KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC CHẤM DỨT CHO VAY VÀ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG VÀNG ĐẾN CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN CÓ KINH DOANH VÀNG Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng Sinh
Trang 1KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRANG
Trang 2KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC CHẤM DỨT
CHO VAY VÀ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG VÀNG
ĐẾN CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN
CÓ KINH DOANH VÀNG
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRANG
Lớp: DH9NH – MSSV: DNH083269 Người hướng dẫn: Ths Đặng Anh Tài
Trang 4Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm hiểu những tác động của việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư số 11/2011/TT-NHNN để chấm dứt việc huy động và cho vay vốn bằng vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) đến các tổ chức và cá nhân có kinh doanh vàng Qua đó, có thể thấy được những lợi ích mà Thông tư này mang lại và những khó khăn mà các ngân hàng thương mại (NHTM), doanh nghiệp và cá nhân có kinh doanh vàng gặp phải khi thi hành Thông tư này
Sau một khoảng thời gian nghiên cứu, kết quả cho thấy việc NHNN ban hành Thông tư chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của các TCTD có tác động rất lớn đến các tổ chức và cá nhân có kinh doanh vàng Thông tư này mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng đem đến cho các NHTM, doanh nghiệp và cá nhân có kinh doanh vàng không ít những vấn đề khó giải quyết như: các NHTM phải đối mặt với vấn đề
xử lý số vàng tồn kho, giải quyết vấn đề thanh khoản, còn các doanh nghiệp kinh doanh vàng phải đi tìm nguồn vốn mới để phục vụ cho hoạt động kinh doanh,… Do
đó, NHNN cần nhanh chóng ban hành những chính sách mới để hỗ trợ các tổ chức và
cá nhân có kinh doanh vàng giải quyết những vấn đề khó khăn mà Thông tư số 11/2011/TT-NHNN đã mang lại
Trang 5CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Cở sở hình thành đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phương pháp nhiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Nghiệp vụ huy động vốn 3
2.2 Nghiệp vụ cho vay 3
2.3 Nghiệp vụ kinh doanh vàng 4
2.3.1 Tổ chức hoạt động kinh doanh vàng của NHTM 4
2.3.2 Các dịch vụ ngân hàng liên quan đến giao dịch vàng 4
2.4 Hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD 6
2.5 Quy định về việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của các TCTD 6
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC CHẤM DỨT CHO VAY VÀ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG VÀNG ĐẾN CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN CÓ KINH DOANH VÀNG 3.1 Thực trạng tình hình kinh doanh vàng của các NHTM và doanh nghiệp Việt Nam trong những năm từ 2007 đến 2010 8
3.2 Mục đích của việc NHNN chấm dứt hoạt động cho vay và huy động vốn bằng vàng của các TCTD 12
3.3 Tác động của viêc chấm dứt cho vay và huy dộng vốn bằng vàng đến các tổ chức và cá nhân có kinh doanh vàng 13
3.4 Tình hình thực hiện việc chấm dứt cho vay và huy động vốn bằng vàng của các TCTD 18
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 22
Trang 6ABBANK : An Binh Commercial Joint Stock Bank (Ngân hàng Thương mại Cổ
phần An Bình)
ACB : Asia Commercial Bank (Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu)
Agribank : Vietnam Bank of Agriculture and Rural Development (Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam)
DongA Bank : Dong A Commercial Joint Stock Bank (Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Đông Á)
Eximbank : Vietnam Export Import Bank(Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất
Nhập Khẩu Việt Nam)
HDBank : Housing Development Joint Stock Bank (Ngân hàng Thương mại Cổ
