1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện tri tôn tỉnh an giang

99 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những biện pháp này cần được chú trọng và đồng bộ thực hiện trong công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nhằm đáp ứng yêu c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ

QUẢN LÝ GIÁO DỤC

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

HỌ TÊN TÁC GIẢ: TRẦN MINH ĐÀNG

AN GIANG, THÁNG 12 NĂM 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ

QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 8140114

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

HỌ TÊN TÁC GIẢ: TRẦN MINH ĐÀNG

MÃ SỐ HV: CH179059

HỌ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN TIẾN SĨ TRẦN THỊ THANH HUẾ

AN GIANG, THÁNG 12 NĂM 2019

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, cộng tác của tập thể quý thầy, cô giáo đồng nghiệp của ba trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Trần Thị Thanh Huế đã quan tâm và tận tình hướng dẫn tác giả trong thời gian nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, song những thiếu sót trong luận văn là không thể tránh khỏi.Tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ dẫn của quý thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

An Giang, ngày 30 tháng 11 năm 2019

Người thực hiện

Trần Minh Đàng

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài này nhằm nghiên cứu, phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Đề tài đã khảo sát ý kiến của 30 cán bộ quản lý, 60 giáo viên và 200 học sinh của 3 trường THCS trong huyện Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của địa phương, đề tài đã đề xuất 6 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Các biện pháp này được cán bộ quản lý và giáo viên tham gia khảo sát đánh giá

là phù hợp, cần thiết và có tính khả thi cao Những biện pháp này cần được chú trọng

và đồng bộ thực hiện trong công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, góp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện Tri Tôn trong thời kỳ hội nhập quốc

tế hiện nay

Từ khóa: Giáo dục đạo đức; quản lý hoạt động giáo dục đạo đức; trường

THCS; huyện Tri Tôn; tỉnh An Giang

ABSTRACT

This study aims to investigate and analyze the of the management of ethical education activities for students secondary schools in Tri Ton district, An Giang province The survey involved 30 administrators, 60 teachers, and 200 studens from 3 secondary schools in the district The reality of local school practices, 6 measures to enhance the effectiveness of the management of ethical education activities for secondary school students.According to the surveyed participants’ evaluation, these measures would berelevant, necessary, and feasible It is suggested that the measures

be considered and systematically implemented in managing ethical education activities for secondary school students in Tri Ton district, which will support educational innovationsand contribute to the social and economical development of Tri Ton district, An Giang province in the international integration context

Keywords: Ethical education; management of ethical education; secondary

school; Tri Ton district; An Giang province

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong

công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của

công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày 30 tháng 11 năm 2019

Người thực hiện

Trần Minh Đàng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT ii

LỜI CAM ĐOAN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ ix

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 2

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

9 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3

10 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 5

1.1 KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 11

1.1.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường trung học cơ sở 12

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS 19

1.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 22

1.2.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 22

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 22

Tiểu kết chương 1 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG 27

Trang 7

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI - GIÁO DỤC CỦA

HUYỆN TRI TÔN 27

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 27

2.1.2 Tình hình giáo dục 28

2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT THỰC TRẠNG 28

2.2.1 Mục đích khảo sát 28

2.2.2 Nội dung khảo sát 28

2.2.3 Phương pháp khảo sát 29

2.2.4 Đối tượng khảo sát 29

2.2.5 Xử lý số liệu khảo sát 29

2.3 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC HỌC SINH VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG 30

2.3.1 Thực trạng đạo đức của học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn 30

2.3.2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang 34

2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG 40

2.4.1 Thực trạng quản lý công tác lập kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang 40

2.4.2 Thực trạng quản lý tổ chức thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang 41

2.4.3 Thực trạng quản lý chỉ đạo thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang 42

2.4.4 Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 43

2.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG GDĐĐ CHO HS THCS 44

2.6 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG 45

2.6.1 Mặt mạnh 45

2.6.2 Mặt hạn chế 45

Trang 8

2.6.3 Nguyên nhân 46

2.6.4 Đánh giá chung 47

Tiểu kết Chương 2 48

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG 49

3.1 NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH 49

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 49

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 49

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 49

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 50

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 50

3.2 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG 50 3.2.1 Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường về tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ cho HS THCS 50

3.2.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS 53

3.2.3 Đa dạng hóa các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh 55

3.2.4 Đẩy mạnh sự phối hợp giữa Gia đình – Nhà trường – Xã hội trong hoạt động GDĐĐ cho HS 58

3.2.5 Tăng cường đầu tư CSVC – TB, tài chính cho hoạt động GDĐĐ của nhà trường 62

3.2.6 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 64

3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH 67

3.4 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẦN THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ ĐỀ XUẤT 68

3.4.1 Các bước tiến hành khảo nghiệm 68

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 68

Tiểu kết Chương 3 72

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ VÀ HẠN CHẾ 73

1 KẾT LUẬN 73

Trang 9

2 KHUYẾN NGHỊ 74

2.1 Đối với Bộ GD&ĐT 74

2.2 Đối với Sở GD&ĐT tỉnh An Giang 74

2.3 Đối với phòng GD&ĐT huyện Tri Tôn 75

2.4 Đối với các trường THCS huyện Tri Tôn 75

2.5 Đối với cha mẹ HS 75

2.6 Đối với các lực lượng xã hội 75

3 HẠN CHẾ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 80

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1 Số lượng các đối tượng tham gia khảo sát 29

Bảng 2.2 Kết quả xếp loại hạnh kiểm của HS các trường THCS huyện Tri Tôn trong 4 năm học 30

Bảng 2.3 Thực trạng nhận thức của các em HS 31

Bảng 2.4 Ý kiến của học sinh về những quan điểm đạo đức xã hội hiện nay 32

Bảng 2.5 Thực trạng các hành vi vi phạm của các em HS THCS 33

Bảng 2.6 Thực trạng nhận thức về mục tiêu giáo dục đạo đức cho HS 34

Bảng 2.7 Thực trạng về nội dung giáo dục đạo đức cho HS THCS 36

Bảng 2.8 Thực trạng về hình thức giáo dục đạo đức cho HS THCS 37

Bảng 2.9 thực trạng về phương pháp giáo dục đạo đức cho HS THCS 38

Bảng 2.10 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức cho HS THCS 39

Bảng 2.11 Thực trạng quản lý công tác lập kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho HS THCS 40

Bảng 2.12 Thực trạng quản lý công tác tổ chức thực hiện hoạt động GDĐĐ cho HS THCS 41

Bảng 2.13 Thực trạng quản lý chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục đạo đức cho HS THCS 42

Bảng 2.14 Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức cho HS THCS 43

Bảng 2.15 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục đạo đức cho HS THCS 44

Bảng 3.1 Số lượng CBQL tham gia khảo sát 68

Bảng 3.2 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 69

Bảng 3.3 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 70

Trang 12

GIỚI THIỆU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Giáo dục luôn gắn liền với sự phát triển của loài người, sự tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội luôn chịu sự chi phối của giáo dục và ngược lại việc phát triển của kinh tế xã hội có vai trò to lớn trong việc phát triển giáo dục; giáo dục là công

cụ, phương tiện để cải tiến xã hội Chỉ khi kinh tế - xã hội phát triển thì giáo dục được coi vừa là động lực vừa là mục tiêu cho việc phát triển xã hội Những năm vừa qua, đất nước ta đang chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Với công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục

Bác Hồ dạy: Có tài phải có đức Có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được

ai (Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục, 1977)

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII (1996) đã khẳng định: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với ý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, … làm chủ tri thức khoa học

và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi… là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" (Ban chấp hành

TW Đảng, Nghị quyết TW2, Định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2020, 1996)

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI

về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo một lần nữa nhấn mạnh:

Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào;

sống tốt và làm việc hiệu quả và cụ thể ở giáo dục phổ thông là “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn…” (Ban chấp hành TW Đảng, Nghị quyết số 29 “Về đổi mới căn bản toàn

diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thì trường và hội nhập quốc tế”, 2013)

Tuy nhiên, sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn tác động đến đại đa số thanh niên và học sinh như: Có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bão, lập thân, lập nghiệp; những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, chạy theo thành tích Thêm vào đó, sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ thông qua các phương tiện như phim ảnh, games, mạng Internet… làm ảnh hưởng đến những quan điểm về

Trang 13

tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh, nhất là các em chưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này

Các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang cũng không đứng ngoài thực trạng đó Trong những năm qua, nhiều gia đình, cha mẹ mải làm ăn, lo kiếm tiền, không chăm lo đến sự học hành, đời sống của con trẻ Hàng loạt các hàng quán mọc lên với đủ loại các trò chơi, bi A, games, chát…để móc tiền học sinh Số thanh niên đã ra trường không có việc làm thường xuyên tụ tập, lôi kéo học sinh bỏ học tham gia hút thuốc, uống rượu, trộm cắp, đánh nhau và nhiều tệ nạn khác, làm cho

số học sinh yếu về rèn luyện đạo đức của các trường ngày càng tăng

Các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang những năm vừa qua đã có nhiều chuyển biến trong các mặt giáo dục như các chỉ tiêu về học sinh tốt nghiệp, chỉ tiêu học sinh giỏi, học sinh tiên tiến nhưng bên cạnh đó hiệu quả công tác giáo dục đạo đức học sinh còn có nhiều hạn chế và tồn tại:

- Giáo dục đạo đức học sinh chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, chưa được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc; còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban ngành hữu quan, các tổ chức chính trị xã hội và quần chúng nhân dân

- Giáo viên lên lớp còn nặng dạy kiến thức, chưa chú trọng đến vấn đề dạy người, môn giáo dục công dân nhiều giáo viên và học sinh còn coi là “môn phụ’’, nặng lý luận thiếu sự đầu tư nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên

- Có một bộ phận cán bộ giáo viên còn né tránh, thậm trí còn làm ngơ trước những hành vi vi phạm đạo đức của học sinh Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp còn một bộ phận không nhỏ chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa có sự quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức học sinh

