Chiếu Cần Vương đã nhanh chóng thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong nhân dân tạo thành một phong trào vũ trang chống Pháp sôi nổi, liên tục kéo dài hơn 10 năm mới chấm dứt. Đây là phong trà[r]
Trang 1 Dặn dò:
Học sinh hoàn thành các chỗ trống, điền thông tin vào bảng và chép lại vào vở.
Tài liệu tham khảo:
+ Nội dung bài giảng
+ Sách giáo khoa Lịch sử 8, Bài 26 (trang 125 trang 130)
Trang 2I Cuộc phản công của phái chủ chiến tại kinh thành Huế Vua Hàm Nghi ra ‘‘Chiếu Cần Vương’’.
1 Cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến ở Huế tháng 7/1885
a Hoàn cảnh:
Phía triều đình: Sau điều ước Hác-măng và Pa-tơ-nôt vẫn hi vọng giành lại quyền thống trị từ tay Pháp Họ xây dựng lực lượng, tích trữ , chuẩn bị phản công.
Phía Pháp: Lo sợ, tìm cách tiêu diệt
b Diễn biến: Đêm ngày 4, rạng sáng 5/7/1885, hạ lệnh tấn công quân Pháp ở đồn và tòa
2 Phong trào Cần Vương bùng nổ và lan rộng
Hưởng ứng , phong trào yêu nước chống xâm lược dâng lên sôi nổi, kéo dài đến cuối thế kỷ XIX, được gọi là
b Diễn biến:
GĐ1:1885-1888: Phong trào bùng nổ khắp sôi động nhất là các tỉnh Trung, Bắc Kì
GĐ2:1888-1896: Phong trào quy tụ thành có quy mô và trình độ tổ chức cao hơn.
c Kết quả: Thất bại
d Ý nghĩa: Đây là phong trào kháng chiến , thể hiện truyền thống , khí phách của dân tộc.
BÀI 26: PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TRONG NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỈ XIX
Trang 3II Những cuộc khởi nghĩa lớn trong phong trào Cần Vương
Thời gian
Lãnh đạo
Địa bàn hoạt động
Căn cứ chính
Chiến thuật đánh giặc
Ý nghĩa
Trang 4GV: Lê Thị Minh Học
: minhhoc003@gmail.com : 0969266003
PHÁP TRONG NHỮNG NĂM
CUỐI THẾ KỈ XIX
Trang 5I Cuộc phản công của phái chủ chiến tại kinh thành Huế Vua Hàm Nghi ra ‘‘Chiếu Cần Vương’’.
1 Cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến ở Huế tháng 7/1885
Hai Hiệp ước Hácmăng (1883) và Patơnốt (1884) được ký kết dưới áp lực quân sự của tư bản Pháp đã đánh dấu
sự sụp đổ hoàn toàn của nhà nước phong kiến độc lập Việt Nam và sự đầu hàng của triều Nguyễn trước chủ nghĩa
tư bản Pháp Sau khi vua Tự Đức mất, phái chủ chiến vẫn hi vọng giành lại quyền thống trị từ tay Pháp Họ gấp rút chấn chỉnh quân đội, đào hào đắp lũy ngay trong kinh thành Huế; xây dựng lực lượng, tích trữ lương thực, vũ khí chuẩn bị phản công.
Ngọ Môn - lối vào cung vua ở Huế
ẢNH: CHARLES-ÉDOUARD HOCQUARD
Trang 6Đêm ngày mùng 4, rạng sáng 5/7/1885, Tôn Thất Thuyết lệnh tấn công quân Pháp ở tòa Khâm sứ và đồn Mang Cá Quân Pháp bị bất ngờ nhưng vẫn thủ thế, khi mặt trời mọc, quân Pháp phản công Cuộc phản công của nhà Nguyễn thất bại và thiệt hại nặng
nề, mọi vũ khí, lương thực, quốc khố nhà Nguyễn bị quân Pháp nắm giữ
HOÀNG THÀNH
Tòa Khâm Sứ
Đồn Mang Cá
Chân dung Tôn Thất Thuyết, là một trong
ba Phụ chánh đại thần, đồng thời giữ
chức Thượng thư Bộ binh nắm trong tay
mọi binh quyền, ráo riết liên kết xây dựng
lực lượng tấn công quân thù.