Sacombank : Saigon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank (Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín)
SCB : Sai Gon Commercial Joint Stock Bank (Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Sài Gòn)
SJC : SaiGon Jewelry Company Limited (Công ty Trách nhiệm hữu hạn
một thành viên Vàng Bạc Đá Quý Sài Gòn)
Southern Bank : Southern Commercial Joint Stock Bank (Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Phương Nam)
TCTD : Tổ chức tín dụng
TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
TT : Thông tư
USD : United States dollar (đô la Mỹ)
VietABank : Vietnam Asia Commercial Joint Stock Bank (Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Việt Á)
Vietinbank : Vietnam Bank for Industry and Trade (Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Công Thương Việt Nam)
VNĐ : Ký hiệu tiền tệ của Việt Nam (Việt Nam đồng)
Trang 8CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Cở sở hình thành đề tài
Trong khoảng thời gian từ 2008 đến tháng 11/2010, giá vàng không ngừng biến động theo chiều hướng tăng dần và thường xuyên đạt những mức kỷ lục Theo số liệu từ NHTM Cổ phần Á Châu (ACB), vào ngày 17/03 và ngày 15/07/2008 giá vàng công ty Vàng Bạc Đá Quý Sài Gòn (SJC) đạt mức cao kỷ lục 19,35 triệu đồng/lượng Tính bình quân cả năm 2008, giá vàng dao động quanh mức 17,64 triệu đồng/lượng (Quang Sơn, 2008) Đến năm 2009, theo các nhà kinh doanh vàng, trong năm này giá vàng tăng nhanh và mạnh chưa từng có Chỉ trong vài giờ đồng hồ buổi sáng ngày 11/11/2009, giá vàng đã lần lượt chinh phục các mốc giá 27, 28 và 29 triệu đồng/lượng Trong khi đó, đầu năm 2009 giá vàng chỉ đứng ở mức gần 18 triệu đồng/lượng Tuy giá vàng năm
2009 tăng liên tục nhưng cũng có thời điểm giảm nhẹ Ngày 29/12/2009, giá vàng đã ở
mức 26,7 triệu đồng/lượng (Kiều Oanh, 2009) Đến năm 2010, giá vàng lại tiếp tục biến
động theo chiều hướng bất thường Vào ngày 09/11/010, giá vàng SJC đạt mức 38,9 triệu đồng/lượng nhưng đến ngày 17/11/2010 giá vàng trong nước đã giảm hơn 4,5 triệu đồng/lượng chỉ còn 34,44 triệu đồng/lượng (Sieuthisanvang, 2010)
Trước những đợt biến động mạnh của giá vàng, nhiều nhà đầu tư đã tìm đến kênh đầu tư vàng Điều này đã khiến cho nhu cầu mua vàng của khách hàng tăng mạnh Đồng thời vào thời điểm tháng 09/2008 vừa qua, thị trường vàng lên xuống bất thường trước bối cảnh bất ổn của thị trường tài chính Triển vọng về một nền kinh tế khả quan hơn vẫn còn xa, hệ thống tài chính ở các nước phương Tây vẫn còn trong tình trạng khó khăn, hơn nữa thị trường vẫn chưa phục hồi niềm tin vào các tài sản tiền mặt Vì vậy với tư cách là công cụ đầu tư sinh lời cao, chúng ta có thể thấy nhu cầu vay vàng để kinh doanh cũng tăng lên nhanh chóng (Quang Sơn, 2008) Thật vậy, sáng ngày 11/11/2009 và 09/11/2010 lượng vàng giao dịch đã tăng đột biến gấp hai, ba lần so với ngày thường Người dân đổ xô đến các cửa hàng vàng để cố mua cho được vài lượng vàng, điều này đã khiến cho nguồn cung ở hầu hết các cửa hàng kinh doanh vàng hầu như cạn kiệt (Đ.Khanh, 2011) Để đáp ứng nhu cầu vàng của các doanh nghiệp và người dân, nhiều ngân hàng đã tăng mức lãi suất huy động vàng để thu hút thêm nguồn vàng gửi tiết kiệm Vào ngày 28/05/2009, ngân hàng phát triển nhà TP HCM (HDBank) đưa
ra mức lãi suất huy động vàng cao nhất trên thị trường, với 4,6%/năm kỳ hạn 3 tháng Trước HDBank 3 ngày, NHTM Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank) đã thông báo tăng lãi suất tiết kiệm vàng kỳ hạn 3 tháng lên 4,5%/năm (Chi Sơn, 2009) Đến năm 2010, tuy mức lãi suất huy động vàng đã giảm so với trước nhưng vẫn còn đủ sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Vào ngày 21/10/2010, NHTM Cổ phần Sài Gòn (SCB) đã đưa ra mức lãi suất huy động vàng cao nhất trên thị trường đó là 3%/năm kỳ hạn 3 tháng, 2,76%/năm kỳ hạn 1 tháng và 2,88%/năm kỳ hạn 2 tháng (Minh Đức, 2010) Từ thực tế trên cho thấy vàng đã trở thành kênh đầu tư hết sức hấp dẫn đối với các NHTM và nhiều người dân Việt Nam
