Công ty Bảo hiểm Việt Nam trước kia nay đã trở thành một tập đoàn tài chính đa ngành, nghề, dẫn đầu thị phần bảo hiểm trên cả nước ở mọi lĩnh vực từ Bảo hiểm nhân thọ, Bảo hiểm phi nhân
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY BẢO VIỆT AN GIANG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY BẢO VIỆT AN GIANG
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Qua thời gian bốn năm học lớp chuyên ngành tài chính ngân hàng tại trường Đại học An Giang, cùng với thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Bảo Việt An Giang Em đã có dịp tiếp xúc với thực tế để làm báo cáo chuyên đề tốt nghiệp, am hiểu công tác nghiệp vụ phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của một báo cáo tài chính tại đơn vị thực tập
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng với tất cả thầy cô của trường Đại học An Giang đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho em trong suốt bốn năm học qua Đây là niềm tin, là cơ sở vững chắc
để em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
Trân trọng cảm ơn Thầy Đặng Hùng Vũ là giáo viên hướng dẫn báo cáo chuyên đề tốt nghiệp đã giúp em hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Em kính chúc Ban Giám Hiệu cùng tất cả thầy cô trường Đại học
An Giang, Ban Lãnh đạo và tất cả Anh Chị phòng Kế toán tại Công ty Bảo Việt An Giang dồi dào sức khỏe và công tác tốt
Em xin chân thành cảm ơn!
An Giang, ngày 22 tháng 7 năm 2016
N ười thực hiện
Huỳnh Thị Anh Kiều
Trang 4
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày 22 tháng 7 năm 2016
N ười thực hiện
Huỳnh Thị Anh Kiều
Trang 5
M C C
C ư n 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 2
C ư n 2 CƠ SỞ Ý UẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI 4
2.1 Sự ra đời v p t triển của bảo hiểm 4
2.1.1 Ngụ ý của bảo hiểm là gì? 4
2.1.2 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm 5
2.1.2.1 Dự trữ thuần túy 5
2.1.2.2 Cho vay nặng lãi 5
2.1.2.3 Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi của các bên 6
2.1.2.4 Sự ra đời các loại bảo hiểm sau bảo hiểm hàng hải 6
2.2 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam 7
2.3 Đặc điểm của Bảo hiểm t ư n mại 8
2.4 Nội dung Bảo hiểm t ư n mại 8
2.5 Lợi íc của bảo hiểm t ư n mại 11
2.6 P ân loại Bảo hiểm t ư n mại 13
2.7 C c k oản thu về bảo hiểm t ư n mại 15
2.8 C c k oản c i li n quan đến hoạt động bảo hiểm t ư n mại
15
2.9 Hệ thốn c c ti u c í đ n i iệu quả kinh doanh bảo hiểm
17
C ư n 3 SƠ Ư C QUÁ TR NH H NH TH NH V PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY ẢO VIỆT AN GIANG 20
Trang 63.1 Sự ra đời và phát triển của Bảo Việt An Giang 20
3.1.1 Sự ra đời và phát triển của Bảo Việt 20
3.1.2 Sự ra đời và phát triển của Bảo Việt An Giang 22
3.2 Chức năng hoạt động 23
3.3 Cơ cấu tổ chức quản lý Công ty 23
3.4 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo Việt An Giang từ năm 2013 đến năm 2015 26
3.5 Định hướng hoạt động của Công Ty Bảo Việt An Giang 27
C ư n 4 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ T NH H NH THU – CHI KINH DOANH V GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY ẢO VIỆT AN GIANG TỪ NAY ĐẾN NĂM 2016 29
4.1 P ân tíc tìn ìn kin doan tại Côn t ảo Việt An Giang 29
4.1.1 Phân tích tình hình thu 29
4.1.2 Phân tích tình hình chi 32
4.1.3 Phân tích tình hình trích lập dự phòng 35
4.2 P ân tíc tìn ìn t ực hiện kế hoạch thu - chi tại Côn t ảo Việt An Giang 37
4.2.1 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch thu bảo hiểm gốc tại Công ty Bảo Việt An Giang 37
4.2.2 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chi bồi thường bảo hiểm gốc tại Công ty Bảo Việt An Giang 40
4.3 Đ n i iệu quả kinh doanh 42
4.3.1 Tình hình hiệu quả kinh doanh 43
4.3.2 Thị phần của công ty trên địa bàn tỉnh An Giang 44
4.3.3 Đánh giá kết quả đạt được trong giai đoạn 2013 - 2015 47
4.4 Giải p p nân cao iệu quả kinh doanh của côn t ảo Việt An Giang từ na đến năm 2016 47
4.4.1 Mục tiêu 47
4.4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Bảo Việt An Giang đến năm 2016 48
Trang 7C ư n 5 PHẦN KẾT LUẬN V KIẾN NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Kiến nghị 51
T I IỆU THAM KHẢO 53
Trang 8DANH M C BIỂU BẢNG
Biểu đồ 1 doanh thu phí bảo hiểm gốc của Bảo Việt An Giang 29
Biểu đồ 2 doanh thu phí giám định hộ của Bảo Việt An Giang 30
Biểu đồ 3 doanh thu đầu tư tài chính của Bảo Việt An Giang 31
Biểu đồ 4 chi bồi thường của Công ty Bảo Việt An Giang 32
Biểu đồ 5 chi hoa hồng của Công ty Bảo Việt An Giang 33
Biểu đồ 6 chi quản lý của Công ty Bảo Việt An Giang 34
Biểu đồ 7 chi khác của Công ty Bảo Việt An Giang 35
Biểu đồ 8 trích lập dự phòng của Công ty Bảo Việt An Giang 36
Biểu đồ 9 hiệu quả quy ước nội bộ của Bảo Việt An Giang 44
Biểu đồ 10 thị phần các công ty bảo hiểm phi nhân thọ 46
Biểu đồ 11 thị phần tỷ lệ các công ty bảo hiểm phi nhân thọ 46
Bảng 1 Tình hình thực hiện kế hoạch thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ tại Công ty Bảo Việt An Giang năm 2013 38
Bảng 2 Tình hình thực hiện kế hoạch thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ tại Công ty Bảo Việt An Giang năm 2014 39
