Sau khi liên quân Anh - Pháp đánh xong Quảng Châu (ngày 5/1/1858) và dùng áp lực quân sự buộc triều đình phong kiến Trung Quốc ký Hiệp ước Thiên Tân (ngày 27/6/1858), Chính phủ Pháp điều[r]
Trang 1GV: Lê Thị Minh Học
: minhhoc003@gmail.com : 0969266003
Học sinh hoàn thành các chỗ
trống và bài tập vào tập ghi.
Tài liệu tham khảo:
+ Nội dung bài giảng
+ Sách giáo khoa Lịch sử 11, Bài 19
(tr.106 –tr.115)
Trang 2I LIÊN QUÂN PHÁP – TBN XÂM LƯỢC VIỆT NAM CHIẾN SỰ Ở ĐÀ NẴNG 1858
1 Tình hình Việt Nam đến giữa thế kỉ XIX (trước khi thực dân Pháp xâm lược)
Chế độ phong kiến Việt Nam ,
- Nông nghiệp , công thương nghiệp bị
- Quân sự
- Chính sách đối ngoại sai lầm, nhất là việc “ ”
- Mâu thuẫn xã hội gay gắt, các cuộc khởi nghĩa chống nổ ra liên tiếp làm rạn nứt ,gây cho sự nghiệp kháng chiến sau này
2 Thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược Việt Nam (Sgk)
3 Chiến sự ở Đà Nẵng năm 1858
- 31/8/1858, liên quân đến cửa biển Đà Nẵng
- 1/9/1858: chúng đổ bộ lên , mở đầu cuộc xâm lược
- Quân dân ta , thực hiện “ ”, gây cho địch
Địch bị cầm chân suốt 5 tháng Âm mưu “ ” của chúng bước đầu bị thất bại
Bài 19 - NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC (TỪ NĂM 1858 ĐẾN TRƯỚC NĂM 1873)
Trang 3II CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP Ở GIA ĐỊNH VÀ CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM KÌ TỪ 1859 ĐẾN 1862
1 Kháng chiến ở Gia Định
- 2/1859, Pháp quyết định đánh
- 17/2/1859: Pháp chiếm được thành
- Trong khi quân đội tan rã nhanh chóng, các đội vẫn chiến đấu rất dũng cảm
Pháp buộc phải chuyển sang kế hoạch “ ”
2 Kháng chiến lan rộng ra các tỉnh miền Đông Nam Kì Hiệp ước 5/6/1862
- Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc chiến ở , Pháp tiếp tục mở rộng nước ta: chiếm đồn (1861),
(1861), (1861), (1862)
- Trong khi triều đình vẫn do dự thì càng phát triển mạnh hơn:
+ Nghĩa quân của , , lập nhiều chiến công
+ đã đánh chìm tàu Pháp trên sông Vàm Cỏ
5/6/1862, triều đình kí với Pháp , cắt 3 tỉnh cho Pháp và ra lệnh nghĩa binhchống Pháp Pháp thuận lợi hơn trong việc đánh chiếm nước ta
Trang 4III Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam kì sau Hiệp ước 1862
1 Nhân dân ba tỉnh miền Đông tiếp tục kháng chiến sau hiệp ước 1862
- Trong khi chủ trương nghị hòa với Pháp, thì vẫn quyết tâm kháng chiến, tiêu biểu là khởi nghĩa
- Các cuộc kháng chiến cả và đầu hàng
2 Thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì
- Sau khi chiếm xong Campuchia và lợi dụng sự bạc nhược của , ngày 20/6/1867, quân Pháp kéo đếntrước thành
- Trong vòng 5 ngày (Từ 20 – 24/6/1867) thực dân Pháp đã chiếm gọn ba tỉnh miền Tây Nam Kì ( , ,
3 Nhân dân ba tỉnh miền Tây chống Pháp
- Triều đình hoang mang nhưng phong trào kháng chiến trong nhân dân dâng cao, tiêu biểu là khởi nghĩa
* Nhận xét: Mặc dù các phong trào đều bị đàn áp và , do , , nhưng
đã thể hiện nồng nàn, của nhân dân ta
Trang 5CÂU HỎI: Làm các câu hỏi trong sách giáo khoa.
