Sau đó lập báo cáo bán hàng để xác định doanh số bán, đối chiếu với số tiền đã nộp theo giấy nộp tiền.. Các phương thức thanh toán : Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận được chấp nhận
Trang 1LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
I ĐẶC ĐIỂM NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG VÀ NHIỆM VỤ KẾ TOÁN
1 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG.
Bán hàng là nghiệp vụ cuối cùng trong quá trình hoạt động kinhdoanh lưu chuyển hàng hoá của doanh nghiệp thương mại Thực hiệnnghiệp vụ này, vốn của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hiện vật làhàng hoá sang hình thái tiền tệ Nghiệp vụ bán hàng của doanh nghiệpthương mại có những đặc điểm sau:
Hiện nay có 2 phương thức bán buôn như sau:
+Bán buôn qua kho
+Bán buôn chuyển thẳng
1.1.1.1 Bán buôn qua kho:
Là bán buôn hàng hoá mà hàng bán được xuất ra từ kho bảo quảncủa doanh nghiệp Trong phương thức này có 2 hình thức
Trang 2a Bán buôn qua kho bằng cách giao hàng trực tiếp:
Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến kho doanh nghiệp
để nhận hàng Doanh nghiệp xuất kho hàng hoá, giao trực tiếp cho đạidiện bên mua Sau khi đại diện bên mua kí nhận đủ hàng, bên mua đãthanh toán
1.1.1.2 Bán buôn chuyển thẳng :
Là các doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua không vềnhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua
Phương thức này có thể thực hiện theo các hình thức :
a Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán :
Doanh nghiệp mua hàng của nhà cung cấp và chuyển đi bán thẳngcho bên mua bằng phương tiện vận tải tự có hoặc mua ngoài Hàng hoágửi đi vẫn còn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Khi nào bên muanhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì doanh nghiệp mới ghinhận doanh thu
Doanh nghiệp thương mại vừa thanh toán tiền mua hàng với ngườicung cấp vừa phải kết toán tiền hàng với người mua
Chi phí vận chuyển do doanh nghiệp chịu hay bên mua phải trả tuỳthuộc vào hợp đồng đã ký giữa hai bên
b Bán buôn vận chuyển thẳng không có tham gia thanh toán :
Doanh nghiệp thương mại là trung gian hưởng hoa hồng theothoả thuận còn việc thanh toán tiền hàng, nhận hàng thì do quan hệgiữa doanh nghiệp mua hàng và doanh nghiệp cung cấp
1.1.2 Bán lẻ :
Bán lẻ là việc bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc cho
cơ quan, xí nghiệp để tiêu dùng tập thể, không mang tính chất sảnxuất Trong khâu bán lẻ, chủ yếu là bán thu bằng tiền mặt và thường
Trang 3thì hàng hoá xuất giao cho khách hàng và thu tiền trong cùng một thờiđiểm Vì vậy thời điểm tiêu thụ đối với khâu bán lẻ được xác địnhngay khi hàng hoá giao cho khách hàng.