Bảng 3 Tình hình thực hiện kế hoạch thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ tại Công ty Bảo Việt An Giang năm 2015 39
Bảng 4 Tình hình thực hiện kế hoạch chi bồi thường bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ tại Công ty Bảo Việt An Giang năm 2013 40
Bảng 5 Tình hình thực hiện kế hoạch chi bồi thường bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ tại Công ty Bảo Việt An Giang năm 2014 41
Bảng 6 Tình hình thực hiện kế hoạch chi bồi thường bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ tại Công ty Bảo Việt An Giang năm 2015 42
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Tín cần t iết của đề t i
Xã hội nào trên con đường phát triển của mình cũng luôn hướng tới
sự phồn thịnh, ấm no về vật chất cùng với sự đảm bảo công bằng và phúc lợi xã hội Để thực hiện được mục tiêu đó, phải tiến hành nhiều hoạt động kinh tế - xã hội Mỗi hoạt động có đặc thù và chức năng riêng của mình Nhưng có một hoạt động không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế mà ý nghĩa xã hội của nó cũng không thể phủ nhận Đó là bảo hiểm – một hoạt động dịch vụ tài chính dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít Hằng năm
nó mang lại một nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, lợi nhuận cho nhà kinh doanh bảo hiểm, đồng thời góp phần ổn định đời sống, sản xuất cho người tham gia Nhờ có bảo hiểm, những thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra với một người sẽ được bù đắp, san sẻ từ những khoản đóng góp của nhiều người Do đó, nó là chổ dựa tinh thần mọi người, mọi tổ chức, giúp họ yên tâm trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển Công ty Bảo hiểm Việt Nam trước kia nay đã trở thành một tập đoàn tài chính đa ngành, nghề, dẫn đầu thị phần bảo hiểm trên cả nước ở mọi lĩnh vực từ Bảo hiểm nhân thọ, Bảo hiểm phi nhân thọ, đầu tư tài chính, kinh doanh chứng khoán và các lĩnh vực đầu tư tài chính khác Mạng lưới rộng khắp Việt Nam với
150 chi nhánh tại 6 tỉnh thành, 400 phòng phục vụ khách hàng của bảo hiểm phi nhân thọ, 300 phòng phục vụ khách hàng của bảo hiểm nhân thọ và trên 30 chi nhánh, phòng giao dịch cung cấp dịch vụ ngân hàng, chứng khoán, quản lý quỹ Phục vụ mọi đối tượng khách hàng trên khắp các tỉnh Sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm phong phú, đa dạng với trên 80 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, 50 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và các sản phẩm ngân hàng khác, chứng khoán, quản lý quỹ Công ty Bảo Việt An Giang là một doanh nghiệp nhà nước, hoạt động kinh doanh dịch vụ đặc biệt một trong những thành viên trực thuộc Tập đoàn lớn mạnh đó Làm thế nào để hoạt động kinh doanh đem lại hiệu quả cao cho công ty mà vẫn đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong lĩnh vực bảo hiểm Xuất phát từ thực tế
đó và sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu thực tế tại Công Ty Bảo
Việt An Giang tôi đã chọn đề tài “ P ân tíc kết quả hoạt động kinh doanh của Côn T ảo Việt An Giang iai đoạn 2013 - 2015 ” làm
chuyên đề tốt nghiệp của tôi
Trang 101.2 Mục ti u n i n cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu tìm hiểu thực trạng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty Bảo Việt An Giang, trên cơ sở tập trung phân tích tình hình kinh doanh qua ba năm 2013-2015, đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty, cuối cùng đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ở Công ty Bảo Việt An Giang đến năm 2016
1.3 Phạm vi n i n cứu
Đề tài được thực hiện tại Công ty Bảo Việt An Giang, đề tài chủ yếu phân tích tình hình thu – chi kinh doanh ở Công ty Bảo Việt An Giang qua ba năm 2013 - 2015
1.4 P ư n p p n i n cứu
P ư n p p t u t ập số liệu: các số liệu dùng để phân tích trong
đề tài được thu thập từ các báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty Bảo Việt An Giang qua ba năm năm 2013 - 2015
- Báo cáo tình hình thu kinh doanh qua 3 năm: thu phí bảo hiểm gốc, thu phí giám định hộ, thu đầu tư tài chính
- Báo cáo tổng chi kinh doanh qua 3 năm: chi bồi thường; chi hoa hồng đại lý, cộng tác viên, chi quản lý kinh doanh, chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi giảm phí, chi giám định
- Các khoản chi trích lập dự phòng qua 3 năm: Dự phòng phí, dự phòng bồi thường, dự phòng giao động lớn
- Các khoản giảm trừ
P ư n p p p ân tíc số liệu: Chủ yếu sử dụng phương pháp so
sánh để nhận xét, phân tích và đánh giá hiệu quả kinh doanh thực tế tại Công ty Bảo Việt An Giang bằng các con số tương đối, tuyệt đối đã tính
Trang 11- Là cơ sở quan trọng để ra quyết định kinh doanh
- Là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở công ty
- Phân tích kinh doanh giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi
ro nhất định trong kinh doanh
- Hữu dụng cho cả những đối tượng bên trong và bên ngoài công ty
- Ngoài ra đề tài nghiên cứu giúp cho tôi có nhiều cơ hội hơn trong việc ứng dụng vào thực tế của chuyên ngành tài chính Đồng thời đề tài giúp tôi tăng lượng kiến thức và giúp tôi có kinh nghiệm hơn trong quá trình thực tiễn, công tác tại đơn vị
