1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển mô hình nuôi bò vỗ béo ở huyện chợ mới tỉnh an giang trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa

65 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình của Đảng và Nhà nước ta thực chất là việc thực hiện phát triển một cách hợp lý các hình thức sản xuất và kinh doanh tro

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

HUỲNH THỊ THÚY AN

PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH NUÔI BÕ VỖ BÉO

Ở HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA -

HIỆN ĐẠI HÓA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

KHÓA HỌC: 2010 – 2014

AN GIANG, tháng 05/2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng tôn kính và biết

ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn Trần Văn Hùng đã tận tình giúp đỡ, cố vấn

và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Bên cạnh đó tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến và tất cả quý Thầy,

Cô của trường Đại học An Giang nói chung và quý Thầy, Cô chuyên ngành

Chính trị nói riêng, cùng các ban ngành thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Và cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng kính yêu sâu sắc đến Ba Mẹ, Anh, Chị -

những người đã hỗ trợ và động viên tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong thời gian

học tập và nghiên cứu đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

HTX: Hợp Tác Xã

Trang 5

MỤC LỤC

Mục lục Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2

3.1 Mục đích nghiên cứu 2

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 3

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp mới của đề tài 3

7 Ý nghĩa đề tài 3

8 Cấu trúc khóa luận 4

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 5

1.1 Một số vấn đề chung về kinh tế hộ gia đình với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế bền vững 5

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về kinh tế hộ gia đình 9

1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế hộ gia đình 15

1.4 Quan điểm của Đảng Cộng Sản về kinh tế hộ gia đình 18

1.5 Những chủ trương phát triển kinh tế hộ gia đình của tỉnh An Giang nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng 23

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH NUÔI BÒ VỖ BÉO Ở CHỢ MỚI 27

2.1 Thực trạng phát triển kinh tế hộ gia đình nuôi bò vỗ béo ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 27

Trang 6

2.1.1 Khái quát tình hình phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang 27 2.1.2 Đảng bộ huyện Chợ Mới lãnh đạo phát triển kinh tế hộ gia đình

trong nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 đến nay 28 2.1.3 Thực trạng phát triển nghề nuôi bò vỗ béo ở huyện Chợ Mới, tỉnh

An Giang… 31 2.1.4 Đánh giá hiệu quả nuôi bò vỗ béo ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 36 2.2 Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình nuôi bò vỗ béo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 45 2.2.1 Phương hướng phát triển kinh tế hộ gia đình nuôi bò vỗ béo tại

huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 45 2.2.2 Những giải pháp cụ thể phát triển nghề nuôi bò vỗ béo trong kinh tế

hộ gia đình ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 47

KẾT LUẬN 51

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Chợ Mới là một huyện nông nghiệp thuộc tỉnh An Giang, là một huyện

cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu Phía Bắc giáp với huyện Phú tân, phía Đông giáp với sông Tiền, phía Nam giáp tỉnh Đồng Tháp, và phía Tây giáp sông Hậu

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho cây trồng vật nuôi phát triển quanh năm Hệ thống kênh, rạch chằng chịt, đáp ứng đủ nhu cầu nước tưới cho các cánh đồng quanh năm

Nếu như trước đây vào mùa nước nổi, lượng phù sa bồi đắp hằng năm làm cho những cánh đồng phì nhiêu càng thêm màu mở, thuận lợi cho cây lúa phát triển, nhưng cũng chính điều đó làm cho vụ lúa hè thu luôn ở trong tình trạng bấp bênh, thường bị nhấn chìm khi mùa lũ về sớm

Trước bối cảnh đó, huyện Đảng bộ chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, hình thành những vùng chuyên canh, đa canh, xen canh bằng cách thực hiện chủ trương đê bao chống lũ từ năm 1997 Mỗi tiểu vùng đê bao bà con nông dân có điều kiện tăng vụ, có điều kiện xen canh Kết quả là sản lượng lương thực tăng lên nhanh chóng qua từng năm Trước thực tế bấp bênh của cây lúa theo giá thị trường: trúng mùa thất giá làm cho thu nhập của bà con nông dân giảm dần theo năm tháng trên cùng một diện tích

Trong đó, kinh tế hộ gia đình góp phần quan trọng thúc đẩy nông nghiệp huyện nhà ngày một phát triển Ngoài ngành trồng trọt thì chăn nuôi cũng được đặc biệt quan tâm và phát triển khá, trong đó chủ yếu bằng nghề nuôi bò vỗ béo

Tuy nhiên, thực trạng phát triển nghề nuôi bò vỗ béo ở huyện Chợ Mới nói riêng và tỉnh An Giang nói chung đang tồn tại nhiều khó khăn và thử thách, phát triển vẫn còn mang tính tự phát ở nhiều địa phương, chủ yếu theo phong trào chưa có tính hệ thống và quản lý chặt chẽ, nhiều hộ gia đình muốn nuôi bò nhưng không có vốn hoặc thiếu vốn, không có đất cho việc chăn nuôi, gặp khó

Trang 8

khăn trong việc tìm nguồn thức ăn cho bò, kỹ thuật nuôi bò chưa được hiệu quả, dẫn đến kinh tế hộ gia đình chưa được cải thiện và nâng cao

Xuất phát từ những thực trạng trên, vậy hướng đi nào cho nghề nuôi bò

vỗ béo ở huyện Chợ Mới được tồn tại và phát triển lâu dài? Giải pháp nào để kinh tế hộ gia đình trong nông nghiệp được phát triển bền vững? Những vấn

đề trên đòi hỏi tâm huyết, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, các ban ngành có liên quan, với những giải pháp thích hợp giúp nghề nuôi bò vỗ béo có thể khẳng định vị trí và vai trò của mình trong kinh tế hộ gia đình nói riêng và trong công cuộc phát triển kinh tế huyện nhà ở giai đoạn hiện nay nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu:

Tiềm năng và lợi thế phát triển của kinh tế hộ gia đình ở An Giang nói chung và Chợ Mới nói riêng là rất lớn, không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, các làng xã có nghề mà còn có ý nghĩa đối với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn Đã có nhiều công trình nghiên cứu như:

1) Nguyễn Văn Nòn, DH5CT, “Đảng bộ huyện Chợ Mới lãnh đạo phát

triển trong nông nghiệp ở nông thôn từ năm 1996 đến nay”

2) Trần Văn Hiển, trường chính trị Tôn Đức Thắng, “Kinh tế tư nhân ở

huyện Chợ Mới”

3) Huỳnh Ngọc Hiên (DH2CT), Võ Thành Phước (DH8CT), “Hợp tác

xã nông nghiệp ở huyện Chợ Mới”

4) Luận văn Thạc sĩ Trần Văn Hùng, “Hợp tác xã nông nghiệp Hòa

Thuận”

Hầu hết các luận văn, khóa luận đều chưa nghiên cứu về kinh tế hộ gia

đình trong lĩnh vực nuôi bò vỗ béo, vì vậy tôi chọn: “Phát triển mô hình

nuôi bò vỗ béo ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang trong thời kì Công Nghiệp Hóa - Hiện Đại Hóa” Làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:

ổn định, lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi bò vỗ béo của các hộ gia đình tại các địa phương trong huyện

Trang 9

Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cũng như kiến nghị các chính sách phát triển phù hợp tạo điều kiện cho nghề nuôi bò vỗ béo phát triển

ổn định, góp phần tăng trưởng kinh tế trong hộ gia đình nói riêng và kinh tế nông nghiệp huyện nhà nói chung

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc chăn nuôi bò vỗ béo của các

hộ gia đình tại các xã: Mỹ An, An Thạnh Trung, Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân, Long Điền A, B, Kiến An, Kiến thành, Long Kiến, Long Giang, Thị trấn Chợ Mới Từ những năm 2008 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và

tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu

- Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đánh giá…

6 Đóng góp của đề tài:

Qua việc nghiên cứu đề tài này, thấy được thực trạng kinh tế hộ gia đình Thực hiện nghề nuôi bò vỗ béo ở huyện Chợ Mới trong giai đoạn hiện nay

Đồng thời, đề tài tìm được những phương hướng cơ bản, những giải pháp mang tính khả thi, mở ra hướng đi mới để kinh tế hộ gia đình nuôi bò vỗ béo phát triển nghề nghiệp của mình một cách bền vững và khẳng định vai trò của mình trong phát triển kinh tế - xã hội hiện nay

Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho các cấp chính quyền trong quá trình xây dựng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

7 Ý nghĩa của đề tài:

Việc phát triển kinh tế hộ gia đình là một hướng quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh An Giang nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng Việc nghiên cứu đề tài giúp ta có những nhận thức đúng đắn và khách quan hơn về tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế hộ gia đình, đang từ truyền thống tiến lên hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế, đó

là một điều đáng quan tâm và phấn khởi cho nền kinh tế huyện nhà

Vì vậy, những giải pháp và định hướng phát triển nghề nuôi bò vỗ béo trong kinh tế hộ gia đình được thể hiện trong đề tài sẽ góp phần khẳng định được giá trị của việc phát triển kinh tế hộ gia đình trong thời kỳ hội nhập với chính bản sắc riêng của dân tộc, của người dân Chợ Mới

Trang 10

8 Cấu trúc của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục

sơ đồ, biểu đồ, danh mục từ viết tắt, phụ lục, hình ảnh minh họa ra, đề tài gồm

2 chương:

Chương 1: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH

TẾ HỘ GIA ĐÌNH NUÔI BÒ VỖ BÉO TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH

AN GIANG

KẾT LUẬN

Trang 11

Chương 1: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG VỀ PHÁT

TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH

1.1 Một số vấn đề chung về kinh tế hộ gia đình với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế bền vững

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2020 của Việt Nam xác định kinh tế hộ gia đình là một đơn vị sản xuất cơ sở, cần thiết cho chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vi mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Kinh tế gia đình nói chung, hay kinh tế hộ gia đình nông nghiệp ở nông thôn được thực hiện quyền tự chủ và được quan tâm, khuyến khích phát triển dưới hình thức hợp tác xã và các hình thức liên kết khác Ngoài các chính sách bảo hộ quyền và nghĩa vụ, Nhà nước còn có các chính sách khác hướng tới việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật; phổ biến, ứng dụng công nghệ mới cho sản xuất chế biến; cung cấp dịch

vụ vật tư; hỗ trợ tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế

hộ gia đình và kinh tế trang trại

Kinh tế gia đình là một hình thức sản xuất có sớm, xuất hiện từ khi gia đình được hình thành Ngày nay hình thức sản xuất này đang chịu nhiều tác động và cũng đang tự chuyển mình để trở thành một thành phần kinh tế của xã hội phát triển - xã hội công nghiệp và xã hội hậu công nghiệp Vì lẽ đó, cần tìm hiểu quyền tồn tại để nhận diện vị trí và vai trò của nó trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Lịch sử phát triển xã hội loài người là lịch sử của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Gắn liền với các thời kỳ phát triển là các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Hai phương thức sản xuất cơ bản tồn tại trong quyền phát triển, đó là sản xuất tự cung tự cấp (sản xuất tự nhiên) và sản xuất hàng hoá Nền kinh tế nào cũng phải tham gia giải quyết các yếu tố

cơ bản trong quyền sản xuất: - Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai?

Trong hình thức kinh tế tự nhiên, sản phẩm làm ra chỉ nhằm thõa mãn nhu cầu thiết yếu trong nội bộ những người sản xuất; người sản xuất tự quyết định về loại hình sản phẩm, số lượng sản phẩm Sự trao đổi sản phẩm chỉ bó hẹp trong phạm vi những người cùng sản xuất dưới hình thức đơn giản nhất Của cải vật chất có dư thừa đều phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho cộng đồng, xã hội dưới các hình thức khác nhau của mỗi chế độ Tính thị trường

Trang 12

của nền kinh tế tự nhiên tuy có, nhưng hết sức mờ nhạt, chủ yếu vẫn mang tính trao đổi giản đơn Phân công lao động xã hội trong hình thức sản xuất tự nhiên chưa phát triển, vì thế cũng chưa xuất hiện tình trạng cạnh tranh

Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu cho người sản xuất, mà còn để trao đổi nhằm thỏa mãn nhu cầu không ngừng gia tăng của người tiêu dùng, của xã hội Sự trao đổi sản phẩm dần dần được tách ra, độc lập với quá trình sản xuất và được thực hiện thông qua thị trường Vì lẽ đó, việc sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? đều do cơ chế thị trường quyết định với sự can thiệp của các qui luật cạnh tranh, qui luật giá trị và giá cả thị trường

Phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam

Việt Nam thực hiện bước chuyển đổi từ nền kinh tế tự cung tự cấp hàng thế kỷ nay, nhưng tiến trình diễn ra rất chậm chạp và sự chuyển tiếp là việc thực hiện nền kinh tế kế hoạch tập trung theo cơ chế bao cấp kéo dài suốt mấy chục năm qua Cách mạng giải phóng dân tộc với hai cuộc kháng chiến trường kỳ tiến tới thống nhất tổ quốc cũng là một nguyên nhân góp phần làm giảm phát triển kinh tế đất nước Chỉ tới thập niên cuối thế kỷ

XX, khi bắt tay vào thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta mới thực sự chuyển sang nền kinh tế thị trường

Do những đặc điểm địa lý tự nhiên và thiếu trình độ, kiến thức, kinh nghiệm quản lý nền kinh tế thị trường nên mặc dù trong những năm qua kinh

tế đất nước tuy có tăng trưởng, nhưng không đều giữa các vùng Bên cạnh sự phát triển kinh tế sản xuất hàng hoá đang diễn ra ở các đô thị lớn và các vùng miền, song nhìn chung ngành nông nghiệp vẫn còn mang nặng dấu vết của nền kinh tế tự cung, tự cấp

Thực chất sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường không chỉ là sự thay đổi hình thức kinh tế vĩ mô mà còn thay đổi cả hệ thống kinh tế vi mô Đó là

sự thay đổi phương thức hoạt động, thay đổi hình thức tổ chức của các đơn vị kinh tế, trực tiếp sản xuất ra của cải, vật chất cho xã hội

Trước đây, các tổ chức kinh tế mang các tên gọi khác nhau: nhà máy, xí nghiệp, công ty, cửa hàng, hợp tác xã, cá thể, tư nhân, v.v… Ngày nay trong

cơ chế thị trường, các đơn vị tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh đều được thống nhất chung với tên gọi là Việt Nam Hiện nay ở nước ta có các loại hình doanh nghiệp với các thành phần chủ sở hữu như sau: cá nhân, nhóm kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty (công ty trách nhiệm hữu hạn, công

ty cổ phẩn), hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ gia đình

Trang 13

Kinh tế hộ gia đình là một loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển ở nhiều nước trên thế giới Nó có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình lại càng có ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường trên nền tảng gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn và điểm xuất phát để tạo cơ sở vật chất tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại đi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, quản lý theo kế hoạch hóa tập trung, bao cấp

Mặc dù không phải là một thành phần kinh tế nhưng kinh tế hộ gia đình

là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác Một trong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình Ở nước ta, kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân, ở thành thị thì gọi là các hộ tiểu thủ công nghiệp Hiện nay, tại một số địa phương đã hình thành các trang trại gia đình có quy mô sản xuất và kinh doanh tương đối lớn Xu hướng này đang có chiều hướng phát triển và mở rộng ra trên phạm vi toàn quốc

Các cá nhân và nhóm kinh doanh trong các lĩnh vực như vận tải, xây dựng, thương mại dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh… trên thực tế là các hoạt động kinh tế hộ gia đình và được điều chỉnh theo Nghị định số 66/NĐ CP ngày 2/3/1992 Chủ hộ chịu trách nhiệm vô hạn

về vốn và kết quả kinh doanh của mình, mặt khác Nhà nước cũng có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh có số vốn phù hợp với qui

mô để hộ gia đình có thể chuyển thành doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và các hoạt động theo Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 5 thông qua vào tháng 6 năm 1999 Theo số liệu thống kê, tính đến năm 2000 nước ta có khoảng 38.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân và hơn 1,5 triệu hộ kinh doanh cá thể Các loại hình doanh nghiệp này bao gồm nhiều ngành nghề thu hút nhiều lao động, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, góp phần làm cho nền kinh tế phát triển sôi động và linh hoạt hơn, khai thác được nguồn lực còn tiềm ẩn trong dân cư, phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước

Như trên đã phân tích, kinh tế hộ gia đình tập trung chủ yếu ở khu vực sản xuất nông nghiệp và chiếm tới 2/3 lực lượng lao động toàn xã hội Vì vậy,