Hiện nay việc bán lẻ thường được tiến hành theo các phương thứcsau:
1.1.2.1 Phương thức bán hàng thu tiền tập trung :
Phương thức này tách rời nghiệp vụ bán hàng và nghiệp vụ thutiền Nhân viên thu ngân có nhiệm vụ viết hoá đơn thu tiền và giao chokhách hàng để khách hàng đến nhận hàng ở quầy do nhân viên bánhàng giao
Cuối ca hoặc cuối ngày, nhân viên thu ngân tổng hợp tiền, kiểm tiền
và xác định doanh số bán Nhân viên bán hàng căn cứ vào số hàng đãgiao theo hoá đơn lập báo cáo bán hàng, đối chiếu với số hàng hoáhiện còn để xác định số hàng thừa, thiếu
1.1.2.2 Phương thức bán hàng thu tiền trực tiếp :
Nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho khách.Cuối ca (hoặc cuối ngày) nhân viên bán hàng kiểm tiền làm giấy nộptiền, kiêm kê hàng hoá hiện con ở quầy để xác định lượng hàng hoábán ra trong ca(ngày) Sau đó lập báo cáo bán hàng để xác định doanh
số bán, đối chiếu với số tiền đã nộp theo giấy nộp tiền
Ngoài hai phương thức trên, trong bán lẻ còn có các hình thức khácnhư bán lẻ tự phục vụ, bán hàng tự động,
1.2 Các phương thức thanh toán :
Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận được chấp nhận thanhtoán, bên bán có thể nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhautuỳ vào sự tín nhiệm, thoả thuận giữa hai bên mà lựa chọn phươngthức thanh toán cho phù hợp
Trang 4Hiện nay các doanh nghiệp thưong mại áp dụng hai phương thứcthanh toán:
• Thanh toán trực tiếp
• thanh toán không trực tiếp
1.2.1 Thanh toán trực tiếp :
Là thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, ngân phiếu giữa người mua
và người bán Khi nhận được hàng hoá vật tư, lao vụ, dịch vụ thì bênmua xuất tiền ở quỹ để trả trực tiếp cho người bán hay người cung cấp
1.2.2 Thanh toán không trực tiếp :
Là hình thức thanh toán được thực hiện bằng cách trích chuyểntiền ở tài khoản của công ty hoặc bù trừ giữa cá đơn vị thông qua trunggian là ngân hàng Ngân hàng là cơ quan thanh toán không dùng tiềnmặt có trách nhiệm kiểm tra, đảm bảo việc thanh toán giữa các đơn vị
để tránh những rủi ro trong quá trình thu hồi vốn đồng thời khẳng định
rõ vai trò của mình trong các mối quan hệ kinh tế
Trong thanh toán không trực tiếp có các phương thức thanh toánsau:
1.2.2.1 Thanh toán chấp nhận :
Hình thức này áp dụng đối với các cơ quan doanh nghiệp tínnhiệm với nhau, buôn bán giao dịch thưòng xuyên Theo phương thứcnày người bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền bán hàng ở người mua.Người bán chỉ được thanh toán khi có sự đồng ý của bên mua Khi bênbán gửi hàng cho bên mua phải làm giấy tờ nhờ ngân hàng thu hộ tiềnbán hàng Ngân hàng bên mua nhận được chứng từ và được sự đồng ýcủa bên mua sẽ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của bên mua để thanhtoán cho bên bán thông qua ngân hàng phục vụ bên bán
1.2.2.2 Thanh toán theo kế hoạch :
Trang 5Hình thức này thường được áp dụng trong trường hợp hai đơn vị
có quan hệ mua bán thường xuyên, có tín nhiệm với nhau Đối với hìnhthức thanh toán này thì căn cứ vào hợp đồng kinh tế bên bán định kỳchuyển cho bên mua hàng hoá và bên mua định kỳ chuyển cho bên bán tiền hàng theo kế hoạch Cuối kỳ hai bên sẽ điều chỉnh thanh toántheo số thực tế
1.2.2.3 Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi :
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản yêu cầu ngânhàng trích tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người cungcấp hàng hoá, dịch vụ
1.2.2.4 Thanh toán bằng séc :
Séc là chứng từ thanh toán do chủ tài khoản lập trên mẫu in sẵnđặc biệt của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản củamình để trả cho người được hưởng có tên trên tờ séc dó Đơn vị pháthành séc phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng séc, séc chỉ được pháthành khi tài khoản ở ngân hàng có số dư
Có 3 loại séc : Séc bảo chi, Séc chuyển khoản, Séc định mức
1.2.2.6 Thanh toán bằng thư tín dụng và tài khoản đặc biệt :
Thư tín dụng là lệch của ngân hàng phục vụ bên mua đề nghịngân hàng phục vụ bên bán trả tiền cho bên bán về số tiền hàng mà bênbán đã cung cấp cho bên mua Hình thức này thưòng áp dụng với cácđơn vị khác địa phương không có sự tín nhiệm lẫn nhau
Trang 6Việc thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa tích cực đối với nềnkinh tế quốc dân cũng như đối với doanh nghiệp Nó làm giảm dượclượng tiền trong lưu thông, giảm chi phí có liên quan đến việc in ấn vàphát hành tiền, giảm chi phí liên quan đến việc bảo quản, vận chuyểntiền, cho phép kiểm soát được dễ dàng tính hợp pháp của các quan hệthanh toán trong nền kinh tế Nó đảm bảo vốn bằng tiền mặt của cácđơn vị kinh tế và làm cho quá trình thanh toán trở nên đơn giản vàthuận lợi hơn rất nhiều so với việc thanh toán dùng tiền mặt.