- Vẫn tồn tại một bộ phận học sinh thường xuyên có biểu hiện vi phạm về đạo đức, có lối sống hưởng thụ, vướng vào các tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật, xúc phạm tới nhân cách nhà giáo

Chính vì những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài: “Quản lý hoạt

động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” làm đề tài nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động

giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS.Từ đó, đề tài đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

3 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Trang 14

5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

5.1 Thực trạng của việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang hiện nay như thế nào?

5.2 Biện pháp quản lý nào là cần thiết để nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lí luận hoạt động giáo dục đạo đức học sinh nói chung và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS nói riêng

- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

- Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

ở các trường trung học cơ sở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay

7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ba trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang trong thời gian từ năm học 2018 – 2019 đến nay

- Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh của 03 trường tham gia khảo sát

8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

8.1.1 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Nghiên cứu các báo cáo tổng kết của nhà trường về kết quả giáo dục đạo đức học sinh nhằm tìm hiểu những kinh nghiệm về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

8.1.2 Phương pháp khảo sát: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Phương pháp thu thập thông tin bao gồm bảng hỏi

Các đối tượng tham gia khảo sát: CBQL của 3 trường khảo sát; Giáo viên giảng dạy và học sinh

8.1.3 Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia, các nhà quản lý giàu kinh nghiệm trong huyện Tri Tôn, trong tỉnh, trong nước

8.2 Phương pháp thống kê toán học:

Thống kê toán học để tổng hợp, phân tích và xử lí số liệu thu được từ các bảng hỏi

9 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

9.1 Đóng góp về lý luận

Kết quả của đề tài góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng nhằm nâng cao chất

Trang 15

lượng giáo dục toàn diện đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

ở Việt Nam

9.2 Đóng góp về thực tiễn

Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp và có tính khả thi giúp nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS ở các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Từ đó nhân rộng kinh nghiệm trong thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS trên địa bàn tỉnh An Giang

10 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần giới thiệu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Đạo đức, giáo dục đạo đức

Ngày nay, tác giả Trần Hậu Kiểm cho rằng, đạo đức là những phẩm chất nhân cách của con người, phản ánh con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, thói quen, hành vi và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với nhau và con người với chính bản thân mình (Trần Hậu Kiểm, 1997)

Theo quan điểm của hai tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt được phản ánh dưới dạng nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội, giữa con người với con người và với chính bản thân họ (Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng, 2011)

Mặc dù khái niệm đạo đức được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng tựu chung lại bất kể cách hiểu nào thì đạo đức vẫn thể hiện được ba chức năng chính, đó là:

- Chức năng nhận thức: Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức

có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội Nhận thức đạo đức đưa lại tri thức đạo đức, ý thức đạo đức Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng giá trị đạo đức xã hội trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện đạo đức (hiện thực hóa đạo đức)

- Chức năng giáo dục: Môi trường đạo đức tác động đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả đạo đức cá nhân và xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức Chức năng giáo dục của đạo đức cần được hiểu một mặt “giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng”, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng; mặt khác, là sự “tự giáo dục” ở các cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng

Trang 17

- Chức năng điều chỉnh hành vi: Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi Sự điều chỉnh hành vi làm cá nhân, xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thành đặc trưng riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng xã hội khác và làm thành cái không thể thay thế của đạo đức b) Giáo dục đạo đức

GDĐĐ là quá trình tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức Quan trọng nhất là hình thành cho họ thói quen đạo đức Nhờ đó, con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của mình

Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ, GDĐĐ là quá trình biến hệ thống những chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của mỗi cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu thói quen của đối tượng giáo dục (Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, 1998)

GDĐĐ trong trường phổ thông là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể và có quan hệ mật thiết với các quá trình giáo dục khác như giáo dục trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và hướng nghiệp… Ngày nay, GDĐĐ cho HS là GDĐĐ XHCN Theo đó, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật làm cho HS có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng XHCN, thật sự say mê học tập, có ý thức

tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng luật pháp

1.1.1.2 Quản lý, quản lý giáo dục

a) Quản lý

Quản lý xuất hiện khi con người hình thành hoạt động nhóm Qua lao động,

để duy trì sự sống đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các cá nhân con người Hoạt động quản lý là một hiện tương tất yếu phát triển cùng sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo lên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một

mục đích chung

Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữ những công việc cánhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm riêng

lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” (C Mác, Ph Ăng ghen,

2005, tr 342) Các Mác nói lên bản chất của quản lý là một hoạt động lao động để

điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người

Theo F Taylor: “Quản lý là biết rõ ràng, chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành tốt công việc như thế nào,

bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” (Nguyễn Thị Doan, 1996, tr 89)

Ở Việt Nam, theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn, quản lý là sự tác động có tổ chức,

có tính hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đạt được mục tiêu đặt ra

trong điều kiện biến động của môi trường (Đỗ Hoàng Toàn, 1998)

Trang 18

Hai tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” (Nguyễn Quốc Chí và

Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2010, tr 9)

Như vậy có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch và hệ thống của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý dựa trên

những thông tin về tình trạng của đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

Dù có rất nhiều khái niệm khác nhau nhưng trong đó đều thể hiện rất rõ các thành tố quản lý đó là: chủ thể quản lý; đối tượng quản lý; mục tiêu quản lý; công

cụ quản lý; phương pháp quản lý

b) Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một bộ phận trong quản lý nhà nước XHCN Việt Nam Cũng như bất kì một hoạt động xã hội, hoạt động giáo dục cần được tổ chức và quản lý với các cấp độ khác nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục phù

hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và nhân loại

Theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có

kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thề quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về phát triển thể lực, trí lực,

tâm lực của HS (Trần Kiểm, 2008)

Xét theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính “trồi” của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống tới mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện

đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động

Ở các cơ sở giáo dục thì quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện của hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

1.1.1.2 Hoạt động GDĐĐ, quản lý hoạt động GDĐĐ

a) Hoạt động GDĐĐ

Đạo đức là khái niệm luân thường đạo lý của con người sử dụng để phân biệt tốt – xấu, đúng – sai, cái thiện – cái ác trong cuộc sống, được sử dụng trong ba phạm vi: Lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và sự trừng phạt Trong đời sống xã hội, nói đến đạo đức là nói đến các giá trị, các chuẩn mực đạo đức Những quan niệm về các giá trị và chuẩn mực đạo đức có tính lịch sử - xã hội và gắn liền với các tư tưởng về triết học, về văn hóa trong mỗi thời kỳ lịch sử; chịu sự chi phối của các tư tưởng tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn và những luật lệ của xã hội, phản ánh trong cách đối xử của con người với môi trường xung quanh, với cộng đồng, với người khác và với bản thân mình

Theo quan niệm trước đây, đạo đức được hiểu đồng nghĩa với luân lý, đó là những chuẩn mực, hành vi được xã hội quy định, được nhiều người thừa nhận và tự

Trang 19

giác thực hiện Đó là những quy ước cộng đồng xã hội qua thời gian được thừa nhận

và trở thành truyền thống đạo lý trong ứng xử giữa người với người, người với tự nhiên, xã hội

Ngày nay trong hoàn cảnh xã hội luôn vận động, phát triển, quan niệm về đạo đức được mở rộng phạm vi Đạo đức không chỉ là phạm trù luân lý, những quy định đối nhân xử thế giữa người với người trong mọi phạm vi từ nhỏ đến lớn Đạo đức còn được mở rộng đến vấn đề ý thức, trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ hòa bình, biết hợp tác phát triển cùng với các dân tộc khác, giáo dục trách nhiệm, xã hội lành mạnh, giáo dục việc thực hiện nghĩa vụ công dân trong sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện các mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tinh thần cảnh giác cách mạng trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Với ý nghĩa đó, có thể hiểu đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội

Giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng của quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp nhằm hình thành cho con người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, chuẩn mực quan trọng nhất làm cơ sở để con người có thể lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội; biết tự đánh giá, tự suy ngẫm về hành vi, cách ứng xử của mình Vì thế, giáo dục đạo đức là thực hiện hình thành và phát triển nhân cách cho con người tương ứng với từng giai đoạn phát triển trong cuộc sống

Giáo sư Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt viết: “Giáo dục đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen, của người được giáo dục” Đó là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và cuối cùng quan trọng nhất là hình thành cho họ thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội Song giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng “Giáo dục đạo đức cho học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa” (Phạm Khắc Chương, 1995, tr128)

Giáo dục đạo đức là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người

Trong bất kỳ xã hội nào, vấn đề giáo dục đạo đức cho con người theo chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng Giáo dục đạo đức

là con đường chủ yếu để hình thành cho con người những quan điểm, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản nhất Cùng với quá trình giáo dục và hoạt động tích cực của mình, con người càng hiểu rõ vai trò to lớn của lương tâm, ý thức, danh dự và các phẩm chất đạo đức của cá nhân đối với bản thân mình trong đồi sống cộng đồng, từ đó tham gia có ý thức, có trách nhiệm vào thúc đẩy tiến bộ xã hội

Nói đến hoạt động giáo dục đạo đức là nhắn mạnh xem xét giáo dục đạo đức theo cấu trúc hoạt động, tức là phải xem xét động cơ, mục đích, phương tiện cũng

Trang 20

như hệ thống các hành động, thao tác tương ứng của hoạt động đó Mặt khác, quản

lý được thực hiện bằng những công việc cụ thể như xác định mục tiêu; xác định quyết tâm và xây dựng kế hoạch; tổ chức lực lượng, điều kiện và phương tiện đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch; tổ chức thực hiện theo kế hoạch đã đề ra; kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được, điều chỉnh việc thực hiện để kết quả đạt được như mong muốn Đây là những tư tưởng cơ bản để làm rõ khái niệm quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

b) Quản lý hoạt động GDĐĐ

Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thông qua các luật lệ, các chính sách, các quy định theo những quy tắc, phương pháp nhằm tạo

ra môi trường và điều kiện cho sự vận động của đối tượng theo đúng yêu cầu của chủ thể quản lý, đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra

Mọi người trong xã hội điều hoạt động trong những tổ chức xã hội, những nhóm và cộng đồng Trong khi đó, mỗi người là một nhân cách độc đáo, không lặp lại Vì thế, khi cần hướng đến một mục tiêu chung, mong muốn đạt được kết quả chung thì phải có sự phối hợp thống nhất trong suy nghĩ, trong hành động của tất cả các thành viên trong tổ chức, nhóm hay cộng đồng đó

Có thể khái quát, quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương tiện quản lý làm cho đối tượng quản lý nỗ lực tự giác thực hiện các hành vi và hoạt động theo ý định của nhà quản lý để đạt được các mục tiêu đã đề ra trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể

Xét về lịch sử thì khoa học quản lý giáo dục xuất hiện sau khoa học quản lý kinh tế Hiện nay, quản lý giáo dục là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đã đưa ra những cách định nghĩa khác nhau, tương ứng là các quan điểm khác nhau về quản lý giáo dục

Tác giả Phạm Minh Hạc khái quát: Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh (Phạm Minh Hạc, 1997) Ở đây, tác giả nhắn mạnh đường lối chính trị mà công tác quản lý phải quán triệt khi tác động vào đối tượng quản lý Tuy nhiên, cách thức, phương tiện tác động chưa được đề cập

Một số tác giả khác cũng có những định nghĩa riêng Mỗi cách định nghĩa quản lý giáo dục đều quan tâm làm nỗi bật những khía cạnh nhất định liên quan đến mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của mình Tuy nhiên, tác giả thấy, bản chất của quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý và các thành tố khác trong hệ thống quản lý bằng những công cụ, phương tiện nhất định, nhằm làm cho kết quả quá trình giáo dục đạt được mục tiêu đã định, phù hợp với đường lối quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục Đây là một công việc rất quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ có đầy đủ kiến thức và

kỹ năng, phẩm chất để đảm nhận các chức năng xã hội

Chủ thể quản lý giáo dục là nhà quản lý, tập thể các nhà quản lý hay bộ máy quản lý giáo dục Trong trường đó là Hiệu trưởng (cùng với bộ máy giúp việc của Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, các tổ chức đoàn thể

Trang 21

Khách thể quản lý giáo dục bao gồm trường học hoặc là hoạt động giáo dục trên một địa bàn (cơ quan quản lý giáo dục các cấp), trong đó có bốn thành tố của một hệ thống xã hội: Tư tưởng (quan điểm đường lối, nguyên lý chính sách chế độ, giáo dục, ), con người (giáo viên, cán bộ công nhân viên và các hoạt động của họ, ), quá trình giáo dục (diễn ra trong không gian và thời gian), vật chất, tài chính (trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho giáo dục, ngân sách, ngân quỹ, )

Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý một cách có ý thức nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra và chính sự thực hiện thành công mục tiêu quản lý giáo dục lại bảo đảm cho thực hiện được các mục tiêu giáo dục nói chung của nhà trường

Trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức, việc xây dựng kế hoạch quản lý

là phân tích đánh giá tình hình giáo dục đạo đức đang tiến hành trong nhà trường, thấy được vai trò thực tế của từng lực lượng tham gia hoạt động giáo dục đạo đức thực hiện nhiệm vụ theo chức trách của mình thế nào, mối quan hệ hợp tác, phối hợp của các lực lượng với nhau thực hiện hiệu quả các tác động giáo dục; thấy được những điều kiện, phương tiện, tài chính, quỹ thời gian bào đảm, để từ đó đề ra mục tiêu mới về nhận thức và hành vi đạo đức của học sinh cần phải đạt được; kịp thời có những chủ trương và quyết tâm hành động đạt được mục tiêu; xác định được những yêu cầu mới đối với các thành phần và lực lượng; những điều kiện, phương tiện và tương ứng để thực hiện mục tiêu

Về tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức, nhiệm vụ của quản lý trước hết là quán triệt rõ mục tiêu giáo dục đạo đức cho các lực lượng giáo dục, cho học sinh nhằm tạo ra sự thống nhất trong nhận thức; làm cho học nắm chắc nội dung các biện pháp tiến hành, các điều kiện và thời gian thực hiện, các kết quả phải đạt được qua giáo dục đạo đức cho học sinh Từ đó bố trí lực lượng, phân công trách nhiệm, giao chỉ tiêu, xác định yêu cầu thực hiện chgo từng đối tượng, từng bộ phận theo kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh đã xác định

Quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức, các quyết định quản

lý được ban hành dưới dạng các mệnh lệnh, chỉ thị bằng các văn bản hoặc lời nói yêu cầu các lực lượng, cá nhân thực hiện theo nhiệm vụ, chức trách đã được phân công Tùy theo phân cấp trách nhiệm, chức trách nhiệm vụ của từng cá nhân và tổ chức, các quyết định quản lý trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

ở các trường THCS có thể do Hiệu trưởng, các thầy, cô trong ban giám hiệu ban hành; các yêu cầu, các hướng dẫn chỉ đạo của Đoàn – Đội, của thầy, cô trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo mệnh lệnh của Hiệu trưởng và ban giám hiệu, theo chương trình kế hoạch giáo dục đạo đức đã ban hành

Công tác kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức chủ yếu là xem xét nội dung các hoạt động giáo dục và rèn luyện đạo đức đang thực hiện so với kế hoạch, đối chiếu với chương trình đạt ra có đúng không, sai lệch như thế nào; đánh giá mức độ nghiêm trọng ảnh hưởng của các sai lệch đến mcu5 tiêu giáo dục đạo đức, ảnh hưởng đến kết quả và chất lượng giáo dục đào tạo nói chung Những phát hiện này là căn cứ quan trọng để chủ thể quản lý chủ trương điều chỉnh kịp thời về lực lượng, về tổ chức, về biện pháp, phương tiện thực hiện, bảo đảm cho kết quả giáo dục đạo đức đạt được phù hợp với mục tiêu đã đề ra Dây

là một chức năng quan trọng trong quản lý, đồng thời cũng là một khâu cơ bản của toàn bộ quá trình quản lý đặt ra

Trang 22

Trên đây là những vấn đề cơ bản trong khái niệm quản lý hoạt động giáo dục đạo đức Khi xem xét quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho một đối tương cụ thể, những chủ thể, đối tượng quản lý được xác định; những mục tiêu, cách thức tổ chức tiến hành được cụ thể hóa cho đối tương đó

Vậy có thể khái quát “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” hiện nay là một bộ phận do lãnh đạo nhà trường tổ chức điều khiển các lực lượng giáo dục thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh THCS nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức đã đề ra trong điều kiện kinh tế - xã hội huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang hiện nay

1.1.2 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở

1.1.2.1 Đặc điểm của học sinh trường trung học cơ sở

Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.Vì muốn quá trình quản lý đạt được mục tiêu thì chủ thể quản lý phải hiểu được tâm sinh lý lứa tuổi của đối tượng quản lý Lứa tuổi học sinh trường trung học cơ sở bao gồm những em ở độ tuổi từ 11, 12 tuổi đến 14, 15 tuổi Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường trung học cơ sở (Bộ GD&ĐT, Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông

và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Quyết định số, 2007)

Mục tiêu của giáo dục THCS - theo điều 27 Luật giáo dục: “Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học;

có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” Như vậy THCS không chỉ nhằm mục tiêu giúp HS học lên THPT mà còn chuẩn bị cho sự phân luồng sau THCS HS THCS phải có những giá trị đạo đức, tư tưởng, lối sống phù hợp với mục tiêu, có những kiến thức phổ thông

cơ bản về tự nhiên, xã hội và con người, gắn bó với cuộc sống cộng đồng và thực tiễn địa phương, có kỹ năng vận dụng những kiến thức đó học để giải quyết những vấn đề thường gặp trong cuộc sống hàng ngày (Quốc hội, 2009)

1.1.2.2 Vị trí, chức năng của hoạt động giáo dục đạo đức trong trường THCS

Giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên trong chuỗi hoạt động thực hiện pháp luật,

là cầu nối để truyền tải pháp luật vào đời sống xã hội, pháp luật muốn phát huy được tác dụng và hiệu quả phải thông qua và được thực hiện bởi con người có hiểu biết pháp luật, vì vậy Đảng và Nhà nước ta quan tâm đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay

Giáo dục pháp luật có vai trò quan trọng, giúp các cơ quan nhà nước và mọi công dân hiểu biết và sử dụng đúng đắn phương tiện pháp luật trong công việc và đời sống hàng ngày

Giáo dục pháp luật là hoạt động có mục đích, có hệ thống và có định hướng của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội để hình thành, nâng cao ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý cho mọi công dân

Thực chất, giáo dục pháp luật là hoạt động có mục đích, có tổ chức của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ tri

Trang 23

thức pháp luật, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành

Giáo dục pháp luật là cơ sở để củng cố kiến thức, rèn luyện thói quen hành vi chấp hành pháp luật cho học sinh

1.1.2.3 Các thành tố của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trườngTHCS

Giáo dục pháp luật chính khoá (trong nhà trường) mang tính phổ biến được thực hiện thông qua tổ chức dạy học; biên soạn tài liệu và tổ chức các hoạt động tuyên truyền, lồng ghép kiến thức pháp luật vào nội dung các môn học có liên quan như sinh học, lịch sử, địa lý,

Giáo dục pháp luật ngoại khoá (ngoài nhà trường, ngoài giờ lên lớp) được thực hiện chủ yếu với các hình thức như nói chuyện pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, sinh hoạt theo chủ đề pháp luật, tọa đàm, hội thảo chuyên đề, sân khấu hóa các nội dung giáo dục pháp luật,

1.1.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường trung học cơ sở

1.1.3.1 Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức và kế hoạch thực hiện