Trang 12CHƯƠNG 2
CƠ SỞ Ý UẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
2.1 Sự ra đời v p t triển của bảo hiểm
2.1.1 Ngụ ý của bảo hiểm l ì?
Trên thực tế đã có nhiều tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau về bảo hiểm
Ví dụ: Theo Irving Pfeiffer (1956): “Bảo hiểm là một sách lược để
giảm tính không chắc chắn của một bên gọi là người được bảo hiểm, thông qua sự chuyển giao những rủi ro cá biệt tới một bên khác – gọi là người nhận bảo hiểm ít nhất là một phần nào đó những thiệt hại kinh tế
mà người được bảo hiểm bị tổn thất”
Theo luật kinh doanh bảo hiểm:
Kinh doanh bảo hiểm là việc Công ty bảo hiểm tìm kiếm lợi ích kinh tế trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm mà theo đó, để đổi lấy phí bảo hiểm, Công ty bảo hiểm cam kết thực hiện bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Theo Robert T.Kiosaki (2006), tác giả: “Dạy con làm giàu”: “Bảo hiểm là một sản phẩm rất quan trọng đối với kế hoạch tài chính của một đời người.Vấn đề duy nhất với bảo hiểm chính là người ta không thể nào mua được nó khi họ “cần” đến nó Nói cách khác bảo hiểm đơn giản chỉ
là cách làm cho mỗi người, mỗi tổ chức không còn phải bận tâm lo lắng”
Trên phương diện xử lý rủi ro, bảo hiểm là biện pháp hiệu quả nhất Bảo hiểm hoạt động theo cơ chế chuyển giao, phân tán rủi ro Việc chuyển giao đó được thực hiện trên những văn bản pháp lý cụ thể (những hợp đồng bảo hiểm) Cơ chế đó giúp cho việc gánh chịu rủi ro – đặc biệt
là những rủi ro trầm trọng vượt quá khả năng gánh chịu của mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức – trở nên dễ dàng hơn Hơn nữa, tổ chức kinh doanh bảo hiểm – người trực tiếp quản lý quỹ - có trách nhiệm bảo toàn, tăng trưởng quỹ và sử dụng chúng có lợi nhất đối với cả hai mặt của vấn đề
xử lý rủi ro: Đề phòng hạn chế và khắc phục hậu quả các rủi ro
Với những đặc điểm đó bảo hiểm thương mại ra đời gắn liền với
sự phát triển của kinh tế xã hội như một tất yếu khách quan
Trang 132.1.2 Sự ra đời v p t triển của bảo hiểm
Một điều được mọi người công nhận là: các hoạt động sơ khai, mang tính bảo hiểm đã có từ lâu Các hoạt động đó đáp ứng nhu cầu bảo
vệ cuộc sống con người ở mọi nơi, mọi lúc
Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhu cầu mang tính bảo hiểm trở nên đa dạng và phức tạp hơn, cả về quy mô, mức độ và thời gian Theo đó các hoạt động để đáp ứng nhu cầu ấy cũng phát triển một cách tương ứng Các hoạt động này dần dần được qui định thống nhất theo các tiêu chuẩn khác nhau một cách chính thức, hợp pháp và có tên gọi chung
so với dự trữ cá nhân hoặc riêng lẻ
Ví dụ: vào những năm 2.500 TCN (hơn 4.000 năm trước đây), ở Ai Cập, những người thợ đẽo đá biết thiết lập quỹ để giúp đỡ người thợ trong nhóm bị tai nạn
2.1.2.2 Cho vay nặn lãi
Dự trữ thuần túy đã không giải quyết nhu cầu con người khi xã hội phát triển và hoạt động kinh doanh đa dạng hơn Ví dụ để có tiền mua hàng nhà buôn không thể tự góp đủ tiền, nhưng họ có thể thông qua những người cho vay để có tiền chuẩn bị cho chuyến hàng Đặc điểm đáng chú ý là: trong trường hợp hàng hóa bị tổn thất trong quá trình vận chuyển thì người đi vay sẽ không phải hoàn trả khoản tiền đã vay do có
sự đảm bảo của lãi suất cao, lãi suất quá hà khắc có khi lên đến 40% nên
bị nhiều cá nhân, hội tôn giáo chỉ trích và có lúc cấm hoạt động
Song trước nhu cầu kinh doanh và đảm bảo an toàn cho công việc kinh doanh ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt khi thông thương buôn bán đang phát triển và mang lại lợi nhuận cao, các hình thức khác đã ra đời
Trang 142.1.2.3 Thỏa thuận r n buộc tr c n iệm v qu ền lợi của c c b n
Hai phương pháp được áp dụng phổ biến bởi các nhà buôn:
Để đáp ứng nhu cầu phòng chống rủi ro bất ngờ trong quá trình hoạt động, kinh doanh, các thỏa thuận bảo hiểm đã được hình thành một cách chính thức và trở thành một ngành nghề phát triển
Hình thức bảo hiểm: Những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán hàng hóa bằng đường biển Những thỏa thuận bảo hiểm trong lĩnh vực hàng hải có nội dung cơ bản sau:
Một bên là nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất
định, nếu hàng hóa, tàu thuyền không đến được nơi giao hàng do một số nguyên nhân nhất định thì bên thứ hai (Công ty bảo hiểm) sẽ trả bên thứ nhất một khoản tiền nhằm bù đắp cho những thiệt hại xảy ra
Những thỏa thuận trên là sự khởi đầu chính thức của ngành kinh doanh bảo hiểm – những cam kết như vậy đã được gọi là hợp đồng bảo hiểm hàng hải Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa – Italia, vào năm 1347 Sau đó, cùng với “cuộc cách mạng thương mại” vào thế kỷ 14, 15 thúc đẩy sự mở rộng vận tải hàng hải, bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải cũng phát triển mạnh mẽ
Bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời
của bảo hiểm Sau đó là các loại bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm nhân thọ
và các loại bảo hiểm khác
2.1.2.4 Sự ra đời c c loại bảo hiểm sau bảo hiểm n ải
Bảo hiểm hỏa hoạn
Nhu cầu về cơ chế bảo hiểm cho tài sản trước rủi ro cháy dẫn tới
sự ra đời của các công ty bảo hiểm trong lĩnh vực hỏa hoạn Vụ cháy lớn
ở Anh năm 1666 đã thiêu hủy trên 13.000 ngôi nhà, thảm hỏa lớn nhất từ trước cho tới thời điểm đó Năm 1667, Công ty hỏa hoạn đầu tiên đã ra đời ở Anh và cũng là tiền thân của bảo hiểm hỏa hoạn trên thế giới
Trang 15 Bảo hiểm nhân thọ
Năm 1762, Công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable đầu tiên được thành lập ở Anh Quốc Có thể nói rằng nước Anh là chiếc nôi của ngành dịch vụ bảo hiểm thế giới Cho đến nay đây cũng là trung tâm lớn của các hoạt động bảo hiểm và tái bảo hiểm
Các loại bảo hiểm khác
Cuối thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp đại cơ khí, hàng loạt các bảo hiểm đã xuất hiện và phát triển rất nhanh cụ thể: bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự Ngày nay, các nghiệp vụ bảo hiểm đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đang giữ
vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước
có nền kinh tế phát triển