1.3 Phạm vi thời điểm xác định hàng bán :
Trong doanh nghiệp thương mại, bán hàng là khâu cuối cùng củahoạt động kinh doanh và có tính quyết định đến cả quá trình kinhdoanh Do đó, việc xác định đúng hàng bán có ý nghĩa rất quan trọngtrong việc nghiên cứu nhu cầu thị trường, khả năng thanh toán củangười tiêu dùng Nó giúp cho các nhà doanh nghiệp xác định đúngphương hướng hoạt động, xác định được lợi nhuận và các khoản nộpngân sách nhà nước Để xác định hàng hoá là hàng bán thì căn cứ vàocác điều kiện sau đây:
• Phải thông qua mua-bán và thanh toán tiến tiền hàng theo mộtphương thức thanh toán nhất định
• Doanh nghiệp thương mại mất quyền sở hữu về hàng hoá và đượcquyền đòi tiền hoặc thu được tiền của người mua
• Hàng hoá bán ra thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp dodoanh nghiệp mua vào hoặc sản xuất, chế biến
Ngoài ra còn có một số trường hợp ngoại lệ khác cũng được coi
là hàng bán như:
• Hàng hoá xuất để đổi lấy một hàng hoá khác, còn gọi là hàng đốilưu (hàng đổi hàng)
Trang 7• Hàng hoá xuất để thanh toán tiền lương cho công nhân viên,thanh toán thu nhập, chia cho các bên tham gia liên doanh, thanh toáncác khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá cho bên mua.
• Hàng hoá hao hụt tổn thất trong khâu bán theo hợp đồng bên muachịu
Thời điểm xác định bán hàng là thời điểm chuyển quuyền sở hữu
về hàng hoá, nó phụ thuộc vào phương thức bán hàng và thanh toántiền hàng
Đối với nghiệp vụ bán buôn, việc bán hàng có thể thanh toánngay hoặc chưa thì thời điểm được xác định là bán hàng là khi nhậnđược tiền của bên mua hoặc nhận được báo có của ngân hàng hoặc giấychấp nhận thanh toán của bên mua
Đối với phương thức bán lẻ thì thời điểm ghi chép hàng bán làngay sau khi nhận được báo cáo bán hàng và giấy nộp tiền
1.4 Giá cả hàng bán:
Doanh nghiệp nào kinh doanh cũng vì mục tiêu lợi nhuận Do vậy
mà khi kinh doanh một mặt hàng nào thì cũng phải xác định được giábán sao cho hợp lý để không ảnh hưởng đén tình hình kinh doanh củadoanh nghiệp Tức là phải đảm bảo bù đắp được giá vốn, bù đắp đượcchi phí kinh doanh và hình thành lợi nhuận cho doanh nghiệp
Doanh nghiệp thường xác định giá bán theo công thức sau:
Thặng số thương mại được dùng để bù đắp chi phí kinh doanh và hìnhthành lợi nhuận và được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua thực tếcủa hàng hoá tiêu thụ
Gía bán = Gía mua thực tế + Thặng số thương mại
Trang 8Cách tính mới là :
Hiện nay, Nhà nước chỉ quy định giá ở một số mặt hàng thiếtyếu, quan trọng còn các hàng hoá khác giá cả được xác định theo cungcầu thị trường Gía hàng bán được xem là một công cụ cạnh tranh củadoanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp phải tự xác định được mức giá bánphù hợp dựa vào nhu cầu thị trường, chu kỳ sản phẩm, uy tín về nhãnmác của sản phẩm, Trên thực tế tình hình kinh doanh luôn biếnđộng, thị trường luôn thay đổi đòi hỏi các nhà quản lý phải có tầmnhìn bao quát, khả năng nghiên cứu nắm bắt kịp thời thông tin từ thịtrường, từ người tiêu dùng để đưa ra mức giá bán thích hợp cho từngmặt hàng vào từng thời điểm, địa điểm cụ thể