Nhưng đến ngày 29/04/2011, NHNN ban hành Thông tư số 11/2011/TT-NHNN quy định về việc chấm dứt việc huy động và cho vay bằng vàng của các TCTD NHNN ban hành thông tư này nhằm xóa bỏ việc huy động vốn và cho vay bằng vàng của các TCTD nhằm tránh hiện tượng đầu cơ, hạn chế việc các ngân hàng gặp rủi ro về thanh khoản khi giá vàng “lên đỉnh” (Mỹ Dung, 2011) Việc ban hành quy định này đã khiến cho các NHTM và nhiều tổ chức, cá nhân mất đi kênh đầu tư hấp dẫn Vậy việc ban
Trang 9hành quy định này của NHNN đã có ảnh hưởng như thế nào đối với các NHTM, doanh nghiệp và cá nhân có kinh doanh vàng (Bảo Minh, 2011) Xuất phát từ tình hình thực tế
đó, tôi đã chọn đề tài “Tác động của việc chấm dứt cho vay và huy động vốn bằng vàng đến các tổ chức và cá nhân có kinh doanh vàng”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu những tác động của việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng đến các NHTM, doanh nghiệp và cá nhân có kinh doanh vàng
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: thu thập thông tin có liên quan đến
việc huy động và cho vay vốn bằng vàng, chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của các NHTM, việc kinh doanh vàng của các doanh nghiệp và người dân, các quy định của NHNN, cùng với chính sách điều hành của Chính phủ và các cơ quan khác thông qua báo, tạp chí, internet,…
Phương pháp nghiên cứu: tổng hợp các thông tin thu thập được và trình
bày các thông tin theo trình tự hợp lý để đạt được mục tiêu của đề tài đã đặt ra
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tác động của việc chấm dứt cho vay và huy động
vốn bằng vàng đến các NHTM, doanh nghiệp và cá nhân có kinh doanh vàng
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: đề tài tập trung nghiên cứu các NHTM, doanh nghiệp và
cá nhân có kinh doanh vàng ở Việt Nam
Thời gian: từ 2007 đến quý 2/2011
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu
Đề tài này sẽ giúp cho bản thân tôi thấy được tác động của việc cho vay và huy động vốn bằng vàng đến các tổ chức và cá nhân có kinh doanh vàng Đồng thời, nó còn cho thấy những lợi ích mà Thông tư số 11/2011/TT-NHNN mang lại và những khó khăn mà các NHTM, doanh nghiệp và cá nhân có kinh doanh vàng gặp phải khi thi hành chính sách này Đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu có liên quan
Trang 10CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Nghiệp vụ huy động vốn
Theo Phan Thị Thu Hà (2009: 37)
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác Huy động vốn – hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM – đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng
Trương Thị Hồng (2004: 33) đã trình bày: “Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng rất lớn trong các ngân hàng Nếu ngân hàng phát huy tốt công tác huy động vốn không những mở rộng công tác cho vay, tăng cường vốn cho nền kinh tế mà còn mang đến cho ngân hàng nhiều lợi nhuận”
Theo Trương Thị Hồng (2004: 33-35)
Vốn huy động tồn tại dưới nhiều hình thức, hay nói cách khác là ngân hàng huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, phổ biến nhất là các nguồn sau đây:
Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm định kỳ (có kỳ hạn)
Tiền gửi có kỳ hạn
Các loại vốn huy động khác
2.2 Nghiệp vụ cho vay
Nguyễn Minh Kiều (2007: 184) đã trình bày: “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian xác định với một khoản chi phí nhất định”
Theo Nguyễn Minh Kiều (2007: 32)
NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN như bao thanh toán, tài trợ nhập khẩu, cho vay thấu chi, và cho vay theo hạn mức tín dụng,
và hạn mức tín dụng dự phòng,… Trong các hoạt động tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất
Luật số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 do Quốc hội ban hành đã giải thích:
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam
kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
(Quốc hội, 2010: 4)
Trang 11Theo Nguyễn Minh Kiều (2007: 32)
NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và đời sống
Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát
triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống
2.3 Nghiệp vụ kinh doanh vàng
Theo Nguyễn Minh Kiều (2007: 1001)
Kinh doanh vàng được xem như là nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của NHTM, cùng với nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và góp phần mang lại thu nhập “phi tín dụng” cho ngân hàng
Hiện nay, hầu hết các NHTM đều có hoạt động kinh doanh vàng ở nhiều mức độ khác nhau từ đơn giản như mua bán vàng miếng với khách hàng cho đến các nghiệp vụ kinh doanh phức tạp như kinh doanh vàng tài khoản và kinh doanh quyền chọn vàng
2.3.1 Tổ chức hoạt động kinh doanh vàng của NHTM
Theo Nguyễn Minh Kiều (2007: 1002)
Hoạt động kinh doanh vàng của NHTM ở Việt Nam hiện nay tùy theo quy mô có thể tổ chức thành một bộ phận hoặc một công ty kinh doanh riêng biệt nhưng trực thuộc ngân hàng Chẳng hạn, Eximbank và NHTM Cổ phần Việt Á (VietABank) có bộ phận kinh doanh vàng thực hiện các giao dịch từ nhập khẩu, chế tác, kinh doanh mua bán vàng trong khi ACB và ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) thành lập công ty chuyên kinh doanh vàng Bất luận tổ chức như thế nào, nhìn chung hoạt động kinh doanh vàng của các NHTM hiện nay gồm có hai hoạt động chính
là kinh doanh vàng trên thị trường quốc tế và kinh doanh vàng trên thị trường nội địa Ngoài ra, còn các dịch vụ ngân hàng khác liên quan đến giao dịch vàng Hầu hết các NHTM đều cung cấp các dịch vụ này vừa để đa dạng hóa dịch vụ vừa nhằm hỗ trợ cho nghiệp vụ kinh doanh vàng
2.3.2 Các dịch vụ ngân hàng liên quan đến giao dịch vàng
Dịch vụ giữ hộ vàng
Nguyễn Minh Kiều (2007: 1002) đã trình bày:
Thực hiện dịch vụ này, NHTM nhận giữ hộ vàng cho khách hàng nhằm mục đích an toàn Đây là dịch vụ rất đơn giản theo đó các NHTM có thể sử dụng uy tín và kho quỹ an toàn của mình để cung cấp dịch vụ cho khách hàng với mức phí giữ hộ vàng nhất định
Hiện nay, có một số ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ hộ vàng cho khách hàng, chẳng hạn như: ngân hàng ACB cung cấp dịch vụ này nhằm giúp khách hàng cất giữ vàng tại két của Ngân hàng một cách an toàn, tiện lợi Thông tin của khách hàng hoàn toàn được bảo mật và Ngân hàng không giới hạn thời gian giữ hộ, khách hàng có thể rút một phần hoặc toàn bộ số vàng đã gửi, không hạn chế số lần rút Đồng thời trong thời gian giữ hộ khách hàng sẽ không được hưởng lãi và phải trả mức phí (ACB, không ngày
Trang 12tháng) Hiện tại, mức phí của ngân hàng này là 0,05% giá trị tài sản, tối thiểu 20.000 đồng (Tuệ Minh và Lệ Chi, 2011) Loại vàng mà ngân hàng nhận giữ hộ là vàng miếng 99,99% (ACB, không ngày tháng) Ngoài ra, Eximbank cũng cung cấp dịch vụ giữ hộ vàng SJC 99.99 cho khách hàng với hình thức gần giống như ở ngân hàng ACB nhưng khác ở chỗ là Eximbank không thu phí trong thời gian giữ hộ (Eximbank, không ngày tháng)
Dịch vụ ngân quỹ vàng
Theo Nguyễn Minh Kiều (2007: 1002)
Thực hiện dịch vụ này, NHTM nhận thu và chi hộ vàng thay cho khách hàng Nhờ tận dụng kỹ năng chuyên môn của nhân viên ngân hàng để thực hiện các khâu kiểm đếm vàng, uy tín của ngân hàng như là trung gian giữa các bên giao dịch, và địa điểm an toàn thực hiện giao dịch vàng, các NHTM
có thể cung cấp dịch vụ ngân quỹ cho khách hàng với mức phí nhất định
Dịch vụ tiết kiệm vàng
Nguyễn Minh Kiều (2007: 1003)