2.2 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với thế giới Mặc dù vậy, từ thời kỳ thực dân Pháp xâm chiếm nước ta (trước năm 1945), hoạt động bảo hiểm đã được triển khai Song thời điểm đáng chú ý là sự ra đời của Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) theo quyết định số được thành lập ngày 17/12/1964 theo Quyết định số 179/CP của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965
Ngày 18/12/1993 với việc ban hành nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm của Chính phủ đã đánh dấu một bước ngoặc trong quá trình phát triển bảo hiểm thương mại ở nước ta, một loạt các công ty bảo hiểm phi nhân thọ và nhân thọ ra đời cho đến nay
Sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, nhất là trong điều kiện kinh tế hội nhập khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Kinh tế thị trường đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm Sự phong phú về hoạt động kinh doanh, tốc
độ tăng trưởng cao về kinh tế, mức thu nhập dồi dào của nhiều tầng lớp dân cư, tính phức tạp, đa dạng của các loại rủi ro là những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc hình thành và tăng nhanh các nhu cầu về bảo hiểm trong xã hội
Trang 16Thị trường bảo hiểm là nơi diễn ra các giao dịch mua bán các loại sản phẩm bảo hiểm, nơi công ty bảo hiểm và khách hàng tác động qua lại
để xác định giá cả cũng như số lượng sản phẩm bảo hiểm Thị trường bảo hiểm chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường Môi trường cạnh tranh đã tạo nên một thị trường linh hoạt có khả năng đáp ứng được
sự đa dạng của nhu cầu bảo hiểm, thúc đẩy sự tăng nhanh khối lượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm bảo hiểm
Nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc ổn định và phát triển thị trường bảo hiểm, thông qua việc Quốc hội phê chuẩn Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000
2.3 Đặc điểm của bảo hiểm t ư n mại
- Trước tiên, hoạt động bảo hiểm thương mại là một hoạt động
thỏa thuận (nên còn gọi là bảo hiểm tự nguyện)
- Hai là, sự tương hổ trong bảo hiểm thương mại được thực hiện trong một "cộng đồng có giới hạn", một "nhóm đóng"
- Ba là, bảo hiểm thương mại cung cấp dịch vụ đảm bảo không chỉ cho các rủi ro bản thân mà còn cho cả rủi ro tài sản và trách nhiệm dân
sự
2.4 Nội dung bảo hiểm t ư n mại
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ngoài mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng của mình (gọi là Người mua bảo hiểm) còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa người bảo hiểm gốc và người nhận tái bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm và bao hàm các hoạt động của trung gian bảo hiểm như: môi giới, đại lý Nhà bảo hiểm thương mại hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận trong việc đảm bảo rủi ro cho khách hàng của mình
Bảo hiểm thương mại được thực hiện bởi các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích cung cấp cho xã hội một loại hàng hóa, dịch vụ “an toàn”, trên cơ sở đó, nhà bảo hiểm tìm kiếm một khoản lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm Nói cách khác mối quan hệ của Bảo hiểm thương mại nẩy sinh mang tính chất tự nguyện
Nội dung bảo hiểm thương mại rất rộng, bảo hiểm thương mại không chỉ đảm bảo cho các rủi ro về con người như Bảo hiểm xã hội mà còn đảm bảo các rủi ro của các đối tượng khác như tài sản (công trình, nhà cửa, nhà xưởng, hàng hóa, phương tiện sản xuất kinh doanh và sinh họat) và trách nhiệm (trách nhiệm công cộng, trách nhiệm sản phẩm, )
Trang 17Hoạt động bảo hiểm thương mại tạo ra “sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít” trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất,
số người tham gia càng đông, tổn thất càng phân tán mỏng, rủi ro càng giảm thiểu ở mức độ thấp nhất thể hiện ở mức phí bảo hiểm phải đóng là nhỏ nhất đủ để mỗi người đó không ảnh hưởng gì quan trọng đến hoạt động sinh hoạt sản xuất của mình Hoạt động theo quy luật số đông, đó là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm
Bên cạnh đám đông tham gia vào cộng đồng càng lớn thể hiện nhu cầu bảo hiểm càng tăng theo đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, những người được bảo hiểm không thể và cũng không cần biết nhau, họ chỉ cần biết người quản lý cộng đồng (doanh nghiệp bảo hiểm) là người nhận phí bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường cho họ khi có rủi ro tổn thất xảy ra Hoạt động bảo hiểm thương mại tạo ra được một sự hoán chuyển rủi ro từ những người được bảo hiểm qua người bảo hiểm trên cơ sở một văn bản pháp lý: Hợp đồng bảo hiểm Điều này đã tạo ra một rủi ro mới
đe dọa mối quan hệ giữa hai bên trên hợp đồng Dịch vụ bảo hiểm thương mại là một lời cam kết, liệu lúc xảy ra tổn thất, doanh nghiệp bảo hiểm có thực hiện hoặc có khả năng thực hiện cam kết của mình hay không trong khi phí bảo hiểm đã được trả theo “nguyên tắc ứng trước” Ngược lại các rủi ro, tổn thất được bảo hiểm, được minh thị rõ ràng trên hợp đồng, liệu có sự man trá của phí người được bảo hiểm hay không để nhận hưởng tiền bảo hiểm Như vậy mối quan hệ giữa hai bên trên hợp đồng bảo hiểm gắn liền với sự tin tưởng lẫn nhau và điều này đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc trung thực tối đa
Nguyên tắc thứ ba: Nguyên tắc nguyên nhân gần: là nguyên nhân chủ động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm
Nguyên tắc thứ tư: Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán: Mục đích của việc bồi thường là khôi phục lại tình trạng tài chính ban đầu, hoặc một phần theo mức độ tham gia bảo hiểm, chỉ áp dụng nguyên tắc bồi thường cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân sự Nguyên tắc khoán áp dụng cho bảo hiểm con người vì con người là vô giá
Nguyên tắc thứ năm: Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: là nguyên tắc bồi thường đã được xác định Người được bảo hiểm không thể nhận được số tiền bảo hiểm nhiều hơn giá trị tổn thất mà mình gánh chịu