Trang 14

chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình của Đảng

và Nhà nước ta thực chất là việc thực hiện phát triển một cách hợp lý các hình thức sản xuất và kinh doanh trong nông nghiệp Đây là loại hình kinh tế phổ biến nhất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Tùy theo đặc điểm, tính chất của từng khu vực, từng địa bàn, cần phân loại các hộ gia đình theo trình độ sản xuất hàng hoá, khả năng tự chủ trong kinh doanh, mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh tế để có những biện pháp hỗ trợ thích hợp Hộ gia đình có nhiều ưu thế, nhưng cũng có nhiều khó khăn, hạn chế về nhiều mặt Việc tác động của Nhà nước, kết hợp với sự liên kết hỗ trợ hướng dẫn của các doanh nghiệp nhà nước, các hợp tác xã… là rất cần thiết Xem xét đến vấn đề kinh tế nói chung, hay kinh tế hộ gia đình nói riêng không thể không đề cập đến vấn đề tiêu dùng Tiêu dùng là hành vi tất yếu và thường xuyên của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất

và tinh thần của cá nhân, cộng đồng, của toàn xã hội Tiêu dùng vừa là mục tiêu vừa là tiền đề của sản xuất và tái sản xuất xã hội Mức độ tiêu dùng có thước đo và được chi phối bởi yếu tố thu nhập thực tế tính theo đầu người Các nước phương Tây có nền kinh tế phát triển, tích lũy tư bản, phúc lợi xã hội và thu nhập cá nhân cho phép đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu tiêu dùng

xã hội phát triển cao

Do kết quả của sự chi phối, giao lưu kinh tế quốc tế trong việc thực hiện chính sách mở cửa, những năm qua nền kinh tế thị trường đa thành phần ở nước ta có những bước tăng trưởng đáng kể, nhưng đồng thời cũng kéo theo

sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng cả về vật chất lẫn tinh thần Sự gia tăng về nhu cầu tiêu dùng là quy luật tự nhiên và đáng khuyến khích Tuy nhiên, trong trường hợp kinh tế kém phát triển như ở nước ta, chưa thể có mức tiêu dùng bình quân cao được

Hiện nay, có hiện tượng một bộ phận hộ gia đình thu nhập cao, tập trung ở thành thị, mức sống và nhu cầu tiêu dùng chênh lệch cao gấp nhiều lần so với những hộ dân sống ở nông thôn Đây là vấn đề cần được quan tâm giải quyết để thực hiện tính công bằng trong phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xóa đói giảm nghèo, tình trạng thất nghiệp, phân công lao động và giải quyết việc làm, thực tế hộ gia đình cũng

là những vấn đề cần được đề cập trong nghiên cứu về các chính sách liên quan tới lĩnh vực gia đình

Từ thực tế Việt Nam hiện nay việc nghiên cứu, tìm ra những giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình ở nước ta theo định hướng XHCN, nhất thiết phải

Trang 15

xuất phát từ quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và Đảng ta

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế hộ gia đình:

Nghiên cứu các tác phẩm của Marx, Engels và Lenin, có thể rút ra những nét cơ bản trong quan niệm của các ông về kinh tế hộ gia đình sau đây:

Thứ nhất, kinh tế hộ gia đình là một bộ phận, và là bộ phận chủ yếu của thành phần sản xuất hàng hóa nhỏ, tồn tại khách quan và lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Phát triển lý luận của K.Marx về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, V.I.Lenin đã chỉ rõ đặc điểm lớn nhất, xuyên suốt của thời

kỳ đó là sự tồn tại một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, và tương ứng là một

xã hội có cơ cấu nhiều giai cấp Về cơ bản, có 3 thành phần tồn tại phổ biến

ở mọi nước, là: chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hóa, chủ nghĩa cộng sản; và tương ứng với nó là 3 giai cấp cơ bản: tư sản, tiểu tư sản, công nhân và những người lao động tập thể Nhưng Người cũng chỉ rõ, tùy điều kiện mỗi nước mà các thành phần kinh tế và giai cấp sẽ có những điểm khác biệt (nhưng không phải là chủ yếu nhất) Với nước Nga, do là một nước tiểu nông, nên tồn tại 5 thành phần, bao gồm: kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên; sản xuất hàng hoá nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì); chủ nghĩa tư bản tư nhân; chủ nghĩa

tư bản nhà nước; chủ nghĩa xã hội, trong đó thành phần sản xuất hàng hóa nhỏ là chủ yếu Ông nhấn mạnh: giữa các thành phần kinh tế ấy, tính tự phát tiểu tư sản chiếm ưu thế; số đông, thậm chí là đại đa số nông dân đều là những người sản xuất hàng hóa nhỏ

Cả K.Marx, F.Engels và V.I.Lenin đều thống nhất quan niệm là các thành phần trên sẽ tồn tại lâu dài, trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là vì, một mặt, như F.Engels chỉ ra là do người nông dân là một nhân

tố rất cơ bản của dân cư, của nền sản xuất và của chính quyền, nên sự tồn tại của nó là có lợi cho giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản; mặt khác, do toàn bộ tâm lý, tập quán sản xuất nhỏ tồn tại hàng trăm năm

đã tạo một cơ sở có những cội rễ rất sâu và rất chắc, vào ý thức tư hữu của người nông dân, nên họ sẽ chống lại bất cứ sự can thiệp, hay kiểm kê, kiểm soát nào của nhà nước, vì vậy, việc thay thế chế độ tư hữu nhỏ bằng chế độ công hữu là không thể tiến hành một lần mà xong được Vậy nên, V.I.Lenin đã cực lực phê phán những tư tưởng nóng vội muốn xóa bỏ ngay mọi hình thức

tư hữu để xác lập chế độ công hữu

Trang 16

Thứ hai, cần phải cải tạo giai cấp tiểu tư sản cùng với những tập quán, những thói quen của giai cấp ấy, và địa vị kinh tế của giai cấp ấy theo con đường xã hội chủ nghĩa

Mặc dù xác định sự tồn tại lâu dài của kinh tế tiểu nông, nhưng điều đó không có nghĩa là giai cấp vô sản để mặc họ, mà ngược lại, phải cải tạo họ, phải tiêu diệt cái cơ sở vô cùng rộng lớn và có cội rễ rất sâu và rất chắc cho sự duy trì và phục hồi lại chủ nghĩa tư bản trong cuộc đấu tranh ác liệt chống chủ nghĩa cộng sản Đó là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng theo F.Engels, thì “Nếu chúng ta xác định được lập trường của chúng ta đối với tiểu nông thì chúng ta

sẽ có mọi tiêu điểm để xác định được thái độ của mình đối với những thành phần khác trong dân cư nông thôn.” [4; Tr.24].Thấm nhuần tư tưởng của F.Engels, V.I.Lenin luôn nhắc nhở giai cấp vô sản là không được quên kẻ thù chủ yếu trong bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là giai cấp tiểu tư sản và tính tự phát tiểu tư sản, cùng với những tập quán, những thói quen, và địa vị kinh tế của giai cấp ấy Ông nói, nếu giai cấp vô sản xóa bỏ được chế độ tư hữu của người tiểu nông thì cũng có nghĩa là họ đã nhổ được những gốc rễ sâu xa hơn và dai dẳng hơn của những quan hệ cũ tiền xã hội chủ nghĩa, thậm chí tiền tư bản Khi đó, và chỉ có khi đó giai cấp tư sản mới hết cơ sở để tái sinh và tồn tại Về cải tạo sản xuất nhỏ, cả K.Marx, F.Engels

và V.I.Lenin đều có chung quan niệm là phải lôi cuốn nông dân đi theo chủ nghĩa xã hội Các ông cho rằng, nếu giải phóng nông dân mà chỉ dừng lại ở việc đưa ruộng đất và tự do cho họ, thì đó mới chỉ là bước đầu; nhiệm vụ của giai cấp vô sản và chính đảng của nó còn lớn hơn, và khó khăn hơn nhiều Đó

là phải xóa bỏ tư hữu, dẫn dắt nông dân xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, để không vì sự yếu đuối và thiếu năng lực cạnh tranh của họ mà bị phân hóa trong guồng máy tư bản chủ nghĩa

Thứ ba, con đường cơ bản để cải tạo những người nông dân trong hộ gia đình là tập hợp họ vào các hợp tác xã

Những người nông dân sau khi thoát khỏi chế độ bóc lột của chủ nghĩa

tư bản trở thành người nông dân tự do và được chia ruộng đất thuộc nhà nước Nhưng, sự thâm nhập của sản xuất hàng hóa vào nông nghiệp, sự cạnh tranh giữa nông dân, những cuộc đấu tranh giành đất đai, giành độc lập kinh tế… đã dẫn đến tình trạng phân hóa trong nông dân: giai cấp tư sản nông dân lấn át trung nông và nông dân nghèo Đó là vấn đề có tính quy luật Vì vậy, chừng nào người nông dân chưa trở thành những người lao động tập thể trong các Hợp tác xã (HTX) thì chừng đó vẫn còn nguy cơ đói nghèo và bị bóc lột Trong Tuyên ngôn thành lập Hiệp hội công nhân Quốc tế, K.Marx đã nhấn

