MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT ---I - SỰ CẦN TH---IẾT PHẢ---I TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN VẬT L---IỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN X
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT
LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
-I - SỰ CẦN TH -IẾT PHẢ -I TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN VẬT L -IỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT:
1 - Vị trí của vật liệu đối với quá trình sản xuất:
* Khái niệm vật liệu:
Vật liệu là đối tượng lao động, một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vật liệu bị tiêu hao toàn bộ và chuyển giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
* Vị trí của vật liệu đối với quá trình sản xuất kinh doanh:
Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí về các loại đối tượng lao động thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Do vậy, tăng cường công tác quản lý, công tác kế toán vật liệu đảm bảo việc sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vật liệu, góp phần làm hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng
Nhưng không phải tất cả đối tượng lao động đều là vật liệu Chỉ những đối tượng lao động nào đã thay đổi do chịu tác động của con người (lao động có ích) mơí trở thành vật liệu
Trang 2Ví dụ: Đá vôi khi chưa khai tác còn là những mỏm núi, không thể coi là vật liệu, nó chỉ trở thành vật liệu khi được khai thác để cung cấp cho ngành công nghiệp, sản xuất
2 - Đặc điểm vai trò của vật liệu trong quá trình sản xuất:
Trong doanh nghiệp sản xuất, vật liệu là một bộ phận của hàng tồn kho thuộc tài sản lưu động và chiếm tỷ trọng khá lớn, mặt khác nó còn là cơ sở vật chất
và điều kiện để hình thành nên sản phẩm - là yếu tố không thể thiếu được khi tiến hành sản xuất sản phẩm, tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất chịu ảnh hưởng rất lớn của việc cung cấp vật liệu Không có vật liệu thì không có một quá trình sản xuất nào có thể thực hiện được, nhưng khi được cung cấp vật liệu đầy đủ thì chất lượng vật liệu, phương pháp sử dụng vật liệu sẽ quyết định một phần lớn chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí vật liệu chiểm tỷ trọng rất lớn trong tổng chi phí tạo ra sản phẩm Do vậy, việc hạ thấp giá thành sản phẩm chủ yếu phụ thuộc vào việc tập trung quản lý, sử dụng vật liệu nhằm làm giảm chi phí vật liệu, giảm mức tiêu hao vật liệu trong sản xuất cho mỗi đơn vị sản phẩm, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong quản lý sản xuất kinh doanh với một chừng mực nhất định Giảm mức tiêu hao vật liệu còn là cơ sở để tăng thêm sản phẩm xã hội Mặt khác, vật liệu là một bộ phận quan trọng trong tài sản lưu động, cần thiết phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm vật liệu
Có thể nói vật liệu đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất Việc quản lý vật liệu phảI bao gồm các mặt: số lượng cung cấp, chất lượng, chủng loại và giá trị Để quản lý một cách có hiệu quả vật liệu nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ và đồng bộ những loại vật liệu cần thiết cho sản xuất thì không thể không tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán vật liệu
Trang 33 - Yêu cầu quản lý vật liệu:
- Xuất phát từ vai trò, đặc điểm của vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải quản lý vật liệu ở mọi khâu từ khâu mua, bảo quản tới khâu dự trữ
- Vật liệu là tài sản dự trữ sản xuất thường xuyên biến động, các doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành mua vật liệu để đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm phục vụ cho nhu cầu quản lý khác của doanh nghiệp
- Bên cạnh đó, một trong các yêu cầu quản lý đối với vật liệu là tránh hư hỏng, mất mát, hư hao
- Trong sử dụng vật liệu, cần thiết phải tiết kiệm hợp lý dựa trên các cơ sở xác định và dự toán chi phí, điều này ảnh hưởng đến việc hạ thấp chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm, tăng thu nhập tích luỹ cho doanh nghiệp Vì vậy, phải tổ chức tốt việc ghi chép phản ánh việc xuất dùng và sử dụng vật liệu trong sản xuất kinh doanh
- Ở khâu dự trữ, yêu cầu đối với doanh nghiệp là phải xác định được định mức
dự trữ tối đa, tối thiểu để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được bình thường không bị ngưng trệ, gián đoạn do việc cung cấp không kịp thời hoặc gây tình trạng ứ đọng vốn do dự trữ quá nhiều
* Để tổ chức và hạch toán vật liệu có hiệu quả, cần thiết phải có một số điều kiện dưới đây:
- Thiết lập được kế hoạch cung ứng vật liệu theo nhu cầu vật liệu của khu vực sản xuất kinh doanh (phân xưởng hoặc xí nghiệp)
- Xây dựng được định mức dự trữ vật liệu trong kho và tổ chức tốt kho hàng để tạo thuận lợi cho việc quản lý và ghi sổ kho, sổ kế toán
Trang 4- Xây dựng hệ thống định mức tiêu dùng vật liệu, đặc biệt là vật liệu chế tạo, vật liệu chủ yếu, theo yêu cầu tiết kiệm tiêu dụng và yêu cầu nâng cao chất lượng hàng hoá, sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng.