Trang 18Bảo hiểm thương mại có mức phí, mức chi trả bồi thường phụ thuộc vào thỏa thuận phù hợp theo nhu cầu (xuất phát từ giá trị tài sản được bảo hiểm, số tiền bảo hiểm lựa chọn, mức độ quan trọng của rủi ro, ) và khả năng của Người được bảo hiểm, thông thường nghĩa vụ và quyền lợi trên hợp đồng bảo hiểm là tương xứng nhau
Mối quan hệ của Người được bảo hiểm và Người bảo hiểm trong Bảo hiểm thương mại là có thời hạn và thông thường là ngắn hạn (bảo hiểm phi nhân thọ)
Cộng đồng Người được bảo hiểm của Bảo hiểm thương mại là một “nhóm đóng” có giới hạn trong một thời kỳ nhất định
Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Theo Luật kinh doanh bảo hiểm - 2000)
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm trả cho công ty Bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm để thực nghĩa vụ của mình và nhận được sự cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm
Người mua bảo hiểm là người đứng ra ký kết hợp đồng bảo hiểm
và đóng phí bảo hiểm Có thể là người được bảo hiểm cũng có thể không phải là người được bảo hiểm
Người được bảo hiểm là người có tính mạng, tình trạng sức khỏe được bảo hiểm Là bên nhận được sự bảo vệ của bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm
Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là người được chỉ định nhận tiền bảo hiểm được ghi trước trong hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của người được bảo hiểm hoặc được thừa hưởng quyền lợi theo luật pháp (thừa kế)
Người bảo hiểm là các doanh nghiệp, công ty bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm là các tổ chức, cá nhân được công ty bảo hiểm ủy quyền thực hiện các hoạt động liên quan đến công việc khai thác, thu phí bảo hiểm và các hoạt động khác trong khuôn khổ về quyền và trách nhiệm của đại lý được nêu trong hợp đồng đại lý
Trang 19Đối tượng được bảo hiểm là đối tượng ở trong tình trạng chịu sự
đe dọa của rủi ro Vì mục đích đảm bảo an toàn, phục hồi, tái tạo lại đối tượng bảo hiểm mà hợp đồng bảo hiểm được ký kết Đối tượng bảo hiểm
có nhiều loại như: tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng, sức khỏe, khả năng lao động của con người
Rủi ro là sự kiện không chắn chắc có liên quan đến tổn thất phải gánh chịu trong tương lai Rủi ro được bảo hiểm là những sự cố dự tính, nếu xảy ra và gây thiệt hại đến đối tượng được bảo hiểm sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm của Người bảo hiểm Rủi
ro loại trừ gồm những sự cố dù có gây thiệt hại đến đối tượng bảo hiểm, Người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm
2.5 Lợi íc của bảo hiểm t ư n mại
Trong cuộc sống hàng ngày, lúc này hay lúc khác, dù không hề mong muốn và dù khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu, người ta vẫn có thể phải gánh chịu những rủi ro tổn thất bất ngờ Tác động của rủi ro làm cho con người không thu hái được kết quả như đã dự định trước và tạo ra
sự ngưng trệ quá trình sản xuất, sinh hoạt của xã hội Đó chính là tiền đề khách quan cho sự ra đời của các loại quỹ dự trữ bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng Tồn tại song song với các quỹ
dự trữ khác, Bảo hiểm thương mại đóng vai trò như một công cụ an toàn thực hiện chức năng bảo vệ con người, bảo vệ tài sản cho kinh tế và xã hội Cụ thể là:
Đối với người dân, bảo hiểm đảm bảo cho họ về mặt tài chính nhằm khắc phục hậu quả khi bất ngờ gặp rủi ro tai nạn hay bệnh tật như chi phí điều trị, viện phí, thu nhập mất giảm…Bảo hiểm nhân thọ còn cung cấp những chương trình tiết kiệm và là người đại diện đầu tư mang lại lợi tức cho khách hàng
“Bảo hiểm đơn giản chỉ là cách làm cho mỗi người, mỗi tổ chức
không còn phải bận tâm lo lắng” (Robert)
Đối với các doanh nghiệp, tham gia bảo hiểm giúp các doanh nghiệp với việc bỏ ra một khoản phí bảo hiểm ổn định và nhỏ có thể hoán chuyển rủi ro - những yếu tố không ổn định và tổn thất không lường trước được sang cho nhà bảo hiểm Nhờ vậy, các doanh nghiệp an tâm sản xuất và khi có những tổn thất xảy ra, bồi thường bảo hiểm sẽ giúp họ nhanh chóng khôi phục quá trình kinh doanh
Trang 20 Đối với ngân hàng thương mại, bảo hiểm đảm bảo cho khả năng hoàn trả vốn vay của doanh nghiệp – người đi vay trong những trường hợp gặp rủi ro tổn thất Mặt khác, các loại hình bảo hiểm nhân thọ còn giúp các ngân hàng an tâm triển khai các loại hình tín dụng tiêu dùng cho người dân
Hoạt động bảo hiểm phát triển góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế, kỹ thuật, thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Mặt khác hoạt động bảo hiểm còn mang về cho kinh tế quốc dân một khoản ngoại tệ đáng kể
Bảo hiểm chẳng những có tác dụng bồi thường tổn thất sau khi
có rủi ro phát sinh mà còn góp phần rất lớn cho việc đề phòng rủi ro và hạn chế tổn thất Nhà bảo hiểm thường sử dụng những chuyên gia giỏi,
tổ chức các dự án nghiên cứu, tư vấn – tài trợ cho cơ quan quản lý nhà nước áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất hoặc
tư vấn cho khách hàng tăng cường quản trị rủi ro ở đơn vị mình
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm với việc nắm giữ quỹ tiền tệ bảo hiểm rất lớn nhưng tạm thời nhàn rỗi đã trở thành những nhà đầu tư lớn Bảo hiểm vì vậy còn có vai trò trung gian tài chính là một kênh huy động và cấp vốn có hiệu cho nền kinh tế Đặc biệt, ở nhiều nước phát triển, các nhà bảo hiểm còn bảo hiểm cho trái phiếu nhất là trái phiếu đô thị Điều này làm tăng tính an toàn của trái phiếu đô thị, giúp cho chính quyền trung ương và địa phương thu hút vốn từ dân cư, đầu tư cho các dự án y tế, giáo dục, công trình phúc lợi và cơ sở hạ tầng
Với những lợi ích nói trên, bảo hiểm đã ra đời từ rất lâu và ngày càng phát triển Trong những năm gần đây, hàng năm, trên toàn thế giới,
số phí bảo hiểm thu được lên đến hàng ngàn tỷ đô la Mỹ (năm 2001: trên
2400 tỷ), trung bình mỗi cư dân trên hành tinh chúng ta mỗi năm bỏ ra
393 USD cho việc tham gia bảo hiểm, trong đó, 235 USD cho BHNT và
158 USD cho BHPNT Ở nhiều nước, bảo hiểm chiếm tỷ lệ đáng kể trong GDP (Ví dụ, Hàn quốc: 12%, Nhật bản: 11%, Mã Lai: 5%) Hàng năm, bảo hiểm cũng đã góp phần đáng kể trong việc khắc phục hậu quả của những tổn thất đặc biệt là các tổn thất thảm họa