GDĐĐ ở trường THCS nhằm giáo dục cho HS các chuẩn mực xã hội đối với người công dân ở mức độ phù hợp với lứa tuổi; trên cơ sở đó góp phần hình thành những nhân cách của con người Việt Nam trong giai đoạnhiện nay, phù hợp với xu thế phát triển và tiến bộ của thời đại GDĐĐ cần đạt được những yêu cầu sau đây:

- Biết tự tổ chức việc học tập và rèn luyện bản thân theo các yêu cầu của các chuẩn mực đã học

Về thái độ:

- Có thái độ đúng đắn, rõ ràng trước các hiện tượng, sự kiện đạo đức, pháp luật, văn hóa trong đời sống hàng ngày Hình thành thái độ trách nhiệm đối với lời nói, việc làm của bản thân, tự trọng, tự tin trong giao tiếp

- Yêu thương tôn trọng mọi người, yêu quê hương, đất nước;

- Có ý thức thực hiện rèn luyện và phát triển bản thân, thực hiện quyền và nghĩa vụ của bản thân đối với gia đình, nhà trường và xã hội

Trang 24

Nói tóm lại, mục tiêu của GDĐĐ là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng đắn các giá trị của đạo đức, biết hành động theo các chuẩn mực đạo đức, công bằng

và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì sự tiến bộ của xã hội

1.1.3.2 Quản lý nội dung giáo dục đạo đức

a) Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Xây dựng kế hoạch trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh là việc xác định các mục tiêu cho hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện các mục tiêu này

Lập kế hoạch trong quản lý giáo dục đạo đức có vai trò rất quan trọng, giúp ích rất nhiều cho hoạt động quản lý của Hiệu trưởng và cho hoạt động giáo dục học sinh của nhà trường Một kế hoạch được thực hiện tốt thì các hoạt động giáo dục đạo đức có sự tập trung, không dàn trải để đối phó và rất linh hoạt Nó làm cho hoạt động của giáo viên, học sinh sẽ hướng tới kết quả một cách chủ động và tích cực hơn Lập kế hoạch tốt sẽ tăng cường sự ủng hộ, sự phối kết hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm giáo dục đạo đức học sinh Mặc dù họ có những mục tiêu và nhiệm vụ riêng nhưng việc hoàn thành mục tiêu riêng ấy thì cũng đã góp phần hướng tới yêu cầu chung của hoạt động giáo dục học sinh Hơn nữa, khi lập kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức được thực hiện tốt thì việc kiểm tra cũng trở nên tốt hơn thông qua kết quả của những mục tiêu cụ thể, rõ ràng ấy Đây còn là cơ

sở để đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý và hoạt động giáo dục đạo đức học sinh

Khi xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh người Hiệu trưởng cần phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học của ngành, trường, địa phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường, ngoài trường

để xác định mục tiêu và các hoạt động đạt mục tiêu trong hoạt động giáo dục đạo đức

Kế hoạch giáo dục đạo đức nằm trong kế hoạch giáo dục tổng thể của nhà trường vì vậy kế hoạch phải đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu giáo dục đạo đức với mục tiêu giáo dục trong trường THCS; phải đảm bảo phối hợp hữu cơ với

kế hoạch dạy học trên lớp; phải đảm bảo lựa chọn nội dung, hình thức phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để đạt hiệu quả giáo dục cao

b) Tổ chức việc thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Tổ chức là quá trình hình thành các quan hệ và cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường nhằm tạo cơ chế đảm bảo sự phối hợp, điều phối tốt các nguồn lực, các điều kiện cho việc hiện thực hoá mục tiêu đã

đề ra của kế hoạch

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh sau khi đã lập xong kế hoạch, đó là lúc cần phải chuyển hóa những ý tưởng thành hiện thực Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường để giúp

họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của nhà trường

về giáo dục đạo đức cho học sinh Vì vậy các thành viên và các bộ phận cần được giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch giáo dục đạo đức; thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy

Trang 25

động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc

Để tổ chức việc thực hiện kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh, Hiệu trưởng sẽ tiến hành phân công, quy định nhiệm vụ cho các lực lượng trong trường thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức năm học, học kì, tháng, tuần theo mục tiêu, nội dung đã đề ra, chẳng hạn như:

- Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chung, chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch chiến lược, kế hoạch bồi dưỡng, kế hoạch học năm và học kì

- Hiệu trưởng cân đối ngân sách được cấp và nguồn huy động khác để thực hiện kế hoạch đầu tư phương tiện hỗ trợ hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

và xây dựng cảnh quan trường học

- Hiệu trưởng tổ chức chỉ đạo tất cả các lực lượng giáo dục trong nhà trường

và thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức

Phó Hiệu trưởng chuyên môn, Tổ trưởng chuyên môn quản lý chất lượng giáo dục đạo đức thông qua bộ môn Hiệu phó chuyên môn, Tổ trưởng bộ môn sẽ chịu trách nhiệm triển khai thực hiện yêu cầu lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trong hoạt động dạy học của giáo viên bộ môn

Đối với giáo viên chủ nhiệm, Hiệu trưởng xây dựng qui định về nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của giáo viên chủ nhiệm lớp trong tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh lớp chủ nhiệm như: giáo viên chủ nhiệm chịu trách nhiệm chính trong giáo dục đạo đức cho học sinh, chịu trách nhiệm giáo dục học sinh chưa ngoan, đánh giá xếp loại học sinh của lớp chủ nhiệm

Đối với giáo viên bộ môn, Hiệu trưởng căn cứ vào nhiệm vụ của giáo viên được qui định trong điều lệ trường học, tiến hành xây dựng qui định nhiệm vụ, trách nhiệm quyền hạn của giáo viên bộ môn trong việc tham gia tổ chức các hoạt động giáo dục như: Thực hiện lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh qua các môn học, phối hợp, hỗ trợ các hoạt động giáo dục khi có yêu cầu và gương mẫu cho học sinh noi theo

Như vậy, trách nhiệm giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường thuộc

về tất cả cán bộ, giáo viên, gia đình và các lực lượng xã hội nhưng Hiệu trưởng vẫn giữ vai trò nòng cốt Hiệu trưởng xác định nội dung, quyết định các hình thức, phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhà trường Hiệu trưởng còn là người trực tiếp tham gia giáo dục đạo đức học sinh thông qua nhiều hoạt động Để hoàn thành nhiệm vụ lớn lao trên, người Hiệu trưởng phải tìm cho mình những biện pháp giáo dục phù hợp với đối tượng học sinh Khi phân công người phụ trách các hoạt động giáo dục đạo đức, Hiệu trưởng cần lưu ý sự hợp lí, phù hợp với năng lực, sở trường, nguyện vọng của họ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận, không chồng chéo, không lãng phí

c) Chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Chỉ đạo là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ để bảo đảm việc giáo dục đạo đức diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả Chức năng chỉ đạo trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục và góp phần tạo nên

Trang 26

chất lượng, hiệu quả cao cho các hoạt động này Chỉ đạo có vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hóa mục tiêu của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

Để chắc chắn việc thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường được hiệu quả, đáp ứng mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, phương pháp và hình thức của hoạt động giáo dục, Hiệu trưởng cần thực hiện một số biện pháp như:

Chỉ đạo họp giao ban định kỳ các lực lượng đã được phân công nhằm: Tổng kết, rút kinh nghiệm việc tổ chức các hoạt động giáo dục đã làm; đôn đốc, quan tâm, theo dõi, giám sát việc thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức từng học kì, hàng tháng, hàng tuần; chỉ đạo việc tổ chức tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường, cho cha mẹ học sinh để làm cho các đối tượng nhận thức đúng đắn về vai trò, nhiệm vụ của các hoạt động giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh, từ đó họ tự giác tham gia tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức và hỗ trợ nhà trường tổ chức hoạt động này; đảm bảo, thống nhất các nguyên tắc, hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức; chỉ đạo tổ chức huấn luyện, dưỡng cho giáo viên nội dung, phương pháp giáo dục, kỹ năng phục vụ hoạt động giáo dục đạo đức

Chỉ đạo hoạt động của khối chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm: Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên triển khai kế hoạch theo chủ đề giáo dục đạo đức hàng tháng của toàn trường; từng khối bộ môn trao đổi thống nhất mức độ nội dung, hình thức hoạt động nhằm làm cho hoạt động giáo dục phù hợp tâm sinh lí lứa tuổi, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của học sinh Trên cơ sở đó, giáo viên chủ nhiệm tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức phù hợp với học sinh khối lớp chủ nhiệm

Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ bộ môn, giáo viên bộ môn thực hiện lồng ghép hoạt động giáo dục đạo đức qua các môn học và tham gia các hoạt động giáo dục đạo đức học sinh

Hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động của tổ chức Đội: đặt ra yêu cầu, mục tiêu, định hướng các chương trình hoạt động trọng tâm của hoạt động Đội nhằm giáo dục đạo đức học sinh; đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ đạo lựa chọn các chủ đề hoạt động sinh hoạt dưới cờ Hiệu trưởng chủ động liên hệ, tư vấn, phối hợp các lực lượng trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Hiệu trưởng quan tâm, theo dõi, động viên, hướng dẫn, tư vấn giải pháp giáo dục học sinh chưa ngoan và vấn đề

tự rèn luyện của học sinh

d) Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Kiểm tra là một trong các chức năng của người làm quản lý, không phân biệt

họ làm việc ở cấp nào trong bộ máy quản lý nói chung và trong bộ máy quản lý trường học nói riêng Kiểm tra là chức năng cuối cùng của một quá trình quản lý đồng thời chuẩn bị cho một quá trình quản lý tiếp theo

Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức gắn liền với công việc của cán bộ quản lý, giáo viên ở trường phổ thông và thông thường theo một số hướng chủ yếu sau đây:

- Kiểm tra để theo dõi để cho hoạt động giáo dục đạo đức phù hợp với nhiệm

vụ, mục tiêu giáo dục của nhà trường và sự phân công của cấp trên

Trang 27

- Kiểm tra để quan sát, bảo đảm nhiệm vụ được giao có đủ điều kiện thực hiện, phù hợp với thực tế hay không

- Kiểm tra để hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động giáo dục đạo đức kịp thời nhằm tăng hiệu quả công việc của từng bộ phận trong nhà trường

- Kiểm tra kết quả cuối cùng, đánh giá hiệu quả thực tế của hoạt động giáo dục đạo đức theo kế hoạch đặt ra

Về mặt quản lý chung, kiểm tra hướng tới việc xem xét tính hợp lý hay không hợp lý của một chương trình công tác đã vạch ra, khả năng thực hiện trong thực tế Ở nhà trường phổ thông, hoạt động kiểm tra sẽ hướng tới các tiêu chuẩn, các định mức nêu ra cho các loại công việc, các phương tiện được sử dụng, nguồn tài chính, con người

Theo quan điểm hệ thống, cơ sở của kiểm tra là sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhân tố khác nhau trong cùng một công việc Để kiểm tra, người quản lý cần phải xây dựng các tiêu chuẩn, cần đo lượng công việc và cuối cùng đều phải có sự điều chỉnh các tiêu chuẩn cho phù hợp với nhiệm vụ, kế hoạch đặt ra Quá trình đó diễn

ra mọi nơi và cho mọi đối tượng Do vậy, các nhà quản lý còn gọi kiểm tra là một

hệ thống liên hệ ngược Nó được hiểu như một hệ thống phản hồi có mối liên hệ chặt chẽ đến các chức năng còn lại trong quản lý

Trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, công tác kiểm tra có thể hiểu là hoạt động nghiệp vụ quản lý của người cán bộ quản lý nhằm điều tra, theo dõi, kiểm soát, phát hiện, xem xét sự diễn biến và đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục đó có phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, chuẩn mực, quy định đề ra hay không Qua đó, kịp thời động viên mặt tốt, điều chỉnh, uốn nắn những mặt chưa đạt chuẩn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường

Hiệu trưởng có thể tiến hành kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp, hoặc gián tiếp để giúp học sinh hiểu rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được mình, từ đó hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn, biết tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu chung của xã hội

Một số hoạt động nhằm kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ở nhà trường:

- Sơ kết, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm việc thực hiện kế hoạch học kì, tháng, tuần

- Kiểm tra đánh giá giáo viên sau khi tập huấn, bồi dưỡng

- Kiểm tra, đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị hỗ trợ hoạt động giáo dục đạo đức

- Đánh giá hoạt động giáo viên chủ nhiệm qua kế hoạch, sổ sách, dự giờ

- Dự giờ giáo viên bộ môn để đánh giá việc thực hiện lồng ghép giáo dục đạo đức trong dạy học

- Tham gia nhận xét, góp ý, rút kinh nghiệm thực hiện phối hợp các lực lượng giáo dục

Trang 28

- Kiểm tra, đánh giá thông qua báo cáo, kiểm tra thực tế, kết quả đạt được của Đoàn, Đội và thông qua nhận xét, đánh giá của cấp trên

- Kiểm tra, giám sát, đánh giá, thảo luận rút kinh nghiệm hoạt động giáo dục học sinh chưa ngoan

- Tuyên dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

- Nhắc nhở, kiểm điểm những cá nhân chưa thực hiện tốt hoạt động này

1.1.3.3 Quản lý phương pháp và hình thức giáo dục đạo đức

Phương pháp GDĐĐ là cách thức tác động của các nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục những chuẩn mực đạo đức cần thiết Có nhiều phương pháp GDĐĐ khác nhau, nhưng tựu chung lại, ta có thể chia thành ba nhóm sau:

a) Nhóm phương pháp thuyết phục

Là những phương pháp tác động vào lý trí, nhận thức của HS để khai sáng và xây dựng niềm tin đạo đức, bao gồm các phương pháp sau:

- Phương pháp giảng giải: được tiến hành trong giờ dạy môn giáo dục công dân, cũng như các môn học khác và trong giờ sinh hoạt, chào cờ…

- Phương pháp nêu gương: đưa ra những tâm gương người tốt, việc tốt trong

xã hội, có thể là tấm gương các thầy cô giáo hay chính các em HS…

- Phương pháp trò chuyện: trao đổi, nói chuyện trực tiếp, tế nhị với HS hoặc nhóm HS để khuyến khích những hành vi, cử chỉ đạo đức tốt đẹp của các em, đồng thời khuyên bảo, uốn nắn vi phạm đạo đức

b) Nhóm phương pháp rèn luyện

Đây là nhóm phương pháp đưa HS vào các hoạt động thực tiễn để tập dượt, rèn luyện các thói quen đạo đức, thể hện được nhận thức và tình cảm đạo đức của các em thành hành động thực tế

- Rèn luyện đạo đức thông qua các hoạt động cơ bản của nhà trường: Học tập trên lớp, lao động, hoạt động ngoại khóa, phong trào thi đua của nhà trường là biện pháp tác động tâm lý rất quan trong nhằm thúc đẩy các động cơ bên trong HS, làm cho các em phấn đấu trở thành người có đạo đức tốt

- Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của HS từ hoạt động có hại sang hoạt động có ích: Phương pháp này dựa trên đặc tính ham muốn hoạt động của HS và được dùng để giáo dục HS từ bỏ một thói hư tật xấu nào đó bằng cách gây hứng thú cho HS với một hoạt động mới bổ ích, lôi kéo các em ra khỏi những tác động có hại

c) Nhóm phương pháp thúc đẩy

Đây là nhóm phương pháp tác động vào mặt tình cảm của HS nhằm tạo ra những phấn chấn, kích thích hành động theo những chuẩn mực, giá trị đạo đức của

xã hội Nhóm phương pháp này bao gồm:

- Phương pháp khen thưởng: là tán thành, coi trọng, khích lệ những cố gắng, những hành động đúng đắn của HS làm cho bản thân HS đó tích cực vươn lên hơn nữa, đồng thời, động viên, khuyến khích các em khác noi theo

Trang 29

- Phương pháp xử phạt: là tác động có tính chất cưỡng bách đến danh dự, lòng tự trọng của HS để răn đe những hành vi thiếu đạo đức và ngăn ngừa sự tái phạm của HS Đối với phương pháp này, người GV cần phải thận trọng và đúng mực, tránh tình trạng lạm dụng Khi xử phạt cần phải làm cho HS thấy rõ những sai lầm, khuyết điểm, và đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ HS sửa chữa khuyết điểm, cần có thái độ nghiêm khác nhưng trách những lời nói, cử chỉ thô bạo, đánh đâp, xỉ nhục HS

1.1.3.4 Quản lý sự phối hợp thực hiện của các lực lượng tham gia vào hoạt động giáo dục đạo đức

Trong quản lý hoạt động của các lực lượng tham gia giáo dục pháp luật cho học sinh trọng tâm là quản lý các chủ thể giáo dục pháp luật Ở các trường THCS, chủ thể trực tiếp giáo dục pháp luật cho học sinh là CBQL nhà trường; báo cáo viên, tuyên truyền viên; giáo viên; cán bộ tư vấn pháp luật ngoài ra còn có các lực lượng khác Mỗi chủ thể có chức năng, nhiệm vụ riêng, thực hiện giáo dục pháp luật cho học sinh theo phân cấp và chức trách, nhiệm vụ được giao theo một mục đích chung

Quản lý chủ thể giáo dục pháp luật cho học sinh là quản lý việc xây dựng và

tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục pháp luật của các chủ thể; quản lý việc xác định vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật, xây dựng cơ chế phối hợp và phát huy sức mạnh của các lực lượng trong và ngoài trường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THCS

Quản lý chủ thể giáo dục pháp luật cho học sinh còn bao gồm quản lý về trình độ, năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục pháp luật của các chủ thể CBQL các nhà trường rà soát, kiện toàn đội ngũ cán bộ, giáo viên giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới GD&ĐT và sự phát triển của đất nước; xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về kiến thức pháp luật và kỹ năng tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh

Quản lý các chủ thể giáo dục pháp luật cho học sinh được thực hiện trên cơ

sở các văn bản theo luật định, quản lý theo phân cấp để đi sâu vào vai trò, trách nhiệm, làm tốt công tác phối hợp để giúp học sinh hiểu và nhận thức rõ các hành vi ứng xử của bản thân phù hợp với lợi ích của xã hội, giúp các em lĩnh hội các nguyên tắc và các chuẩn mực pháp luật để hình thành thái độ, hành vi ứng xử đúng đắn

Cùng với quản lý hoạt động của chủ thể và các lực lượng liên quan cần quan tâm quản lý đối tượng giáo dục pháp luật, đó là học sinh và tập thể học sinh các trường THCS Vì thế, quản lý đối tượng giáo dục pháp luật chính là quản lý học sinh và toàn bộ hoạt động giáo dục pháp luật tác động đến các em Trong giáo dục pháp luật, học sinh ở trường THCS chịu sự quản lý của nhiều chủ thể khác nhau, đó

là gia đình; các thầy, cô giáo trong nhà trường; cộng đồng dân cư; Quản lý đối tượng giáo dục pháp luật ở trường THCS là quản lý về động cơ, thái độ trách nhiệm học tập, rèn luyện theo các nội dung giáo dục pháp luật chính khoá và ngoại khoá, việc chấp hành quy định của địa phương, của nhà trường

Trang 30

Trong quản lý đối tượng giáo dục pháp luật, các chủ thể quản lý cần tuân thủ theo những quy định của pháp luật, nhất là chương trình, nội dung giáo dục pháp luật đối với học sinh THCS, nắm chắc đặc điểm tâm lý, khả năng nhận thức của học sinh, phong tục tập quán của địa phương, CBQL giáo dục các cấp tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể trong nhà trường, chính quyền, các tổ chức đoàn thể của địa phương và gia đình học sinh tổ chức đồng bộ các hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh; chỉ đạo các lực lượng liên quan nắm chắc những biểu hiện tiêu cực, những yếu tố tác động đến quá trình học tập, rèn luyện của các em để có biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định

