 622 lại được chi tiết đến TK cấp 2, cấp3, các tiểu khoản ví dụ:

TK622: chi phí nhân công trực tiếp.

TK6221: tiền lương công nhân trực tiếp.

TK6222: bảo hiểm xã hội công nhân trực tiếp.

TK6223: bảo hiểm y tế công nhân trực tiếp.

TK6224: kinh phí công đoàn cho công nhân trực tiếp

Trong mỗi tài khoản cấp 2 lại được chia thành các tiểu khoản để tiện cho việc phản ánh.

TK62211: tiền lương công nhân trực tiếp cho phân xưởng than mịn.

TK62212: tiền lương công nhân trực tiếp cho phân xưởng máy đá.

TK62213: tiền lương công nhân trực tiếp cho phân xưởng lò nung.

TK62214: tiền lương công nhân trực tiếp cho phân xưởng nghiền đóng bao.

* Trình tự kế toán chi phí nhân công trực tiếp.

Tại mỗi phân xưởng, ngày công lao động của công nhân trực tiếp sản xuất được theo dõi bởi các tổ trưởng sản xuất của các phân xưởng thông qua bảng chấm công Cuối tháng, kế toán phân xưởng căn cứ vào bảng chấm công và đơn giá sản phẩm của phân xưởng mình, khối lượng hoàn thành của phân xưởng để lập bảng thanh toán lương cho từng người ở phân xưởng.

Bảng thanh toán tiền lương này được chuyển qua phòng tổ chức lao động - tiền lương để duyệt sau đó kế toán phân xưởng gửi bảng chấm công

và bảng thanh toán tiền lương lên phòng kế toán tài chính của công ty Kế toán các phần hành liên quan căn cứ vào đó kiểm tra lại bảng thanh toán lương một lần nữa, sau đó tổng hợp lại lập bảng thanh toán lương toàn

Trang 27

công ty, lập bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương làm căn

cứ lập sổ cái tài khoản 622 chi tiết theo từng phân xưởng và sổ cái tài khoản 622 tổng hợp toàn công ty.

Sau đây em xin trích số liệu trên bảng tổng hợp phân bổ tiền lương và BHXH của công ty tháng 12 năm 2005:

Trang 28

Trích bảng tổng hợp phân bổ tiền lương và BHXH

Tháng 12 năm 2005

Ghi nợ tài khoản 622

PX nghiền đóng bao(XM bột đen PCB40) 45737636 8071347 53808983 1076180 8071347 1076180 10223707 64032690

PX nghiền đóng bao(XM bao đen

561159 220

PX nghiền đóng bao(XM bao trắng

Trang 29

Về phần hành hạch toán trên máy, kế toán bắt đầu vào bút toán định kỳ để tiến hành các thao tác nhập liệu, ở đó có các mục đã được cài đặt sẵn Kế toán sẽ vào các dữ liệu theo phần mềm, nhấn nút lưu Sau đó toàn bộ dữ liệu sẽ được lưu vào File và với các câu lệnh cài đặt tự động sẽ cho ra các sổ theo yêu cầu.

Việc tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp được thực hiện trên các chi tiết của TK 622, phản ánh CP NCTT phát sinh ở từng phân xưởng, và việc phân bổ các chi phí này cho từng sản phẩm sản xuất tại phân xưởng đó.

3341 Phải trả công nhân viên trong danh sách 978.345.165

33411 Phải trả lương, phụ cấp 978.345.165

Tổng hợp số liệu từ các chi tiết, được sổ cái TK 622.

SỔ CÁI (TỔNG HỢP ĐỐI ỨNG TK)

Trang 30

Tài khoản 622 - Chi phí nhân công trực tiếp

33831 Bảo hiểm xã hội tính vào CPSX

9

Trang 31

3.3 Chi phí sản xuất chung

Tại công ty xi măng Hải Phòng các khoản chi phí sản xuất chung bao gồm tiền lương nhân viên phân xưởng, các khoản trích theo lương, chi phí vật liệu, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí sửa chữa lớn, chi phí dịch vụ mua ngoài.

Để tập hợp chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng tài khoản 627 và các tài khoản liên quan như TK111, 152, 338, 334

Các tài khoản chi phí sản xuất chung cũng được mở chi tiết thành các tài khoản cấp hai và các tiểu khoản để tạo điều kiện cho việc ghi chép và phản ánh ví dụ:

TK627: chi phí sản xuất chung.

TK6271: chi phí nhân viên phân xưởng.

TK6272: vật liệu sản xuất chung.

TK6273: công cụ dụng cụ sản xuất chung.

TK6274: khấu hao tài sản cố định.

Trong đó mỗi tài khoản lại được chia thành các tiểu khoản ví dụ như:

TK62711: tiền lương nhân viên phân xưởng.

TK627111: tiền lương nhân viên phân xưởng Than

TK627112: tiền lương nhân viên phân xưởng Máy Đá.

TK627113: tiền lương nhân viên phân xưởng lò nung.

TK627114: tiền lương nhân viên phân xưởng nghiền đóng bao.

Đối với việc nhập liệu chi phí sản xuất chung trên máy, kế toán vào bút toán định

kỳ, vào phần chi phí sản xuất chung Sau đó các thao tác nhập liệu với các phần hành

đã cài đặt sẵn Kết thúc kế toán nhấn lưu để lưu giữ toàn bộ giữ liệu đã nhập Vào phần sổ sách kế toán sẽ cho ra các sổ theo yêu cầu.

Đối với từng khoản chi phí sản xuất chung cụ thể như sau:

+ Chi phí nhân viên phân xưởng: Đây là khoản chi phí bao gồm tiền lương nhân viên phân xưởng, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng.

- Tiền lương nhân viên phân xưởng có thể được thanh trả theo các hình thức khác nhau Sau đó khoản tiền lương được tập hợp theo từng phân xưởng căn cứ vào Bảng

Ngày đăng: 06/11/2013, 08:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp đánh giá sản phẩm dở dang - THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY XI MĂNG HẢI PHÒNG
Bảng t ổng hợp đánh giá sản phẩm dở dang (Trang 40)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w