Tạo cơ hội công ăn việc làm: Xét trên phương diện vĩ mô bảo hiểm đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Thông qua đầu tư dưới nhiều hình thức, bảo hiểm còn gián tiếp tạo thêm nhiều việc làm cho ngành khác của đất nước
Trang 212.6 P ân loại bảo hiểm t ư n mại
P ân loại t eo đối tượng bảo hiểm: Căn cứ vào đối tượng bảo
hiểm thì toàn bộ các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành ba nhóm: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm trách nhiệm dân sự:
(1) Bảo hiểm tài sản: là loại bảo hiểm lấy tài sản làm đối tượng bảo hiểm Khi xảy ra rủi ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ đảm bảo thuận tiện hợp đồng
(2) Bảo hiểm con người: đối tượng của các loại hình này, chính là tính mạng, thân thể, sức khỏe của con người Người ký kết hợp đồng bảo hiểm, nộp phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn nếu như rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc một người thụ hưởng hợp pháp khác sẽ nhận được khoản tiền do người bảo hiểm trả Bảo hiểm con người có thể là bảo hiểm nhân thọ hoặc bảo hiểm tai nạn – bệnh
(3) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của các quy định trong luật dân sự, theo
đó, người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho người thứ ba những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành của tài sản thuộc sở hữu của chính mình Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có thể là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc bảo hiểm trách nhiệm công cộng
P ân loại theo kỹ thuật bảo hiểm: Theo cách phân loại này các
loại hình bảo hiểm được chia ra làm hai loại: loại dựa trên kỹ thuật "phân bổ" và loại dựa trên kỹ thuật "tồn tích vốn"
(1) Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật phân bổ: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất ổn định (tương đối) theo thời gian và thường độc lập với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm phi nhân thọ) Hợp đồng bảo hiểm loại này thường là ngắn hạn (một năm); (2) Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật tồn tích vốn: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi (rõ rệt) theo thời gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm nhân thọ) Các hợp đồng loại này thường là trung và dài hạn (10 năm, 20 năm, trọn đời )
Trang 22P ân loại t eo tín c ất của tiền bảo hiểm trả:
(1) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc bồi thường: Theo nguyên tắc này, số tiền mà người bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không bao giờ vượt quá giá trị thiệt hại thực tế mà anh ta
đã phải gánh chịu Các loại bảo hiểm này gồm có: bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự (gọi chung là bảo hiểm thiệt hại) Với loại bảo hiểm nầy, về nguyên tắc, người mua bảo hiểm không được ký hợp đồng trên giá hoặc bảo hiểm trùng
(2) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán: Người được bảo hiểm sẽ nhận được số tiền khoán theo đúng mức
mà họ đã thỏa thuận trước trên hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm tùy thuộc và phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng đóng phí Đây chính là các loại bảo hiểm nhân thọ và một số trường hợp của bảo hiểm tai nạn, bệnh tật Với loại bảo hiểm nầy, về nguyên tắc, người mua bảo hiểm có thể cùng một lúc ký nhiều hợp đồng bảo hiểm cho một đối tương và không bị hạn chế số tiền bảo hiểm
P ân loại t eo p ư n t ức quản lý: Với cách phân loại này,
các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại được chia làm hai hình thức: bắt buộc và tự nguyện
(1) Bảo hiểm tự nguyện: Là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được kết lập dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của người được bảo hiểm Đây là tính chất vốn có của bảo hiểm thương mại khi nó
có vai trò như là một hoạt động dịch vụ cho sản xuất và sinh hoạt con người
(2) Bảo hiểm bắt buộc: Được hình thành trên cơ sở luật định nhằm bảo vệ lợi ích của nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế - xã hội Các hoạt động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất con người và tài chính trầm trọng gắn liền với trách nhiệm dân sự nghề nghiệp thường là đối tượng của sự bắt buộc này Ví dụ: bảo hiểm trách nhiện dân sự chủ xe cơ giới, trách nhiệm dân sự của thợ săn.Tuy nhiên, sự bắt buộc chỉ là bắt buộc người có đối tượng mua bảo hiểm chứ không bắt buộc mua bảo hiểm ở đâu Tính chất tương thuận của hợp đồng bảo hiểm được ký kết vẫn còn nguyên vì người được bảo hiểm vẫn
tự do lựa chọn nhà bảo hiểm cho mình
Hoặc có thể phân loại bảo hiểm thương mại thành hai loại: Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
Trang 23 Bảo hiểm nhân thọ: Là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thỏa thuận khi có xảy ra sự kiện quy định xảy
ra liên quan đến sinh mạng và sức khỏe của con người Những sự kiện quy định xảy ra bao gồm: sống đến thời hạn nhất định; ốm đau thương tật, nằm viện, chi phí chăm sóc; chết do mọi nguyên nhân
Bảo hiểm phi nhân thọ: Là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là bảo hiểm nhân thọ: Bảo hiểm toàn diện học sinh; bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba; bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển; bảo hiểm hàng không … Cũng giống như bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ngoài việc cho đáp ứng các nhu cầu an toàn của con người thì lợi nhuận
là mục tiêu của hoạt động bảo hiểm thương mại
2.7 C c k oản thu về bảo hiểm t ư n mại
- T u p í bảo hiểm gốc: phí bảo hiểm là khoản thu mà người
tham gia bảo hiểm phải trả cho doanh nghiệp bảo hiểm khi có yêu cầu bảo hiểm theo thỏa thuận
- T u p í i m định hộ: đây là khoản thu mà công ty thu được
khi tiến hành giám định hộ
- T u đầu tư t i c ín : là khoản thu lãi tiền gửi do các ngân hàng
trả cho công ty khi công ty gửi tiền gửi không kỳ hạn
- T u đòi n ười thứ ba: là khoản thu của công ty khi tổn thất liên
quan đến người thứ ba thuộc phạm vi bảo hiểm nhưng lỗi hoàn toàn thuộc về người thứ ba, người được bảo hiểm đã được công ty bồi thường