1.1.3.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục đạo đức

Trong công tác quản lý nói chung, quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THCS nói riêng, kiểm tra là một chức năng có vai trò quan trọng Kiểm tra giúp thiết lập mối “thông tin ngược” của Hiệu trưởng, GV với HS trong việc GDĐĐ cho các em Thông qua kiểm tra, GV có thể nắm bắt được thực trạng đạo đức của HS trước, trong và sau quá trình giáo dục các em, từ đó đưa ra các biện pháp sửa sữa, uốn nắn, điều chỉnh với những hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức ở HS Đồng thời, hoạt động kiểm tra cũng giúp HS hiểu rõ hơn về hành vi, hoạt động của mình có phù hợp với các giá trị chuẩn mực hay không, khẳng định giá trị bản thân trong các tình huống thực tế Từ đó các emsẽ hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn, biết điều chỉnh hành vi của bản thân sao cho phù hợp với các yêu cầu đạo đức chung của xã hội

Quy trình kiểm tra hoạt động GDĐĐ cho HS THCS gồm các giai đoạn:

- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kiểm tra: Đó là những tiêu chuẩn về hành vi, thói quen ứng xử, chuẩn mực đạo đức, nội quy, quy chế nhà trường mà HS phải thực hiện

- Đo lường và đánh giá mức độ thực hiện các hoạt động: Dựa trên các tiêu chuẩn, tiêu chí đã xây dựng, GV so sánh, đối chiếu mức độ thực hiện của HS thực tiễn; kịp thời phát hiện ra những sai lệch, khuyết điểm trong nhân cách đạo đức HS…

- Tiến hành điều chỉnh các hoạt động: Là việc đưa ra những tác động bổ sung trong hoạt động GDĐĐ cho HS để khắc phục những sai lệch nhằm không ngừng nâng cáo hiệu quả GDĐĐ cho các em

Việc kiểm tra, đánh giá HS cần có sự kết hợp nhận xét, đánh giá của GV chủ nhiệm với các lực lượng giáo dục khác như GV dạy bộ môn; cán bộ Đoàn- Đội; tập thể HS và tự nhận xét của cá nhân HS Ngoài ra việc đánh giá nhận xét cần kết hợp với chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp để tổ chức các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội Do vậy GV chủ nhiệm, cần phải nắm bắt thông tin và những nhận xét của các lực lượng giáo dục khác một cách kịp thời về thái độ, hành vi của HS liên quan đến các chuẩn mực bài học để có cái nhìn toàn diện khi đánh giá HS và khuyến khích HS tự liên hệ, tự kiểm tra, đánh giá hoạt động của bản thân

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

1.1.4.1 Yếu tố giáo dục nhà trường

Yếu tố nhà trường có vai trò quan trọng nhất trong việc GDĐĐ cho HS THCS Với mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện bằng hệ

Trang 31

thống chương trình khoa học, các tài liệu SGK, sách tham khảo phong phú, các phương tiện hỗ trợ giáo dục ngày càng hiện đại và đặc biệt là cùng với một đội ngũ

GV, GV chủ nhiệm được đào tạo bài bản, có đủ phẩm chất và năng lực sư phạm là yếu tố quyết định hoạt động GDĐĐ cho HS Yếu tố giáo dục nhà trường bao gồm: a) Đội ngũ GV

Đội ngũ GV, đặc biệt là GV chủ nhiệm là một trong những yếu tổ ảnh hưởng lớn dến công tác giáo dục đạo đức cho HS Chất lượng đội ngũ cán bộ - GV quyết định chất lượng đạo đức HS Đối với công tác GDĐĐ, chất lượngđội ngũ thể hiện ở phẩm chất đạo đức, năng lực công tác và hiệu quả công tác của mỗi cán bộ - GV

GV là những người tiếp xúc trực tiếp với HS nên từ kiến thức trong mỗi bài giảng đến lời nói, tác phong, cách ứng xử… của người GV đều ảnh hưởng trực tiếp đến việc GDĐĐ cho HS Tình yêu thương, sự quan tâm cùng với sự mẫu mực của người

GV có ảnh hưởng tích cực đến việc GDĐĐ cho HS Để hoàn thành nhiệm vụ giáo dục HS, mỗi cán bộ GV phải là những tấm gương về phẩm chất đạo đức, về lối sống, về kiến thức và năng lực công tác đồng thời phải tâm huyết với nghề nghiệp, nắm vững mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, có uy tín với HS, yêu thương

HS Thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng đội ngũ là một trong những biện pháp hiệu quả quản lý công tác giáo dục nói chung và công tác GDĐĐ nói riêng b) Yếu tố tự giáo dục của bản thân HS

Yếu tố tự giáo dục của bản thân học sinh đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi HS Các em được sống trong một môi trường tốt, được giáo dục bài bản nhưng tự bản thân các em không học hỏi, không vươn lên thì khó có thể đạt được kết quả cao trong học tập và rèn luyện vì ở lứa tuổi THCS có nhiều thay đổi về tâm, sinh lý Vào lứa tuổi này các em muốn mọi người nhìn nhận mình như những người trưởng thành, bắt đầu tự ý thức và có nhu cầu tự giáo dục Vì vậy đây là yếu tố chi phối việc quản lý hoạt động GDĐĐ của các em

Sự hình thành phát triển đạo đức của mỗi con người là một quá trình phức tạp lâu dài, phải trải qua khó khăn mới dẫn đến thành công Vì vậy muốn trở thành người công dân tốt mỗi HS phải tự giáo dục tu dưỡng, rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách đạo đức của mình

Mặc dù đặc điểm tự ý thức được phát triển mạnh mẽ ở HS THCS tạo cho HS khả năng độc lập sáng tạo nhiều hơn nhưng HS cũng dễ mắc sai lầm trong nhận thức và hành vi, dễ có những suy nghĩ, hành động bồng bột, nông nổi nhất thời Vì vậy để biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục cần phải chú trọng phát triển đặc điểm tự ý thức, tự giáo dục của lứa tuổi HS THCS, thực hiện các biện pháp quản lý công tác GDĐĐ chặt chẽ và khoa học Các nhà quản lý giáo dục phải xây dựng được chương trình GDĐĐ phù hợp với trình độ nhận thức, tâm lý lứa tuổi, có sự chỉ đạo thống nhất đồng bộ, vận dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục, phát huy khả năng tự ý thức, tự giáo dục của HS một cách đúng đắn nhằm đạt mục tiêu GDĐĐ ở trong nhà trường

c) Hoạt động của Đoàn - Đội

Đoàn - Đội là 2 tổ chức của thanh thiếu niên, có ảnh hưởng tích cực nhất với

HS THCS mà chức năng chủ yếu là giáo dục lý tưởng cho thế hệ trẻ Do đó Đoàn - Đội giữ vai trò quan trọng trong công tác GDĐĐ cho HS Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động của Đoàn - Đội quyết định chất lượng hoạt động của 2

Trang 32

tổ chức này Nếu hoạt động Đoàn - Đội chưa đi vào chiều sâu, chưa có nhiều mô hình học tập, sinh hoạt vui chơi, chưa tạo sức hấp dẫn đối với đội viên, xử lý HS vi phạm chưa thực sự cương quyết, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, GV chủ nhiệm, tổng phụ trách Đội và các đoàn thể thì kết quả giáo dục đạo đức cho HS chắc chắn sẽ thấp

Chất lượng hoạt động của Đoàn, Đội có tốt hay không phụ thuộc vào nhiều Đội ngũ cán bộ Đoàn - Đội Do đó Hiệu trưởng phải hết sức quan tâm đào tạo bồi dường đội ngũ cán bộ Đoàn - Đội có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của tổ chức, của nhà trường, tạo điều kiện cho cán bộ Đoàn - Đội trong công tác

d) Điều kiện CSVC - thiết bị dạy học, tài chính

CSVC, thiết bị dạy học - giáo dục là điều kiện giúp cho công tác GDĐĐ thành công Nếu thiếu kinh phí, CSVC, thiết bị dạy học - giáo dục thì các hoạt động giáo dục trong nhà trường sẽ gặp nhiều khó khăn Trang thiết bị đầy đủ, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động giáo dục Vì vậy một trong những nội dung của việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS thì việc xây dựng

kế hoạch tăng cường CSVC, phương tiện phục vụ cho nhiệm vụ dạy học và GDĐĐ cho HS là vô cùng cần thiết

1.1.4.2 Yếu tố giáo dục gia đình

Gia đình là tế bào của xã hội, nơi nuôi dưỡng các em HS từ bé cho đến khi trưởng thành, nơi các em được chăm lo cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức; là môi trường giáo dục đầu tiên và có tầm quan trọng quyết định việc hình thành nhân cách của các em Giáo dục nhà trường, xã hội là những môi trường giáo dục rất quan trọng, song vai trò của nó chỉ có thể được phát huy một cách có hiệu quả khi lấy giáo dục gia đình làm cơ sở "Nề nếp gia phong", " nếp nhà" là những điều rất quan trọng mà người xưa đó từng nói về giáo dục gia đình

Trong thực tế rất hiếm có một gia đình nào trong đó ông, bà, cha mẹ và người lớn gương mẫu, sống có văn hoá, có đạo đức mà con cái lại hư hỏng Mặt khác đối với HS THCS, ngoài thời gian học tập trên lớp chủ yếu các em sẽ ở nhà, vì vậy giáo dục của gia đình có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến GDĐĐ cho

HS

Đất nước đang trong thời kỳ đổi mới, xã hội có nhiều đổi thay nhưng giáo dục gia đình vẫn được các bậc cha mẹ chú ý, quan tâm, những giá trị đạo đức truyền thống của gia đình, của dân tộc vẫn tiếp tục được gìn giữ và phát huy