2 YÊU CẦU QUẢN LÝ NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG :
Nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá liên quan đến từng khách hàng, từngphương thức thanh toán và từng mặt hàng nhất định Do đó, công tácquản lý nghiệp vụ bán hàng đòi hỏi phải quản lý các chỉ tiêu như :Quản lý doanh thu, tình hình thay đổi trách nhiệm vật chất ở khâu bán,tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ về cáckhoản phải thu của người mua, quản lý giá vốn của hàng hoá đã tiêuthụ, quản lý nghiệp vụ bán hàng cần bám sát các yêu cầu sau :
• Quản lý sự vận động của từng mặt hàng trong quá trình xuất,nhập, tồn kho trên các chỉ tiêu số lượng, chất lượng và giá trị
• Nắm bát theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, từng thểthức thanh toán, từng khách hàng và từng loại hàng hoá tiêu thụ
• Đôn đốc thanh toán, thu hồi đầy đủ tiền hàng
Gía bán = Gía mua thực tế (1+ Tỉ lệ thặng số thương mại )
Trang 9• Tính toán xác định từng loại hoạt động của doanh nghiệp
• Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo chế độ quyđịnh
3 NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN BÁN HÀNG :
Hạch toán kế toán có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lýkinh doanh, nó là công cụ quan trọng phục vụ cho công tác điều hành
và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý vốn của các doanhnghiệp Đồng thời nó là nguồn thông tin số liệu tin cậy để Nhà nướcđiều hành vĩ mô nền kinh tế quốc dân, kiểm tra, kiểm soát hoạt độngcủa các ngành, các lĩnh vực
Do đó kế toán bán hàng cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau: + Ghi chép, phản ánh chính xác đầy đủ, kịp thời tình hình bánhàng cả về mặt giá trị và hiện vật của từng mặt hàng, nhóm hàng
+Kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình thực hiện các chỉ tiêu kếhoạch về quá trình bán hàng Tính toán chính xác giá vốn hàng hoá đãtiêu thụ từ đó xác định đúng đắn kết quả hoạt động bán hàng
+ Phản ánh và giám đốc tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ
và thanh toán công nợ với người mua
+ Cung cấp các thông tin tổng hợp và chi tiết cần thiết về hàngbán kịp thời phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp
II SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁNHÀNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1 SỰ CẦN THIẾT :
Kế toán là một hệ thống thông tin kiểm tra tình hình và sự biếnđộng tài sản của đơn vị Kế toán là một công cụ quản lý quan trọng để
Trang 10điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, để tổ chức, phản ánh vàgiám đốc các loại tài sản vật tư tiền vốn.Từ việc phân tích các số liệu
kế toán các nhà quản lý đề ra biện pháp và hướng kinh doanh