và họ ủy quyền cho nhà bảo hiểm đòi người thứ ba theo luật bảo hiểm
- T u t an lý n đã bồi t ường 100%: đây là khoản thu phát
sinh khi công ty tiến hành thanh lý phụ tùng thay thế đã được bồi thường
2.8 C c k oản c i li n quan đến hoạt động bảo hiểm t ư n mại
Trang 24- Chi bồi t ường: đây là số tiền mà nhà bảo hiểm phải chi trả cho
người tham gia bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra để khắc phục thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm
- Chi hoa hồn c o đại lý, cộn t c vi n: là số tiền mà công ty
phải trả cho các đại lý bảo hiểm khi họ mang lại theo doanh thu cho công ty
- Chi quản lý kin doan : đây là khoản chi bắt buộc mà công ty
phải bỏ ra phát sinh trong quá trình quản lý, các khoản chi này gồm chi lương, ăn trưa, công tác phí, chi tiếp khách giao dịch; chi phí quảng cáo; chi phí ấn chỉ
- C i đề p òn hạn chế tổn thất: đây là số tiền mà công ty bỏ ra
nhằm hạn chế, giảm bớt những rủi ro có thể xảy ra trong suốt quá trình bảo hiểm
- Chi giảm p í: đây là số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm giảm
trừ cho người tham gia bảo hiểm theo các quy định được dành cho những hợp đồng truyền thống, hợp đồng lớn
- C i i m định: cũng như hai khoản chi đề phòng hạn chế tổn
thất và chi giảm phí, chi giám định là một khoản chi phát sinh khi người được bảo hiểm bị tổn thất nhằm ước tính bồi thường và thiệt hại để làm
cơ sở cho việc bồi thường sau này
- C c k oản c i tríc lập dự p òn
Đây là chi phí bắt buộc mà mỗi công ty bảo hiểm phải trích lập theo quy định của Bộ Tài Chính gồm các loại loại dự phòng sau đây: + Dự p òn p í: là khoản chi phí mà doanh nghiệp bảo hiểm
phải trích để dự phòng do số phí bảo hiểm chưa được hưởng được sử dụng, dùng để chi trả bồi thường khi phát sinh trách nhiệm thời gian còn hiệu lực trong những năm tiếp theo
+ Dự p òn bồi t ường: là khoản chi phí mà doanh nghiệp bảo
hiểm phải trích để lại nhằm sử dụng khiếu nại cho những bồi thường chưa giải quyết
+ Dự p òn iao động lớn: là khoản chi mà doanh nghiệp bảo
hiểm phải trích lập nhằm sử dụng khi có giao động lớn về tổn thất hoặc tổn thất lớn xảy ra mà tổng phí bảo hiểm được giữ lại sau khi trích lập dự phòng phí và dự phòng bồi thường mà không đủ thì sẽ sử dụng
- C c k oản giảm trừ
Trang 252.9 Hệ thốn c c ti u c í đ n i iệu quả kinh doanh bảo hiểm
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời điểm cụ thể Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả kinh doanh là biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra của một quá trình sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh doanh không những là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng, doanh nghiệp muốn tồn tại, muốn vươn lên phải thường xuyên nâng cao chất lượng dịch vụ, cải tiến phương thức sản xuất, bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ, trình độ tay nghề, tiết kiệm chi phí để tạo ra hiệu quả cao nhất
Hiệu quả kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện đầu tư thiết bị, máy móc hiện đại, nâng cao thu nhập của người lao động, thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách cho Nhà nước được tốt hơn
Trong điều kiện ngày nay, khi nền kinh tế của đất nước đang trong giai đoạn mở cửa và hội nhập nền kinh tế thế giới với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài, đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải thường xuyên tiếp cận các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu nhập của người lao động Khi đó vai trò của hiệu quả kinh doanh được phát huy tối đa để đảm bảo lợi ích hài hòa giữa doanh nghiệp, người lao động và nghĩa vụ nộp ngân sách đối với Nhà nước
Hiệu quả kinh doanh còn là đòn bẩy để thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển, giúp các doanh nghiệp cơ cấu lại nguồn vốn sản xuất, thực hiện tốt nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước tạo nguồn phúc lợi an sinh xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, chúng ta phải dựa vào những tiêu chí chủ yếu như sau:
- Đánh giá chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: bao gồm tổng thu kinh doanh, tổng chi kinh doanh
Trang 26
Tỷ lệ tăng trưởng
Doanh thu năm sau – Doanh thu năm trước
x 100 Doanh thu năm trước
Dựa vào chỉ tiêu này so sánh qua các năm để đánh giá sự tăng trưởng doanh thu có hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao Phân tích tình hình thực hiện thu bảo hiểm gốc so sánh tỷ lệ (%) thực hiện năm nay
so với kế hoạch năm nay, để đánh giá tốc độ tăng trưởng doanh thu bảo hiểm gốc của năm
+ Tổng chi kinh doanh = (chi bồi thường + chi phí quản lý + chi hoa hồng đại lý, cộng tác viên + chi đề phòng hạn chế tổn thất + chi giám định + chi giảm phí + các chi phí khác liên quan đến tiền gửi không kỳ hạn )
+ Phân tích tình hình thực hiện chi bồi thường bảo hiểm gốc năm nay so sánh tỷ lệ (%) thực hiện năm nay với năm trước, để đánh giá tốc
độ chi bồi thường của năm
- Đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, bao gồm việc sử dụng các nguồn nhân lực, tiềm năng kinh tế tại địa phương
và các nguồn lực khác để tạo nên hiệu quả cho doanh nghiệp
- Phân tích chỉ tiêu hiệu quả quy ước nội bộ (lợi nhuận ước tính) quyết toán với cấp trên Hiệu quả quy ước nội bộ là do trong ngành qui định đối với các công ty thành viên trực thuộc Tổng công ty do Tổng công ty tính toán Tổng công ty chỉ đưa ra chỉ tiêu hiệu quả quy ước nội
bộ cho các công ty thành viên
Tỷ lệ hiệu quả quy ước nội
bộ/doanh thu bảo hiểm gốc (%) =
Hiệu quả qui ước nội bộ
x 100 Doanh thu bảo hiểm gốc
Dựa vào chỉ tiêu hiệu quả quy ước nội bộ để phân tích đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty qua các năm
Trên đây là những khái niệm cơ bản về bảo hiểm thương mại có thể giúp người đọc có sự hiểu biết tổng quan về bảo hiểm thương mại Những khái niệm cơ bản này còn là cơ sở để ta tiếp tục nghiên cứu tiếp
Trang 27trong các chương sau về tình hình thực tế của hoạt kinh doanh bảo hiểm
và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh ở công ty Bảo Việt An Giang từ nay đến năm 2016