Trang 17

mạnh: muốn giải phóng nông dân, giải phóng quần chúng lao động, thì cần phải phát triển lao động hợp tác trên quy mô cả nước, bằng con đường kinh tế, chứ không phải bằng những biện pháp tội lỗi đối với nông dân Sau này V.I.Lenin làm rõ thêm: HTX là hình thức kinh tế quá độ thích hợp để chuyển

từ tiểu sản xuất sang đại sản xuất, đưa những nhà sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa

xã hội, do đó, đưa nông dân vào HTX là con đường duy nhất mang lại lợi ích cho họ, và cũng là con đường cơ bản nhất, dễ dàng nhất để cải tạo họ theo chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, do những thói quen lâu đời, cố cựu, bất di bất dịch đã

ăn sâu vào tiềm thức của nông dân nên họ sẽ không sẵn sàng từ bỏ những lợi ích riêng để đi theo giai cấp công nhân trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Vì vậy, giai cấp vô sản phải lãnh đạo họ, đấu tranh với họ để gây ảnh hưởng tới họ và lôi cuốn họ tham gia HTX Chừng nào giai cấp vô sản tổ chức được toàn thể nông dân vào HTX, thì chừng đó họ mới thật sự đứng vững được cả hai chân trên miếng đất xã hội chủ nghĩa

Thứ tư, trong quá trình cải tạo nông dân trong hộ gia đình, cần có những bước đi thận trọng, với những chính sách và biện pháp thích hợp

Mặc dù tư tưởng của Chủ nghĩa Marx - Lenin là xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu trong chủ nghĩa xã hội, nhưng điều đó không có nghĩa là phải tiến hành quốc hữu hóa ngay một lúc tất cả các tư liệu sản xuất

xã hội; mà ngược lại, có thể và cần phải sử dụng những giải pháp mềm dẻo, linh hoạt, thích hợp với tình hình cụ thể ở mỗi giai đoạn cụ thể của cách mạng Tức là, việc xóa bỏ các thói quen, xóa bỏ địa vị kinh tế của thành phần sản xuất hàng hóa nhỏ, đưa những người sản xuất hàng hóa nhỏ đi lên chủ nghĩa

xã hội là một tất yếu, nhưng không phải bằng các biện pháp tước đoạt như đối với địa chủ, cũng không phải bằng những biện pháp lập pháp hay hành chính hấp tấp và thiếu thận trọng, và nhất là, không được biến công cuộc hợp tác hóa thành một trò chơi ngu ngốc để khiến cho nông dân phải phẫn nộ… Đó là vì, tất thảy điều đó chỉ sẽ gây thêm khó khăn cho bước quá độ, và do đó sẽ kéo dài thêm bước quá độ đó mà thôi Ngược lại, giai cấp vô sản phải giúp đỡ nông dân, phải lôi kéo họ tham gia HTX bằng chính việc làm tốt đẹp của HTX Nói cách khác, HTX phải là tấm gương để nông dân nhìn vào đó mà đưa ra quyết định có tham gia HTX hay không Cho nên, theo F.Engels: “tấm gương của những HTX nông nghiệp đó sẽ chứng minh cho ngay cả những người cuối cùng trong đám nông dân có mảnh ruộng đất nhỏ, còn ngoan cố và

có thể cho cả một vài phú nông thấy rõ những điều lợi của nền kinh tế lớn HTX quy mô lớn.” [6; Tr.40]

Trang 18

Lý luận của chủ nghĩa Marx - Lenin nói chung, và quan niệm về cải tạo

xã hội chủ nghĩa nền kinh tế tiểu nông lên chủ nghĩa xã hội nói riêng đã được Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu và vận dụng vào việc thực hiện cải tạo nền kinh tế sản xuất nhỏ cá thể theo con đường xã hội chủ nghĩa Nhưng đáng tiếc là công cuộc cải tạo đó dường như không mấy thành công: đưa nông dân vào HTX (1960-1980), rồi lại thừa nhận quyền tự chủ kinh doanh của kinh tế

hộ (1981-1996), rồi lại thành lập HTX (1997 đến nay) Từ đó, một câu hỏi đặt

ra là: phải chăng lý luận về cải tạo sản xuất nhỏ mà chủ nghĩa Marx - Lenin đưa ra là không đúng? Câu trả lời thì đã nằm ngay ở việc làm của chúng ta vừa nêu trên (các HTX được thành lập lại theo Luật HTX từ năm 1997 là HTX khác trước, theo mô hình của V.I.Lênin) “Như vậy, nguyên nhân của sự yếu kém của các HTX trước đây không phải do áp dụng lý luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin về cải tạo nông dân, mà trái lại là do chúng ta đã không làm đúng theo những gì mà K.Marx, F.Engels và V.I.Lenin đã chỉ dẫn” [6; Tr.26] Thể hiện: Thứ nhất, cả K.Marx, F.Engels và V.I.Lenin đều khẳng định sự tồn tại khách quan và lâu dài của sản xuất hàng hóa nhỏ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhưng chúng ta vì nôn nóng, muốn có ngay chủ nghĩa xã hội nên

đã vội vàng xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, triệt tiêu động lực của sự phát triển

Thứ hai, chủ nghĩa Marx - Lenin khuyên là cần hết sức thận trọng, phải

có những bước đi thích hợp trong quá trình cải tạo kinh tế nông dân, nhưng chúng ta lại tiến hành việc đó một cách ồ ạt, đốt cháy giai đoạn, để chỉ trong một thời gian rất ngắn (3 năm) đã đưa đại đa số nông dân vào các HTX bậc cao trên quy mô lớn (xã hoặc liên thôn)

Thứ ba, V.I.Lenin đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản của hợp tác hóa, trong

đó đề cao nguyên tắc tự nguyện, thì chúng ta lại cưỡng ép nông dân vào HTX, bằng các biện pháp có tính chất hành chính, mệnh lệnh

Thứ tư, V.I.Lenin đã phân loại nông dân để đưa ra các chính sách và biện pháp cải tạo phù hợp với từng đối tượng, thì chúng ta lại xóa nhòa ranh giới giữa nông dân cá thể với nhà tư bản lớn

Thứ năm, chủ nghĩa Marx - Lenin yêu cầu nhà nước phải giúp đỡ kinh tế nông dân một cách thiết thực, thì chúng ta dường như lại quan tâm nhiều hơn đến lực lượng doanh nghiệp, mà chưa có sự quan tâm thỏa đáng đến nông nghiệp và nông dân

Từ đó có thể thấy, những quan niệm của chủ nghĩa Marx - Lenin về kinh

tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy đã được đưa ra cách đây rất lâu

Trang 19

nhưng nó vẫn còn có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay

Để thúc đẩy kinh tế nông dân phát triển đúng hướng, trên cơ sở tiếp tục vận dụng những tư tưởng, những quan niệm của chủ nghĩa Marx - Lenin vào bối cảnh hiện nay, cần phải chú ý các vấn đề sau:

Một là nên tách kinh tế cá thể, tiểu chủ ra khỏi kinh tế tư bản tư nhân

Tuy V.I.Lenin không gọi kinh tế cá thể của nông dân là một thành phần kinh tế độc lập, nhưng ông đã coi kinh tế cá thể là một bộ phận, và là bộ phận chủ yếu, là “đại đa số” trong thành phần sản xuất hàng hóa nhỏ; còn kinh tế tiểu chủ thì xếp vào thành phần kinh tế tư bản nhà nước - thành phần mà ông gọi là ¾ xã hội chủ nghĩa, thuộc hình thức HTX tư bản Đại hội X của Đảng gộp 2 thành phần kinh tế cá thể - tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân (theo quan niệm của Đại hội VIII và IX) thành một thành phần, gọi là kinh tế tư nhân, với

lý do cả 3 bộ phận (cá thể, tiểu chủ, và tư bản tư nhân) đều dựa trên hình thức

sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Điều đó không sai, nhưng việc nhập các bộ phận đó lại thì sẽ không phân biệt và phân định được ranh giới giữa người nông dân lao động với người nông dân con buôn, đầu cơ, mà theo V.I.Lenin thì sự phân định ranh giới đó là hết sức quan trọng trong cải tạo các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa Sự khác nhau giữa hai người nông dân đó đòi hỏi phải có chính sách và biện pháp cải tạo khác nhau đối với họ Chúng ta không thể đối xử như nhau giữa một người bán hàng tạp hóa với số vốn mấy trăm ngàn đồng, hay một người nông dân chỉ có con trâu, cái cày, vài sào ruộng với số vốn vài triệu, hay nhiều lắm cũng chỉ vài chục triệu đồng, với một nhà kinh doanh có số vốn hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng được Lại càng không thể đối xử như nhau giữa một người sống chỉ dựa vào sức lao động chính mình, với một người thuê hàng chục, thậm chí hàng trăm lao động Còn kinh tế tiểu chủ, tuy có những điểm giống với thành phần tư bản

tư nhân (có thuê lao động), nhưng trong điều kiện một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu thì tiểu chủ gắn nhiều hơn với kinh tế cá thể, cần được đối xử như với cá thể chứ không phải như tư bản F.Engels đã từng vạch rõ, nếu người trung nông sống giữa những người tiểu nông, thì những quyền lợi và quan điểm của

họ không khác với quyền lợi và quan điểm của người tiểu nông, vì họ đã chứng kiến có nhiều người như họ đã từng rơi xuống cái khối đông đảo những người tiểu nông rồi