- Xác định rõ trách nhiệm vật chất của cá nhân, tổ chức có liên quan tới sự an toàn của vật liệu mua, dự trữ và tiêu dùng: Xây dựng quy chế xử lý rõ ràng, nghiêm ngặt cho từng trường hợp ứ đọng, thừa, thiếu, hao hụt, giảm giá vật liệu
II - PHÂN LOẠI VẬT LIỆU VÀ ĐÁNH GIÁ VẬT LIỆU:
1 - Phân loại vật liệu:
Trong doanh nghiệp, vật liệu bao gồm nhiều loại, nhiều thứ có vai trò, công dụng, tính chất lý-hoá khác nhau và biến động thường xuyên, liên tục hàng ngày trong quá trình sản xuất
Để phục vụ cho công tác quản lý và hạch toán vật liệu, phải tiến hành phân loại vật liệu Trên thực tế, vật liệu thường được phân loại theo những tiêu thức khác nhau, như theo công dụng, theo nguồn hình thành, theo nguồn sở hữu
a Nguyên vật liệu chính:
Là những nguyên vật liệu sau quá trình gia công chế biến sẽ cấu thành thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm mới như: thép trong công nghiệp cơ khí, bông trong công nghiệp kéo sợi, ngói, xi măng trong xây dựng cơ bản Nguyên liệu là sản phẩm chưa qua chế biến công nghiệp như sản phẩm công nghiệp khai thác (quặng, gỗ ), sản phẩm nông nghiệp (bông, chè ) dùng để chế tạo sản phẩm trong nền công nghiệp chế biến Còn vật liệu là những sản phẩm đã qua một hay một số quá trình công nghệ chế tạo như cao su, hoá chất trong xí nghiệp sản xuất hàng cao su, vải trong các xí nghiệp may
Trang 5b Vật liệu phụ:
Là những thứ vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dạng bề ngoài của sản phẩm, góp phần tăng thêm chất lượng sản phẩm hoặc đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh hoạt động, phục vụ cho nhu cầu công nghệ, kỹ thuật và quản lý như dầu mỡ bôi trơn máy móc trong sản xuất công nghiệp, hương liệu trong sản xuất bánh kẹo
c Nhiên liệu:
Là những thứ vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể rắn (than củi), thể lỏng (xăng dầu) hoặc ở thể khí (hơi đốt, khí đốt)
d Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản:
Là những thứ vật liệu và thiết bị mà đơn vị sử dụng cho đầu tư xây dựng cơ bản, bao gồm cả những thiết bị cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu (bằng kim loại, bằng gỗ hoặc bằng bê tông) dùng để lắp đặt vào các công trình cơ bản
e Phế liệu:
Là những loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất kinh doanh hay thanh
lý tài sản của đơn vị Phế liệu thường đã mất hoặc mất phần lớn giá trị sử dụng ban đầu (phôi bào, vải vụn, ngói vỡ )
f Vật liệu khác:
Trang 6Bao gồm các loại vật liệu còn lại, ngoài các thứ chưa kể thêm bao bì, vật đóng gói, các loại
2 - Đánh giá vật liệu:
Đánh giá vật liệu là xác định giá trị của chúng theo những nguyên tắc nhất định Theo những quy định hiện hành, kế toán nhập-xuất-tồn kho vật liệu phải phản ánh theo giá trị thực tế, có nghĩa là khi nhập kho phải tính toán (phản ánh theo giá thực tế), khi xuất kho cũng phải xác định giá xuất kho theo đúng phương pháp quy định Tuy nhiên, trong không ít doanh nghiệp, để đơn giản hoá và giảm bớt khối lượng ghi chép, tính toán hàng ngày, người ta có thể sử dụng phương pháp giá hạch toán để hạch toán tình hình nhập-xuất vật liệu Song, dù đánh giá theo giá hạch toán, kế toán vẫn phải đảm bảo việc phản ánh tình hình nhập-xuất vật liệu trên các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp theo giá thực tế
2.1 Giá thực tế nhập kho của vật liệu:
Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu được nhập từ nguồn nhập và giá thực tế của chúng trong từng trường hợp được xác định cụ thể như sau:
Giá thực tế của vật liệu mua ngoài nhập kho:
+ Đối với doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế:
+
Thuế nhập khẩu (nếu có)
+
Chi phí thu mua thực tế
-Giảm giá, hàng mua
bị trả lại (nếu có)+ Đối với doanh nghiệp áp dụng phương pháp thuế GTGT trực tiếp:
Chi phí thu mua
Giảm giá, hàng mua
Trang 7= Giá vật liệu xuất chế biến
+ Chi phí chế biến
- Với vật liệu góp cổ phần liên doanh: Giá thực tế vật liệu là giá trị góp vốn bằng
VL do hội đồng quản trị đánh giá.