Trang 28CHƯƠNG 3
SƠ Ư C QUÁ TR NH H NH TH NH
V PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY ẢO VIỆT AN GIANG
3.1 Sự ra đời v p t triển của Bảo Việt An Giang
3.1.1 Sự ra đời v p t triển của Bảo Việt
Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) - tiền thân của Tổng công
ty bảo hiểmViệt Nam ngày nay - được thành lập ngày 17/12/1964 theo Quyết định số 179/CP của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965 Ngày đầu, Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng.Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển, làm đại lý giám định
và xét bồi thường cho các công ty bảo hiểm nước ngoài về hàng hoá xuất nhập khẩu, giám định tổn thất tàu biển nước ngoài
Sau năm 1975 khi Nam Bắc thống nhất, Bảo Việt bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động và đặt chi nhánh tại một số tỉnh thành phố phí Nam Cán bộ Bảo Việt khẩn trương vào tiếp nhận cơ sở doanh nghiệp bảo hiểm của chế độ cũ, nhanh chóng mở rộng và phát triển dịch vụ nhằm góp phần tái thiết đất nước
Năm 1980, Bảo Việt chính thức có mạng lưới cung cấp dịch vụ trên khắp cả nước Đây cũng là thời kỳ của Bảo Việt bắt đầu cung cấp dịch
vụ bảo hiểm hành khách và bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho chủ xe cơ giới, phục vụ đắc lực nhu cầu thông thương và đi lại của đông đảo nhân dân
Năm 1982, Bảo Việt triển khai thí điểm bảo hiểm cây lúa, đáp ứng
cả yêu cầu kinh tế và nhiệm vụ chính trị
Ngày 17/02/1989, theo quyết định của Bộ Tài Chính, Công ty Bảo hiểm Việt Nam được chuyển đổi thành Tổng công ty Bảo Hiểm Việt Nam ngày nay Bảo Việt thực hiện hàng loạt cải tiến về hệ thống và nhân
sự, liên tục cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng kịp thời những yêu cầu bảo hiểm ngày nay càng cao của người dân
Từ năm 1993, Bảo Việt chú trọng công tác đầu tư tài chính Một loạt các biện pháp mang tính chiều sâu được thực hiện nhằm đảm bảo lựa chọn được các dự án đầu tư thích hợp, an toàn cho nguồn vốn và mang lại hiệu quả kinh tế cao Bảo Việt đã thu được nhiều thắng lợi quan trọng
từ lĩnh vực đầu tư tài chính, đặc biệt là những kết quả đạt được trong các năm 1996, 1997, 1998, và 1999 (gần 100 tỷ đồng/năm)
Trang 29Ngày 8/10/1996, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) được nhà nước xếp loại “Doanh Nghiệp đặt biệt” và là một trong 25 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, đánh dấu một mốc phát triển quan trọng của Bảo Việt
Ngày 19/02/1997, Trung tâm đào tạo Bảo Việt ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập với khu vực và quốc tế, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Bảo việt trong chính sách phát triển con người
Ngày 19/05/2000, sự ra đời của Công ty cổ phần chứng khoáng Bảo Việt – Công ty chứng khoán đầu tiên ở Việt Nam - thể hiện sự lớn mạnh trong hoạt động tài chính kinh doanh Đây là một phần chính sách Bảo Việt luôn quan tâm đến phát triển quan hệ hợp tác, kinh doanh, đầu
tư tài chính với phương châm “Mọi cơ hội đầu tư Bảo Việt điều quan tâm”
Ngày 31/5/2007 đánh dấu một sự kiện, một mốc lịch sử quan trọng của Bảo Việt, đó là việc Bảo Việt bán cổ phần lần đầu ra công chúng chính thức trở thành công ty cổ phần kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực Ngày 15/10/2007, Tập đoàn Bảo Việt đã hoàn thành Đăng ký kinh doanh công ty cổ phần có sự tham gia của đối tác chiến lược là các tập đoàn kinh tế hàng đầu trong nước (Vinashin) và nước ngoài (HSBC Insurance (Asia - Pacific) Holdings Limited); hình thành Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt
Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất có phòng đại diện tại Luân Đôn, nơi được xem là cái nôi của ngành bảo hiểm thế giới
Có thể nói quá trình phát triển và lớn mạnh của Bảo Việt đã thực sự góp phần quan trọng vào sự phát triển của thị trường bảo hiểm và thị trường tài chính Việt Nam Bảo Việt đang từng bước vươn tới mục tiêu xây dựng một tập đoàn tài chính tổng hợp vững mạnh
Là một Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm kinh doanh đa ngành, với ngành nghề chính là kinh doanh bảo hiểm, Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt có công ty mẹ - “Tập đoàn Bảo Việt” và các công ty con:
- Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn điều lệ;
- Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn điều lệ;
Trang 30- Công ty Quản lý Quỹ Bảo Việt (BVF) do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn điều lệ;
- Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 60% vốn điều lệ;
- Công ty Liên doanh Bảo hiểm Quốc tế Việt Nam (VIA) do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 51% vốn điều lệ;
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bảo Việt (BAOVIET BANK) do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 52% vốn điều lệ;
- Công ty Cổ phần Đầu tư Bảo Việt do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 55% vốn điều lệ
3.1.2 Sự ra đời v p t triển của Bảo Việt An Giang
Đầu năm 1980, nhằm mở rộng mạng lưới hoạt động trên cả nước, Công ty Bảo hiểm Việt Nam đã mở chi nhánh hoạt động tại tỉnh An Giang Đến năm 1989, Công ty Bảo hiểm Việt Nam chính thức được nâng lên thành Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam và chi nhánh An Giang cũng được nâng lên thành Công ty Bảo hiểm An Giang (gọi tắt là Bảo Việt An Giang)
Công ty Bảo Việt An Giang là một công ty thành viên của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt trực thuộc Tập đoàn Bảo Việt – Tập đoàn kinh doanh đa ngành nghề tại Việt Nam Có chức năng hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ trên địa bàn tỉnh An Giang, ban đầu thành lập với quy mô là một phòng ban thuộc Sở Tài Chính An Giang gồm 7 người
Trong những năm đầu mới được thành lập, Bảo Việt chi nhánh An
Giang chỉ kinh doanh có 3 nghiệp vụ bảo hiểm, bao gồm:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
- Bảo hiểm tai nạn hành khách
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cơ giới
Năm 1989 triển khai thêm 3 nghiệp vụ gồm:
- Bảo hiểm học sinh
- Bảo hiểm tai nạn con người
- Bảo hiểm thân tàu