1.1.4.3 Yếu tố giáo dục xã hội

Yếu tố xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến GDĐĐ, hình thành thế giới quan

và nhân sinh quan cho HS.Trong giai đoạn hiện nay đất nước ta đang trên con đường đổi mới, hội nhập Nền kinh tế thị trường thực sự đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao Song những hạn chế, những tiêu cực trong lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên do mặt trái của cơ chế thị trường mang lại, ít nhiều cũng ảnh hưởng không tốt đến HS trong nhà trường Các em HS ngoài việc học tập ở nhà trường và sinh hoạt cùng người thân trong gia đình thì nhu cầu giao lưu, kết bạn và học hỏi ngoài xà hội cũng rất cần thiết Nếu các em được sống trong một môi trường xã hội trong sạch, một cộng

Trang 33

đồng từ ngõ xóm, khối phố đến các tổ chức đoàn thể xã hội tốt đẹp, văn minh thì đó

là điều kiện tốt nhất trong việc GDĐĐ và hình thành nhân cách cho các em Nhưng

để công tác giáo dục HS đạt hiệu quà cẩn phái có sự phối hợp thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội

* Mối quan hệ giữa ba yếu tố trên:

Công tác phối hợp 3 lực lượng giáo dục: Nhà trường, gia đình và xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng giáo dục HS, đặc biệt là giáo dục nhân cách cho HS, nếu thiếu hoặc yếu những yếu tố trên HS không thể trở thành người có nhân cách tốt Ba yếu tố này có tính chất tương tác, hỗ trợ cho nhau trong việc giáo dục toàn diện cho HS nói chung và GDĐĐ nói riêng

Đối với mỗi độ tuổi thì các yếu tố trên được sắp đặt ở mỗi vị trí khác nhau, với HS THCS yếu tố nhà trường giữ vị trí quan trọng nhất trong lứa tuổi này

Điều 93 Luật Giáo dục khẳng định: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình, xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục" (Quốc hội, 2009)

1.2.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Đạo đức là vấn đề được các nhà tư tưởng và triết học đề cập đến từ lâu, được

xã hội mọi thời đại cả ở phương Tây lẫn phương Đông quan tâm và coi trọng

Ở phương Đông, vấn đề giáo dục đạo đức được quan tâm từ rất sớm Khổng

Tử (551- 479 TCN); nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo Ông coi trọng vai trò của GDĐĐ và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý học Nội dung và mục tiêu chủ yếu của

GD được ghi trong Tứ thư và Ngũ Kinh Nhưng cụ thể và tập trung nhất trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo đức Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Trí - Dũng”, trong đó “Nhân” là lòng thương người, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, có chủ trương nổi tiếng truyền lại cho đến nay “Lễ trị”, lấy “Lễ” để xử ở đời Muốn vậy mọi người phải biết tu thân làm gốc (Hà Nhật Thăng, Giáo trình CĐSP ngành Giáo dục công dân, 2007)

Ở phương Tây, Nhà triết học Socrate (470 - 399 TCN) coi cái gốc của đạo đức là tính thiện, đạo đức và sự hiểu biết qui định nhau, tức là có đạo đức là nhờ sự hiểu biết và con người sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức (Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, 1998)

Aristoste (384 - 322 TCN) cho rằng thượng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức (Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, 1998)

Như vậy có thể thấy cả ở phương Đông lẫn phương Tây đều rất chú trọng đề cao vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức qua đó hình thành và phát triển nhân cách của con người

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người Việc giáo dục đạo đức luôn là vấn đề đặt ra từ xưa

Trang 34

đến nay và thay đổi theo sự phát triển của xã hội Chính vì vậy, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã đưa ra các mô hình quản lý giáo dục đạo đức phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn phát triển của đất nước

Trong truyền thống giáo dục của dân tộc, cha ông ta luôn đề cao nguyên tắc:

“Tiên học lễ, hậu học văn”, đề cao truyền thống yêu nước, nhân đạo, thủy chung, tương thân tương ái, luôn coi trọng chữ Đức Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một việc làm rất cần thiết và cực kỳ quan trọng Từ xa xưa ông cha ta đã quan niệm việc

"dạy chữ" phải song song với việc "dạy người" Sinh thời Bác Hồ đã rất quan tâm đến giáo dục đạo đức trong nhà trường Bác Hồ đã từng nói: "Dạy cũng như học, phải biết coi trọng cả đức lẫn tài Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng" (Hồ Chí Minh, 2000, toàn tập, tập 11, tr 329)

Bác khẳng định: “Đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nước thì sông sẽ cạn” (Hồ Chí Minh, 2000, toàn tập, tập 5, tr 252) Người cũng lưu ý: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà có, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” (Hồ Chí Minh, 1980, tr 239) Vì vậy, trong nhà trường phải dạy cho thanh thiếu niên biết “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào; học tập tốt, lao động tốt; đoàn kết tốt, kỷ luật tốt; giữ gìn vệ sinh thật tốt; khiêm tốn, thật thà dũng cảm”

Kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh, ở nước ta đã có nhiều tác giả nghiên cứu

về đạo đức và giáo dục đạo đức như Phạm Minh Hạc, Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng, Đặng Quốc Bảo… Các tác phẩm đề cập sâu về các phạm trù đạo đức, các vấn đề giáo dục đạo đức và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông, xây dựng con người mới XHCN; còn quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh được đề cập rất sơ lược, chủ yếu

là lồng ghép trong các phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh

Tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng trong cuốn sách “Đạo đức học”

đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức nhằm giúp giáo viên có một cơ sở vững chắc để dạy học cho học sinh Các tác giả đã bàn nhiều về các vấn đề giáo dục đạo đức như phạm trù giáo dục trong đạo đức gia đình, đạo đức trong tình bạn, tình yêu…từ đó các tác giả đưa ra những nhận định và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông (Phạm Khắc Chương & Hà Nhật Thăng, 1998)

Tác giả Đặng Quốc Bảo trong bài viết “Rèn luyện lòng tự trọng trong giáo dục hiện nay” trên báo Giáo dục và thời đại số đặc biệt cuối tháng 5/2012 đã khẳng định: “Các gia đình, các nhà trường, các đoàn thể trong xã hội ta thời gian qua đã

có rất nhiều cố gắng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, cho các thành viên Tuy nhiên

ta mới chú ý đến giáo dục đạo đức hướng ngoại, mà chưa coi trọng đúng mức giáo dục hướng nội là giáo dục biết hổ thẹn, xấu hổ, lòng chân chính tự ái, tự trọng Chiến lược giáo dục của đất nước ta trong thời kỳ đổi mới, mục tiêu Nhân cách - Nhân lực của nền giáo dục nước ta trong thời kỳ đổi mới rất cần có sự nhấn mạnh chủ đề này trong các bài học về đạo làm người cho thế hệ trẻ”

Đối với những người làm công tác QLGD, việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh phổ thông vẫn luôn đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, nhất là trong

Trang 35

tình hình xã hội hiện nay Đã có nhiều nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh như:

Luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông dân tộc thiểu số huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang” của tác giả Nguyễn Phú San (năm 2013)

Luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trung học cơ

sở Vân Nội, Đông Anh, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Hoàng Ngọc Thắng (năm 2015)

Luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông C Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong bối cảnh hiện nay” của tác giả Trần Ngọc Nam (năm 2016)

Luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học cơ sở Quang Húc, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Việt Hà (năm 2017)

Trong các nghiên cứu và các luận văn này các tác giả đã bàn về giáo dục đạo đức và các biện pháp quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường học ở các cấp học khác nhau như các biện pháp về nâng cao nhận thức để giáo viên, cha

mẹ, học sinh và cộng đồng hiểu rõ tầm quan trọng của giáo dục đạo đức Hầu hết các luận văn đều cho rằng, trong trường học các lãnh đạo nhà trường cần có kế hoạch giáo dục đạo đức như cần xác định rõ mục tiêu, các nội dung và các hoạt động giáo dục đạo đức, thời gian tiến hành trong một năm học Bên cạnh cần có các biện pháp triển khai và đánh giá kết quả hoạt động giáo dục đạo đức; triển khai đầy

đủ các băn bản chỉ đạo về giáo dục đạo đức cho học sinh

Luận án tiến sĩ “Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới giáo dục hiện nay” của tác giả Đỗ

Tuyết Bảo (2001), đã đề cập đến vai trò giáo dục đạo đức với sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, tác động đổi mới của xã hội với giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đưa ra các giải pháp như: Đổi mới về nhận thức giáo dục đạo đức; Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức; Đổi mới hình thành tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức và xây dựng môi trường đạo đức; Tăng cường những đảm bảo cơ sở vật chất giáo dục đạo đức; lãnh đạo và quản lý công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh (Đỗ Tuyết Bảo, 2001)

Các luận văn trên đã chỉ ra thực trạng về đạo đức học sinh, thực trạng GDĐĐ

và QL hoạt động này trong các loại hình nhà trường ở nhiều địa phương khác nhau

và đã đề ra những biện pháp QL hoạt động GDĐĐ đảm bảo tính khoa học, toàn diện, hiệu quả và khả thi ở các đơn vị, địa phương đó Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về QL hoạt động GDĐĐ cho học sinh THCS ở một huyện miền núi như Tri Tôn nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

Kế thừa và phát triển các nội dung những tác giả đi trước đã nghiên cứu, đề

tài “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” được tổ chức triển khai nghiên cứu với mục đích sẽ góp phần

tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường

Trang 36

THCS huyện Tri Tôn phù hợp với đối tượng, đúng mục đích, hiệu quả và khả thi, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Qua chương 1, đề tài đã hệ thống hóa một số nội dung cơ bản của các vấn đề

quản lý; các vấn đề về GDĐĐ và công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THCS