- Với phế liệu thu hồi từ sản phẩm hỏng: Giá nhập kho phế liệu là giá có thể sử dụng được, giá có thể bán được hoặc giá có thể ước tính
2.2 Giá thực tế xuất kho của vật liệu:
Để đảm bảo chính xác chi phí VL trong chi phí của sản phẩm mới, cần phải
tổ chức đánh giá VL xuất kho theo phương pháp thích hợp
Cần có nhiều phương pháp đánh giá VL xuất kho, dù cho mục đích của việc xuất kho có thể khác nhau, nhưng hạch toán lượng xuất phải thống nhất
Về nguyên tắc, VL nhập kho theo giá nào thì xuất kho theo giá đó Song trên thực tế việc tính giá thực tế đầy đủ của VL mỗi loại tại thời điểm xuất kho rất khó khăn phức tạp, trong nhiều trường hợp còn không hạch toán được Giá ghi ở hoá đơn mua ngoài, vì vậy có thể tính gần đúng giá thực tế VL, VL xuất kho theo các cách phổ thông sau:
2.2.1 Phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ:
Giá thực tế bình quân _
Giá thực tế VL nhập trong tháng
+ Giá thực tế VL tồn đầu tháng
Trang 8của một đơn
vị vật liệu
_ Số lượng VL nhập trong tháng
+ Giá VL nhập trong tháng
- Giá VL xuất trong thángTrong đó:
Giá trị VL mỗi loại tính
tới ngày cuối tháng
= Số lượng VL mỗi loạI xuất dùng
x Giá thực tế bình quân 1 đơn vịNhư vậy, giá thực tế VL xuất trong tháng sẽ phụ thuộc vào tổng số nhập trong tháng và tồn đầu tháng, khi đó VL xuất có thể ghi theo một giá nào đó tuỳ theo doanh nghiệp và sẽ được điều chỉnh vào cuối kỳ
Theo phương pháp này, nếu giá VL có xu hướng tăng thì giá thực tế bình quân đơn vị sẽ nhỏ hơn giá thực tế VL nhập kho cuối kỳ và làm giá trị tồn kho VL tăng lên Ngược lại, nếu giá cả VL có xu hướng giảm giá thực tế nhập cuối kỳ và
do vậy VL tồn kho cuối kỳ sẽ nhỏ hơn thực tế
• Ưu điểm: Việc phân bố hợp lý, thích ứng với cơ chế thị trường.
• Nhược điểm: Giá đơn vị bình quân đến cuối tháng mới tính được do đó công
việc ghi chép bị dồn vào cuối tháng, ảnh hưởng đến việc lập báo cáo kế toán
• Điều kiện áp dụng:Chỉ thích hợp với những doanh nghiệp có chủng loại VL ít.
2.2.2 Phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập:
Giá VL bình
Giá thực tế VL thực tế tồn kho trước khi nhập
+ Giá thực tế VL nhập kho lần (n)Sau lần nhập _ Số lượng VL tồn kho + Số lượng VL nhập
Trang 9kho lần (n)Với phương pháp này, thì khi xuất kho đã biết được giá của VL xuất, do vậy cuối kỳ sẽ bớt được khâu điều chỉnh giá và giá trị tồn kho cuối kỳ của VL cũng sát với giá thực tế trên thị trường.
• Ưu điểm: Việc phân bố hợp lý, thích ứng với cơ chế thị trường.