1 Lý do thực dân Pháp đẩy mạnh xâm lược nước ta? Tình thế nước ta lúc đó như thế nào?
2 Vì sao Pháp chọn Đà Nẵng làm mục tiêu tấn công đầu tiên?
3 Triều đình kí hòa ước 1862 trong hoàn cảnh như thế nào? Lí do triều đình muốn kí hòa ước 1862? Lí doPháp muốn kí hòa ước 1862?
4 Sau Hiệp ước Nhâm Tuất 1862, phong trào kháng chiến của nhân dân ta ở Nam Kì có điểm gì mới Vì sao?
5 Nhận xét về tinh thần chống Pháp của triều đình nhà Nguyễn và của nhân dân ta trước và sau Hiệp ước1862
Trang 6Bài 19 - NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC (TỪ NĂM 1858 ĐẾN TRƯỚC NĂM 1873)
I LIÊN QUÂN PHÁP – TÂY BAN NHA XÂM LƯỢC VIỆT
NAM CHIẾN SỰ Ở ĐÀ NẴNG 1858
II CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP Ở GIA ĐỊNH
VÀ CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM KÌ TỪ 1859 ĐẾN 1862
III CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN NAM KÌ
SAU HIỆP ƯỚC 1862
Trang 71 Tình hình Việt Nam đến giữa thế kỉ XIX (trước khi thực dân Pháp xâm lược)
Việt Nam vẫn là một quốc
Nạn mất mùa, đói kém xảy ra
liên miên.
Công thương nghiệp: Nhà nước thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” khiến nước ta
bị cô lập với thế giới bên ngoài
Được tổ chức như thời Gia Long, Minh Mạng
Tuy nhiên chưa bắt kịp với trình độ của phương Tây Trang bị hết sức tồi tàn và lạc hậu, vũ khí cũ, hiệu năng chiến đấu kém Khả năng tổ chức
và chiến đấu yếu kém
Hiện tượng dân lưu tán trở nên phổ biến Nông dân đứng lên khởi nghĩa, chống triều đình ở khắp nơi Tiêu biểu: Cao Bá Quát, Lê Duy Lương, Lê Văn Khôi, Nông Văn
Vân …
I LIÊN QUÂN PHÁP – TÂY BAN NHA XÂM LƯỢC VIỆT NAM CHIẾN SỰ Ở ĐÀ NẴNG 1858
Trang 8Lính nhà Nguyễn năm 1845
Kỵ binh nhà Nguyễn Tượng binh nhà Nguyễn
Thủy binh thời vua Tự Đức nhà Nguyễn
Trang 92 Thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược Việt Nam
Nguyên nhân thực dân pháp xâm lược Việt Nam?
Nguyên nhân thực dân pháp xâm lược Việt Nam?
Nguyên nhân thực dân pháp xâm lược Việt Nam?
Nguyên nhân thực dân Pháp xâm lược Việt Nam
Trong những năm 50 của thế kỉ XIX kinh tế của tư bản Pháp phát triển cần nguyên liệu, thị trường càng thúc đẩy Napoléon III tăng cường xâm lược các nước phương Đông Pháp dòm ngó Việt Nam từ lâu, liên tục do
có quan hệ mật thiết với triều đình Huế nên hiểu rõ tình hình VN
Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng, nhiều tài nguyên, chế độ phong kiến Việt Nam đang bị khủng hoảng trầm trọng về chính trị, kinh tế, xã hội…
Chính sách “cấm đạo” và “giết đạo” của triều đình nhà Nguyễn chính là duyên cớ để Pháp – Tây Ban Nha liên quân với nhau trong việc xâm lược Việt Nam.
Trang 10Những hành động nào chứng tỏ thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược Việt
Nam?
Năm 1855, vua Pháp Napoléon III cử sứ thần De Montigny đến Huế
với ba chiến thuyền, đòi được "tự do truyền đạo, tự do buôn bán" và
tàu Catina (Catinat) do viên thuyền trưởng, trung tá Lelieur chỉ huy,
cập bến Đà Nẵng ngày 17/9/1856, đã giễu võ giương oai bằng cách nổ
súng bắn phá các pháo đài trấn phòng cửa biển Đà Nẵng.
Qua hai trận tấn công thăm dò và thử lực lượng phòng thủ của triều
đình Huế bố trí tại Đà Nẵng: trận thứ nhất vào ngày 15/4/1847 và trận
thứ hai vào ngày 26/9/1857, Pháp quyết định đánh chiếm Việt Nam,
mà Đà Nẵng được chọn làm khởi điểm
Đầu năm 1857, Napoléon III cho thành lập một Ủy ban nghiên cứu
các vấn đề Việt Nam
Sau khi liên quân Anh - Pháp đánh xong Quảng Châu (ngày 5/1/1858)
và dùng áp lực quân sự buộc triều đình phong kiến Trung Quốc ký
Hiệp ước Thiên Tân (ngày 27/6/1858), Chính phủ Pháp điều động
thiếu tướng hải quân Ri-gôn Đờ Giơ-nuy-in (Rigault De Genouilly)
sang xâm lược Việt Nam
Trang 11Trông chờ vào sự ủng hộ của giáo dân vùng này
mà bọn gián điệp đội lốt giáo sĩ hoạt động trong đất liền đã báo cáo là khá mạnh
Với việc chiếm được hải cảng này, quân Pháp sẽ tiến ra Huế, dự định đánh chiếm kinh đô một cách dễ dàng, nhanh chóng, ít hao tốn tiền của và nhân lực nhất
Pháp và Tây Ban Nha liên minh quân sự với nhau vì trong số các giáo sĩ nước ngoài bị triều đình Huế giam giữ, giết hại hồi đó có một số người Tây Ban Nha
3 Chiến sự ở Đà Nẵng năm 1858
a Lý do chọn Đà Nẵng
Trang 12b Diễn biến
Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân dân thực hiện “vườn không nhà trống” anh dũng chống trả làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của địch.
Chúng cho tàu chiến bắn đại bác lên các
đồn Điện Hải, An Hải của triều đình suốt
trong ngày hôm đó Tiếp theo, chúng
cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà.
Sau 5 tháng chỉ chiếm được bán đảo Sơn
Trà, Pháp kéo quân vào Gia ĐỊnh.
Trang 13Tranh minh họa trận Đà Nẵng năm 1858 Bản đồ Đà Nẵng xưa tìm được trong nhà một ông
quan võ người Việt vào ngày 15/9/1859.
Trang 14II CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP Ở GIA ĐỊNH VÀ CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM KÌ TỪ 1859 ĐẾN 1862
- Quân đội triều đình tan rã nhanh
chóng, các đội dân binh chiến
đấu rất dũng cảm.
Pháp buộc phải chuyển sang
đánh lâu dài, thực hiện kế hoạch
“chinh phục từng gói nhỏ”.
Trang 15Các đội dân binh lại chiến đấu dũng cảm, đêm ngày phục kích, giết giặc
Trang 162.Kháng chiến lan rộng
ra các tỉnh miền Đông Nam Kì Hiệp ước 5/6/1862
- Phía Pháp: Sau khi buộc nhà Thanh kí Điều ước Bắc Kinh (25/10/1860) Pháp rảnh tay hơn trong
“vấn đề Nam Kì”.
Mục tiêu của Pháp trước hết nhằm vào Đại đồn Chí Hòa.
II CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP Ở GIA ĐỊNH VÀ CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM KÌ TỪ 1859 ĐẾN 1862
Trang 17Đại đồn Chí Hòa: do Nguyễn Tri Phương chỉ huy vừa hoàn thành việc xây dựng Thành dài 3 km, ngang 1 km, xây bằng gạch đá ong và đất sét rất kiên cố, cao 3,5m, dày 2m, có nhiều
lỗ châu mai
Đại đồn Chí Hòa
Bản đồ Sài Gòn và phòng tuyến Chí Hòa cùng với diễn tiến các cuộc tấn công trong ngày 24 và
25 tháng 2 năm 1861
Trang 18Trận chiến diễn ra trong hai ngày 24 và 25/2/1861 Quân ta bại trận, gần 10.000 người chết và bị thương, chưa kể khí tài, tiền của và mất mát vô cùng lớn lao
Tướng Charner, người tấn công đại đồn Chí Hòa
Bốn ngôi chùa bị quân Pháp chiếm làm đồn lính (màu vàng) nhằm tạo thành "chiến tuyến các
ngôi chùa" (lignes des pagodes) để chuẩn bị tấn công Đại đồn Chí Hòa (màu cam).
Trang 19Trong khi triều đình còn chưa hết bàng hoàng, lục đục luận tội trong việc để mất Đại đồn Chí Hòa thì Pháp đã thừa thắng đem quân đánh chiếm luôn 3 tỉnh Nam Kì: Định Tường (12/4/1861), Biên Hoà (18/12/1861), Vĩnh Long (23/3/1862).
Thực hiện và bắn mặt Biên Hòa ngày 18 tháng 12 năm 1861 (L'Illustration, 1862)
Trang 20- Về phía nhân dân:
Các toán nghĩa quân của Trương Định, Trần Thiện Chính, Lê Huy…chiến đấu rất anh dũng, lập nhiều chiến công.
Ngày 10/12/1861: Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu Espérance (Hi vọng) trên sông Nhật Tảo, động viên tinh thần kháng chiến của nhân dân.
“Bao giờ người Tây nhỏ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”
- Nguyễn Trung Trực
Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu chiến Pháp ngay
trên sông Vàm Cỏ Đông
Trang 21- Về phía triều đình Huế: Trong khi phong trào kháng chiến của nhân dân dâng cao thì ngày 5/6/1862, triều đình kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất gồm 12 điều khoản, với nhiều quyền lợi dành cho Pháp
Minh họa buổi ký Hiệp ước Nhâm Tuất 1862, triều đình nhà Nguyễn nhượng bộ kẻ thù
Trang 22Hiệp ước Nhâm Tuất 5-6-1862
Hiệp ước có 12 điều khoản, trong đó có những nội dung cơ bản như:
- Về lãnh thổ: Huế thừa nhận quyền cai quản của Pháp ở ba tỉnh miền Đông Nam Kì (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và đảo Côn Lôn Thành Vĩnh Long sẽ được trả lại cho triều đình Huế khi nào triều đình chấm dứt được các hoạt động chống Pháp ở ba tỉnh miền Đông;
- Về chiến phí: Bồi thường 20 triệu quan (ước tính bằng 288 vạn lạng bạc);
- Về thông thương: Triều đình phải mở 3 cửa biển: Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho thương nhân Pháp và Tây Ban Nha vào tự do buôn bán;
- Về truyền giáo: cho phép người Pháp và Tây Ban Nha tự do truyền đạo Gia Tô và bãi bỏ lệnh cấm đạo.
Trang 23Các cuộc kháng chiến bắt đầu đánh cả Pháp
và phong kiến đầu hàng, tiêu biểu là khởi nghĩa của Trương Định ở vùng Gò Công (Tiền Giang)
III CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN NAM KÌ SAU HIỆP ƯỚC 1862
1 Nhân dân ba tỉnh miền Đông tiếp tục kháng chiến sau hiệp ước 1862
Tranh “Nhân dân Gò Công suy tôn Trương Công Định làm Bình Tây Đại Nguyên Soái”
(tranh trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trang 242 Thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì
Âm mưu của Pháp: Sau khi
đã chiếm được 3 tỉnh miền Đông, Pháp ngay lập tức tiến hành việc tổ chức bộ máy cai trị và chuẩn bị mở rộng chiếm đóng nước ta
Âm mưu của chúng là thôn tính 3 tỉnh miền Tây Nam Kì.
Duyên cớ: Thực dân Pháp lấy cớ triều đình ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Kì, không tuân theo Hiệp ước Nhâm Tuất nên cho quân uy hiếp 3 tỉnh miền Tây Nam Kì.
Trang 25- Hành động của Pháp: ngày 20/6/1867: Pháp dàn quân trước thành Vĩnh Long Trong vòng 5 ngày (Từ 20 – 24/6/1867) thực dân Pháp đã chiếm gọn ba tỉnh miền Tây Nam Kì (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) mà không tốn một viên đạn.
Phan Thanh Giản, người đã tuẫn tiết sau
khi thành Vĩnh Long thất thủ lần hai Nhà bia và cây da Cửa Hữu thành Long Hồ (tức thành Vĩnh Long)
Trang 263 Nhân dân ba tỉnh miền Tây chống Pháp
- Triều đình hoang mang, nhưng phong trào kháng chiến trong nhân dân vẫn tiếp tục dâng cao, tiêu biểu là phong trào tị địa của các văn thân sĩ phu, khởi nghĩa của Trương Quyền, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, …
- Phong trào bị đàn áp và thất bại, do tương quan lực lượng chênh lệch, vũ khí thô sơ, nhưng đã thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân ta.