Như vậy, có thể thấy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi

phối của tồn tại xã hội Đối với việc hình thành nhân cách con người thì hình thành

các phẩm chất đạo đức phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu xã hội là vấn đề cốt lõi

cơ bản Đạo đức chỉ được hình thành thông qua hoạt động GDĐĐ, chính vì vậy mà

GDĐĐ là một bộ phận quan trọng có tính nền tảng trong giáo dục tổng thể ở trường

phổ thông nói chung, ở trường THCS nói riêng Nội dung GDĐĐ đã góp phần

hướng tới sự phát triển con người, phát triển nhân cách của từng HS đáp ứng yêu

cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay

Trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THCS, Hiệu

trưởng nhà trường phải xác định rõ mục tiêu, nắm vững nội dung, phương pháp

GDĐĐ HS, huy động các lực lượng tham gia tích cực và hiệu quả vào công tác này

Việc quản lý tốt hoạt động GDĐĐ sẽ tác động đến mọi tầng lớp trong xã hội đặc

biệt là các em HS, qua đó hình thành cho các em ý thức, tình cảm, niềm tin và quan

trọng nhất là hình thành thói quen, hành vi đạo đức thể hiện trong cuộc sống hàng

ngày

Toàn bộ chương 1 đã trình bày một cách khái quát cơ sở lý luận, căn cứ pháp

lý và bối cảnh thực tiễn của công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường

THCS Đây cũng là căn cứ cho việc định hướng nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt

động GDĐĐ cho HS ở trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Trang 38

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁCTRƯỜNG THCS HUYỆN TRI TÔN,

TỈNH AN GIANG

HUYỆN TRI TÔN

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Tri Tôn là huyện nằm về hướng Tây Nam tỉnh An Giang với diện tích tự nhiên khoảng 60.039,74 ha (lớn nhất tỉnh An Giang và chiếm gần 17% diện tích toàn tỉnh) gồm 2 thị trấn Tri Tôn, Ba Chúc và 13 xã Trong đó thị trấn Tri Tôn là trung tâm huyện lỵ, cách không xa các đô thị lớn và cửa khẩu trong khu vực (TP Long Xuyên, TX Châu Đốc, cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Thị xã du lịch - cửa khẩu quốc tế Hà Tiên, TP Rạch Giá),…

So với nhiều huyện, thị xã trong tỉnh An Giang, Tri Tôn có vị trí địa lý khá thuận lợi khi phía Bắc và Đông Bắc Tri Tôn giáp huyện Tịnh Biên (tỉnh An Giang)

và nước bạn Campuchia Phía Đông giáp huyện Châu Thành và Thoại Sơn (tỉnh An Giang).Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Kiên Lương, Hòn Đất (tỉnh Kiên Giang)

Song song đó, hệ thống đường bộ gồm các tuyến QL N1 (nối QL91 tại Tịnh Biên qua Tri Tôn đến QL80 tại Hà Tiên); Tỉnh lộ 941 (nối Tri Tôn với QL91 tại Châu Thành); Tỉnh lộ 943 (nối Tri Tôn qua Thoại Sơn đến QL91 tại TP Long Xuyên); Tỉnh lộ 948 (nối Tri Tôn qua Tịnh Biên đến QL91); Tỉnh lộ 955B (nối Tri Tôn - Ba Chúc - đến QL N1) và mạng lưới đường thủy chính bao gồm: Kênh Tri Tôn (nối Sông Hậu tại Châu Phú qua Tri Tôn đến Kênh Rạch Giá - Hà Tiên tại Hòn Đất); Kênh Vĩnh Tế (nối Sông Hậu tại TX Châu Đốc qua Tri Tôn, Kiên Lương đến Kênh Rạch Giá - Hà Tiên tại TX Hà Tiên); Kênh Mạc Cần Dưng (nối Sông Hậu tại Châu Thành đến Tri Tôn), nối tiếp Kênh Tri Tôn - Vàm Rầy đến Kênh Rạch Giá -

Hà Tiên tại Hòn Đất); Kênh 10 - Châu Phú (nối Sông Hậu tại Châu Phú qua Tri Tôn đến Kênh Rạch Giá - Hà Tiên tại Hòn Đất cùng tuyến biên giới quốc gia Việt Nam - Campuchia dài khoảng 15km (gần cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên) không chỉ giúp việc

đi lại được thuận tiện, đảm bảo giao lưu giữa huyện và các nơi khác trong khu vực

mà rất thuận tiện để trao đổi hàng hóa với nước bạn Campuchia và khu vực, phát triển thương mại vùng biên, đặc biệt là các mặt hàng nông - lâm sản, thực phẩm Đồng thời có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn an ninh quốc phòng, góp phần

ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế cả nước

2.1.1.2 Kinh tế - xã hội

Trên địa bàn huyện hiện có 4.900 doanh nghiệp, hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, góp phần giải quyết việc làm trên 9.500 lao động Trong đó, có 106 doanh nghiệp hoạt động với tổng vốn đầu tư 409 tỷ đồng Bằng nhiều chính sách ưu đãi, kêu gọi đầu tư, vừa có thêm 4 doanh nghiệp được cấp phép đầu tư trên địa bàn huyện Tri Tôn, với tổng vốn 220 tỷ đồng, giải quyết việc làm hơn 150 lao động Có nhiều dự án quan trọng đang được triển khai như: Xây dựng kho chứa, hệ thống xay xát, chế biến gạo quy mô lớn ở xã Lương An Trà; nhà máy sản xuất đường thốt nốt

Trang 39

(do doanh nghiệp Hồng Kông đầu tư); trồng và bao tiêu các loại đậu ở vùng đất núi của nhà đầu tư Ấn Độ…

Hiện tại, huyện Tri Tôn phát triển được 250 doanh nghiệp, gấp gần 2,5 lần so với hiện nay Để đạt được mục tiêu này, Tri Tôn sẽ tiếp tục tạo môi trường thông thoáng thu hút đầu tư Đồng thời, đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp về thủ tục hành chính, xóa bỏ phiền hà, minh bạch hóa các quyết định về chính sách, trợ giúp thông tin đối với doanh nghiệp, công khai quy hoạch phát triển xây dựng, tạo cơ hội bình đẳng cho các doanh nghiệp đến với Tri Tôn… Bên cạnh đó, huyện sẽ tăng cường giới thiệu, quảng bá những tiềm năng, lợi thế, lĩnh vực khuyến khích đầu tư như: Xây dựng nhà máy xay xát, kho trữ lúa gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu trên địa bàn các xã: Vĩnh Gia, Lạc Quới, Lương An Trà, Tân Tuyến, Tà Đảnh, Vĩnh Phước…; xây dựng nhà máy chế biến gỗ từ diện tích rừng hơn 4.000 héc-ta đang trong thời kỳ khai thác; sản xuất và tiêu thụ phân bón hữu cơ sinh học từ than bùn, khai thác và sản xuất các sản phẩm từ cao lanh (đất sét) với trữ lượng dồi dào… Huyện cũng mời gọi doanh nghiệp đầu tư trung tâm thương mại tại xã biên giới Vĩnh Gia, nơi đã được Chính phủ quy hoạch xây dựng cửa khẩu phụ, đồng thời tuyến đường nhựa kết nối giữa xã Vĩnh Gia (Tri Tôn) với xã Tà Ô (quận Kirivong, tỉnh Takeo, Campuchia) đã được xây dựng hoàn chỉnh Song song đó là đầu tư mở rộng khu thương mại huyện Tri Tôn về hướng đông theo dự án đã được duyệt với quy mô trên 23 héc-ta; mời gọi xây dựng chợ trung tâm ở các xã trên địa bàn huyện Đồng thời, Tri Tôn cũng mời gọi đầu tư vào các khu du lịch như: Soài So, Tà Pạ, Ô Tà Sóc, núi Tượng, núi Nước, nhà mồ Ba Chúc… Trong đó, khuyến khích phát triển

du lịch gắn kết với ngành nghề truyền thống, du lịch sinh thái kết hợp tâm linh, di tích lịch sử, lễ hội…

2.1.2 Tình hình giáo dục

- Huyện Tri Tôn gồm 15 xã (thị trấn), chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp Phòng GĐĐT Tri Tôn là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Tri Tôn, có chức năng tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về GDĐT đối với các cấp học Mầm non, Tiểu học, THCS; bên cạnh đó có cấp học THPT trực thuộc sở GDĐT đóng trên địa bàn huyện

- Năm học 2018 - 2019 Tri Tôn có 59 trường với 28.945 HS trong đó (Mầm non - Mẫu giáo: 15 trường, 4.530 cháu; Tiểu học: 27 trường, 13.160 HS; THCS: 14 trường 8.298 HS; THPT: 3 trường (có 1 trường THCS và THPT), 2957 HS) Tổng

số cán bộ - giáo viên - nhân viên là 2006 người, trong đó (BGH: 130, GV: 1546, NV: 330)

2.2.1 Mục đích khảo sát

Khảo sát thực trạng GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ ở các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nhằm tìm ra những điểm mạnh, điểm hạn chế; nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS

Kết quả khảo sát là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp quản lýhoạt động GDĐĐ HS trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

2.2.2 Nội dung khảo sát

Đề tài tập trung khảo sát 2 nội dung chủ yếu như sau:

Trang 40

- Thứ nhất, về thực trạng hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường THCS huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, bao gồm:

+ Lập kế hoạch GDĐĐ cho HS ở các trường THCS huyện Tri Tôn

+ Tổ chức thực hiện GDĐĐ cho HS ở các trường THCS huyện Tri Tôn + Chỉ đạo thực hiện GDĐĐ cho HS ở các trường THCS huyện Tri Tôn

+ Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện GDĐĐ cho HS ở các trường THCS huyện Tri Tôn

2.2.4 Đối tượng khảo sát

Các đối tượng khảo sát bao gồm bao gồm 30 CBQL, 60 GV và 200 HS, được phân bổ như trong Bảng 2.1

Bảng 2.1 Số lượng các đối tượng tham gia khảo sát

Ngày đăng: 01/03/2021, 13:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w