Hai là cần hỗ trợ nông dân nhiều hơn, và thiết thực hơn

Vai trò của nông dân và nông nghiệp đối với sự phát triển đất nước đã được Đảng nhận thức, nhưng trên thực tế, sự đầu tư cho nông dân, nông

Trang 20

nghiệp lại chưa tương xứng với vai trò của nó; hơn nữa, giữa chính sách và thực tiễn đang còn một khoảng cách khá xa Thể hiện: thứ nhất, mức đầu tư cho nông nghiệp còn thấp, chưa tương xứng với những đóng góp của nó cho nền kinh tế; thứ hai, việc thực hiện công nghiệp hóa và đô thị hóa đã lấy đi một phần khá lớn đất nông nghiệp mà người nông dân mới được trao quyền

tự chủ chưa lâu, kéo theo đó lúc 7-8 triệu nông dân bị mất việc làm, mất phương tiện kiếm sống; thứ ba, chính sách của Nhà nước chưa thật sự mang lại lợi ích cho nông dân, thậm chí có chính sách đã tạo sự bất bình đẳng trong hưởng lợi giữa nông dân và doanh nghiệp Tình trạng đó làm cho nông dân

đã nghèo càng nghèo hơn

Là chủ thể đầu tư của ngành nông nghiệp thì tình trạng nghèo đói của nông dân dĩ nhiên sẽ hạn chế sự phát triển nông nghiệp Vì vậy, Đảng, Nhà nước, hệ thống ngân hàng, các nhà khoa học, các tổ chức xã hội cần phải quan tâm nhiều hơn, giúp đỡ nhiều hơn cho nông dân, bằng hành động thực tế chứ không phải chỉ bằng nghị quyết

Sự giúp đỡ nông dân hiện nay, cần tập trung vào ba hướng lớn: hỗ trợ về tài chính, tín dụng, về kỹ thuật, và về tổ chức Về tài chính, tín dụng, nếu chỉ dừng lại ở các hoạt động cung cấp tín dụng ưu đãi cho nông dân thì chưa đủ (đó là chưa nói đến tình trạng hữu danh vô thực của các chính sách), bởi có tiền mà không có điều kiện để sử dụng, hoặc không biết sử dụng nó một cách hiệu quả thì chắc chắn nông dân sẽ trở thành con nợ của ngân hàng và người cho vay nặng lãi ở địa phương Vì vậy, đối với nông dân, tốt hơn hết là phải thực hiện hỗ trợ trực tiếp, thông qua các hình thức như: giảm giá bán máy móc

và vật tư nông nghiệp; miễn giảm các khoản đóng góp; hay tăng giá mua nông sản với mức đảm bảo lãi thỏa đáng cho nông dân (chứ không nhất thiết phải là 30% như quy định tại điều 10 của Nghị định số 12/2006/NĐ-CP, vì con số này phải thay đổi theo biến động của giá thị trường thế giới, có tính đến thị trường nội địa) Về kỹ thuật, cần mở rộng mạng lưới khuyến nông đi đôi với nâng cao trình độ về văn hóa, khoa học kỹ thuật, tiếp cận thị trường… cho nông dân để cải tạo triệt để kỹ thuật sản xuất và kỹ thuật canh tác theo lối sản xuất nhỏ của

họ “Về tổ chức, phải tổ chức nông dân lại trong các HTX trên cơ sở sự tự nguyện của họ, bởi một mặt, hoạt động của các hộ đơn lẻ, dù ở trình độ nào, vẫn vấp phải những giới hạn mà riêng từng hộ không thể vượt qua; mặt khác, theo quy luật của sự phát triển lực lượng sản xuất, thì sự tiến bộ của công nghiệp cũng sẽ thủ tiêu chế độ sở hữu cá nhân Như vậy, rõ ràng hợp tác hóa theo đúng mô hình và nguyên tắc của V.I.Lenin vẫn là con đường tất yếu và

Trang 21

cơ bản để biến nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, biến người nông dân thành công nhân nông nghiệp” [4; Tr.24]

Ba là thành lập các tổ chức hiệp hội đa dạng, phù hợp với từng loại hình kinh tế của nông dân trong các hộ gia đình

Nông dân là lực lượng yếu thế trong xã hội Do vốn ít, trình độ thấp, năng lực tiếp cận thị trường kém… họ đã phải chịu nhiều thiệt thòi, trong đó thiệt thòi lớn nhất là việc họ làm ra sản phẩm nhưng lại không có quyền quyết định giá cả sản phẩm, dẫn đến sự phân chia lợi ích không công bằng giữa nông dân với các doanh nghiệp, các trung gian buôn bán Nông dân luôn ở trong tình trạng được mùa rớt giá, còn các doanh nghiệp thì ngồi mát

ăn bát vàng Thể hiện: trong toàn bộ chuỗi cung ứng lúa - gạo, người nông dân đảm nhận 50% công việc nhưng chỉ nhận được 11% tổng giá trị tăng thêm; trong khi đó người bán buôn thực hiện chưa tới 10% công việc thì lại nhận gần 67% giá trị đó

Thiệt thòi như vậy nhưng nông dân chẳng biết kêu ai, cũng chẳng có ai, chẳng có tổ chức nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho họ Các hiệp hội hiện nay (chủ yếu là hiệp hội các doanh nghiệp) chỉ chạy theo lợi nhuận nên thường bỏ qua quyền lợi của nông dân, thậm chí còn tạo ra những xung đột về lợi ích giữa nông dân và doanh nghiệp (ví dụ điển hình nhất là việc quyết định ngừng xuất khẩu để mua gạo với giá thấp của Hiệp hội Lương thực vào năm 2008) Cần nhớ rằng, nông dân là chủ thể đầu tư nông nghiệp, nên muốn có nền nông nghiệp phát triển thì nông dân phải giàu có, lợi ích của nông dân phải được bảo đảm Chính vì vậy, hơn bao giờ hết, nông dân cần có các tổ chức hoạt động vì họ, nói tiếng nói của họ, bảo vệ quyền lợi cho họ, chia sẻ khó khăn cùng họ… Một tổ chức như vậy chỉ có thể là các hiệp hội ngành nghề, ngành hàng, do chính nông dân lập ra, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, nông dân cần có sự lựa chọn hình thức hiệp hội, phù hợp với hoạt động của mình thì mới phát huy được tác dụng và hiệu quả của hiệp hội

1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế hộ gia đình:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nói chung và kinh tế hộ gia đình nói riêng là di sản vô giá Bác Hồ để lại cho Đảng và nhân dân ta, bao gồm những nội dung chủ yếu về mục đích kinh tế, về vị trí, vai trò của nông nghiệp, về nền kinh tế nhiều thành phần Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế là một bộ phận tư tưởng của Người về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa

Bản chất đặc trưng của chủ nghĩa xã hội được thể hiện tập trung ở mục tiêu của nó là nâng cao đời sống nhân dân Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm làm sao cho dân

Trang 22

ăn no, mặc ấm, được học hành, chữa bệnh, giải trí Ngày 24/4/1956, trong Lời bế mạc Hội nghị lần thứ 9 (mở rộng) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Người căn dặn: Phải luôn luôn nhớ rằng: điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân Đó là mục đích kinh tế, là nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ, đồng thời là thước đo tính đúng đắn, ý nghĩa cách mạng của đường lối, chính sách và biện pháp kinh tế Người nhấn mạnh: Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân

cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiện ngay: làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, và làm cho dân có học hành

Rõ ràng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy mục đích nâng cao đời sống cho nhân dân làm trung tâm chi phối mọi hoạt động kinh tế của Đảng và Chính phủ

Trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nước ta, cũng như đối với việc nâng cao đời sống của nhân dân Trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam, ngày 19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Việt Nam là nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân

ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh!