Thực hiện dịch vụ này, NHTM mở tài khoản tiết kiệm vàng cho khách hàng gửi vàng nhằm mục đích an toàn và sinh lợi Dịch vụ này tương tự như tiền gửi tiết kiệm, do vậy, qua đó NHTM có thể huy động được nguồn vốn bằng vàng
Dịch vụ thanh toán vàng
Nguyễn Minh Kiều (2007: 1003)
Thực hiện dịch vụ này, NHTM trước hết nhận mở tài khoản tiền gửi vàng cho khách hàng ký gửi hoặc thu vàng ghi Có vào tài khoản Kế đến từ tài khoản tiền gửi vàng này, NHTM có thể ghi Nợ để trích tài khoản chi trả vàng theo yêu cầu của khách hàng Thực chất, dịch vụ này tương tự như dịch
vụ thanh toán trong nước chỉ khác ở chỗ tài khoản thanh toán ở đây là tài khoản vàng thay vì tài khoản tiền đồng
Dịch vụ chuyển ngân vàng
Nguyễn Minh Kiều (2007: 1003) đã trình bày:
Thực hiện dịch vụ này, NHTM nhận chuyển ngân vàng từ nơi này sang nơi khác cho khách hàng nhằm mục tiêu di chuyển tài khoản một cách an toàn, thuận lợi và nhanh chóng
Cho vay vàng
Theo Nguyễn Minh Kiều (2007: 1004)
Thực hiện dịch vụ này, NHTM sử dụng nguồn vốn bằng vàng huy động được từ các dịch vụ như giữ hộ, tiết kiệm và chuyển ngân vàng để cung cấp tín dụng bằng vàng cho khách hàng
Trang 132.4 Hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD
Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày 29/10/2010 do Thống đốc NHNN ban hành
đã quy định:
TCTD có giấy phép hoạt động ngoại hối được huy động và cho vay vốn bằng vàng theo quy định tại Thông tư này Loại vàng mà TCTD huy động và cho vay là vàng miếng theo tiêu chuẩn của các doanh nghiệp kinh doanh vàng đã được NHNN Việt Nam cấp giấy phép sản xuất vàng miếng TCTD chỉ được huy động vốn bằng vàng thông qua phát hành giấy tờ
có giá, cho vay vốn bằng vàng để sản xuất (chế tác) và kinh doanh vàng trang sức (không được cho vay để sản xuất và kinh doanh vàng miếng) Việc huy động và cho vay vốn bằng vàng được áp dụng theo quy định của NHNN Việt Nam về phát hành giấy tờ có giá trong nước của TCTD, cho vay của TCTD đối với khách hàng và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
TCTD không được chuyển đổi vốn huy động bằng vàng thành đồng Việt Nam và các hình thức bằng tiền khác, kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành Đối với số vốn bằng vàng đã chuyển đổi thành tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Quyết định số 432/2000/QĐ-NHNN ngày 3/10/2000 của Thống đốc NHNN về nghiệp vụ huy động vốn và sử dụng vốn bằng vàng, bằng đồng Việt Nam bảo đảm giá trị theo giá vàng của các tổ chức tín dụng, thì số vốn chuyển đổi thành tiền này được giảm dần và tất toán chậm nhất là ngày 30/06/2011
(NHNN, 2010: 1)
Về lãi suất huy động và cho vay vốn bằng vàng, Thông tư này quy định:
TCTD ấn định lãi suất huy động và cho vay vốn bằng vàng trên cơ sở cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng vay, đảm bảo hiệu quả kinh doanh Niêm yết công khai các mức lãi suất huy động và cho vay vốn bằng vàng
(NHNN, 2010: 1-2) Tuy nhiên, hoạt động này bị chấm dứt ngày 01/05/2011 và được thay thế bằng Thông tư số 11/2011/TT-NHNN
2.5 Quy định việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của các TCTD
Thông tư số 11/2011/TT-NHNN do NHNN ban hành ngày 29/04/2011 đã quy định việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của các TCTD như sau:
TCTD không được thực hiện cho vay vốn bằng vàng đối với khách hàng và các TCTD khác (kể cả các hợp đồng tín dụng đã ký kết nhưng chưa giải ngân hoặc giải ngân chưa hết); không được gửi vàng tại TCTD khác; không được thực hiện các nghiệp vụ ủy thác, đầu tư và các hình thức cấp tín dụng khác bằng vàng
TCTD không được huy động vốn bằng vàng, trừ trường hợp phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng để chi trả vàng theo yêu cầu của khách hàng khi số vàng thu nợ và tồn quỹ không đủ để chi trả Việc phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng của TCTD chấm dứt vào ngày 01 tháng 05 năm 2012