Trong các doanh nghiệp thương mại tiêu thụ hàng hoá là khâuvận động cuối cùng của hàng hoá nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợinhuận, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đóviệc quản lý quá trình tiêu thụ là rất quan trọng Một trong các công cụquản lý quá trình tiêu thụ hàng hoá có hiệu quả nhất đó chính là kếtoán bán hàng Kế toán bán hàng quản lý chặt chẽ các yếu tố củanghiệp vụ bán hàng như : giá cả, quá trình thanh toán, thu hồi công nợ
và các chi phí có liên quan, để từ đó tính toán chính xác kết quả củahoạt động tiêu thụ hàng hoá, góp phần tiết kiệm chi phí bán hàng, tăngvòng quay của vốn, tăng lợi nhuận, tạo điều kiện cho hoạt động kinhdoanh đạt hiệu quả cao nhất
Ngày nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanhnghiệp thương mại đặc biệt phát triển mạnh.Do đó các hoạt động muabán trao đổi được mở rộng.Hoạt động tiêu thụ hàng hoá đã có nhiềuthay đổi cụ thể là có nhiều hình thức tiêu thụ hơn, có nhiều phươngthức thanh toán hơn, tóm lại là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiềuhơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn Lúc này hệ thống kế toán bán hàng
cũ sẽ không kiểm soát được hết các yếu tố của nghiệp vụ bán hàng Do
đó cần phải hoàn thiện kế toán bán hàng để đáp ứng yêu cầu quản lýtrong điều kiện mới Việc hoàn thiện kế toán bán hàng là rất cần thiết
và xuất phát từ nhu cầu thực tế khách quan
2 NỘI DUNG HOÀN THIỆN KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI :
Trang 112.1 Hoàn thiện hạch toán ban đầu :
Hạch toán ban đầu là quá trình theo dõi, ghi chép, hệ thống hoácác nghiệp vụ kinh tế, các hiện tượng và quá trình kinh tế trên chứng
từ làm cơ sở cho hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết Hoàn thiệnhạch toán ban đầu đựơc thực hiện trên các nội dung sau :
+ Sử dụng mẫu chứng từ
+ Số lượng chứng từ lập
+ Tổ chức luân chuyển chứng từ
Kế toán nghiệp vụ bán buôn bán lẻ sử dụng các mẫu chứng từ sau :
+ Hoá đơn GTGT ( Sử dụng đối với doanh nghiệp tính thuếGTGTtheo phương pháp khấu trừ ) Hoá đơn GTGT được lập làm 3liên, một liên giao cho khách hàng, hai liên giữ lại Trên hoá đơnGTGT ghi rõ giá bán chưa thuế, thuế GTGT, tổng gia thanh toán Nếutrên hoá đơn chỉ ghi tổng giá thanh toán thì thuế GTGT được tính trêntổng giá thanh toán theo công thức sau :
Đối với doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT trựctiếp trên GTGT thì chứng từ sử dụng ban đầu là hoá đơn bán hàng Gía ghi trên hoá đơn bán hàng là giá đã có thuế
+ Biên bản thừa thiếu hàng hoá : phản ánh số hàng thiếu hoặcthừa trong các nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá
+ Biên bản hàng không đúng hợp đồng : phản ánh số hàng khôngđúng hợp đồng bị khách hàng trả lại hoặc từ chối thanh toán
+ Các chứng từ gốc phản ánh quá trình thu hồi tiền, thu hồi công
nợ Cụ thể :
-Nếu thu bằng tiền mặt, ngân phiếu nhập quỹ thì căn cứ vào cácThuế GTGT = Tổng giá thanh toán thuế suất thuế GTGT
Trang 12- Phản ánh thuế TTĐB hoặc thuế
XNK phải nộp
- phản ánh doanh thu hàng bán bị
trả lại, giảm giá hàng bán.