Vào những năm đất nước bước vào giai đoạn chuẩn bị cho nhiệm vụ thực hiện các kế hoạch dài hạn công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung, phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính

Trong Bài nói với cán bộ ở Trung ương về xã tham gia cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật (đăng trên báo Nhân Dân, số 3300, ngày 9/4/1963), Người nói: Có gì sung sướng bằng được góp phần đắc lực vào công cuộc phát triển nông nghiệp, nền tảng để phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa Với tư tưởng coi trọng nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã thể hiện phẩm chất một nhà lãnh đạo am hiểu sâu sắc thực tiễn của đất nước mình Lấy nông nghiệp làm chính và phải bắt đầu từ nông nghiệp đã trở thành quy luật trong nhiệm vụ kinh tế - xã hội giai đoạn đầu của

Trang 23

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đối với những nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nông nghiệp trong mối quan hệ hữu cơ với các ngành kinh tế khác và xem nó như một bộ phận cấu thành trong chỉnh thể nền kinh tế quốc dân Theo Người, công nghiệp và nông nghiệp giúp đỡ lẫn nhau và cùng phát triển như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh

và chóng đi đến mục tiêu

Quan điểm “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trong chính sách nền kinh tế nhiều thành phần Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 11/1945, trong bài “Toàn dân kháng chiến” đăng trên báo Cứu quốc, số 83, ngày 5/11/1945 Người kêu gọi: Các nhà giàu có mau mau góp vốn lại mở các công ty kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, tài chính, giao thông để tích cực tăng gia sinh sản, lưu thông buôn bán

Từ năm 1945-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần nhằm phát triển kinh tế, phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Năm 1953, trong sách “Thưởng thức chính trị” ký bút danh Đ.X, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại các thành phần kinh tế: Kinh tế quốc doanh; kinh tế địa chủ phong kiến; kinh

tế hợp tác xã, hội đoàn đổi công; kinh tế cá nhân; kinh tế tư bản tư nhân; kinh

tế tư bản quốc gia Người còn chỉ rõ: Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùng vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà nước lãnh đạo Phát triển các thành phần kinh tế vừa để đáp ứng lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, đẩy mạnh sản xuất, vừa nhằm đoàn kết tất cả các lực lượng trong một mặt trận dân tộc thống nhất phục vụ cho cuộc kháng chiến

Trong Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ II Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định

sự tồn tại tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần: Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích

họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện Đối với những nhà tư sản công thương, Nhà nước không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc

kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước

1.4 Quan điểm của Đảng Cộng Sản về kinh tế hộ gia đình:

Trang 24

Ngay sau khi hòa bình lập lại (1954), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định con đường phát triển của miền Bắc là tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Công việc đầu tiên sau cuộc cải cách ruộng đất là Đảng tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, mà trọng tâm là cải tạo sản xuất nhỏ cá thể, chủ yếu là nông dân Trong bản Báo cáo về nhiệm vụ kế hoạch phát triển và cải tạo kinh tế quốc dân ba năm (1958-1960), Đảng đã nhấn mạnh: “Nền kinh tế của ta

về căn bản vẫn còn là một nền kinh tế nông nghiệp, năng lực sản xuất còn thấp Trong xã hội ta, nông dân lao động là lực lượng đông đảo nhất, là lực lượng trụ cột để phát triển sản xuất và cải tạo kinh tế theo chủ nghĩa xã hội Vì thế, trong những năm sắp đến, chúng ta vẫn phải coi việc cải tạo và phát triển nông nghiệp

là nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch phát triển và cải tạo kinh tế.”

Với nhận thức đó, Hội nghị lần thứ 16 BCHTW Đảng Khóa II (mở rộng)

đã tập trung bàn về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội, trong đó hợp tác hoá nông nghiệp được coi là khâu quan trọng trong toàn bộ sợi dây chuyền cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc lúc bấy giờ Hội nghị xác định: mục tiêu của hợp tác hóa là: nhằm biến những người nông dân cá thể thành nông dân tập thể, biến sản xuất cá thể thành sản xuất tập thể; phương pháp tiến hành là: tuyên truyền, giáo dục, vận động thuyết phục nông dân tham gia HTX; bước đi là: dần dần,

từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn, cụ thể là, đi từ tổ đổi công lên HTX bậc thấp, rồi HTX bậc cao

Phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã là đường lối chiến lược nhất quán trong mọi giai đoạn cách mạng của Đảng và Nhà nước ta, hợp tác xã được từng bước đổi mới theo hướng phù hợp với điều kiện khách quan và đã trải qua thăng trầm trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang

cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đường lối đổi mới do Đại hội VI đề xướng đã khẳng định phát triển kinh

tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế hợp tác xã được khẳng định cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Đại hội thừa nhận sự tồn tại của kinh tế hợp tác phải đi đôi với sự phát triển đa dạng của các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao, hợp tác xã là bộ phận nòng cốt của kinh tế hợp tác Nghị quyết 10/NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá VI) ngày 05/04/1988 đã khẳng định: Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất là tổ chức kinh tế tự nguyện của nông dân, được lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự hướng dẫn giúp đỡ của Nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh; có tư cách pháp nhân, bình

Trang 25

đẳng trước pháp luật với các đơn vị kinh tế khác; có trách nhiệm phát huy tính

ưu việt của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Nghị quyết Hội nghị Trung ương V (khoá VII) tháng 06/1993 tiếp tục đổi mới kinh tế hợp tác xã, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ xã viên Đổi mới hợp tác xã theo hướng phát huy hơn nữa tiềm năng to lớn và vị trí quan trọng lâu dài của kinh tế hộ xã viên, đồng thời làm tốt công tác quy hoạch, hướng dẫn sản xuất, phát triển kinh doanh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ mà từng hộ xã viên không làm được hoặc làm không có hiệu quả, cùng với chính quyền địa phương chăm lo sự nghiệp phúc lợi xã hội Thực hiện đúng nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi trong tổ chức, quản lý

và phát triển kinh tế hợp tác xã

Đến Đại hội VIII, quan điểm phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân

Kế thừa và phát triển chủ trương, đường lối về xây dựng phát triển hợp tác xã kiểu mới, tại Hội nghị Trung ương 5 khoá IX, Đảng ta đã đưa ra hệ thống các quan điểm phát triển kinh tế tập thể trong tình hình mới như sau:

- Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn (trừ một số lĩnh vực có quy định riêng); phân phối theo lao động, theo vốn góp

và mức độ tham gia dịch vụ; hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các thể nhân và pháp nhân, cả người ít vốn và nhiều vốn, cùng góp vốn và góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và quản lý dân chủ

- Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của thành viên, góp phần xoá đói, giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên, phát triển cộng đồng Đánh giá hiệu quả kinh tế tập thể phải trên cơ sở quan điểm toàn diện, cả kinh tế - chính trị - xã hội, cả hiệu quả của tập thể và của các thành viên

- Tiếp tục phát triển kinh tế tập thể trong các ngành, lĩnh vực, địa bàn, trong đó trọng tâm là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn phải trên cơ sở bảo đảm quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, trang trại phát triển; gắn với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông

Trang 26

thôn mới; không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao năng suất, hiệu quả

và sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước trong việc tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh

tế tập thể Nhà nước ban hành các chính sách trợ giúp kinh tế tập thể trong quá trình xây dựng và phát triển, thông qua việc giúp đỡ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, ứng dụng khoa học công nghệ, nắm bắt thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển, giải quyết nợ tồn đọng trước đây, khuyến khích việc tích luỹ và sử dụng có hiệu quả vốn tập thể trong hợp tác xã Phát huy vai trò của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân (Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh…) trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia kinh tế tập thể, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ

sở, bảo đảm công tác kiểm tra, kiểm soát của các thành viên, ngăn ngừa tham nhũng, lãng phí, quan liêu

- Phát triển kinh tế tập thể theo phương châm tích cực nhưng vững chắc, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, đi từ thấp đến cao, đạt hiệu quả thiết thực, vì sự phát triển của sản xuất, tránh duy ý chí, nóng vội, gò ép, áp đặt; đồng thời không buông lỏng lãnh đạo để mặc cho tình hình phát triển tự phát, chậm nắm bắt và đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh tế hợp tác của nhân dân

Nghị quyết số 21-NQ/TƯ Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Đảng khóa X “Về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” chỉ rõ: Tiếp tục đổi mới, phát triển hợp tác xã và tổ hợp tác theo cơ chế thị trường, phù hợp với các nguyên tắc : tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi và phát triển cộng đồng Khuyến khích tăng vốn góp, tăng vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ không chia trong hợp tác xã; phát triển các tổ hợp tác, hợp tác xã đa dạng, sản xuất kinh doanh có hiệu quả Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho các tổ chức kinh tế tập thể tiếp cận các nguồn vốn; đào tạo cán bộ quản

lý, lao động; trợ giúp kỹ thuật và chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, các dự án đầu tư của Nhà nước