• Nhược điểm: Dùng phương pháp này thì việc tính toán tương đối phức tạp Nếu
doanh nghiệp nhập, xuất VL nhiều lần trong ngày, hoặc trong tháng, giá cả không ổn định, thường xuyên thay đổi thì rất khó tính toán kịp thời
2.2.3 Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO):
Phương pháp này được thực hiện như sau:
2.2.4 Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO):
Phương pháp này được thực hiện hoàn toàn ngược với phương pháp trên (FIFO):
Giá thực tế của = Giá thực tế đơn vị x Số lượng VL xuất dùng
Trang 10VL xuất dùng của VL nhập kho theo
2.2.5 Phương pháp giá thực tế đích danh:
Ở một số doanh nghiệp có đơn giá về VL tương đối ổn định có thể tính giá thực tế đích danh từng loại VL với từng lần mua vào với giá trị ghi trên hoá đơn cùng với các chỉ tiêu có liên quan khac
* Ưu điểm: Ghi được đánh giá chính xác, kịp thời từng lần mua.
* Điều kiện áp dụng: Áp dụng cho các doanh nghiệp khi cần mua những lô hàng
tương đối đặc biệt, quý hiếm
2.2.6 Phương pháp ghi sổ theo giá hạch toán:
Theo phương pháp này, VL xuất kho trong kỳ sẽ được ghi theo giá hạch toán Cuối kỳ, dựa vào hệ số giá của VL để tính giá thực tế của VL xuất trong kỳ
và tồn kho cuối kỳ như sau:
Trang 11Hệ số giá này có thể tính cho từng loại hoặc từng nhóm VL tuỳ thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý.
Như vậy, ta thấy rằng việc hạch toán sự biến động của VL hàng ngày là rất phức tạp Để tiện cho việc theo dõi, người ta thường sử dụng giá hạch toán, giá này
có thể là kế hoạch do doanh nghiệp quy định hoặc một thứ giá ổn định trong kỳ hạch toán Do đó, sự hạch toán biến động của VL trên các phiếu nhập kho, xuất kho và trên cơ sở tính giá thực tế của VL, kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh giá VL từ giá hạch toán thành giá thực tế
3 - Sổ danh điểm vật liệu:
Để phục vụ tốt cho công tác quản lý chặt chẽ vật liệu, cần phải biết một cách đầy đủ, cụ thể số hiện có và tình hình biến động của từng loại vật liệu được sử dụng trong SXKD của doanh nghiệp Bởi thế, cần phải phân chia một cách chi tiết hơn theo tính năng lý học, hoá học, theo quy cách phẩm chất của VL, việc đó được thực hiện dựa trên cơ sở xây dựng và lập sổ danh điểm
Sổ danh điểm VL được xây dựng trên cơ sở phân loại VL mang một số liệu
riêng gọi là sổ danh điểm Mỗi sổ danh điểm bao gồm nhiều chữ số sắp xếp theo
một thứ tự nhất định, để chỉ loại, nhóm, thứ, thông thường các chữ số dụng để chỉ loạI VL là số hiệu của tài khoản sử dụng để hạch toán VL đó Còn các chữ số dùng
để chỉ nhóm thì dùng 1 chữ số từ 1 đến 9, trên 10 nhóm thì dùng 2 chữ số từ 01 đến 99 Các chữ số dùng để chỉ thứ VL là số thứ tự liên tục sắp xếp theo quy cách cỡ loại của các thứ VL trong nhóm (dưới 100 quy cách cỡ loại thì dùng 2 chữ số, trên
100 thì dùng 3 chữ số)
III - KẾ TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU:
1 - Chứng từ kế toán sử dụng:
Trang 12- Để đáp ứng yêu cầu quản trị doanh nghiệp, kế toán chi tiết vật liệu phải được thực hiện theo từng kho, từng loại, nhóm, thứ vật liệu và phảI được tiến hành đồng thời ở kho và phòng kế toán trên cùng cơ sở chứng từ.