- Kết chuyển doanh thu bán hàng
thuần để xác định kết quả
NợTK 511Có
phiếu thu, nếu thu bằng séc thì căn cứ vào bảng kê nộp séc
-Nếu thu qua ngân hàng thì là giấy báo có và bản sao kê của ngânhàng
+ Báo cáo bán hàng, bảng kê bán lẻ hàng hoá (với bán lẻ hànghoá )
+ Đối với nghiệp vụ tiêu thụ qua đại lý hoặc bán hàng trả góp kếtoán sử dụng các chứng từ : Biên bản giao nhận hàng hoá, hợp đồnggiao nhận đại lý và các chứng từ thanh toán khác
2.2 Vận dụng đúng tài khoản kế toán vào quá trình hạch toán 2.2.1 Tài khoản sử dụng :
(1) Tài khoản 511 - “ doanh thu bán hàng“ : Tài khoản này dùng đểphản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp thực hiệntrong kỳ kinh doanh, Doanh thu phản ánh trên tài khoản 511 - đối vớidoanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ - là doanhthu chưa có thuế, còn đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theophương pháp trực tiếp thì doanh thu này là doanh thu đã có thuế
TK 511 được chi tiết thành các tài khoản cấp 2 sau:
+TK 5111- Doanh thu về hàng hoá đã được xác định là tiêu thụ
+TK 5112 - Doanh thu về bán thành phẩm
+TK 5113 - Doanh thu về dịch vụ, lao vụ
+TK 5114 - Doanh thu trợ giá (chỉ sử dụng ở các doanh nghiệp bán hàng theo chỉ đạo của Nhà nước )
TK 511 có kết cấu như sau :
- Phản ánh doanh thu thực tế về bán h ngàng
Trang 13TK 511không có số dư cuối kỳ
Khi hạch toán trên tài khoản 511 cần chú ý :
• Doanh thu phản ánh trên TK 511 là doanh thu đã thực hiện ( Khidoanh nghiệp đã giao hàng và người mua đã thanh toán hoặc ký nhận
nợ )
• Trường hợp đơn vị bán hàng theo phương thức trả góp thì doanhthu phản ánh trên TK511 là doanh thu tính theo giá bán thu tiền mộtlần(Gía bán thông thường )
• Trường hợp đơn vị bán hàng nhận đại lý thì doanh thu phản ánhtrên TK511 là phần hoa hồng đơn vị được hưởng
Các trường hợp sau không được phản ánh vào doanh thu :
• Các khoản thu về nhượng bán hoặc thanh lý TSCĐ
• Các khoản thu về bán cổ phiếu, trái phiếu, thu được phân chia vềliên doanh
• Người mua ứng trước tiền cho đơn vị
• Trị giá vật tư, thành phẩm xuất giao cho bên ngoài gia công chếbiến
(2) Tài khoản 512 - “Doanh thu bán hàng nội bộ “ : Tài khoản nàydùng để phản ánh doanh thu nội bộ của số sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ, lao vụ tiêu thụ trong nội bộ doanh nghiệp, giữa các đơn vị trựcthuộc trong cùng một doanh nghiệp
Trang 14NợTK 632 Có
-Phản ánh trị giá vốn của
hàng hoá đã tiêu thụ theo từng lần bán.- Kết chuyển giá vốn hàng hoáđã tiêu thụ để xác định kết quả kinh doanh
TK 632 cuối kỳ không có số dư
Tài khoản 512 được mở cho các tài khoản cấp 2 sau :
+ TK5121 - Doanh thu về hàng hoá đã được xác định là tiêu thụ+ TK 5122 - Doanh thu về bán thành phẩm
+ TK 5123 - Doanh thu về dịch vụ, lao vụ
+ TK 5124 - Doanh thu trợ giá (chỉ sử dụng ở các doanh nghiệpbánhàng theo chỉ đạo của Nhà nước )
(3) Tài khoản 632 - “Gía vốn hàng bán “ : Tài khoản này dùng để
phản ánh trị giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ trong kỳ
TK 632 có kết cấu như sau :
(4) Tài khoản 131 - “ Phải thu của người mua “: Tài khoản này dùng
để phản ánh tình hình công nợ phải thu ở người mua về trị giá hàng
hoá đã cung cấp