Đại hội XI là Đại hội có ý nghĩa trọng đại, định hướng cho toàn Đảng, toàn dân ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến giữa thế kỷ XXI trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Định hướng lớn về phát triển kinh tế là: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở

Trang 27

hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó quan điểm của Đảng về kinh tế tập thể là: Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân

Thể chế hoá quan điểm, đường lối phát triển kinh tế tập thể của Đảng, Luật Hợp tác xã (1996 và 2003) đã được ra đời Luật HTX 2003 hiện hành quy định: ban hành và thực hiện các chính sách, các chương trình hỗ trợ phát triển HTX về đào tạo cán bộ và phát triển nguồn nhân lực; đất đai, tài chính, tín dụng, xây dựng Quỹ hỗ trợ phát triển HTX, áp dụng khoa học và công nghệ; tiếp thị và mở rộng thị trường; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng; tạo điều kiện để HTX được tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước

“Hiện nay, toàn hệ thống Liên minh HTX Việt Nam đang tham gia vào quá trình tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Với sự chấp hành nghiêm quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự sát sao của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam, sự phối hợp của các ban ngành đoàn thể, phong trào kinh tế hợp tác, hợp tác xã khu vực miền Nam đang có những bước phát triển lớn rộng hơn, đặc biệt về chất lượng HTX trở thành chỗ dựa cho những người có nhu cầu hợp tác và những người yếu thế, không có vốn và tư liệu sản xuất, cùng góp công, góp sức, góp của làm ăn nhằm cải thiện cuộc sống, xoá đói giảm nghèo và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần xây dựng kinh tế - xã hội địa phương ổn định và phát triển” [4; Tr.40]

Lộ trình cụ thể để cải tạo kinh tế hộ gia đình những năm này là: từ

1955-1958 thí điểm đưa nông dân vào làm ăn tập thể thông qua con đường hợp tác hóa nông nghiệp; năm 1959 mở rộng phong trào hợp tác hóa trên toàn miền Bắc; và năm 1960 đưa phong trào hợp tác hóa thành cao trào, tiến tới xóa bỏ chế độ tư hữu nhỏ của người nông dân, xóa bỏ tận gốc cơ sở đẻ ra chủ nghĩa

tư bản Thực hiện lộ trình đó, đến cuối năm 1960, đã có 84,8% số hộ nông dân lao động gia nhập HTX (chiếm 76% tổng diện tích canh tác); 77,2% số hộ tham gia HTX nghề cá; và 85% số hộ tham gia HTX nghề muối Với những kết quả đó, đến năm 1960, Đảng xác định miền Bắc đã hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ cải tạo tiểu nông Còn tại miền Nam, công việc đó cũng được hoàn thành vào những năm cuối 1970 Tại Đại hội lần thứ IV (1976), Đảng đánh giá

Trang 28

thành tựu kinh tế lớn nhất là đã chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp hết sức lạc hậu sang chế độ xã hội chủ nghĩa một cách nhanh gọn

Cũng phải thấy rằng, vào thời kỳ 1960-1975, các HTX đã thể hiện là lực lượng quan trọng trong việc đảm bảo đời sống của hàng triệu nông dân ở hậu phương và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần to lớn vào thắng lợi của cách mạng nước ta Tuy nhiên, từ sau năm 1975, trong điều kiện đất nước đã thống nhất, những hạn chế của mô hình HTX (tập thể hóa triệt để

tư liệu sản xuất; tạo ra mâu thuẫn giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân; triệt tiêu động lực phát triển) mà trước đây do phải tập trung cho cuộc chiến tranh giữ nước người ta không chú ý tới, nay bắt đầu bộc lộ, dữ dội nhất là vào cuối thập niên đó Lợi ích mà HTX đem lại cho nông dân không tương xứng với những cống hiến của họ (thu nhập từ HTX chỉ mang lại 30% tổng thu nhập của hộ nông dân), vì vậy, mặc dù đã có hàng chục nghìn HTX được thành lập,

đã có hàng triệu nông dân tham gia, nhưng nông dân không thiết tha với HTX

Về địa vị, người nông dân từ chỗ đang làm chủ trên mảnh ruộng của mình đã

vô tình bị tách khỏi ruộng đất, trở thành người làm công cho Ban quản trị HTX Rốt cuộc, mục tiêu người cày có ruộng của Đảng đã không trở thành hiện thực Nông dân trở nên thờ ơ với ruộng đất, và tự đi tìm cuộc sống ở ngoài HTX Điều đó đã dẫn đến sự tan vỡ của hàng loạt HTX Đến những năm cuối 1980-đầu 1990, có 93% tổng số tập đoàn sản xuất bị tan rã (với 33.352 đơn vị), và 17% HTX giải thể (với 2.958 HTX) Tỷ lệ hộ nông dân tham gia HTX đã giảm từ 84,8% những năm 1960-1970 xuống còn 64% những năm 1980; trong đó nhiều nơi giảm rất mạnh, như ở Nam Bộ giảm từ 86% xuống còn 10%, miền núi phía Bắc từ 91% xuống còn 45%, thậm chí nhiều tỉnh đã không còn HTX và tập đoàn sản xuất

Trước tình trạng đó, Đảng đã buộc phải nhìn nhận lại quá trình tiến hành hợp tác hóa đối với nông dân trong các hộ gia đình Từ tổng kết thực tiễn, nhận ra sai lầm trong việc nóng vội xóa bỏ chế độ tư hữu nhỏ, tuyệt đối hóa chế độ công hữu khi chưa có đủ điều kiện, vào những năm đầu 1980, Đảng đã chủ trương đổi mới HTX, mà thực chất là trả lại quyền làm chủ thực sự cho hộ nông dân

Đây chính là sự trở về với tư tưởng của chủ nghĩa Marx - Lenin về sự tồn tại khách quan và lâu dài của thành phần kinh tế cá thể trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nhận thức đó đã cởi trói cho nông dân, đã khơi dậy được tính tích cực của chủ thể kinh doanh trong nông nghiệp Nông dân được trao lại quyền làm chủ ruộng đất từng bước Đầu tiên là họ được tự chủ 3/8 khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp (theo Chỉ thị 100/CT/TW của BBT Trung ương Đảng năm 1981); tiếp đến là được tự chủ toàn bộ 8/8 khâu (theo NQ

Trang 29

10/BCT năm 1988); đặc biệt là được sử dụng đất ổn định, lâu dài (theo Luật đất đai năm 1993) Tiếp đó là các chính sách hỗ trợ kinh tế hộ nông dân, như: Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông (1993); Nghị định 14/CP về chính sách cho hộ nông dân vay vốn để phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế

hộ nông thôn (năm 1994); Quy chế thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo (1995); và gần đây nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (2008)… Các chính sách trên, và nhiều chính sách khác nữa kể từ những năm 1980 đến nay đã đặt trọng tâm ưu tiên vào chủ thể nông dân - bộ phận đông đảo nhất trong dân cư, và là bộ phận

có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước Nghị quyết 26-NQ/TW nhấn mạnh: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.” [2; Tr.22]

Việc thừa nhận vai trò chủ thể của hộ gia đình nông dân đã tạo một động lực mới cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn Biểu hiện

là, vẫn mảnh ruộng đó, vẫn con người đó, nhưng sản lượng lương thực thì đã tăng từ 13,3 triệu tấn/năm thời kỳ 1976-1980 lên 17,6 triệu tấn thời kỳ/năm thời

kỳ 1981-1988, và 37,16 triệu tấn/năm thời kỳ 2004-2008 Có thể nói, việc nhận thức lại những quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa Marx - Lenin về sự tồn tại khách quan của kinh tế nông dân các hộ gia đình đã có tác động lớn đến việc chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp thiếu hụt triền miên sang nền nông nghiệp

dư thừa, bảo đảm được tiêu dùng trong nước và có một lượng xuất khẩu lớn

1.5 Những chủ trương phát triển kinh tế hộ gia đình của tỉnh An Giang nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng

Nhìn lại thời điểm khi mới thành lập huyện còn gặp khó khăn về đội ngũ cán bộ; kết cấu hạ tầng còn thấp kém, kinh tế chủ yếu là thuần nông, sản xuất nhỏ lẻ, tự túc tự cấp; thị trấn chưa có điện lưới quốc gia; nhiều xã chưa có đường ô tô đi đến trung tâm, chưa được phủ sóng truyền hình, chưa có điện thoại Với xuất phát điểm thấp, song Chợ Mới có nhiều thuận lợi, với bề dày

và truyền thống cách mạng anh hùng, đặc biệt là huyện cửa ngõ phía nam của tỉnh có hệ thống đường giao thông nối liền với các tỉnh bạn, hơn nữa có thế mạnh về hoạt động thương mại, dịch vụ; Bên cạnh đó, là huyện có tiềm năng

về đất đai để phát triển nông - lâm nghiệp

Trang 30

Xác định rõ những thuận lợi cũng như khó khăn của địa phương, ngay từ những năm mới thành lập huyện, Đảng bộ huyện Chợ mới đã tăng cường lãnh đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ; chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân các dân tộc trên địa bàn tập trung trí tuệ, sức lực, khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, từng bước ổn định đời sống, sản xuất cho nhân dân Vượt lên khó khăn, phát huy cao độ nội lực, cùng với sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương, của tỉnh, sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ huyện và tinh thần thi đua lao động sản xuất của nhân dân, sau 15 năm xây dựng và phát triển huyện Chợ mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và khá toàn diện

Có thể khái quát như sau:

Về phát triển kinh tế: Để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương, Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về “Phát triển các vùng kinh tế” với 3 vùng kinh tế: Vùng phía đông, vùng phía tây và vùng trung tâm Nên từ một huyện có xuất phát điểm về kinh tế thấp đến nay tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm được duy trì ở mức cao (trên 10%); cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực

Trong phát triển kinh tế Đảng bộ huyện luôn xác định phải tập trung ưu tiên phát triển lĩnh vực nông nghiệp; trong đó ưu tiên phát triển kinh tế hộ gia đình là chính, theo đó đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp, cơ chế chính sách

hỗ trợ cho nhân dân

Với mục tiêu tăng dần tỷ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu kinh tế, huyện đã đề ra nhiều nhiệm vụ giải pháp nhằm khai thác thế mạnh của địa phương nhằm thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp, tiểu thu công nghiệp trên địa bàn; chỉ đạo phát triển các ngành nghề như: nuôi bò vỗ béo, trồng ngô, chế biến lâm sản,

Về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, nhiều công trình thiết yếu được đầu tư đã tạo ra diện mạo mới cho bộ mặt ở đô thị và nông thôn, góp phần thúc đẩy kinh tế -

xã hội phát triển và xây dựng nông thôn mới Đến nay 100% các xã, thị trấn có đường nhựa đến các trung tâm, số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh

và điện lưới quốc gia đạt trên 90%

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được huyện Chợ mới vẫn còn những tồn tại, yếu kém cần khắc phục đó là: phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội chưa đồng bộ, hệ thống chính trị các cấp tuy đã được củng cố song

Trang 31

còn bất cập; đời sống một bộ phận dân cư vùng nông thôn, vùng sâu còn gặp nhiều khó khăn

Phát huy những thành tựu đã đạt được với mục tiêu phấn đấu xây dựng huyện Chợ Mới trở thành trung tâm kinh tế tiểu vùng phía nam của tỉnh An Giang, trong thời gian tới Đảng bộ huyện Chợ Mới tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, cụ thể như sau:

Một là: “Tập trung phát triển nông - lâm nghiệp, ưu tiên phát triển với mũi nhọn là nông nghiệp; trong đó chú trọng việc phát triển kinh tế hộ gia đình; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến Phát huy lợi thế của từng vùng để xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh các cây trồng có giá trị kinh tế cao” [12; Tr.32] Phát triển hợp lý đàn gia súc, gia cầm theo hướng nâng cao chất lượng Bảo vệ, khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường Thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới Tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản; khai thác sản xuất vật liệu xây dựng để tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương và thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển Tập trung phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ cho sản xuất, đời sống, phục vụ cho công nghiệp, du lịch, đặc biệt phục vụ cho việc phát triển kinh tế hộ gia đình Nâng cấp các chợ, đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại theo qui hoạch,…

Hai là: … Chủ động ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào quản lý, sản xuất, kinh doanh và đời sống Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; … Thực hiện tốt chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm, tạo ra những chuyển biến mạnh

mẽ ở các xã khó khăn; giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc; thực hiện tốt các chính sách xã hội và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về dân tộc, tôn giáo

Ba là: Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh… Duy trì, phát triển mối quan hệ hợp tác với các huyện trong và ngoài tỉnh

Bốn là: Làm tốt công tác tư tưởng… Kếp hợp công tác dân vận của cấp

ủy với công tác dân vận chính quyền theo hướng trọng dân, có trách nhiệm với dân Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp Tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận - đoàn thể; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

Nhìn chung, qua nhiều năm dưới sự lãnh đạo của huyên ủy, Chợ Mới đã có nhiều thay đổi về mọi mặt, khẳng định bước phát triển quan trọng của địa phương

Trang 32

trên con đường đổi mới, đồng thời là cơ sở, tiền đề, điều kiện, là niềm cổ vũ lớn lao đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong toàn huyện tiếp tục đóng góp công sức, trí tuệ, quyết tâm xây dựng huyện nhà giàu đẹp, văn minh, thực hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra làm cách nào để các hộ gia đình ở có thu nhập cao và ổn định, nhất là các hộ gia đình ở nông thôn Một trong số vấn đề nổi cọm là nghề nuôi bò vổ béo của các hộ, thực trạng thế nào, giải pháp ra sao cho sự phát triển bền vững đối với nghề nghiệp này ở Chợ Mới hiện nay?

Ngày đăng: 01/03/2021, 11:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Dương Văn Nhã (2004), Nghiên cứu tác động đê bao đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường tại một số khu vực có đê bao ở tỉnh An Giang.Chương trình VNRP (nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan, 2001-2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động đê bao đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường tại một số khu vực có đê bao ở tỉnh An Giang
Tác giả: Dương Văn Nhã
Năm: 2004
3. Huỳnh Liên (2005), Thiếu cỏ nuôi bò [trực tuyến]. Cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đọc từ http://www.baobariavungtau.com.vn/viet/phongsu/6759 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu cỏ nuôi bò
Tác giả: Huỳnh Liên
Năm: 2005
4. Huỳnh Ngọc Hiên (DH2CT), Võ Thành Phước (DH8CT), “Hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Chợ Mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huỳnh Ngọc Hiên (DH2CT), Võ Thành Phước (DH8CT), "“Hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Chợ Mới
5. Lương Thị Mai (2004), Tận dụng phụ - phế phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu, bò [trực tuyến]. Báo kinh tế nông thôn số 14. Đọc từ http://www.vcn.vn/quitrinh/Qt_2004/qt_20_4_2004_2.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tận dụng phụ - phế phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu, bò
Tác giả: Lương Thị Mai
Năm: 2004
6. Luận văn Thạc sĩ Trần Văn Hùng, “Hợp tác xã nông nghiệp Hòa Thuận” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ Trần Văn Hùng, "“Hợp tác xã nông nghiệp Hòa Thuận
7. Nguyễn Văn Nòn (DH5CT), “Đảng bộ huyện Chợ Mới lãnh đạo phát triển trong nông nghiệp ở nông thôn từ năm 1996 đến nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đảng bộ huyện Chợ Mới lãnh đạo phát triển trong nông nghiệp ở nông thôn từ năm 1996 đến nay
9. Phùng Quốc Quảng (2008), Nuôi trâu bò ở nông hộ và trang trại, Hà Nội. NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi trâu bò ở nông hộ và trang trại, Hà Nội
Tác giả: Phùng Quốc Quảng
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2008
11. Trần Ngọc Chủng (2005), Đề xuất một mô hình sản xuất đạt hiệu quả cao cho huyện Chợ Mới [trực tuyến]. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn An Giang. Đọc từ http://sonongnghiep.angiang.gov.vn/trang%20nho/dien%20dan/trang %20chinh.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất một mô hình sản xuất đạt hiệu quả cao cho huyện Chợ Mới
Tác giả: Trần Ngọc Chủng
Năm: 2005
12. Trần Văn Hiển, trường chính trị Tôn Đức Thắng, “Kinh tế tư nhân ở huyện Chợ Mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Hiển, trường chính trị Tôn Đức Thắng, "“Kinh tế tư nhân ở huyện Chợ Mới
1. Các trang web: http://sonongnghiep.angiang.gov.vn, http://anovapharma.com, http://vbsp.org.vn,http://nhanong.com.vn Link
8. Niên giám thống kê huyện Chợ Mới năm 2008-2013. Phòng Thống kê huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, NXB: Cục Thống kê tỉnh An Giang Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w