1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động của chi nhánh Ngân hàng phát triển Bắc Ninh

82 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 864,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động của chi nhánh Ngân hàng phát triển Bắc Ninh Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động của chi nhánh Ngân hàng phát triển Bắc Ninh Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động của chi nhánh Ngân hàng phát triển Bắc Ninh luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

Trường đại học bách khoa

*****************

luận văn thạc sỹ

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động

của Chi nhánh Ngân hàng phát triển

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Vũ Đình Nam, học viên lớp Cao học QTKD – Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội – khóa 2005 – 2007 Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, tài liệu, kết quả trong luận văn này là thực tế Tôi xin chịu trách nhiệm mọi vấn đề liên quan về nội dung đề tài này

Trang 3

MỤC LỤC Trang

MỤC LỤC 02

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 04

DANH MỤC BẢNG BIỂU – HÌNH VẼ 05

DANH MỤC HÌNH VẼ ……… 06

LỜI NÓI ĐẦU 07

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 09

1.1 Nghiên cứu phát triển hoạt động của tổ chức tín dụng trong kinh tế thị trường 09

1.2 Đặc điểm đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng Nhà nước và yêu cầu công tác quản lý 25

1.2.1 Đặc điểm đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng Nhà nước 25

1.2.2 Yêu cầu đối với công tác quản lý đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng của Nhà nước 29

PHẦN 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN BẮC NINH 31

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Bắc Ninh 31

2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh 43

2.2.1 Tình hình hoạt động tín dụng đầu tư tại Chi nhánh Cục Đầu tư phát triển năm 1997 -1999 tại tỉnh Bắc Ninh 44

Trang 4

2.2.2 Thực trạng công tác tín dụng đầu tư phát triển tại Chi nhánh Quỹ

Hỗ trợ Phát triển Bắc Ninh từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2007 47

2.2.3 Thực trạng công tác tín dụng đầu tư phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh hoạt động từ 30/6/2006 đến 30/9/2007 54

2.2.3.1 Công tác kế hoạch 54

2.2.3.2.Công tác huy động vốn 56

2.2.3.3 Công tác thẩm định 57

2.2.3.4 Cho vay tín dụng trung và dài hạn 58

2.2.3.5 Thu nợ tín dụng trung và dài hạn 59

2.2.3.6 Công tác hỗ trợ sau đầu tư 60

PHẦN 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN BẮC NINH 62

3.1 Mục tiêu phát triển tín dụng đầu tư phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh trong thời gian tới 62

3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh 64

3.2.1 Hoàn thiện các quy định về đối tượng cho vay, mức vốn cho vay và lãi suất cho vay 64

3.2.2 Cải tiến thủ tục đầu tư 67

3.2.3 Nâng cao chất lượng và thẩm định dự án đầu tư 69

3.2.4 Hoàn thiện cơ chế tài sản bảo đảm tiền vay 72

3.2.5 Tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng 73

3.2.6 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra nội bộ trong quá trình cấp tín dụng đầu tư ưu đãi 74

3.2.7 Cải tiến và nâng cao khả năng trao đổi thông tin, báo cáo tình hình công tác tín dụng đâu tư ưu đãi 76

3.2.8 Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng 77

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU – HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các đặc điểm chính của kinh doanh dịch vụ 14

Bảng 1.2 Các hệ số xét tính lợi ích xã hội – chính trị và ảnh

hưởng đến môi trường trong việc xác định, đánh giá hiệu quả kinh doanh dịch vụ Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2020

Bảng 2.3 Tình hình cho vay thu nợ của Chi nhánh Quỹ Hỗ trợ

Phát triển Bắc ninh từ năm 2000 – tháng 6 năm

2006

71

Bảng 2.4 Kết quả hoạt động cho vay và thu nợ của Chi nhánh

Quỹ Hỗ trợ Phát triển Bắc Ninh

Trang 7

Hình 1.2 Kết hợp phương pháp suy ra xu hướng cho tương lai

từ quá khứ với xét đến phần đột biến của một số nhân

tố trong tương lai khi dụ báo nhu cầu của thị trường

22

Hình 1.4 Các cơ sở, căn cứ cho hoạch định phát triển hoạt

động của doanh nghiệp

24

Hình 1.5 Nội dung các giai đoạn xây dựng phương án phát

triển hoạt động của doanh nghiệp

24

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước là một bộ phận quan trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng Đất nước ta đang trong thời kỳ xây dựng cơ sở hạ vật chất

kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa Ngoài nguồn lực từ bên ngoài thì việc tích lũy từ nội lực của nền kinh tế là yếu tố quyết định nhất có ý nghĩa trước mắt và lâu dài Việc đầu tư xây dựng mới, mở rộng các cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư chiều sâu mua sắm thiết bị nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm là yêu cầu đòi hỏi khách quan của nền kinh

tế nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng

Trong hoạt động của hệ thống Ngân hàng phát triển nghiệp vụ quản lý vốn tín dụng đầu tư là nghiệp vụ có tính chất bao trùm (bao gồm nghiệp vụ: thẩm định dự án đầu tư, cấp vốn vay theo trình tự quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, thu hồi nợ vay ) Cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, Đảng và Chính phủ ta có chủ trương dần xóa bỏ bao cấp trong đầu tư phát triển thì tỷ trọng vốn tín dụng đầu tư ngày càng được tăng lên và nguồn vốn cấp phát sẽ giảm đi Trong những năm qua (trước năm 2000) nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước được CHính phủ giao cho các tổ chức: Tổng Cục đầu tư phát triển, Ngân hàng đầu tư và phát triển, một số ngân hàng thương mại quốc doanh quản

lý và thực hiện Đến nay, tín dụng đầu tư và phát triển của Nhà nước được chuyển giao đầu mối cho Ngân hàng phát triển để cho vay

Bắc ninh là tỉnh được tái lập không lâu, cơ sở vật chất nói chung và cơ sở sản xuất nói riêng còn ở mức trung bình so với mức bình quân của cả nước, do vậy yêu cầu đòi hỏi tất yếu là Bắc Ninh phải tăng đầu tư phát triển dưới nhiều hình thức, bằng mọi nguồn vốn trong đó có đầu tư vốn tín dụng ưu đãi Quan tâm tới các giải pháp để nâng cao chất lượng quản lý vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước là yêu cầu đòi hỏi có tính chất khách quan

Vì vậy với mong muốn góp phần nâng cao công tác quản lý vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trên địa bàn tỉnh, là một cán bộ đang công tác tại Chi nhánh NHPT Bắc Ninh thuộc hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam Từ những kiến thức đã tiếp thu qua chương trình đào tạo sau đại học kết hợp với

Trang 9

“Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Bắc Ninh”, với mong muốn có thể đóng góp một phần nhỏ bé để hỗ trợ cho

sự phát triển bền vững của ngành và của địa phương, đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của toàn nghành NHPT và kinh tế của đất nước trong thời kỳ mới và hội nhập hiện nay

Mục tiêu của chuyên đề dựa trên cơ sở tổng kết từ thực tiễn về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chung, quản lý vốn tín dụng đầu tư phát triển nói riêng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua Những kết quả đã đạt được, những thiếu sót còn tồn tại từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm đồng thời đề xuất các giải pháp để hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác quản lý vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh trong quá trình đổi mới

Luận văn được chia làm 3 phần như sau:

Phần 1: Cơ sở lý thuyết của đề tài

Phần 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước của Chi nhánh NHPT Bắc Ninh

Phần 3: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động tín dụng của Chi nhánh NHPT Bắc Ninh

Trang 10

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC TRONG

hoạt động kinh tế chủ yếu Thị trường là nơi gặp gỡ và diễn ra quan hệ mua bán

(trao đổi) giữa người có và người cần hàng hoá

Loài người đã trải qua các nền kinh tế từ thấp đến cao như sau:

Nền kinh tế tự nhiên, tự cung – tự cấp, tự sản – tự tiêu

Nền kinh tế hàng hoá giản đơn, trong đó người ta chỉ tiến hành hàng đổi

lấy hàng là chính

Nền kinh tế thị trường tự do, trong đó tiền đã xuất hiện và trở thành hàng

hoá đặc biệt – vật trung gian cho việc trao đổi, kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ…

Nền kinh tế thị trường hiện đại, trong đó các công ty cổ phần, các công

ty đa quốc gia phát triển mạnh mẽ; sản xuất kinh doanh được tiến hành trên cơ sở công nghệ thiết bị hiện đại; thông tin, sản phẩm sáng tạo (chất xám, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến…), uy tín, dịch vụ các loại… trở thành hàng hoá đặc biệt và chiếm tỷ trọng cao Cơ cấu kinh tế phát triển là cơ cấu trong đó công nghiệp – 20%, nông nghiệp – 10%, dịch vụ - 70%

Như vậy, đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường là hàng hoá, là tự do kinh doanh hàng hoá trong khuôn khổ pháp luật Do mưu cầu lợi ích của con người

và do được tự do kinh doanh nên trong kinh tế thị trường cạnh tranh diễn ra

Trang 11

thị trường là nền kinh tế hoạt động chủ yếu theo quy luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hàng hoá Cạnh tranh diễn ra trong thiên nhiên ở mọi lúc, mọi nơi

không tuỳ thuộc vào ý muốn của riêng ai nên là một quy luật quan trọng thúc đẩy sự phát triển Con người sinh ra từ tự nhiên, nên không thể nằm ngoài quy luật đó Con người thường xuyên phải tìm cách tạo ra, giành giật nguồn sống bởi

vì điều kiện phát triển có giới hạn và xuất hiện phần nhiều là ngẫu nhiên Trong

hoạt động kinh tế, cạnh tranh là sự giành giật thị trường, khách hàng, đối tác

trên cơ sở các ưu thế về chất lượng hàng hoá, giá cả hàng hoá, thời hạn, sự thuận tiện và uy tín lâu dài

Cạnh tranh trên cơ sở các ưu thế là cạnh tranh lành mạnh Để có ưu thế về chất lượng sản phẩm, dịch vụ người sản xuất phải đầu tư thoả đáng cho việc nghiên cứu đổi mới sản phẩm, đổi mới quản lý, đổi mới công nghệ, cho nhân tố con người Để có ưu thế về chất lượng sản phẩm, giá chào bán, giá bán hàng hoá, doanh nghiệp không còn cách nào khác phải thường xuyên quan tâm đầu tư quản lý tốt tất cả các yếu tố sản xuất, các hoạt động thành phần Chất lượng sản phẩm dịch vụ ưu thế so với đối thủ cạnh tranh trước hết là chất lượng đáp ứng, phù hợp với yêu cầu của người sử dụng sản phẩm, dịch vụ Như vậy, khi quản lý kinh doanh cần nắm bắt được chất lượng mà người tiêu dùng yêu cầu đối với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và phải biết quan hệ giữa chất lượng với chi phí Trước đây trong nhiều trường hợp để đảm bảo, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ phải sử dụng vật tư, thiết bị đắt tiền (khấu hao tăng), tiến hành tăng một

số lượng hoạt động… tăng một số loại chi phí, giá thành sản phẩm làm lợi thế về giá Nhưng trong kinh tế thị trường do đảm bảo chất lượng phù hợp với yêu cầu (nhu cầu) người tiêu dùng nên sản lượng sản xuất – tiêu thụ của các sản phẩm, dịch vụ thường là tăng và có khi rất mạnh Khi sản lượng sản xuất – tiêu thụ tăng phần chi phí cố định cho một sản phẩm, giá thành đơn vị sản phẩm, dịch vụ giảm, tức là lợi thế cạnh tranh về giá càng đảm bảo Cạnh tranh lành mạnh giữa những người sản xuất, giữa các nhà cung cấp tạo ra nhiều phản ứng dây chuyền tích cực đem lại nhiều lợi ích thiết thực trước hết cho người tiêu dùng, cho những người cạnh tranh thành công, cho cộng đồng, cho toàn xã hội Tiến hành cạnh tranh lành mạnh là phải làm việc thực sự nghiêm túc, không ngừng sáng tạo, sử dụng sản phẩm sáng tạo; là phải biết chi nhiều để được thu nhiều hơn, là phải mạo hiểm, chấp nhận rủi ro… Trong kinh tế thị trường phương pháp quản

Trang 12

lý hiện đại và tiến bộ khoa học công nghệ là hai vũ khí cạnh tranh sắc bén Sản xuất kinh doanh có cạnh tranh rất cần đến tiến bộ quản lý và tiến bộ khoa học công nghệ Và bản thân kinh doanh sản xuất có cạnh tranh lại luôn thúc đẩy hai lĩnh vực hoạt động đó nhanh chóng phát triển Doanh nghiệp nào tụt hậu trong hai lĩnh vực đó là có nguy cơ thất bại trong cạnh tranh, nguy cơ phá sản, đổ vỡ

Do vậy, trong kinh tế thị trường thường doanh nghiệp chủ động bỏ tiền mua thành tựu khoa học công nghệ, phương pháp quản lý hiện đại hoặc đầu tư nghiên cứu – triển khai để tạo ra các lợi thế cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Trong thực tế luôn có những người không chịu hoặc không biết tiến hành cạnh tranh lành mạnh, tức là luôn có khả năng xuất hiện, tồn tại cạnh tranh thô bạo Quản lý nhà nước có nhiệm vụ, trách nhiệm tạo điều kiện cho cạnh tranh lành mạnh phát triển, kiểm soát và xử lý cạnh tranh không lành mạnh

Cạnh tranh trong hoạt động kinh tế bao giờ cũng lan truyền sang tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vì các lĩnh vực khác được sinh ra và tồn tại chủ yếu là để tạo ra nhân (đầu vào), một phần là sử dụng quả (đầu ra) của hoạt động kinh tế Hiện nay, tuy Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường mà cạnh tranh đã len lỏi vào tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội, hoạt động của mỗi con người, của mỗi gia đình, của mỗi tổ chức, của cả

quốc gia đã phải chịu sức ép khá mạnh mẽ của cạnh tranh Trong kinh tế thị

trường các quá trình, hiện tượng, sự vật biến đổi với tốc độ nhanh hơn bình thường rất nhiều, trình độ cao hay thấp, đúng hay sai, hơn hay kém, tốt hay xấu, tiến bộ hay lạc hậu, tích cực hay tiêu cực… bộc lộ nhanh chóng, rõ ràng hơn

Và do tác động của cạnh tranh lành mạnh nên kinh tế thị trường đem lại

cho chúng ta lợi ích to lớn sau:

Sản phẩm hàng hoá, dịch vụ phong phú hơn, đẹp hơn, dễ mua hơn;

Con người chủ động, năng động hơn;

Các yếu tố thuộc lực lượng sản xuất ra đời và phát triển nhanh hơn…

Mặt khác, trong kinh tế thị trường dễ xảy ra:

Trường hợp một số người do quá cuồng nhiệt theo đuổi hiệu quả kinh tế dẫn đến mua bán mọi thứ, cạnh tranh thô bạo

Trang 13

Bất công đối với những người ít có khả năng cạnh tranh do nguyên nhân khách quan, bẩm sinh, cống hiến cho cách mạng, cho chiến tranh bảo vệ

tổ quốc…

Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ tạo ra khung pháp luật; cơ sở hạ tầng, cơ chế kiểm soát, trọng tài, đề ra chiến lược ưu tiên phát triển cho từng giai đoạn… nhằm phát huy tối đa các lợi ích, phòng ngừa được nhiều nhất những khuyết tật của kinh tế thị trường

Qua nghiên cứu chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, nền kinh tế thị trường có bản chất, một số quy luật hoạt động vừa gắn với tự nhiên, vừa mang dấu ấn của thời đại và về cơ bản là khác với kinh tế bao cấp – chỉ huy tập trung Trong nền kinh tế thị trường để đạt được hiệu quả hoạt động chúng ta phải thay đổi nhận thức, cách thức tiếp cận, thay đổi các căn cứ của các quyết định, phải năng động, linh hoạt… Để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động nói chung, hoạt động kinh doanh nói riêng có sự tham gia của nhiều người trong khung giới hạn về các điều kiện nhân – tài – vật – lực, thời gian, không gian, và

có cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ của các ông chủ không có cách nào khác là phải đích thực hoá mọi vấn đề; thiết thực hoá, hiện đại hoá các yếu tố đầu vào, trật tự hoá, hợp lý hoá, đồng bộ hoá các hoạt động bộ phận, tức là phải đặc biệt coi trọng việc học tập nâng cao trình độ quản lý hoạt động nói chung, trình độ quản lý hoạt động kinh doanh nói riêng

Hiện nay trong thực tế và trong lý luận người ta sử dụng thuật ngữ kinh doanh và thuật ngữ quản lý với nhiều nghĩa khác nhau Ở đây, trong khuôn khổ luận văn này, xin hiểu thuật ngữ kinh doanh theo nghĩa làm kinh tế mà nhân dân ta thường dùng, thuật ngữ quản lý với nghĩa gồm cả lãnh đạo và điều hành khác với thuật ngữ quản trị: quản theo lý lẽ, theo nguyên lý

Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành một loạt hoạt động, trong

đó hoạt động kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động trọng tâm Hoạt động đầu tư, tổ chức chi nhằm vào việc thoả mãn nhu cầu của người khác để có thu thoả mãn nhu cầu của chính mình được gọi là hoạt động kinh tế,

là hoạt động kinh doanh

Trang 14

Trong kinh tế thị trường hoạt động của doanh nghiệp là đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, lợi nhuận; tạo lập và củng cố vị thế… Doanh nghiệp là đơn vị tiến hành một hoặc

một số hoạt động kinh doanh, là tổ chức làm kinh tế Doanh nghiệp có thể kinh doanh sản xuất, kinh doanh thương mại, kinh doanh dịch vụ Trong kinh tế thị trường doanh nghiệp tiến hành tham gia kinh doanh là tham gia cạnh tranh Khi nền kinh tế đất nước hội nhập với kinh tế khu vực, kinh tế thế giới, doanh nghiệp có nhiều cơ hội, đồng thời phải chịu sức ép cạnh tranh ngày càng lớn

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp nào tụt lùi, không tiến so với trước, tiến chậm

so với các đối thủ là tụt hậu, là thất thế trong cạnh tranh 1 < 2 , là bị đối thủ mạnh hơn thao túng, là hoạt động đạt hiệu quả thấp hơn, nguy cơ phá sản, đổ

vỡ lớn hơn

Dịch vụ, một lĩnh vực tiềm năng và có triển vọng phát triển lớn nhất trong

số tất cả các ngành kinh tế, đã và đang tỏ rõ được ưu thế cũng như vai trò quan trọng của mình trong quá trình thúc đẩy nền kinh tế phát triển Đời sống ngày một nâng cao, nhu cầu của con người ngày càng trở nên đa dạng và phong phú hơn

Việc tạo ra một hệ thống dịch vụ nhằm quan tâm, phục vụ, thoả mãn một cách tối đa những nhu cầu của con người là thực sự cần thiết và mang lại lợi ích cho cả hai phía: người tạo ra dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ Tại những nước phát triển, ngành này đã được quan tâm một cách đúng mức và kết quả đạt được thật đáng nể, tổng thu nhập từ ngành dịch vụ chiếm tới trên 70% tổng thu nhập quốc dân Còn ở những nước đang phát triển, ngành dịch vụ cũng đóng góp một phần không nhỏ cho ngân sách quốc gia hàng năm

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có thể cung cấp, sản xuất một hoặc một

số dịch vụ hoàn chỉnh; một hoặc một số công đoạn… của một, một số loại dịch

vụ nào đó Sản phẩm dịch vụ ngay từ đầu và mãi về sau chủ yếu là các sản phẩm

vô hình phục vụ cho các nhu cầu ngày càng đa dạng của con người, gián tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất ra các sản phẩm vật chất của xã hội

Trang 15

Bảng 1.1: Các đặc điểm chính của kinh doanh dịch vụ

Đặc điểm của dịch vụ Ví dụ điển hình

1 Sản phẩm

a Công dụng Đa dạng, phục vụ nhu

cầu của con người

Tài chính, Bảo hiểm, du lịch, giáo dục, …

b Mức độ phức tạp Theo đối tượng khách

hàng, mục tiêu sử dụng

Các dịch vụ ngân hàng Khung chương trình giáo dục

Doanh nghiệp dịch vụ là doanh nghiệp tiến hành kinh doanh một hoặc một

số loại dịch vụ cho người tiêu dùng

Quản lý doanh nghiệp dịch vụ phải xuất phát từ các đặc điểm của ngành kinh doanh dịch vụ, phải có trình độ cao và rất cao thì các sản phẩm dịch vụ mới giành được thắng lợi trong cạnh tranh, khi đó các hoạt động kinh doanh dịch vụ mới có hiệu quả cao, doanh nghiệp dịch vụ mới tồn tại và phát triển được trong kinh tế thị trường Chỉ cần cạnh tranh mua các yếu tố đầu vào không thông minh hoặc điều hành quá trình sản xuất các sản phẩm dịch vụ kém nhịp nhàng, nhiều trục trặc hoặc cạnh tranh cung cấp các sản phẩm đầu ra chậm chạp, sai lệch về giá… là góp phần làm tăng chi phí, giảm chất lượng, giảm kết quả dẫn đến hiệu quả thấp, nguy cơ tăng…

Trang 16

Hình 1.1: Ba giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ

Về phương pháp đo lường hiệu quả kinh doanh sản phẩm dịch vụ cụ thể, cần quan tâm tới cả ba mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội – chính trị và ảnh hưởng đến môi trường, trong đó lấy hiệu quả kinh tế làm nền chính để đánh giá Hiệu quả kinh tế của kinh doanh dịch vụ là kết quả tương quan so sánh những lợi ích kinh tế thu được với phần các nguồn lực, chi phí cho việc tạo ra các lợi ích kinh tế đó Như vậy, cần đảm bảo tương thích giữa lợi ích và chi phí Không đảm bảo tương thích là đánh giá không chính xác, hiệu quả, dẫn đến lựa chọn sai Lợi ích kinh tế của kinh doanh các sản phẩm dịch vụ phải kể đến lợi ích cho chủ đầu tư (lãi ròng), lợi ích kinh tế cho nhà nước, lợi ích kinh tế cho những người tham gia… Để tính và so sánh hiệu quả kinh tế của các hoạt động khác nhau hoặc của một hoạt động ở các thời kỳ khác nhau chúng ta phải nêu được tất

cả các kết quả, lợi ích do hoạt động cụ thể đem lại và tất cả các loại chi phí bỏ ra

để đạt được kết quả đó, sau đó quy đổi hợp lý Do kết quả, lợi ích con người thu

Cạnh tranh mua

các yếu tố đầu vào

DOANH NGHIỆP

SẢN PHẨM

NHÀ NƯỚC

Phân phối Cung ứng

Trang 17

được từ kinh doanh dịch vụ thường là phong phú, đa dạng, có thể là hữu hình, cũng có khi là vô hình nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ trích tính làm sao cho tương đối sát đúng

Về đo lường, đánh giá hiệu quả xã hội – chính trị và ảnh hưởng môi trường, theo GS.TS Đỗ Văn Phức, việc xét đến các hiệu quả này là rất cần thiết vì: chúng là những đảm bảo cho hiệu quả kinh tế bền lâu Để xét tính các hiệu quả này trước hết cần xếp loại A, B, C cho các loại sản phẩm dịch vụ khác nhau theo mức độ đạt chuẩn quy định, ứng với từng loại ở từng thời kỳ phát triển kinh

tế - xã hội có một hệ số cụ thể xét thêm hiệu quả xã hội – chính trị, ảnh hưởng đến môi trường Sau đó, hiệu quả kinh doanh dịch vụ nói chung được đo lường, đánh giá tổng hợp bằng cách lấy hiệu quả kinh tế nhân với hệ số hiệu quả xã hội – chính trị và môi trường Về bản chất, hiệu quả chính trị - xã hội và môi trường

là điều kiện tiên đề của hiệu quả kinh tế trong tương lai Lãnh đạo, quản lý thông minh là phải nhận thức được và thực thi trên thực tế được điều đó Chính phủ và nhân dân hoàn toàn có quyền đòi hỏi ở các doanh nghiệp điều đó, cả các doanh nghiệp công nghiệp hay các doanh nghiệp dịch vụ, doanh nghiệp thương mại… Trong thời gian tới, chúng ta phải xem xét một cách nghiêm túc và tương đối chính xác hiệu quả của cả 3 mặt của các dự án kinh doanh dịch vụ trước khi cho triển khai, tránh để xảy ra những hậu quả vô cùng to lớn trong tương lai

Bảng 1.2: Các hệ số xét tính lợi ích xã hội – chính trị và ảnh hưởng đến môi trường trong việc xác định, đánh giá hiệu quả kinh doanh dịch vụ Việt

Nam trong giai đoạn 2001 - 2020

Loại ảnh hưởng

Năm 2001-2005 2006-2010 2011-2015 2016-2020 Loại A Xã hội – chính trị 1.45 1.35 1.25 1.15

Trang 18

Để kinh doanh có hiệu quả cao trước hết doanh nghiệp phải lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, các cặp sản phẩm – khách hàng với sản lượng cụ thể có đủ cơ

sở, căn cứ khoa học và thực tế Để có cơ sở tính toán, so sánh, đi đến quyết định lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, các cặp sản phẩm – khách hàng cụ thể doanh nghiệp phải đầu tư thoả đáng cho việc dự báo, định lượng tương đối chính xác nhu cầu thị trường mục tiêu, các nguồn đáp ứng khác (các đối thủ cạnh tranh) và năng lực của bản thân doanh nghiệp trong cùng một tương lai Nhu cầu của thị trường là nhu cầu của một cộng đồng (tập hợp người) nên rất đa dạng, phong phú, luôn biến động Như vậy, từ nhu cầu của con người chúng ta có thể nhận biết được phần lớn nhu cầu của thị trường, động thái và tổng lượng của từng nhu cầu Ngoài việc nghiên cứu nhu cầu hàng hoá của con người, của thị trường cụ thể còn phải nghiên cứu nghiêm túc, tỉ mỉ, công phu các nguồn đáp ứng khác – các đối thủ cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp trong và ngoài nước được tự do kinh doanh các mặt hàng nhà nước không cấm Do vậy,

dự đoán, nghiên cứu tương đối chính xác được các đối thủ cạnh tranh theo từng loại mặt hàng kinh doanh là quan trọng và rất khó khăn Trong những năm cuối thế kỷ 20 nhiều doanh nghiệp Việt Nam thuộc một số lĩnh vực như: thép xây dựng, xi măng, phân bón… do nghiên cứu, dự tính nhu cầu sai hoặc do không xem xét nghiêm túc đến các đối thủ cạnh tranh đã rơi vào tình trạng ứ đọng quá nhiều hàng hoá, ứ đọng vốn, gặp nhiều khó khăn

Như vậy, trước khi tiến hành kinh doanh trong kinh tế thị trường cần nghiên cứu, xem xét thực sự nghiêm túc, công phu nhu cầu của thị trường, các đối thủ cạnh tranh; đầu tư thoả đáng, thông minh để tạo ra và không ngừng phát triển các yếu tố nội lực như: trình độ của những người lãnh đạo, quản lý, trình

độ của các chuyên gia công nghệ, trình độ của đội ngũ những người thừa hành… những người sẽ sáng tạo ra cách thức, công cụ, phương tiện hoạt động tiến bộ, đảm bảo và duy trì các lợi thế cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ…

Trước khi tiến hành hoạt động con người thường có những ý tưởng về hoạt động dự kiến tiến hành trong đầu hoặc cả một phương án hoạt động chính thức được trình bầy một cách bài bản, trong kinh tế thị trường cần định hướng tương đối chính xác và chuyển hướng kịp thời hoạt động của doanh nghiệp mới hy vọng tồn tại và phát triển

Trang 19

Phương án hoạt động của doanh nghiệp gồm 3 phần: phần mục đích và các mục tiêu; phần hoạt động kinh doanh và các nguồn lực dự định huy động Mục đích của hoạt động doanh nghiệp là hiệu quả (ROA, ROE…) cao nhất có thể Mục tiêu là kết quả trung gian – kết quả của các mặt, các giai đoạn công việc Phần lớn các hoạt động kinh doanh phải nêu rõ các cặp sản phẩm – khách hàng cùng sản lượng và các thông số chất lượng quan trọng Định hướng và chuyển hướng kinh doanh của doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng của hoạch định (lập kế hoạch) kinh doanh

Lập kế hoạch để làm gì? Thường bản kế hoạch được sử dụng cho nhiều công việc quan trọng sau nó Đó là:

1 Lập kế hoạch cơ sở, căn cứ cho việc chuẩn bị trước, đầy đủ, đồng bộ các điều kiện, nguồn lực để triển khai thành công các hoạt động

2 Kế hoạch đưa ra các nhiệm vụ, mốc, chuẩn… cụ thể cho việc điều hành, cho tổ chức thực hiện

3 Kế hoạch hoạt động là cơ sở cụ thể cho việc xây dựng và triển khai các biện pháp kiểm tra

Nếu tiến hành các hoạt động không được dự định trước, không được lên phương án trước thì khó hoặc không tập trung được các nguồn lực, không nỗ lực tối đa, các điều kiện không được chuẩn bị tốt dẫn đến trục trặc nhiều, lãng phí nhiều, hiệu quả thấp

Nếu tiến hành hoạt động theo một kế hoạch, sai lầm chúng ta không chỉ thu được ít kết quả, lợi ích, tổn phí nhiều mà còn làm giảm sút lòng tin, làm cho con người uể oải, chán chường, tổ chức bị rối loạn…

Trong kinh tế thị trường, chỉ cần dự bao, xét dùng sai đáng kể ở một trong

ba mặt nêu trên là nguy hiểm, dễ đi đến tổn thất to lớn, đổ vỡ

Như vậy, trong kinh tế thị trường doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đầu

tư ho công tác dự báo nhu cầu của thị trường, dự báo về các đối thủ cạnh tranh

và về năng lực của chính bản thân doanh nghiệp trong tương lai Về dự báo nhu cầu: Đối với một số hàng hoá dịch vụ có nhu cầu tăng (giảm) tương đối ổn định,

ví dụ như: lương thực, nhiên liệu… có thể sử dụng khối lượng và xu hướng quá khứ, đối với những hàng hoá có nhu cầu tăng (giảm) theo chu kỳ với biên độ

Trang 20

lớn, ví dụ như quần áo, thời trang… cần xét đến các giai đoạn của chu kỳ sống của sản phẩm khi dự báo; đối với nhiều hàng hoá như xăng dầu… cần xét đến các yếu tố tác động đến nhu cầu trong cùng tương lai như năng lượng thay thế…

để dự báo nhu cầu Dự báo các đối thủ cạnh tranh trong cùng một tương lai là việc cực kỳ quan trọng và là khâu yếu kém nhất của ta từ trước đến nay Phải dựa vào xu hướng thay đổi chính trị, quan hệ giữa các nước, dựa vào kết quả nghiên cứu chiến lược kinh doanh của các tập đoàn, các hãng, các công ty sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh… Phải đầu tư thoả đáng cho hoạt động tình báo, gián điệp kinh tế… mới có thể dự báo tương đối chính xác về các đối thủ cạnh tranh Quy trình định hướng và chuyển hướng hoạt động của doanh nghiệp gồm các bước như: Nhận biết cơ hội, thách thức; Tập hợp, kiểm định các cơ sở, căn cứ; Xây dựng một số phương án; Chính thức quyết định chọn phương án phát triển hoạt động…

Bước 1: Hình thành ý tưởng về hoạt động trên cơ sở nhận biết cơ hội, thách thức

Sau khi có ý tưởng về hoạt động thông qua việc nhận biết cơ hội, nguy cơ, sức ép người ta tiến hành dự đoán, tìm hiểu cụ thể, tương đối chính xác chúng

để đi đến chính thức xác định các nội dung của bản kế hoạch hoạt động

Bước 2: Tập hợp, kiểm định các cơ sở, căn cứ liên quan

Không có bột không gột nên hồ Phải có các cơ sở, căn cứ, nguyên liệu thì mới có thể xây dựng được phương án phát triển hoạt động của doanh nghiệp Như vậy, bước thứ 2 của việc xây dựng các phương án phát triển là phải tập hợp, kiểm định và thống nhất các cơ sở, căn cứ phục vụ cho việc xác định các

Hình thành các ý

tưởng về hoạt động Tìm hiểu cụ

thể, thu thập thông tin, kiểm định dữ liệu

Xây dựng các phương án phát triển hoạt động

Cân nhắc, chính thức lựa chọn hoạt động

Quan sát, phân tích, dự

báo tình hình thị trường Nhận biết cơ hội kinh doanh

Ý tưởng kinh doanh (sơ bộ lựa chọn hoạt động kinh doanh)

Trang 21

chỉ tiêu kế hoạch Các cơ sở, căn cứ phục vụ cho lập kế hoạch là các kết quả dự báo về nhu cầu, về các nguồn đáp ứng khác như các đối thủ cạnh tranh và về năng lực của chính doanh nghiệp Khó khăn trong việc đảm bảo mức độ đầy đủ

và chính xác của các cơ sở căn cứ lập kế hoạch có rất nhiều Trước hết, dự báo những gì xảy ra trong tương lai không thể hoàn toàn chính xác Và các kế hoạch thường có quan hệ hữu cơ với nhau Kế hoạch này tạo ra cơ sở, căn cứ cho kế hoạch kia và ngược lại Ví dụ kế hoạch xây dựng một số khu công nghiệp mới ở thành phố Hà Nội tạo ra nhiều cơ sở, căn cứ cho các kế hoạch phát triển các mặt khác như: cơ sở hạ tầng, thương mại, dịch vụ, giáo dục… Kế hoạch đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, kế hoạch phát triển các khu công nghiệp là cơ sở, căn

cứ cho lập kế hoạch phát triển xi măng, thép xây dựng, kế hoạch phát triển khách sạn, du lịch, kế hoạch đào tạo và đảm bảo việc làm…

Bước 3: Xác định các phương án phát triển hoạt động

Một phương án phát triển hoạt động của doanh nghiệp có 3 phần: phần mục đích và các mục tiêu, phần các cặp sản phẩm – khách hàng và phần tài chính – nguồn lực Ba phần độc lập tương đối nhưng quan hệ hữu cơ với nhau Xác định phần này phải giả định, lường định 2 phần còn lại

Xác định, đưa ra mục đích, các mục tiêu (cây mục tiêu) định lượng cụ thể,

rõ ràng có thể được coi là bước thứ 2 của quy trình lập kế hoạch Một hoạt động

có thể nhằm một số mục đích Mục đích là những kết quả cuối cùng, hiệu quả

mà chúng ta dự định ( dự kiến, kỳ vọng ) đạt được sau toàn bộ hoạt động, là những thứ thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển Từ xa xưa người ta đã tổng kết rằng, con người thường quan tâm đến lợi, danh và oai oách Ngày nay chúng ta thấy con người có các nhu cầu như: nhu cầu thu nhập (làm để có tiền), nhu cầu hiểu - biết, nhu cầu thể hiện mình trước người khác…Mục đích của đội( câu lạc bộ) bóng đá là thu nhập, danh tiếng, sự tồn tại và phát triển của từng thành viên

và của cả câu lạc bộ Mục đích của doanh nghiệp là lợi nhuận cao bền lâu

Mục tiêu, mục đích được xác định phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

1- Mục đích mục tiêu phải được xác định rõ ràng trước khi tiến hành hoạt động;

2- Số lượng mục đích đồng thời và độ lớn của từng mục đích phải hợp lý;

Trang 22

Như trên đã trình bầy kế hoạch hoá (kế hoạch) có ba phần quan hệ hữu cơ với nhau

Thay đổi một trong ba phần là phải điều chỉnh (thay đổi) hai phần còn lại, kềt quả cho ta một phương án kế hoạch

Người ta thường dựa vào kinh nghiệm, ý kiến chuyên gia để xây dựng một

số phương án kế hoạch (2-5phương án) Nhiều phương án quá sẽ rất tốn kém và khó khăn cho việc lựa chọn

Sau khi tìm được các phương án người ta tiến hành đánh giá chúng dựa vào mức độ tin cậy của các cơ sở, căn cứ và dựa vào mục tiêu, mục đích cần ưu tiên trong trường hợp, giai đoạn cụ thể Một phương án có thể có lợi nhuận cao nhất song cần vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn đầu tư chậm: phương án khác

nữa có thể thích hợp hơn với các mục tiêu dài hạn của công ty

Bước 4: Lựa chọn và chính thức quyết định phương án phát triển hoạt động

Lựa chọn phương án phát triển kinh doanh là so sánh, cân nhắc các phương

án đã được xây dựng về các mặt vốn đầu tư, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế

- xã hội, về các mặt môi trường cùng với sự thể hiện ngày một rõ hơn của các điều kiện, tiền đề đi đến chính thức quyết định chọn một phương án kế hoạch tối

ưu nhất, sát hợp nhất, khả thi nhất… Trong trường hợp phải so sánh nhiều phương án người ta phải áp dụng vận trù học, các thuật toán và máy điện toán

Phương án phát triển hoạt động của doanh nghiệp phải bao gồm sự thay đổi về thành phần sản phẩm – khách hàng; sự thay đổi về chất lượng và sản phẩm của từng sản phẩm và thay đổi về cơ cấu sản phẩm Những thay đổi đó phải được đưa ra sau khi có và xem xét nghiêm túc các cơ sở, căn cứ và về mặt hiệu quả kinh doanh

Như vậy, trong quá trình xây dựng phương án phát triển hoạt động của doanh nghiệp cần nghiên cứu công phu từng mặt và phối hợp các mặt sau để có kết quả làm cơ sở, căn cứ:

1 Nhu cầu của các thị trường mục tiêu trong tương lai của doanh nghiệp

Trang 23

Để dự báo nhu cầu của thị trường về một hàng hoá cụ thể chúng ta phải nghiên cứu, nhận biết được: thị trường mục tiêu cụ thể, các yếu tố tạo nên, ảnh hưởng; thời đoạn dự báo nằm ở giai đoạn nào trên chu kỳ sống của hàng hoá đó Đối với một số hàng hoá có xu hướng tăng trưởng nhu cầu ổn định ta sử dụng phương pháp mô hình hoá thống kê, phương pháp nội suy Đối với hàng hoá có

xu hướng tăng trưởng nhu cầu không ổn định ta sử dụng phương pháp nội suy kết hợp với ý kiến về mức độ làm tăng (giảm) bất thường do một số yếu tố cụ thể của các chuyên gia

Hình 1.2: Kết hợp phương pháp suy ra xu hướng cho tương lai

từ quá khứ với xét đến phần đột biến của một số nhân tố trong tương lai

khi dự báo nhu cầu của thị trường

Khi dự báo nhu cầu của thị trường về một loại hàng hoá nào đó cần nghiên cứu các yếu tố tạo nên, ảnh hưởng và lượng hoá mức độ Các yếu tố tạo nên, ảnh hưởng đến nhu cầu của một loại hàng hoá cụ thể trên thị trường thường là:

- Sự cần thiết và mức độ hấp dẫn của bản thân hàng hoá đó

- Nhận thức của người tiêu dùng

- Khả năng thanh toán của người tiêu dùng

- Môi trường văn hoá, thói quen tiêu dùng

Trang 24

- Chính sách điều tiết của nhà nước…

2 Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp trong cùng một tương lai:

Những ai và họ có yếu tố năng lực cạnh tranh nào hơn hoặc kém so với của

ta trong cùng một thời điểm, thời đoạn của chiến lược kinh doanh… Cần tìm hiểu và đánh giá bằng điểm các yếu tố cảu năng lực cạnh tranh Trên cơ sở nhu cầu của thị trường mục tiêu và các đối thủ cạnh tranh chúng ta tìm, chỉ ra cơ hội kinh doanh

3 Khả năng, năng lực thực sự, cụ thể của ta về số lượng, chất lượng, giá và thời hạn, thuận tiện giao dịch, xem hàng, vận chuyển, thanh toán, dịch vụ sau bán hàng… Sau khi so sánh năng lực cạnh tranh của ta làm rõ, chỉ ra mức

dộ hiệu quả sử dụng cơ hội kinh doanh của ta

Hình 1.3: Vị thế trong cạnh tranh

Xây dựng phương án phát triển hoạt động của doanh nghiệp là quá trình sử dụng các kết quả dự báo để tính toán, cân nhắc đi đến quyết định lựa chọn trước lĩnh vực kinh doanh, các cặp sản phẩm – khách hàng với sản lượng cụ thể, các yếu tố cho việc tiến hành hoạt động kinh doanh trên thực tế và phương pháp thực hiện Khi cân nhắc đi đến quyết định lựa chọn lĩnh vực phát triển hoạt động của doanh nghiệp, các cặp sản phẩm – khách hàng với sản lượng cụ thể cần sử dụng công cụ SWOT để định hướng phát triển, sau đó cần tính toán, so sánh hiệu quả của các phương án

Trang 25

Như vậy, chất lượng của phương án phát triển hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng của ba kết quả dự báo đó (chất lượng của các

cơ sở, căn cứ)

Hình 1.4: Các cơ sở, căn cứ cho hoạch định phát triển hoạt động

của doanh nghiệp

Hình 1.5: Nội dung các giai đoạn xây dựng phương án phát triển

hoạt động của doanh nghiệp

PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG: Các mục tiêu, các hoạt động

và nguồn lực

Kết quả dự báo các đối thủ cạnh tranh

Kết quả dự báo nhu cầu

của thị trường lực của doanh nghiệp Kết quả dự báo năng

Kết quả dự báo nhu cầu thị trường

Kết quả dự báo năng lực của DN

Kết quả dự báo đối thủ cạnh tranh

Các nguồn lực dự tính huy động

Các hoạt động dự định tiến hành

Trang 26

A: Giai đoạn chuẩn bị các cơ sở, căn cứ - “nguyên liệu” cho xây dựng phương án phát triển hoạt động của doanh nghiệp

B: Giai đoạn xây dựng phương án: mục tiêu, chủ trương phát triển hoạt động kinh doanh và các nguồn lực

C: Giai đoạn thẩm định, quyết định phương án hoạt động của doanh nghiệp

1.2 Đặc điểm đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng nhà nước và yêu cầu công tác quản lý

1.2.1 Đặc điểm đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng nhà nước:

Đầu tư Nhà nước ở Việt Nam được hình thành từ 3 nguồn chính: đầu tư gián tiếp qua tín dụng Nhà nước, đầu tư trực tiếp từ ngân sách nhà nước (hoạt động cấp phát), đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước Hai nguồn đầu tư đầu thường được gộp chung lại và có tên gọi là đầu tư công cộng

Thời gian qua tại Việt nam, đầu tư nhà nước, trước hết là nguồn vốn đầu

tư công cộng, đã và đang là nguồn chủ yếu tạo ra sự phát triển dài hạn của nền kinh tế Bởi lẽ, trong bối cảnh các thành phần kinh tế (nhất là kinh tế dân doanh) vừa không muốn đầu tư, vừa không đủ tiềm lực để đầu tư những dự án mà đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu rất lớn, nhưng có khả năng sinh lời thấp và thời gian thu hồi vốn dài, như đầu tư vào cơ sở hạ tầng (năng lượng, giao thông, thông tin liên lạc); hoặc những ngành công nghiệp cơ bản (những ngành đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các đầu vào để phát triển tất cả các ngành kinh tế của đất nước), hoặc ngành có nhiều rủi ro như: nông nghiệp, hay lĩnh vực xã hội (giáo dục, dịch vụ công cộng) Do vậy, chỉ có thông qua đầu tư công cộng (với nguồn vốn lớn huy động tập trung vào ngân sách) mới có thể thực hiện được

Xu hướng phát triển đầu tư nhà nước hiện nay là tăng tỷ trọng đầu tư vào công cộng trong cơ cấu đầu tư nhà nước Và đầu tư công cộng của nhà nước, đầu tư từ tín dụng nhà nước nhờ có những ưu điểm vượt trội hơn so với đầu tư trực tiếp từ ngân sách nhà nước như tính bền vững của tài trợ (thu hồi vốn để tái cho vay), nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các chủ đầu tư nên ngày càng được

ưu tiên sử dụng.(Phạm Đỗ Chí (2004), kinh tế việt nam trên đường hóa rồng).

Trang 27

Tín dụng nhà nước về thực chất có thể coi như một khoản chi của ngân sách nhà nước, vì cho vay theo lãi suất ưu đãi, tức lãi suất cho vay thường thấp hơn lãi suất trên thị trường tín dụng, nên Nhà nước phải dành ra một phần ngân sách trợ cấp bù lãi suất Song tín dụng nhà nước có những ưu thế riêng, phát triển hoạt động tín dụng nhà nước là đi liền với giảm bao cấp về chi ngân sách nhà nước trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, đồng thời nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người sử dụng vốn

Cơ chế của tín dụng là đi vay có hoàn trả kèm lãi suất, nên dưới áp lực này buộc các đối tượng vay vốn phải tăng cường hạch toán kinh tế, giám sát chặt chẽ việc sử dụng các khoản vay để bảo đảm khả năng thanh toán nợ Bên cạnh

đó, khả năng điều tiết nền kinh tế của Nhà nước sẽ ngày càng được cải thiện khi các khoản vay được hoàn trả thay vì việc cấp phát không hoàn lại như trước đây, cho nên đầu tư của Nhà nước vào các ngành then chốt, các vùng trọng điểm, các vùng khó khăn tăng lên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội của toàn

bộ nền kinh tế Do đó, trong tương lai theo xu thế chung, Nhà nước sẽ chuyển dần vốn ngân sách thành vốn tín dụng đầu tư của nhà nước, do ảnh hưởng tích cực của vốn tín dụng nhà nước cao hơn nhiều so với ảnh hưởng của vốn ngân sách

Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn tín dụng Nhà nước là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội và góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nhằm tạo thế và lực đưa về nền kinh tế cả nước cũng

như mỗi địa phương phát triển Do vây, Đầu tư phát triển vừa là nhiệm vụ chiến lược vừa là một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội theo

hướng tăng trưởng cao ổn định và bền vững Bất kỳ một quốc gia nào muốn có tốc độ tăng trưởng cao đời sống nhân dân được cải thiện đều phải quan tâm đến Đầu tư phát triển

Để Đầu tư phát triển ngày một đáp ứng yêu cầu về quy mô và hiệu quả vấn đề hết sức quan trọng là phải giải quyết được nhu cầu về vốn đầu tư và các định chế về hiệu quả vốn đầu tư

Đầu tư phát triển có những đặc điểm khác biệt so với các loại đầu tư khác (như đầu tư tài chính, đầu tư thương mại…) những đặc điểm này được thể hiện

ở các khía cạnh chủ yếu sau:

Trang 28

- Tiền vốn vật tư lao động cần cho hoạt động Đầu tư phát triển thường là rất lớn Nhờ vậy mới có điều kiện tăng năng lực sản xuất mới và có sức cạnh tranh cao, chẳng hạn như đầu tư xây dựng nhà máy, xí nghiệp, đường giao thông, cảng sông biển…

- Thời gian cần thiết cho việc tiến hành hoạt động Đầu tư phát triển

thường kéo dài do yêu cầu của thời gian thi công xây dựng Thời gian này vốn đầu tư không tham gia vào quá trình sản xuất nên không sinh lợi

- Thời gian thu hồi vốn đầu tư dài do vòng đời của dự án quyết định có

trường hợp kéo dài hàng chục năm, thậm chí vĩnh viễn Vì vậy Đầu tư phát triển chịu nhiều rủi ro, do các yếu tố không ổn định của thiên nhiên, tình hình chính trị kinh tế, xã hội, cơ chế, chính sách…do đó hoạt động đầu tư phát triển thường

có độ mạo hiểm cao

- Sản phẩm của hoạt động Đầu tư phát triển là các công trình vật kiến trúc

như nhà máy, hầm mỏ, cầu cống, đường xá…gắn liền với không gian tạo ra nó,

đặ ra các công tác quy hoạch, chuẩn bị đầu tư phải được xem xét, tính toán kỹ

lưỡng trên tất cả các khía cạnh nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả vốn đầu tư

Vì vậy hoạt động Đầu tư phát triển chỉ tiến hành trên cơ sở các dự án đầu tư khả thi và hiệu quả

Đầu tư phát triển sử dụng nhiều loại nguồn vốn như vốn Nhà nước vốn của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, vốn đầu tư của nước ngoài đầu tư được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau: Đầu tư xây dựng mới, đầu tư xây dựng cải tạo mở rộng sản xuất, đầu tư chiều sâu đổi mới máy móc thiết bị, đầu tư bằng vốn cấp phát không hoàn lại hoặc đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng

Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn tín dụng Nhà nước là việc sử dụng phần vốn ngân sách Nhà nước giành cho Đầu tư phát triển, vốn vay nước ngoài Chính phủ và hỗ trợ phát triển chính thức của nước ngoài cho Chính phủ và chính quyền các cấp(ODA) để cho vay đối với những dự án được Chính phủ quy định, vốn vay trung và dài hạn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, vốn phát hành trái phiếu trung và dài hạn, vốn ủy thác cho vay của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, vốn tiếp nhận của các tổ chức kinh tế xã hội tự nguyện gửi Quỹ hỗ trợ phát triển để Đầu tư phát triển dùng để đầu tư vào các khâu then chốt và cần thiết của nền kinh tế quốc dân các dự án đầu tư có hiệu

Trang 29

quả, các ngành kinh tế mũi nhọn quyết định đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Đầu tư phát triển bằng vốn tín dụng Nhà nước và chủ yếu được tiến hành theo kế hoạch Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế trong thời kỳ Như vậy Đầu tư phát triển bằng vốn tín dụng Nhà nước góp vốn

khơi dậy các nguồn vốn khác cùng tham gia đầu tư dự án

Vốn tín dụng đầu tư giành để đầu tư cho các dự án xây dựng hạ tầng kinh

tế, các cơ sở sản xuất, kinh doanh tạo việc làm cho khả năng thu hồi vốn, các dự

án đầu tư cho một số ngành kinh tế quan trọng của Nhà nước trong từng thời kỳ(như: Điện, xi măng, sắt thép ), các dự án đầu tư của các ngành đảm bảo hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn Các nguồn vốn này một phần được ngân sách bố trí theo chính sách từng thời kỳ, số còn lại là nguồn vốn tín dụng đầu tư của các Ngân hàng quốc doanh

Tín dụng nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng đối với phát triển nông nghiệp, từ đó tác động tích cực tới công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn

Nhờ đầu tư của nhà nước đã hoàn thành đưa vào sử dụng các công trình thuỷ lợi

Hệ thống thuỷ lợi được cải thiện rõ rệt đã là nhân tố quyết định để thâm canh, tăng vụ và nâng cao sản lượng lương thực; nhờ đó VN không chỉ giữ vững an ninh lương thực mà còn xuất khẩu gạo với khối lượng lớn Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển mạnh; đặc biệt là điện, nước, giao thông Nhà nước cũng đã đã

hỗ trợ đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo ở nông thôn, cho phép cải thiện đáng

kể chất lượng con người ở nông thôn

Ngoài ra, tín dụng nhà nước có tác dụng tích cực trong việc kích thích đầu

tư của các thành phần kinh tế khác trong giai đoạn kinh tế trì trệ, góp phần tạo ra tốc độ phát triển kinh tế cao trong giai đoạn 5 năm vừa qua Trong giai đoạn kinh tế khó khăn từ năm 1997 đến nay, khi các thành phần kinh tế khác giảm tốc

độ đầu tư thì đầu tư nhà nước có vai trò ngày càng lớn và có tác dụng kích thích, lôi cuốn các thành phần kinh tế khác gia tăng đầu tư trở lại Tăng đầu tư nhà nước, một mặt đã góp phần tăng nhu cầu tiêu thụ nhiều lợi sản phẩm đang tồn đọng trong nền kinh tế, từ đó giải quyết một lượng lớn hàng tồn kho, mở ra khả năng mới để sản xuất tiếp tục phát triển Mặt khác, việc mở rộng đầu tư nhà nước cũng đã từng bước phát huy tác dụng kích cầu đầu tư của các ngành kinh

tế ngoài nhà nước, vì đầu tư Nhà nước vào phát triển hạ tầng và một số ngành

Trang 30

công nghiệp cơ bản đã tạo thêm thuận lợi cho việc đầu tư của các thành phần kinh tế này

Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý theo hướng xóa bỏ bao cấp trong đầu tư phát triển hoạt động của các đơn vị sang hạch toán kinh doanh xu hướng hình thức cấp phát vốn đầu tư sẽ giảm thay vào đó hình thức tín dụng đầu

tư sẽ tăng lên

Trong hoạt động của hên thống Quỹ HTPT thì nghiệp vụ quản lý tín dụng

là một nghiệp vụ xuyên suốt và có tính chất bao chùm; Cho vay đầu tư xây dựng

cơ bản vừa phải chấp hành các yêu cầu nguyên tắc của việc quản lý vốn XDCB theo đúng Nghị định 52, 12, 07 của Chính phủ ban hành quy định về quản lý đầu

Tính chất bao trùm của nghiệp vụ quản lý này thể hiện ở nội dung quản lý

nó bao gồm các khâu: quản lý thẩm định dự án, quản lý trong giai đoạn cho vay

và quản lý trong giai đoạn dự án đầu tư xong phát huy hiệu quả, trả nợ và lãi vay So với nghiệp vụ cấp phát vốn đầu tư thì nghiệp vụ cho vay rất phong phú, tính chất phong phú của nó thể hiện trước hết ở việc đầu tư cho nhiều loại dự án tính chất sản xuất, kinh doanh cà dịch vụ khác nhau, trong thẩm định dự án có liên quan tới các định mức kinh tế kỹ thuật, phương pháp tính toán giá thành sản phẩm có khác nhau

1.2.2 Yêu cầu đối với công tác quản lý đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng nhà nước:

VN đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Mà một trong những yêu cầu mang tính chất cơ bản của việc toàn cầu hoá là đối xử ngang bằng và chống trợ cấp Trong khi đó, tín dụng nhà nước, với sự ưu đãi về vốn cho các đối tượng nhất định được xem như một hình thức trợ cấp Nhưng trong quá trình đó, kinh nghiệm thực tiễn từ các nước cho thấy: tín dụng nhà nước cũng không mất đi, mà nó chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác Với Việt Nam, chính sách tín dụng chắc chắn cũng không thể đi ngoài quy luật chung này

Theo thời gian, và độ sâu của hội nhập kinh tế quốc tế, kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy, tín dụng nhà nước mà Ngân hàng Phát triển đang tác

Trang 31

được hưởng ưu đãi Trong quá trình đó lãi suất và các điều kiện tín dụng ưu đãi

sẽ tiến sát đến mức thị trường hơn Khi đó, sẽ không còn các ưu đãi về mặt lãi suất mà chỉ còn các ưu đãi về các điều kiện vay vốn như kỳ hạn cho vay dài, điều kiện tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn, thời gian ân hạn dài Bởi khi gia nhập WTO hình thức này được xem là một dạng trợ cấp và cần phải được loại trừ Tuy nhiên, WTO cũng dành cho các nước thành viên của mình một lộ trình thực hiện các cam kết

Xuất hiện các hình thức tín dụng chính sách khác như tín dụng người mua, tín dụng đầu tư ra nước ngoài, Bởi những hình thức này hoàn toàn có thể

áp dụng các điều kiện ưu đãi như hiện nay mà không hề vi phạm các cam kết quốc tế khi gia nhập WTO

Ngoài ra, đối tượng nhận tín dụng chính sách cũng có sự thay đổi để phù hợp với tình hình mới Các hình thức tín dụng người mua, tín dụng đầu tư ra nước ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tín dụng chính sách Cơ cấu vốn cho vay theo chính sách chuyển ưu tiên cho những khu vực bị bất lợi trước đây như khu vực nông nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đầu tư phải có hiệu quả bảo đảm mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế Chỉ đầu tư cho những dự án đảm bảo hiệu quả kinh tế

xã hội có khả năng thu hồi vốn đầu tư trực tiếp và đủ thủ tục xây dựng cơ bản

Nguồn vốn tín dụng đầu tư phải được đầu tư theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phải quản lý công khai có kiểm tra kiểm soát và đảm bảo sử dụng đúng mục đích đúng chế độ theo quy định của pháp luật

Dự án đầu tư bằng vốn tín dụng phải chấp hành nghiêm túc trình tự thủ tục về đầu tư xây dựng, quy chế đấu thầu do Nhà nước quy định đồng thời phải chấp hành vay vốn Việc giải ngân vốn đầu tư phải đảm bảo các hồ sơ, tài liệu pháp lý theo quy định thực hiện cấp vốn đụng kế hoạch theo đúng thành phần cơ cấu vốn, đúng mục đích và trực tiếp cho người thụ hưởng theo mức độ công việc hoàn thành

Trang 32

PHẦN 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN BẮC NINH

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội ở Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, được tách ra từ tỉnh Bắc Hà cũ (tháng 3 năm 1997) Diện tích tự nhiên: 603,8 km2, dân số 956.020

người (31/12/2000) Mật độ dân số: 1.189 người /km2, có 123 xã, phường, thị trấn

- Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang

- Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên

- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương

- Phía Tây giáp Hà Nội

Cách trung tâm công nghiệp Hải Phòng, Quảng Ninh hơn 100km về phía Đông và Đông Bắc

Bắc Ninh có tuyến giao thông quan trọng như quốc lộ 1A, 1B, đường 18, đường 38, đường sắt Bắc Nam và các tuyến đường thủy (sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình) rất thuận lợi cho việc đi lại và giao lưu văn hóa Không những thế, Bắc Ninh còn nằm trong tuyến hành lang kinh tế trọng điểm phía Bắc bao gồm: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Đây là nơi cung cấp công nghệ khoa học kỹ thuật cho mọi miền đất nước Với những đặc điểm đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho Bắc Ninh phát triển kinh tế xã hội

Bắc Ninh là một tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết được phân bố thành 4 mùa rõ rệt: xuân - hạ - thu – đông Địa bàn Bắc Ninh mang nhiều yếu tố địa hình và khí hậu đặc trưng: vùng gò đồi với đỉnh cao từ 30 – 50 m, gài nối xem kẽ với vùng chiêm trũng, khí hậu nhiệt đới nóng

ẩm với mùa động lạnh khô còn mùa hè thì nhiều mưa kèm theo dông bão Nhiệt

độ trung bình là 23,10C, lượng mưa bình quân hàng năm là: 1.638mm, độ ẩm trung bình hàng năm là 82%

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 603,87 km2 trong đó:

Trang 33

- Đất nông nghiệp chiếm: 64,7%

- Đất lâm nghiệp chiếm: 0,7%

Bắc Ninh là một tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng: đất sét làm gạch, ngói, gốm với trữ lượng không nhiều khoảng 4 triệu tấn ở Quế Võ, Từ Sơn, TP Bắc Ninh, đá cát với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu (TP Bắc Ninh), đá sa thạch ở xã Vũ Ninh(TP Bắc Ninh) với trữ

lượng khoảng 3 triệu m3 Ngoài ra còn có than bùn ở Yên Phong với trữ lượng 60.000 – 200.000 tấn

Bắc Ninh là một vùng đất cổ trong đó Cổ Loa, Luy Lâu, Long Biên đã là Thủ đô của Tổ quốc Việt Nam trước đây Vùng đất Kinh Bắc - Bắc Ninh đã có nhiều thay đổi theo biến thiên của hàng nghìn năm lịch sử dân tộc Thời Hùng Vương – An Dương Vương đây là đất bộ Vũ Ninh trong nhà nước Văn Lang –

Âu Lạc, dưới thời Lý có tên là lộ Bắc Giang, đến thời Hồ tách thành lộ Bắc Giang và Lạng Giang Thời Lê có tên là Bắc Đạo, đến năm 1469 dưới thời Lê Thánh Tông đổi thành trấn Kinh Bắc Dưới thời Nguyễn năm 1823 trấn Kinh Bắc được đổi thành trấn Bắc Ninh và năm 1831 được đổi thành tỉnh Bắc Ninh

Thời thuộc Pháp, tháng 10 năm 1895 thực dân Pháp chia Bắc Ninh thành

2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang Ngày 19/10/1938 chính quyền thuộc địa ở nước

ta quyết định nâng cấp thị xã Bắc Ninh lên thành phố cấp 3 Thời kỳ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh Bắc Ninh đã được điều chỉnh một số xã, huyện về Hà Nội

Trang 34

Ngày 27/10/1962 Quốc hội khóa II ra Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc với 14 huyện và 2 thị xã

Sau 3 thập kỷ hợp nhất, kỳ họp thứ X Quốc hội khóa IV ngày 6/11/1996

đã ra quyết định phê chuẩn việc tái lập tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang Ngày 01/01/1997 tỉnh Bắc Ninh chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới

Đất Bắc Ninh nổi tiếng là “đất trăm nghề” với hệ thống làng nghề truyền thống xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử Ngày nay nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng trong vùng không bị mai một, “vắng bón” mà còn đang trụ vững và phát triển trong cơ chế thị trường hiện nay

Bắc Ninh là nơi có các học thuyết tôn giáo lớn xâm nhập khá sớm và khá sâu sắc: Nho học được truyền vào Bắc Ninh từ đầu công nguyên để từ đó lan tỏa khắp các nơi (Đền và lăng Sỹ Nhiếp, học tổ Sỹ Vương Huệ còn ở làng Tam Á,

xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh)

Bắc Ninh còn là miền quê văn hiến, nổi tiếng là đất khoa bảng Suốt chặng đường 825 năm (1075 – 1901) tham gia thi cử tại nơi “cửa không sân trình”, nho sỹ Bắc Ninh giành nhiều vị trí hàng đầu cả về chất lượng và học vị

Xứ Kinh Bắc đỗ đại khoa có tới 700 người, có Trạng Nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh - người đỗ đầu Đại khoa Minh Kinh bác học năm 1075 coi như Trạng nguyên đầu tiên của nước Việt Nam Đến thăm khu di tích Văn Miếu - Bắc Ninh nơi còn lưu trữ 11 tấm bia đá “Kim bảng lưu phương” chép về 695 vị đại khoa của Kinh Bắc thời phong kiến, hẳn chúng ta càng tự hào với miền quê Quan họ

đã biết trân trọng lưu giữ những di sản văn hóa lâu đời của quê hương xứ sở

Bắc Ninh còn là nơi phát tích vương Triều Lý, một vương triều có 8 vị vua với 216 năm trị vì (1009 – 1225) đã xây dựng lên một nền văn minh Đại Việt

Trang sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, những chiến tích và truyền thống bảo vệ quê hương đất nước của nhân dân Bắc Ninh đã có từ thời Hùng Vương thứ 6 và trải qua các thời kỳ lịch sử đất nước chống giặc phương Bắc, chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, để rồi truyền thống yêu nước của các thế hệ nhân dân Bắc Ninh đã sản sinh ra những chiến sỹ cách mạng, chiến sỹ cộng sản tiền bối như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc

Trang 35

Việt và biết bao những tấm gương tiêu biểu khác mà tên tuổi của họ không chỉ

là niềm tự hào của nhân dân Bắc Ninh mà còn là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam

Phát huy truyền thống văn hiến và cách mạng của quê hương Bắc Ninh, trong cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh ngoài việc ủng hộ về tinh thần, đóng góp vật chất, đã tiễn đưa trên 20 vạn thanh niên lên đường làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ ở khắp các chiến trường lập công xuất sắc, góp phần cùng cả nước giành độc lập dân tộc, thống nhất đất

nước

Đến năm 2000, lao động trong độ tuổi 522.000 người chiếm 54,9% dân

số Lực lượng lao động của tỉnh Bắc Ninh có cơ cấu hợp lý:

- Nhóm lực lượng lao động trẻ từ 15 – 34 tuổi là 309.306 người, chiếm 59,25% tổng số

- Nhóm lao động cao tuổi chiếm 6,29%

Dân số của tỉnh Bắc Ninh chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, chiếm 90,6% dân số toàn tỉnh Lao động sống trong khu vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất cao 85,71% trong đó lao động thuộc ngành công nghiệp rất nhỏ, chiếm 11% Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được cải thiện đi lên Số lao động phổ thông bình quân 1 lao động đạt 7,5% Số lao động tốt nghiệp phổ thông từ 11% năm 1997 tăng lên 14% năm 2000 Số lao động không có chuyên môn kỹ thuật giảm từ 93% năm 1997 xuống còn 88,2% năm 2000

Ngay sau khi tái lập (năm 1997), Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh đã phát huy truyền thống, trí tuệ, dồn mọi nguồn lực cho sự nghiệp phát triển, vì thế kinh tế trong 10 năm sau phát triển mạnh hơn những năm trước Trong 10 năm tái lập tỉnh, tình hình phát triển kinh tế có các nét đáng chú ý sau:

Nhịp độ tăng trưởng kinh tế luôn giữ ở mức độ cao; bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 13,5% trong đó khu vực nông nghiệp tăng 6%; khu vực công nghiệp xây dựng cơ bản tăng 22%; khu vực dịch vụ tăng 12,5 mỗi năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá: Tỷ trọng công nghiệp xây dựng cơ bản tăng nhanh từ 23,7% năm 1997 lên

Trang 36

47,8% năm 2006; Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 45% năm 1997 xuống còn 23,6% năm 2006

Bảng 2.1.Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh sau 10 năm tái lập tỉnh

1

Tăng trưởng GDP bình quân 10

năm giai đoạn 1997 - 2006,

Nguồn: Báo Bắc Ninh

* Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

+ Về nông nghiệp:

Kết quả lớn nhất trong chuyển dịch nông nghiệp là chuyển dịch trong nội

bộ ngành trồng trọt Trong cơ cấu cây trồng, diện tích và sản lượng các cây có giá trị cao như rau, khoai tây, dưa các loại, hành, tỏi, cà chua, hoa… tăng nhanh

và đang dần hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung (thành phố Bắc Ninh, Quế Võ, Từ Sơn, Tiên Du…) phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất

Trang 37

lượng và chất lượng sản phẩm Cây lúa đã được gieo cấy chủ đạo bằng lúa thuần Trung Quốc, luá Lai… Năng suất lúa tăng từ 39,3 tạ/ha năm 1997 lên 54,8 tạ/ha năm 2006 Các cây ngô, đậu tương, lac… cũng dần thay thế các giống cũ bằng các giống mới, giống nhập ngoại năng suất cao và chất lượng tốt hơn Cơ cấu mùa vụ đã chuyển đổi rõ nét, hầu hết các huyện không còn lúa muộn cấy bằng các giống cũ, dài ngày, năng suất thập

Trong chăn nuôi: Chăn nuôi lợn, gia cầm theo phương thức bán công nghiệp, công nghiệp quy mô vừa và lớn đang dâng thay thế chăn nuôi kiểu truyền thống, quy mô nhỏ Phương thức này thực sự đã tạo thuận lợi cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật, giảm thiểu dịch bệnh, rút ngắn chu kỳ sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm trên địa bàn Toàn tỉnh có hàng ngàn hộ nuôi

từ 20 đầu lợn, 500 – 1.000 con gia cầm trở lên

Chăn nuôi bò trước đây chủ yếu sử dụng làm sức kéo phục vụ sản xuất trồng trọt, đến nay đã chuyển sang kết hợp tăng gia lấy thịt và sức kéo Ngoài ra, tỉnh còn có chính sách khuyến khích một số hộ bước đầu tư vào chăn nuôi một

số vật nuôi mới như: Đà điểu, ong lấy mật…

Trong 10 năm qua, mặc dù quy mô tổng đàn bò, lợn, gia cầm tăng không nhiều nhưng sản lượng sản phẩm chăn nuôi đã tăng gấp 3 lần Nhiều sản phẩm chăn nuôi của Bắc Ninh như: thịt gia súc, gia cầm, trứng các loại… không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, mà còn cung cấp một lượng hàng hoá không nhỏ cho thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận

+ Về Công nghiệp, xây dựng;

Trong 10 năm qua nhờ tổ chức hiệu quả Luật Doanh nghiệp, Luật HTX

và các văn bản quy phạm pháp luật về SXKD nên đã tạo cho các hoạt động SXKD nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng có nhiều thay đổi theo hướng tích cực (môi trường thông thoáng hơn, SXKD ngày càng sôi động hơn…) Vì vậy, số lượng của các cơ sở sản xuất công nghiệp cũng như kết quả hoạt động đạt được đã và đang khẳng định vai trò “đầu tầu” trong tăng trưởng kinh tế

Trang 38

Sản phẩm của ngành công nghiệp không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày cao và đa dạng của thị trường trong tỉnh, mà còn tăng khối lượng và chủng loại sản phẩm xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ để tiếp tục đầu tư phát triển Hiện nay, Bắc

Ninh đã có một số sản phẩm công nghiệp có thế mạnh trên thị trường trong nước và xuất khẩu như: đồ gỗ mỹ nghệ, sắt thép, hàng quần áo may sẵn, kính xây dựng… Thương hiệu của sản phẩm sản xuất ra trên quê hương Quan

họ đã có mặt tại các thị trường trong nước và thế giới Một số sản phẩm đã vào được thị trường “khó tính” như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản

+ Về dịch vụ:

Hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh Hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh 10 năm qua có những bước chuyển biến sâu sắc: tăng nhanh về qui mô phù hợp với nhịp độ tăng trưởng nhanh của kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh sau những năm tái lập Đó

là sự chuyển biến tích cực về kết cấu doanh thu các ngành kinh doanh, nhóm mặt hàng và phương thức kinh doanh… nhằm biến đổi phù hợp các nhu cầu của sản xuất và đời sống

Du lịch: Là tỉnh có diện tích nhỏ nhưng Bắc Ninh lại có nhiều tiềm năng

về du lịch Các loại hình du lịch được khai thác trong những năm qua tập trung chủ yếu vào: Du lịch tham quan và nghiên cứu các di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng có từ lâu đời như Văn miếu Đền thờ Kinh Dương Vương, Đền Đô, Chùa Bút Tháp, Chùa Dâu, Chùa Phật Tích…; Du lịch văn hoá Quan họ - một loại

hình văn hoá đang nghề UNESCO xếp vào loại di sản “ “văn hoá phi vật thể”

của thế giới ; Du lịch tham quan các làng nghề truyền thống: Gỗ mỹ nghệ Đồng

Kỵ, Tranh Đông Hồ, Đồ đồng Đại Bái, Gốm Phù Lãng…; Du lịch lễ hội, tín ngưỡng như hội Lim, hội Đền Đôhội Diềm, hội Đồng Kỵ, đền Bà Chúa Kho, chùa Hàm Long… Các loại hình du lịch này được thực hiện đan xen với nhau bằng các tuyến du lịch: Bắc Ninh - Từ Sơn – Hà Nội; Bắc Ninh – Tiên Du - Từ Sơn – Yên Phong; Bắc Ninh - Thuận Thành – Gia Bình; Tour du lịch Sông Cầu

Trang 39

( ngược dòng về Như Nguyệt và xuôi dòng về Gia Bình); Tour du lịch Sông Đuống…

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng hoạt động du lịch vẫn còn phát triển yếu và chưa được quan tâm đầu tư hoàn chỉnh Các điểm đến của mỗi tuyến còn

ít nên không có khả năng kéo dài ngày khách

Cùng với dịch vụ hoạt động của giao thông vận tải tương tối tốt: Trong 10 năm hoạt động, vận tải tăng nhanh cả về cơ sở, Các phương tiện vận tải đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vận chuyển hàng hoá cho sản xuất kinh doanh, vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng

Hệ thống đường giao thông nâng cấp, làm mới, các tuyến xe buýt nội tỉnh, liên tỉnh đi vào hoạt động, các loại dịch vụ vận tải mới (taxi, cho thuê xe) xuất hiện… đã góp phần cải thiện điều kiện đi lại cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận Năm 1997, khối lượng vận chuyển hành khách là 2.117 ngàn người và luân chuyển hành khách là 76.998 ngàn km, năm 2006 khối lượng vận chuyển hành khách đã giảm xuống còn 1.967 ngàn người và khối lượng vận chuyển còn 118.914 ngàn người.km Nguyên nhân là do, lượng khách đi lại quacác bến “đò ngang” giảm mạnh khi hệ thống cầu đường bộ được xây dựng mới đã phát huy tác dụng; Vận chuyển hành khách đường bộ liên tỉnh không hiệu quả nên dần được thay thế bằng các tuyến có cự ly ngắn và nội tỉnh 2006, vận tải hành khách tăng 0,74% về hành khách vận chuyển và tăng 10,71% hành khách luân chuyển

Bưu chính viễn thông: Xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, vì thế

hoạt động bưu chính, viễn thông của Bắc Ninh trong 10 năm qua đã có sự phát triển vượt bậc góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế Từ chỗ mạng lưới bưu chính, viễn thông với thiết bị cũ kỹ lạc hậu, các dịch vụ thông tin nghèo nàn, chất lượng kém của những năm mới tái lập nay được thay thế bởi sự phát triển mạnh cả về chất lượng của mạng lưới cũng như phong cách phục vụ, hiệu quả kinh doanh và trình độ tiếp cận với công nghệ thông tin hiện đại trên thế giới của ngành bưu chính viễn thông Mạng lưới bưu chính đã được thay đổi căn bản

từ hệ analog lạc hậu sang mạng digital (kỹ thuật số) hiện đại Mạng lưới thông tin di động và internet tuy mới xuất hiện những đã phát triển với tốc độ cao

Trang 40

Cùng với đó, ngành bưu chính viễn thông đã mạnh dạn đưa công nghệ mới, dịch vụ chất lượng cao đến với nông dân, mở rộng mô hình điểm bưu điện – văn hoá xã đến tận thôn, xóm góp phần nâng cao dân trí, rút ngắn khoảng cách

về không gian và thời gian giữa thành thị và nông thôn, giữa nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác Hiện tại, toàn tỉnh có 181 điểm bưu điện – nhà văn hoá cơ sở đi vào hoạt động Và có một điểm bưu điện – nhà văn hoá cơ sở

mà có lẽ rất nhiều người biết tới bởi nó đã vinh dự được đón nhà tỷ phú Bill Gates – Chủ tịch tập đoàn Microsoft tới thăm

Chi ngân sách Nhà nước 10 năm qua luôn ở mức trên 10% so với GDP nên đã đảm bảo được các khoảng chi thường xuyên và tăng cường chi cho đầu

tư phát triển Đối với ác khoản chi thường xuyên, chi ngân sách Nhà nước đã chú trọng đến việc nâng cao đời sống cho cán bộ công chức thuộc khu vực hành chính, sự nghiệp Bình quân mỗi năm, chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tăng 20%, y tế tăng 12,73%, văn hoá thông tin tăng 22,1%, phát thanh truyền hình tăng 22,84%, thể dục thể thao tăng 23,16%, chi bảo đảm xã hội tăng 31,1%

và chi quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng tăng 19,22%

Ngân hàng và tín dụng: Trong 10 năm qua, hệ thống ngân hàng và tín dụng luôn là kênh quan trọng trong việc cung ứng vốn để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế Ngoài cho vay thương mại đối với các tổ chức cá nhân, hệ thống ngân hàng còn là nguồn tài chính quan trọng để thực hiện các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, như cho vay đối với hộ nghèo, thực hiện các chương trình về giải quyết việc làm…

Ngày đăng: 01/03/2021, 10:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS Nguyễn Văn Nghiến (2005), Chiến lược doanh nghiệp, Khoa Kinh tế v à quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược doanh nghiệp
Tác giả: TS Nguyễn Văn Nghiến
Năm: 2005
2. Đỗ Văn Phức (2006), Quản lý doanh nghiệp, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý doanh nghiệp
Tác giả: Đỗ Văn Phức
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2006
3. Quản lý kinh tế, NXB Chính trị quốc gia 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý kinh tế
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
4. Đỗ Văn Phức (2005), Tâm lý trong quản lý kinh doanh, NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý trong quản lý kinh doanh
Tác giả: Đỗ Văn Phức
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật HàNội
Năm: 2005
5. Đỗ Văn Phức (2005), Q uản lý nhân lực của doanh nghiệp, NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhân lực của doanh nghiệp
Tác giả: Đỗ Văn Phức
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội
Năm: 2005
6. Phan Ngọc Thuận (2007), Chiến lược kinh doanh và kế hoạch hóa nội bộ doanh nghiệp, NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược kinh doanh và kế hoạch hóa nội bộ doanh nghiệp
Tác giả: Phan Ngọc Thuận
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 2007
7. Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam (2006 ), Chiến lược và sách lược kinh doanh, NXB Lao động – Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và sách lược kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội Hà Nội
Năm: 2006
8. Nguyễn Tấn Phước (1994), Chiến lược và sách lược kinh doanh , NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và sách lược kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Tấn Phước
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
9. Nguyễn Tấn Phước (2003), Thị trường – Chiến lược – Cơ cấu , NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường – Chiến lược – Cơ cấu
Tác giả: Nguyễn Tấn Phước
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
10. Michael E.Porter (1998), Chiến lược cạnh tranh, NXB Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cạnh tranh
Tác giả: Michael E. Porter
Nhà XB: NXB Thống kê Hà Nội
Năm: 1998
12. Chi Cục Đầu tư phát triển Bắc Ninh (1999), Báo cáo tổng kết 3 năm (1997 – 1999) , Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 3 năm (1997 – 1999)
Tác giả: Chi Cục Đầu tư phát triển Bắc Ninh
Nhà XB: Bắc Ninh
Năm: 1999
13. Chi nhánh Quỹ Hỗ trợ phát triển, Báo cáo tổng kết 6 năm (2000 – 2006) , Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 6 năm (2000 – 2006)
Tác giả: Chi nhánh Quỹ Hỗ trợ phát triển
Nhà XB: Bắc Ninh
Năm: 2006
14. Quỹ Hỗ trợ phát triển, Chế độ quản lý vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ quản lý vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
15. Tạp chí Hỗ trợ phát triển(2007), (số 7 -8-9-10-11-12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Hỗ trợ phát triển
Năm: 2007
16. Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán (2007), (số 1, 2,3,4,5,6,7,8,9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w