Trang 72 Phong trào Cần Vương bùng nổ và lan rộng
a Nguyên nhân bùng nổ phong trào Cần Vương Kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết phải đưa vua Hàm Nghi ra khỏi Hoàng thành, rồi chạy ra Sơn Phòng, Tân Sở (Quảng Trị) Ngày 13/7/1885, Tôn Thất Thuyết lấy danh vua Hàm Nghi xuống Chiếu Cần Vương, kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân cả nước đứng lên vì vua mà kháng chiến
Mô phỏng Thành Tân Sở thời chiến
Tân Sở
Huế
Trang 8b Diễn biến: Giai đoạn 1:
1885 - 1888
Tân Sở-Quảng Trị
13/7/1885 PHẢN CÔNG KINH THÀNH HUẾ -5/7/1885
Ấu Sơn-Hà Tĩnh
20/9/1885
Thuyết, văn thân, sĩ phu Địa bàn hoạt
Lực lượng tham gia
Đông đảo quần chúng nhân dân
bắt
Đặc điểm phát triển theo chiều rộng
Trang 9KN BA ĐÌNH
KN BÃI SẬY
KN HƯƠNG KHÊ
b Diễn biến: Giai đoạn 2:
1888 - 1896
Địa bàn hoạt
Lực lượng tham gia
Đông đảo quần chúng nhân dân
Đặc điểm phát triển theo chiều sâu
Trang 10Chân dung được phục dựng của
Hoàng đế Hàm Nghi
CHIẾU CẦN VƯƠNG
Ý nghĩa:
Chiếu Cần Vương đã nhanh chóng thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong nhân dân tạo thành một phong trào vũ trang chống Pháp sôi nổi, liên tục kéo dài hơn 10 năm mới chấm dứt Đây là phong trào kháng chiến lớn mạnh, thể hiện truyền thống yêu nước, khí phách anh hùng của dân tộc
Trang 11II NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA LỚN TRONG PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG
1 Khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887)
- Lãnh đạo: Phạm Bành, Đinh Công Tráng
- Địa bàn hoạt động: Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê (Nga Sơn -Thanh Hóa)
- Chiến thuật đánh giặc: Phòng thủ
- Lực lượng: Người Kinh, người Thái, người Mường
- Diễn biến: Cuộc chiến đấu quyết liệt từ tháng 12-1886 đến 1-1887
- Ý nghĩa: Tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân Thanh Hóa
Sơ đồ công sự phòng thủ của
căn cứ Ba Đình.
Trang 12Căn cứ Ba Đình đã được xếp hạng di tích Lịch sử.
Các nghĩa quân của cuộc khởi nghĩa Ba Đình
bị Pháp bắt.
Nơi đây trước kia là căn cứ tiền tiêu Ba Đình.
“Lệnh cho dân chúng
chặt tre Chẻ nan đan sọt, nhặt về
cho nhanh Kéo quân đến đóng Ba
Đình Đào hào, đắp ụ, can thành
tứ vi”
Trang 13- Lãnh đạo: Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926)
- Địa bàn hoạt động: Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu, Yên
Mỹ (Hưng Yên)
- Chiến thuật đánh giặc: Du kích
- Diễn biến: (SGK)
- Ý nghĩa: Tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân Bắc Kì
2 Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892)
Trang 143 Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896)
- Lãnh đạo: Phan Đình Phùng, Cao Thắng
- Địa bàn hoạt động: 4 tỉnh Thanh Hóa, nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình
- Căn cứ chính: Ngàn Trươi (Hương Khê- Hà Tĩnh)
- Chiến thuật đánh giặc: Du kích, vận động chiến
- Diễn biến:
+ 1885-1888: thời kỳ tổ chức, huấn luyện, xây dựng công sự, rèn đúc vũ khí.
+ 1888-1895: thời kỳ chiến đấu.
- Ý nghĩa: Là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào Cần vương.
Trang 15Bài thơ tuyệt mệnh của của Phan Đình
Phùng
“Nhung trường vâng mệnh đã mười đông
Vũ lược còn chưa lập được công
Dân đói kêu trời, xao xác nhạn,
Quân gian chật đất, rộn ràng ong
Chín lần xa giá non sông cách
Bốn bể nhân dân nước lửa hồng
Trách nhiệm càng cao càng nặng gánh
Tướng môn riêng thẹn mặt anh hùng” Bản dịch của Trần Huy Liệu
Thơ văn yêu nước thế kỷ XIX