Trang 14TCTD không được chuyển đổi vốn huy động bằng vàng trước đây thành đồng Việt Nam và các hình thức bằng tiền khác Đối với số vốn bằng vàng đã chuyển đổi thành tiền phải tất toán chậm nhất là ngày 30/06/2011
(NHNN, 2011: 1) Theo Thông tư này, trách nhiệm của các bên có liên quan được quy định như sau:
Đối với các TCTD: Gửi báo cáo huy động và cho vay vốn bằng vàng theo Phụ lục 1, Phụ lục 2, Phụ lục 3 và Phụ lục 4 của Thông tư này; cung cấp các thông tin liên quan theo yêu cầu của NHNN Việt Nam trong từng thời
kỳ
Đối với NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: a) Thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của các TCTD trên địa bàn, xử lý các vi phạm theo thẩm quyền
b) Gửi báo cáo tình hình huy động và cho vay vốn bằng vàng của các TCTD theo Phụ lục 5 của Thông tư này; báo cáo và đề xuất với Thống đốc NHNN xử lý các khó khăn, vướng mắc về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD trên địa bàn
Đối với Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng: Thực hiện giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của các TCTD theo quy định tại Thông tư này; xử lý các vi phạm theo thẩm quyền; báo cáo và đề xuất với Thống đốc NHNN xử lý các khó khăn, vướng mắc về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD
(NHNN, 2010: 2)
Trang 15
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC CHẤM DỨT CHO VAY VÀ HUY ĐỘNG VỐN BẰNG VÀNG ĐẾN
Sàn giao dịch vàng của ACB là sàn giao dịch vàng đầu tiên tại Việt Nam, được thành lập ngày 25/05/2007 với tên gọi ban đầu là Trung tâm giao dịch vàng Sài Gòn, với sự tham gia của các ngân hàng ACB, Eximbank, VietABank và SJC (A.H, 2007) Chỉ trong ngày giao dịch đầu tiên, khối lượng giao dịch đã lên đến 7.250 lượng với tổng giá trị hơn 93 tỷ đồng Từ tháng 12/2007, sàn giao dịch này mở rộng sang các khách hàng cá nhân Từ đó, khối lượng giao dịch trên sàn đã gia tăng đột biến Trong 10 phiên giao dịch gần ngày 07/03/2008 nhất, khối lượng giao dịch tại đây từ trên 160.000 lượng đến gần 300.000 lượng, giá trị giao dịch vượt trên 3.000 tỷ đồng Điển hình trong các phiên giao dịch ngày 29/02 và ngày 03/03/2008, khi thị trường vàng lên cơn sốt, giá trị giao dịch vượt lên trên 5.000 tỷ đồng Chỉ riêng mức phí giao dịch là 2.000 đồng/lượng, mỗi ngày sàn giao dịch này có thể thu về gần 600 triệu đồng, chưa kể đến các nguồn thu
từ các dịch vụ phái sinh khác (Minh Đức, 2008b) Từ tình hình trên cho thấy, sàn giao dịch vàng mới xuất hiện ở Việt Nam vào năm 2007 cho nên sẽ có rất ít người hiểu biết
về lĩnh vực đầu tư này Vậy mà ngay từ khi sàn vàng chính thức đi vào hoạt động, khối lượng giao dịch đã tăng nhanh chóng trước tình hình giá vàng biến động bất thường Vậy lý do gì đã khiến cho khối lượng giao dịch tại các sàn vàng tăng nhanh như thế Phải chăng là do những nhà đầu tư này đoán chắc được rằng giá vàng sẽ còn tiếp tục gia tăng trong tương lai, hay là vì niềm tin vào tiền đồng của những nhà đầu tư này đã giảm sút, do lạm phát cứ ngày càng gia tăng nên họ tìm đến kênh đầu tư vàng với hy vọng trong tương lai giá vàng tăng cao sẽ mang lại cho họ nhiều lợi nhuận Vì thế, cho dù giá vàng đang lên cơn sốt nhưng hoạt động kinh doanh trên sàn vàng vẫn không ngừng gia tăng
Trước nhu cầu giao dịch vàng của người dân ngày càng gia tăng cùng với sức sinh lời cao từ việc kinh doanh sàn giao dịch vàng, nhiều NHTM và một số doanh nghiệp kinh doanh vàng đã thành lập các sàn giao dịch vàng như sàn giao dịch vàng của các
Trang 16ngân hàng VietABank, ngân hàng Phương Nam (Southern Bank), ngân hàng Đông Á (DongA Bank), ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), sàn vàng Phố Wall, sàn vàng Thế giới (Hoàng Thế Thỏa, không ngày tháng) Năm 2008 là năm đánh dấu sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các sàn giao dịch vàng Trong năm này, đã có hơn 10 sàn giao dịch vàng đã được đi vào hoạt động Việc ra đời các sàn vàng, cùng với cơn sốt giá vàng trong năm 2008 như ngày 17/03/2008 và 15/07/2008 giá vàng SJC đạt mức kỷ lục 19,35 triệu đồng/lượng, đã khiến một lượng tiền lớn từ chứng khoán chảy sang Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của loại hình đầu tư này cũng đã khiến nhiều nhà đầu tư phải trắng tay (Quang Sơn, 2008)
Bên cạnh đó, hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vàng cũng không kém phần sôi động Trong năm 2008, tổng hạn mức sản xuất vàng miếng là 63,4 tấn Trong
đó, SJC được sản xuất khối lượng lớn nhất với hạn mức 50 tấn; kế đến là công ty Kinh doanh Mỹ nghệ Vàng bạc Đá quý (thuộc ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam) với khối lượng là 9 tấn Một số đầu mối khác, có hạn mức từ 200 kg đến 2 tấn Trong năm 2006, doanh thu của SJC lần đầu tiên lập kỷ lục 1 tỷ đô la Mỹ (USD) (gần 16.000 tỷ đồng) Năm 2007, doanh thu này đã tăng lên gần 1,5 tỷ USD (23.703 tỷ đồng) Ngoài ra trong năm 2007, lần đầu tiên trong 20 năm hoạt động, lợi nhuận của công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) vượt mức 100 tỷ đồng (đạt 128,2 tỷ đồng) PNJ cũng là một trong những doanh nghiệp có doanh thu lớn từ hoạt động xuất khẩu với gần 9 triệu USD trong năm 2007 (Minh Đức, 2008b) Tuy hoạt động sản xuất vàng miếng để xuất khẩu mang lại nhiều doanh thu cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng nhưng cũng chính việc này đã khiến cho tình trạng đô la hóa ở nước ta gia tăng trong những năm qua Điều này đã tác động đến tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế đất nước Đây cũng là vấn đề mà hiện nay Chính phủ đang muốn kiểm soát và điều chỉnh
Trước kết quả hoạt động kinh doanh của các sàn vàng và doanh nghiệp kinh doanh vàng cùng với nhu cầu giao dịch vàng của người dân tăng cao đã góp phần làm cho nghiệp vụ kinh doanh vàng của các NHTM gia tăng nhanh chóng Các ngân hàng đã đồng loạt tăng lãi suất huy động để thu hút nguồn vàng gửi tiết kiệm Ngày 25/05/2009, Eximbank đã thông báo tăng lãi suất tiết kiệm vàng kỳ hạn ba tháng lên 4,5%/năm Từ ngày 26/05/2009, VietABank cũng tăng lãi suất tiết kiệm cho các kỳ hạn 1, 2, 3, 6, và 9 tháng lên các mức 2,7%, 2,9%, 3,5%, 3,7%, và 3,9%/năm, mức tăng trung bình từ 0,1 đến 0,2 điểm phần trăm cho các kỳ hạn Southern Bank cũng đưa ra chương trình khuyến mãi gửi vàng trúng vàng đến hết tháng 6 đối với tiết kiệm bằng vàng (Thông tin nhanh cho thành công, 2009) Đến ngày 28/05/2009, HDBank đưa ra mức lãi suất huy động vàng cao nhất trên thị trường, với 4,6%/năm kỳ hạn 3 tháng Hàng loạt ngân hàng khác như VietABank, ngân hàng Phương Đông (OCB), Southern Bank, ACB, Sacombank cũng đã điều chỉnh tăng lãi suất tiết kiệm vàng ở các kỳ hạn lên một mức mới Nhìn chung, trong thời điểm này mặt bằng lãi suất huy động kim loại quý này tăng khoảng 1% so với hồi tháng 04/2009 (P.Lan, 2009) Trong bối cảnh giá vàng đang biến động mạnh, vào trưa ngày 11/11/2009 giá vàng ở mức 29,15 triệu đồng, nhưng chỉ chưa tới 2 giờ đồng hồ sau giá vàng đã rớt xuống mức 26,4 triệu đồng/lượng (Nguyễn Thị Thanh Hương, không ngày tháng) Động thái tăng lãi suất huy động vàng ở các kỳ hạn ngắn được thực hiện trong thời điểm này, cho thấy tình hình chung của các ngân hàng là huy động vàng không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay
Thật vậy, vào ngày 19/02/2009, công ty SJC chi nhánh Hà Nội công bố giá giao dịch vàng SJC ở mức 1,955 triệu đồng/chỉ (mua vào) - 1,975 triệu đồng/chỉ (bán ra), tăng 25.000 đồng/chỉ so với sáng ngày hôm trước (An Hạ, 2009) Trong lúc giá vàng
Trang 17gia tăng như thế, một cán bộ quản lý của Eximbank cho biết khoảng tháng 2 – 3/2009, nhiều người dân đã rút vàng để bán và trong lúc đó số lượng vàng gửi vào ngân hàng không còn nhiều nữa Tổng huy động vốn bằng vàng của Eximbank trong 2 quý đầu năm 2009 tăng chậm và có tháng còn bị giảm Trong khi đó, ngày 25/05/2009 dư nợ cho vay vàng của Ngân hàng tăng đến 75% so với đầu năm 2009 Nhiều đối tượng đi vay vàng trong thời điểm này chủ yếu là các “nhà đầu tư xuống giá” – những người này vay vàng để bán khi giá cao và chờ giá thấp để mua vàng trả nợ Cho dù kênh đầu tư này hết sức nguy hiểm nhưng đối với những nhà đầu tư chuyên nghiệp thì việc xác định đúng thời điểm giá vàng xuống thấp để mua vào sẽ mang lại nguồn thu không nhỏ Đặc biệt
là trong thời điểm này hầu hết các ngân hàng đều cho vay đến 90% nhu cầu vay của khách hàng Điều này càng kích thích nhu cầu vay của các đối tượng này (P.Lan, 2009) Việc ngân hàng cho vay đến 90% nhu cầu của khách hàng rất nguy hiểm vì nếu giá vàng không xuống thấp mà cứ liên tục gia tăng và khi hợp đồng vay đến thời điểm đáo hạn, các “nhà đầu tư xuống giá” này có thể sẽ không đủ khả năng mua vàng để trả nợ cho ngân hàng Vì thế, khả năng ngân hàng bị mất vốn là rất lớn
Bên cạnh việc phục vụ nhu cầu của các nhà đầu tư thì việc tăng lãi suất huy động cũng để đáp ứng nhu cầu kinh doanh tại chính các ngân hàng Theo ông Phạm Duy Hưng, Tổng giám đốc VietABank, Ngân hàng ông tăng cường huy động vàng để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh vàng của sàn vàng Việt Á, cũng như phục vụ cho hoạt động kinh doanh vàng của Ngân hàng Trong quý 1/2009, các ngân hàng đã thu được nguồn lợi đáng kể từ hoạt động kinh doanh vàng khi tổng giá trị xuất khẩu vàng lên tới 2,3 tỷ USD Điển hình như Sacombank đã thu được khoảng 100 tỷ đồng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh vàng, bằng 30% tổng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
vàng của cả năm 2008 (P.Lan, 2009) Ngoài ra, theo ông Đinh Thế Hiển, chuyên gia
đầu tư – tài chính, các ngân hàng có thể đẩy lãi suất huy động vàng lên để huy động vàng, sau đó bán ra lấy tiền đồng (nhất là khi giá vàng tăng cao) và đem tiền đồng cho vay lại với lãi suất cao hơn Nhưng việc này chỉ thực hiện được khi ngân hàng nhận định giá vàng sẽ giảm trong tương lai (Thông tin nhanh cho thành công, 2009) Thế nhưng, giá vàng lại biến động thất thường nên việc kinh doanh vàng của các NHTM cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Thật vậy, từ tình hình huy động vàng của các NHTM cho thấy các ngân hàng đã tăng lãi suất huy động vàng để phục vụ hoạt động kinh doanh vàng của ngân hàng nhưng mức lãi suất huy động vàng cũng chỉ đạt ở mức 4,5%, 4,6%/năm và thậm chí là 6,5%/năm trong năm 2008 (Đinh Bách, 2011) Trong khi mức lãi suất huy động Việt Nam đồng (VNĐ) thấp nhất cũng đã đạt 8,25%/năm trong năm
2008 (Trang tin điện tử NHNN Việt Nam, không ngày tháng), điều này cho thấy mức lãi suất huy động vàng vẫn còn thấp hơn nhiều so với lãi suất huy động VNĐ Bên cạnh
đó, NHNN cũng không có quy định mức lãi suất huy động vàng của các NHTM, mức lãi suất này chỉ dựa trên cung cầu thị trường thế mà các ngân hàng vẫn không dám mạnh tay nâng lãi suất huy động vàng lên bằng mức lãi suất huy động VNĐ Phải chăng là do giá vàng thường xuyên tăng mạnh nên các ngân hàng không dám làm liều Vì nếu quy định lãi suất huy động vàng ở mức cao và thời điểm khách hàng rút vàng lại ngay lúc giá vàng leo thang thì các ngân hàng sẽ gặp rủi ro trong việc thanh khoản Điều đó cho thấy, việc kinh doanh vàng của các NHTM tuy mang đến nhiều lợi nhuận nhưng cũng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy hiểm Các ngân hàng cần phải cân nhắc cẩn thận trong hoạt động cho vay và huy động vàng, nếu không sẽ rơi vào tình trạng khó mà giải quyết Nhưng không chỉ việc kinh doanh vàng của các ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro mà hoạt động của các sàn vàng cũng không kém gì Do hoạt động trên sàn vàng là loại hình kinh doanh chênh lệch giá, nhưng lại thường thu hút một lượng vốn lớn và hoạt động