- Theo chứng từ kế toán quy định ban hành theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/01/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính, và QĐ 885/98 ngày 16/7/1998 của Bộ Tài Chính, các chứng từ kế toán vật liệu bao gồm:
+ Phiếu nhập kho (mẫu số 01-VT)
+ Phiếu xuất kho (mẫu số 02-VT)
+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu số 03-VT)
+ Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm hàng hoá (mẫu số 08-VT)
+ Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho (mẫu số 02-BH)
+ Hoá đơn cước vận chuyển (mẫu số 03-BH)
- Ngoài các chứng từ mang tính bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của nhà nước trong các doanh nghiệp, có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng dẫn như: phiếu xuất vật tư theo hạn mức (mẫu số 04-VT); biên bản kiểm nghiệm vật tư (mẫu số 05-VT); phiếu boá vật tư còn lại cuối kỳ (mẫu số 07-VT)
- Các chứng từ kế toán phải lập kịp thời theo đúng quy định của nhà nước và phải được tổ chức luân chuyển theo trình tự và thời gian do Kế toán trưởng quy định, phục vụ tốt cho kế toán tổng hợp và các bộ phận khác liên quan
2 - Sổ kế toán chi tiết vật liệu:
Để hạch toán chi tiết vật liệu, tuỳ thuộc vào phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu áp dụng trong doanh nghiệp mà sử dụng sổ, thẻ kế toán chi tiết như sau:+ Sổ (thẻ) kho
Trang 13+ Sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu
+ Sổ đối chiếu luân chuyển
+ Sổ số dư
3 - Các phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu:
Sự liên hệ và phối hợp với nhau trong việc ghi chép vào thẻ kho và phòng kế toán hình thành nên những phương pháp hạch toán chi tiết VL có thể thực hiện theo những phương pháp sau:
+ Phương pháp thẻ song song
+ Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
+ Phương pháp sổ số dư
Mỗi phương pháp hạch toán nêu trên đều có những ưu, nhược điểm riêng trong việc ghi chép, phản ánh tình hình nhập-xuất-tồn kho VL trong kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa kho và phòng kế toán, trong việc phát huy vai trò của kế toán trong quản lý vật liệu Mặt khác, mỗi phương pháp lại phải tiến hành trong những điều kiện nhất định mới có thể phát huy được ưu điểm, hạn chế được nhược điểm riêng của nó Bởi vậy, trong việc hạch toán chi tiết vật liệu giữa kho và phòng kế toán phải có sự nghiên cứu, lựa chọn phương pháp thích hợp với điều kiện cụ thể cần thiết của doanh nghiệp để áp dụng phương pháp nào thích hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất trong quản lý
3.1 Phương pháp thẻ song song:
a. Nguyên tắc hạch toán:
Ở kho ghi chép về mặt số lượng, phòng kế toán ghi chép cả về số lượng và giá trị của từng loại VL
Trang 14b. Trình tự ghi chép tại kho:
Hàng ngày căn cứ vào chứng từ nhập-xuất VL, thủ kho sẽ ghi vào thẻ kho, mỗi chứng từ ghi vào thẻ một dòng Thẻ kho được mở cho từng danh điểm VL, trên thẻ kho phảI ghi rõ nội dung như: số thẻ, ngày lập thẻ, thẻ vật tư, nhãn hiệu quy cách sổ danh điểm, đơn vị tính, số lượng nhập-xuất Sau khi vào thẻ kho, thủ kho chuyển giao các chứng từ nhập-xuất VL cho kế toán VL
c. Trình tự ghi chép tại phòng kế toán:
Kế toán VL sử dụng thẻ hoặc sổ kế toán chi tiết VL mở cho từng danh điểm
VL tương ứng với thẻ kho của từng kho để theo dõi cả vể mặt số lượng và về giá trị của VL nhập-xuất-tồn kho Hằng ngày hoặc định kỳ khi nhận được các chứng từ nhập kho của thủ kho chuyển lên, nhân viên kế toán VL phải kiểm tra, đối chiếu và ghi đơn giá hạch toán, tính ra số tiền Sau đó lần lượt ghi có các nghiệp vụ nhập-xuất vào thẻ kho hoặc sổ kế toán chi tiết VL có liên quan Cuối tháng tiến hành cộng thẻ hoặc sổ kế toán chi tiết và đối chiếu với thẻ kho Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và chi tiế, kế toán cần phải căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập-xuất kho về mặt giá trị của từng loại NVL Số liệu của từng bảng này đối chiếu với số liệu của từng phần kế toán tổng hợp
Ngoài ra, để quản lý chặt chẽ thẻ kho, nhân viên kế toán VL còn mở sổ đăng
ký thẻ kho Khi giao thẻ kho cho chủ kho, kế toán phảI ghi vào sổ
• Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ dàng đối chiếu
• Nhược điểm chủ yếu là ghi chép trùng lắp, khối lượng ghi chép lớn.
Do đó, phương pháp này thường được sử dụng ở các doanh nghiệp có chủng loại vật tư ít, tình hình nhập-xuất hàng ngày không thường xuyên, trình độ nghiệp
vụ kế toán và quản lý doanh nghiệp không cao
Trang 15Khái quát trình tự ghi chép của phương pháp này như sau: