1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp tác xã nông nghiệp huyện chợ mới giai đoạn 2006 2010 thực trạng và giải pháp

59 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 686,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐBSCL : Đồng Bằng Sông Cửu Long CN.QSD : Chứng nhận quyền sử dụng đất CSXH : Chính sách xã hội HTX : Hợp tác xã HTX.NN : Hợp tác xã nông nghiệp NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

VÕ THÀNH PHƯỚC LỚP DH8CT

HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

VÕ THÀNH PHƯỚC LỚP DH8CT

HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA HỌC: 2007 – 2011

AN GIANG, T5/2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

-

Có được khóa luận như ngày nay, trước hết em xin chân thành cảm ơn:

Quí thầy cô trường Đại Học An Giang, nhất là quý thầy, cô khoa Lý Luận Chính Trị đã giúp đỡ em trong suốt thời gian học tại trường

Thầy Trần Văn Hùng đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Cán bộ phòng nông nghiệp huyện Chợ Mới, cùng các cô, chú trong ban quản lý, ban kiểm soát của các hợp tác xã nông nghiệp đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình khảo sát, phỏng vấn, trao đổi thông tin, thu thập số liệu và những kiến thức thực tiễn

Cảm ơn những bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Long Xuyên, ngày 14 tháng 5 năm 2011

Sinh viên thực hiện

VÕ THÀNH PHƯỚC

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG I SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 4

1.1Một số quan điểm về HTX nông nghiệp 4

1.2Quan điểm của Hồ Chí Minh về HTX nông nghiệp 8

1.3 Quan điểm của Đảng ta, tỉnh An Giang và huyện Chợ Mới về HTX nông nghiệp 10

1.3.1 Quan điểm của Đảng ta về HTX nông nghiệp 10

1.3.2 Quan điểm của tỉnh An Giang về phát triển kinh tế HTX nông nghiệp 11

1.3.3 Quan điểm của huyện Chợ Mới về kinh tế HTX nông nghiệp 15

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI 17

2.1 TÌM NĂNG THIÊN NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CHO VIỆC PHÁT TRIỂN HTX NN HUYỆN CHỢ MỚI 17

2.1.1Tiềm năng thiên nhiên 17

2.1.2Kinh tế - Xã hội 18

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI 21

2.2.1 Khái quát thực trạng về HTX.NN ở Chợ Mới 21

2.2.1.1 Điều kiện thành lập của các hợp tác xã ở Huyện Chợ Mới 21

2.2.1.2 Bộ máy quản lý HTX 26

2.2.1.3 Nguồn vốn hoạt động của HTX 28

2.2.1.4 Qui mô và nội dung hoạt động 31

2.2.1.5 Hiệu quả hoạt động 33

2.2.2 Những nhận xét đánh giá về thực trạng phát triển HTX.NN Huyện Chợ Mới 34

2.2.2.1 Thành tựu đạt được và nguyên nhân 34

2.2.2.2 Những mặt còn tồn tại, hạn chế 36

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HTX.NN HUYỆN CHỢ MỚI ĐẾN NĂM 2015 38

3.1 Phương hướng phát triển HTX NN .38

3.2 Những giải pháp phát triển HTX NN huyện Chợ Mới 38

Trang 5

3.2.3 Tạo môi trường kinh tế thuận lợi cho sự phát triển HTX NN 43

PHẦN KẾT LUẬN 48

Trang 6

ĐBSCL : Đồng Bằng Sông Cửu Long

CN.QSD : Chứng nhận quyền sử dụng đất CSXH : Chính sách xã hội

HTX : Hợp tác xã HTX.NN : Hợp tác xã nông nghiệp

NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NN & PTKD : Nông nghiệp và phát triển kinh doanh UBND : Ủy Ban nhân dân

BQT : Ban quản trị CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa XHCN : Xã hội chủ nghĩa

DANH MỤC BẢNG

Trang Bảng1.1 Số lượng xã viên có đất và không có đất ở các HTX.NN

Trang 7

[1] Phạm Ngọc Anh (1996), “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và tổ chức HTX NN ở Việt Nam”, Lịch sử Đảng

[2].Nguyễn Khánh Bật(2001) Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

[3] Đảng Cộng Sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội

[4] Đảng Cộng Sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội

[5] Đảng Cộng Sản Việt Nam (1992), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội

[6] Đảng Cộng Sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Sự thật, Hà Nội

[7] Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Sự thật, Hà Nội

[8] Sở NN & PTNT An Giang Ngày 9/8/2005 Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX "về tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể" của tỉnh An Giang

[9] Phòng NN & PTNT huyện Chợ Mới Tháng 6/2005 Báo cáo sơ kết tình hình hoạt động HTX.NN huyện Chợ Mới từ 31/12/2004 đến 30/6/2005 Chợ Mới

[10] Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang 2005 Báo cáo sơ kết thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ (1990 – 2004) Tỉnh An Giang

[11] PGS.PTS Vũ Trọng Khải 1997 Tài liệu huấn luật hợp tác xã và các nghị định của chính phủ qui định việc thi hành trong nông nghiệp TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản nông nghiệp

[12] PGS.TS Vũ Trọng Khải 2002 Hai mô hình kinh tế và sự đổi mới kinh tế qua thực tiễn phát triển nông nghiệp ở Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị quốc gia

[13] GS Lê Xuân Tùng, GS Lê Văn Sùng 1999 Chế độ kinh tế hợp tác xã, những vấn đề lý luận và giải pháp thực tiễn Nhà xuất bản chính trị quốc gia [14] PGS.PTS Vũ Trọng Khải Tháng 3 năm 2004 Bài giới thiệu Nghị định

về "Điều lệ mẫu hợp tác xã nông nghiệp"

[15] GS.TS Lê Xuân Quí, GS.PTS Nguyễn Thế Nhã 1999 Đổi mới tổ chức

và quản lý các hợp tác xã trong nông nghiệp và nông thôn Nhà xuất bản nông nghiệp

Trang 8

[17] TS Đặng Phong Vũ, Kết quả và giải pháp thực hiện đề án phát triển hợp tác xã nông nghiệp của UBND tỉnh An Giang trên địa bàn huyện Tân Châu giai đoạn 2004 – 2005, tháng 02/2004

[18] Luật hợp tác xã năm 2003 (2005), Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia Hà Nội

[19] Bộ NN & PTNT 2003 Một số chủ trương chính sách mới về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản Nhà xuất bản Đà Nẵng

[20] GS.TS Võ Tòng Xuân 2005 Để nông dân giàu lên Nhà xuất bản trẻ, thời báo kinh tế sài gòn

[21] Ban chấp hành Trung ương Tháng 8/2005 Báo cáo sơ kết ba năm thực hiện Nghị quyết TW 5 (Khóa IX) về kinh tế tập thể trong nông nghiệp Hà Nội

[22] Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang 2005 Báo tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội năm 2005 và kế hoạch năm 2006

[23] Ủy ban nhân dân Huyện Chợ Mới 2005 báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2005 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006

[24] Sở NN & PTNT An Giang Tháng 12/2005 Báo cáo kết quả thực hiện đề

án phát triển hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp giai đoạn 2001 - 2005 và

kế hoạch phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2006 - 2010 Tỉnh An Giang

[25] Sở NN & PTNT An Giang Tháng 10/2005 Báo cáo tình hình tiếp nhận sinh viên Đại học An Giang về công tác tại Hợp tác xã

Website: http//www.angiang.gov.vn

Website: http//www.sonongnghiep.angiang.gov.vn

Trang 9

và phát triển kinh tế hợp tác xã Hòa cùng xu hướng ngày một gia tăng số lượng hợp tác xã trong cả nước và toàn tỉnh An Giang thì ở huyện Chợ Mới số hợp tác

xã mới được thành lập cũng ngày được tăng lên , nhiều hợp tác xã chủ động tiếp cận được với nguồn vốn, công nghệ, lao động, thông tin thị trường làm ăn ngày càng có hiệu quả hơn

Sự phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp huyện Chợ Mới tuy đã có những chuyển biến tích cực, nhưng nhìn chung trong giai đoạn 2006 – 2010 vẫn còn chậm và chưa đồng đều, hợp tác xã nông nghiệp trung bình, yếu kém còn chiếm tỉ lệ lớn

Để vực dậy nhằm pháp huy những ưu điểm, lợi thế và khắc phục những hạn chế còn tồn tại của hợp tác xã nông nghiệp huyện Chợ Mới cần thiết phải khảo sát thực trạng hoạt động qua từng thời kỳ mà đặc biệt là giai đoạn 2006 –

2010 Từ chỗ nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề phát triển các hợp tác xã trong kinh tế nông thôn nói riêng và trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa nói chung, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là: “Hơp tác xã nông nghiệp huyện Chợ Mới, giai đoạn 2006 – 2010 Thực trạng và giải pháp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hợp tác xã nông nghiệp là đề tài khoa học đã được rất nhiều nhà khoa học, nhiều sinh viên thuộc nhiều trường đại học quan tâm nghiên cứu và đã mang lại nhiều kết quả nhất định Trong đó có thể tham khảo một số các đề tài sau đây:

- Đề tài khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu mô hình kinh tế hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Chợ Mới – An Giang”, của Nguyễn Thị Mai Hiên – DH2CT

Trang 10

- Đề tài khóa luận tốt nghiệp “Hợp tác xã nông nghiệp huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, thực trạng và giải pháp.” Của Trần Thị Cúc – DH3CT

- Đề tài nghiên cứu khoa học “ Thực trạng và giải pháp phát triển hợp tác

xã nông nghiệp ở An Giang” của Tô Thiện Hiền, năm 2001

Các công trình nghiên cứu đã tìm hiểu thực trạng và đã đề ra những giải pháp phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp ở nhiều giai đoạn khác nhau với nhiều giải pháp khác nhau Nhưng mỗi giai đoạn là một quá trình phát triển khác cho nên những giải pháp trước đây đôi khi không phù hợp với xu hướng phát triển của thực tiễn xã hội hiện tại Mặc khác, các công trình nghiên cứu trước đây vẫn chưa đi sâu nghiên cứu cho nên chưa đề ra những phương hướng mang tính chiến lược nhằm đẩy mạnh nền kinh tế hợp tác xã nông nghiệp huyện Chợ Mới phát triển Cho nên, với luận văn này có thể đóng góp một phần cơ sở lý luận thực tiễn vào quá trình phát triển hợp tác xã nông nghiệp huyện Chợ Mới trong thời gian sắp tới

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Các hợp tác xã nông nghiệp của huyện Chợ Mới

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp của huyện Chợ Mới Trong giai đoạn 2006 – 2010

5 Phương pháp nghiên cứu:

Dùng phương pháp biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử cùng với các phương pháp nghiên cứu phối hợp như:

- Nghiên cứu lý thuyết kết hợp với nghiên cứu thực tiễn có đối chiếu so sánh

Trang 11

- Thống kê và tiếp thu kế thừa các kết quả đã có

- Phân tích, đánh giá, tổng hợp các kết quả nghiên cứu

6 Đóng góp và ý nghĩa của đề tài

Nếu đề tài được nghiệm thu sẽ trở thành lý luận khoa học, là tài liệu tham khảo cho Đảng ủy, Ủy Ban Nhân Dân huyện Chợ Mới hoạch định những chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung và hợp tác xã nông nghiệp nói riêng của huyện

Đó còn là tài liệu tham khảo cho các thầy, cô khoa Lý Luận Chính Trị góp phần cho công tác giảng dạy tốt hơn, là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên các khóa tiếp theo

7 Kết cấu đề tài:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, kết cấu khóa luận gồm có 3 chương

CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1.1 Một số quan điểm về HTX nông nghiệp

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về HTX nông nghiệp

1.3 Quan điểm của Đảng ta, tỉnh An Giang và huyện Chợ Mới về HTX nông nghiệp

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI

2.1 TÌM NĂNG THIÊN NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CHO VIỆC PHÁT TRIỂN HTX NN HUYỆN CHỢ MỚI

2.1.1Tiềm năng thiên nhiên

2.1.2 Kinh tế - Xã hội

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI

2.2.1 Khái quát thực trạng về HTX.NN ở Chợ Mới

2.2.2 Những nhận xét đánh giá về thực trạng phát triển HTX.NN Huyện Chợ Mới

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HTX.NN HUYỆN CHỢ MỚI ĐẾN NĂM 2015

3.1 Phương hướng phát triển HTX NN

3.2 Những giải pháp phát triển HTX NN huyện Chợ Mới

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1.1 Một số quan điểm về HTX nông nghiệp

Lịch sử ra đời và phát triển của phong trào HTX Quốc Tế cho thấy, kinh

tế hợp tác và HTX là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa Sản xuất hàng hóa càng phát triển, cạnh tranh ngày càng gay gắt, thì những người lao động riêng

lẻ, các hộ sản xuất cá thể, các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng có yêu cầu liên kết, hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường Phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã là một biện pháp để giải quyết mâu thuẫn của sự phát triển

từ sản xuất nhỏ, manh mún, hiệu quả thấp lên sản xuất hàng hóa lớn Có thể nói với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, kinh tế tập thể là thành phần kinh tế bao gồm những cơ sở kinh tế do người lao động tự nguyện gốp vốn, cùng kinh doanh

tự quản lý theo nguyên tắc tập trung, bình đẳng cùng có lợi

Kinh tế tập thể dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi giữa những người lao động với nhau Cho nên, “ Việc mở rộng các hình thức kinh tế hỗn hợp, liên kết liên doanh giữa HTX với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Nhà nước giúp HTX đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và quản lý, mở rộng thị trường, ứng dụng công nghệ mới, phát triển vốn tập thể.”( Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr191)

Khi nghiên cứu về phương thức sản xuất TBCN, C Mác đã khẳng định:

“Dù sao thì điều chủ yếu cũng phải làm cho nông dân hiểu rằng chúng ta chỉ có thể cứu vãn và bảo tồn được tài sản của họ bằng cách biến tài sản đó thành tài sản hợp tác xã và thành những doanh nghiệp hợp tác xã Bởi vì chính nền kinh tế cá thể, kết quả của sở hữu tư nhân, mới làm cho nông dân bị diệt vong Nếu họ muốn bảo tồn nền kinh tế cá thể, thì tất yếu họ sẽ bị đuổi ra khỏi cơ nghiệp của họ, còn phương thức sản xuất lỗi thời của họ sẽ nhường chỗ cho nền kinh tế TBCN quy mô lớn…” (C.Mác – F.Ăngghen toàn tập, tập 22, NXB CTQG

sự thật HN – 2005, trang 738) Chính vì thế ông cho rằng nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu nông, trước hết phải hướng nền kinh tế cá thể và sở hữu của họ vào

Trang 13

con đường kinh doanh hợp tác, không phải bằng bạo lực, mà bằng tấm gương và bằng sự giúp đỡ của xã hội

Trên cơ sở kế thừa lập trường tư tưởng của C.Mác, căn cứ vào tình hình cụ thể nước Nga thời bấy giờ, trong chính sách kinh tế mới, khi đưa ra chính sách kinh tế mới, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Lối làm ăn xưa, người nông dân làm việc ở nhà mình, trên mảnh đất nhỏ bé của mình, với gia súc, gà vịt của mình, …lối làm ăn

đó, chúng ta đã thấy bao nhiêu năm, hàng bao nhiêu thế kỷ rồi Dù ở Nga hay ở nơi nào khác, chúng ta đều biết rất rõ rằng cách làm đó chỉ đưa đến cho nông dân

sự ngu dốt, sự nghèo khổ, sự thống trị của người giàu đối với người nghèo, vì phân tán thì không thể giải quyết được những vấn đề đặt ra cho nông nghiệp Do

đó, nhiệm vụ hiện nay của chúng ta là phải chuyển sang lối canh tác tập thể, sang kinh doanh tập thể trên quy mô lớn” (V.I.Lênin toàn tập, tập 3, NXB CT HN –

1962, trang 390) Đặc biệt, trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực”,V.I.Lênin khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát triển hợp tác xã đối với con người đi lên CNXH, theo ông: “Chuyển từ chế độ hợp tác xã của những người sản xuất nhỏ lên CNXH là chuyển từ tiểu sản xuất sang đại sản xuất Nghĩa là một bước quá độ phức tạp hơn, nhưng thiếu thành công, lại có thể bao gồm được những khối quần chúng nhân dân đông đảo hơn, nhỗ được những gốc rể sâu xa hơn và dai dẳng hơn của những quan hệ cũ tiền XHCN, thậm chí tiền TBCN…chính sách hợp tác một khi thành công, sẽ góp phần làm cho nền kinh tế nhỏ phát triển và tạo điều kiện cho kinh tế quá độ - trong một thời hạn không nhất định – lên đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện kết hợp”, (V.I.Lênin toàn tập, t143, NXB tiến bộ Mát – xcơ – va, 1978, trang 273)

Đúng vậy, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người về sản phẩm thiết yếu được sản xuất ra từ nông nghiệp ngày càng tăng và đa dạng, phong phú Vì vậy, phải đặc biệt quan tâm phát triển sản xuất nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Hơn nữa, xét về mặt xã hội, cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại và xây dựng xã hội mới của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản chỉ có thể giành được thắng lợi trên cơ sở xây dựng được khối đại đoàn kết liên minh công nông vững chắc Tổng kết các bài học kinh nghiệm của công xã Pari, chủ nghĩa Mác khẳng định: Để có thể giành và giữ chính quyền giai cấp vô sản thành thị phải liên minh với giai cấp nông dân, nếu không “bài ca” của giai cấp vô sản sẽ trở thành “bài ai điếu” Khối liên minh ấy càng phải luôn luôn được giữ vững, tăng cường sau khi giành được chính quyền,

Trang 14

thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Ở những nước nông nghiệp nếu giai cấp công nhân không nhận thức đúng vị trí của vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì những cải biến xã hội chủ nghĩa sẽ không tránh khỏi những thất bại

Theo Lênin, chế độ HTX có ý nghĩa đặc biệt trước hết về phương diện nguyên tắc (Nhà nước nắm quyền sở hữu TLSX ) HTX là bước quá độ sang một chế độ mới bằng con đường đơn giản nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân Chính ý nghĩ đặc biệt này của chế độ HTX đã dẫn Lênin mà sau này là

Hồ Chí Minh đến kết luận đồng nhất HTX với bản thân CNXH Lênin quan niệm

“ Khi nhân dân đã vào HTX tới một mức đông nhất thì CNXH cái CNXH mà trước đây những người tin chắc một cách có lí vào tính tất yếu của đấu tranh giai cấp đấu tranh giành chính quyền vv… đã chế nhạo rất đúng, đã chê cười khinh miệt - tự nó sẽ được thực hiện” [40, tr 427] và “nếu không kể những tô nhượng…… thì thường thường trong hoàn cảnh nước ta chế độ HTX là hoàn toàn đồng nhất với CNXH” [40, tr 427] hoặc “nếu chúng ta tổ chức được toàn thể nông dân vào HTX thì chúng ta đứng vững được hai chân trên miếng đất XHCN nhưng điều kiện đó bao hàm trình độ văn hóa nhất định của nông dân” [40, tr 428] và “khi tư liệu sản xuất đã thuộc về CNXH, khi giai cấp vô sản với

tư cách là giai cấp, đã thắng giai cấp tư sản, thì chế độ xã hội đó cùng những xã viên hợp tác xã văn minh là chế độ XHCN” [40, tr 425]

Việc tôn trọng tính dân chủ và lợi ích của nông dân trong quá trình hợp tác hóa cũng được Lênin nhắc đến nhiều lần Trong dự thảo thảo cương lĩnh ruộng đất lần thứ hai, Lênin chỉ ra rằng: “ Chỉ những HTX do chính quyền nông dân điều hành theo sáng kiến của họ và lợi ích của các HTX được kiểm nghiệm trên thực tế mới có giá trị” [23, tr.208]

Những tư tưởng về hợp tác hóa của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin đã được các học giả của Nga làm sâu sắc thêm, trong đó nổi lên là nhà bác học Trai-a-nop (1889- 1938), Lênin đã đánh giá cao các công trình khoa học của ông viết về nông nghiệp và nông thôn Trai-a-nop đã chỉ rõ mục đích của hợp tác

Mác-và sự gắn bó giữa hợp tác xã Mác-và nông dân Theo Trai-a-nop “ kinh tế hợp tác xã ra đời và phát triển không phá vỡ kinh tế hộ gia đình, HTX nông nghiệp là sự bổ sung cho kinh tế nông dân phục vụ cho nó và vì thế mà thiếu kinh tế hộ nông dân thì HTX không có ý nghĩa gì cả” [ 35, tr.11]

Trang 15

Như vậy trong kinh tế hợp tác, kinh tế hộ nông dân không đối lập với kinh

tế HTX mà liên kết với kinh tế HTX để cùng phát triển Đây cũng là vấn đề có tính nguyên tắc Vấn đề có tính nguyên tắc khác khi tiến hành hợp tác là làm rõ việc thành lập HTX là phục vụ cho kinh tế của nông dân để phát triển sản xuất

Vấn đề khác khi bàn về sự đồng nhất chế độ HTX với CNXH thì ở Lênin được nhìn nhận trên cả hai bình diện: về số lượng trong một nước tiểu nông, khi toàn bộ nông dân giác ngộ, tự giác và thấy có lợi khi tham gia HTX, một hình thức tổ chức kinh tế xã hội văn minh bảo đảm cho họ thoát khỏi thảm họa của chế

độ bóc lột, được ấm no hạnh phúc, thì có nghĩa là toàn bộ xã hội đã được giải phóng và xã hội đó về thực chất là chế độ XHCN, về chất lượng chế độ HTX văn minh thể hiện đầy đủ, trọn vẹn các đặc trưng, bản chất của chính CNXH điều này được cụ thể bởi các hình thức sau đây:

Thứ nhất, không phải bất kỳ một chế độ HTX nào cũng đều hướng vào thỏa mãn nhu cầu vật chất, văn hóa của nông dân cũng là hiện thân của CNXH Nói cách khác, chỉ có trong điều kiện giai cấp công nhân nắm chính quyền, lãnh đạo xã hội, toàn bộ tư liệu sản xuất chủ yếu nhất là ruộng đất đã thuộc về tay Nhà Nước thì chế độ HTX mới trên nền tảng kinh tế xác định mà đặc trưng chủ yếu là những sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất và một kết cấu thượng tầng chính trị tương ứng Đặc điểm kinh tế, chính trị này làm bệ đỡ và tạo cho HTX có những thuộc tính riêng của chế độ xã hội XHCN

Thứ hai, đặt chế độ HTX bằng XHCN cũng có nghĩa là quan niệm CNXH

là một xã hội điển hình mà hệ thống tế bào của nó là mạng lưới HTX văn minh và toàn bộ xã hội là “ một liên hiệp HTX”, đồng thời khẳng định nguyên tắc chủ đạo trong quan hệ xã hội: bình đẳng, dân chủ, hợp tác và tương trợ

Thứ ba, với tư cách là sự đồng nhất với CNXH, chế độ HTX chỉ có thể thực hiện trên một nền tảng văn hóa nhất định trong đó, giáo dục và trình độ dân trí của toàn xã hội có ý nghĩa hàng đầu Nền tảng văn hóa này lại là sản phẩm của

cơ sở kinh tế kỹ thuật ở trình độ cao, là sự vận động của toàn bộ sự vận động lịch

sử xã hội Hình thành chế độ HTX văn minh vượt lên trình độ hiện trạng thực tại của bản thân nó, không tách rời việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH

và tiến hành cuộc cách mạng văn hóa trong đại quần chúng lao động Chế độ HTX chỉ là biểu hiện tập trung cao độ thành quả của toàn bộ tiến trình xây dựng CNXH và nó đồng nhất với CNXH với ý nghĩa như vậy Vì thế, quan niệm của

Trang 16

Lênin là không thể làm đơn giản cách hiểu của quần chúng ta về chế độ xã hội tương lai

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về HTX nông nghiệp

Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem hợp tác xã là con đường để phát triển nông nghiệp trong mối quan hệ giữa kinh tế nông nghiệp với công nghiệp và các ngành kinh tế khác trong xây dựng nền kinh tế XHCN Bác Hồ khẳng định:

“Nước ta là một nước nông nghiệp, phát triển nền kinh tế nói chung phải lấy việc nông nghiệp làm gốc, làm chính Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có

cơ sở để phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hóa của công nghiệp làm ra” (HCM: toàn tập, NXB chính trị quốc gia, HN, 1996, tập 10, trang 180)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế được hình thành rất sớm - từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX Mặc dù không có một tác phẩm riêng biệt nào tập trung nói về tư tưởng kinh tế, nhưng thông qua các bài viết, phát biểu, nói chuyện của Người đã thể hiện nhiều luận điểm sâu sắc về kinh tế, đặc biệt là về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là sự

cụ thể hóa, Việt Nam hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn

Thấm nhuần những quan điểm trên của chủ nghĩa Mác, trong “Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam”, Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam là nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [54,tr.215]

Về mối quan hệ và vai trò của phát triển nông nghiệp, nông thôn đối với các ngành kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân đã được Hồ Chí Minh xác định :

“Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế … các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm” [59, tr.126] Điều này đòi hỏi mọi chủ trương, đường lối, phương châm, kế hoạch, mục tiêu phát triển của công nghiệp và các ngành kinh tế khác phải lấy nông nghiệp, nông thôn làm đối tượng phục vụ, phải có chính sách ưu tiên, ưu đãi đối

Trang 17

với nông nghiệp và nông thôn Người nói: “Nông thôn tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm thì ngày càng giàu có Nông thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra Đồng thời sẽ cung cấp đầy đủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị Như thế là nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát triển Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy cho nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa Công nghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giàu nước mạnh”[65, tr.175] Như vậy, Người không chỉ nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ giữa ngành công nghiệp với nông nghiệp mà còn chỉ rõ vấn đề có tính quy luật trong quá trình điều hành của Nhà nước, thể hiện ý chí của Đảng, nguyện vọng của nhân dân, là cơ sở để đoàn kết khối liên minh công nông

Về điều kiện kỹ thuật để phát triển kinh tế nông nghiệp đã được Hồ Chí Minh khái quát bằng một bài thơ rất sinh động để mọi người dân dễ hiểu, dễ nhớ,

dễ thực hiện:

“ Nước phải đủ, phân phải nhiều,

Cày sâu, giống tốt, cấy đều dảnh hơn

Trừ sâu, diệt chuột chớ quên

Cải tiến nông cụ là nền nhà nông

Ruộng nương quản lý gia công,

Tám điều đầy đủ thóc bông đầy bồ ”

Về sự cần thiết phải xây dựng và phát triển hợp tác hóa trong nông nghiệp, nông thôn Theo Người, nước ta với điểm xuất phát là một nước nông nghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, vì vậy “làm hợp tác xã sẽ có lợi như quy luật tất yếu là: một cây làm chẳng nên non, nhiều cây chụm lại nên hòn núi cao, đồng bào nông gia hăng hái cùng nhau làm việc đó” [53,tr.317] Bởi hợp tác xã nông nghiệp, nông thôn là chiếc cầu nối đưa nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đưa nông dân từ chỗ làm ăn phân tán, manh mún lên chỗ làm ăn tập thể, tập trung thống nhất Phát triển hợp tác xã phải triệt để tuân thủ các nguyên tắc : Tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ, từ thấp lên cao và có sự giúp đỡ của Nhà nước Hợp tác xã nông nghiệp là điều kiện cần thiết để xã hội hóa nông nghiệp, nông thôn

Về tính tất yếu phải thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn – Người nhấn mạnh: “Muốn no thì phải sản xuất nhiều gạo Muốn ấm thì phải sản xuất nhiều vải Muốn có vải có gạo thì phải có máy móc, phải có nhiều máy và máy tốt Máy móc là do quá trình công nghiệp hóa mang lại ”[57,tr.371]

Trang 18

Về công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ quản lý trong nông nghiệp nông - Người nhấn mạnh : “Cán bộ đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng Vì vậy, cán bộ là gốc của mọi công việc…Cán bộ nông dân phải tránh bệnh chủ quan hình thức, bệnh giấy tờ Cán bộ tỉnh phải đến tận các huyện, các xã Cán bộ huyện phải đến tận các xã các thôn Cán bộ phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc suy nghĩ Để thiết thực điều tra giúp đỡ kiểm soát, rút kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ nông dân và học tập dân Trong các cấp chính quyền cũng như trong các ban lãnh đạo Nông hội phải có những anh em bần nông, cố nông tham gia thật sự”[59,tr.413]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn rất rộng lớn và phong phú Trong khuôn khổ có hạn của bài viết này chúng tôi chỉ xin lược dẫn một số vấn đề đã được Hồ Chí Minh trình bày dưới hình thức ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, giàu tính nhân văn, thể hiện tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của Người đối với nông dân, nông nghiệp, nông thôn nước ta Hướng tới kỷ niệm lần thứ 121 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cùng nhau ôn lại và vận dụng tốt những lời dạy của Người về nông dân, nông nghiệp, nông thôn vào nhiệm vụ công tác của mình cũng là việc làm có ý nghĩa hết sức thiết thực hiện nay

1.3 Quan điểm của Đảng ta, tỉnh An Giang và huyện Chợ Mới về HTX nông nghiệp

1.3.1 Quan điểm của Đảng ta về HTX nông nghiệp

Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước, đường lối phát triển kinh tế đất nước, đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng ta đều xác định rõ vai trò, vị trí hàng đầu của nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đồng thời đường lối đó từng bước bổ sung hoàn thiện cho sát hợp với điều kiện cụ thể và quá trình phát triển đất nước

Từ năm 1980 đến nay, Đảng ta có ba quyết sách lịch sử đúng đắn và kịp

thời đối với sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn ở nước ta đó là:

- Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IV) ban hành tháng 1/1981 cho phép và hướng dẫn áp dụng rộng rãi hình thức khoáng mới trong các HTX, tập đoàn sản xuất trên phạm vi cả nước

Trang 19

- Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về “ đổi mới quản lí kinh tế nông nghiệp”

1988 với những điều chỉnh lớn: khẳng định vai trò của hộ xã viên giao khoáng ruộng đất với thời hạn dài hơn, chuyển nhượng những tư liệu sản xuất, điều chỉnh

và ở định múc khoán…tiếp đó, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần hai khóa VI xác định xã viên được tự do lưu thông sản phẩm sau khi nộp thuế cho Nhà nước Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương lần sáu khóa VII chủ trương thực hiện chính sách một giá, thương mại hóa vật tư

- Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm khóa VII về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế ở nông thôn (1993)

Nhà nước ta cũng có những chính sách mới phù hợp đối với HTX trong giai đoạn mới:

Luật HTX được Quốc Hội khóa IX kì hợp thứ 9 thông qua ngày 20/3/1996 Nghị định số 43/CP ngày 29/4/1997 của chính phủ ban hành điều lệ mẫu HTX nông nghiệp

Thực hiện đường lối đổi mới HTX nông nghiệp của Đảng và việc thi hành luật HTX tất cả các địa phương điều đã tập trung chỉ đạo chuyển đổi từ HTX nông nghiệp kiểu cũ sang HTX nông nghiệp kiểu mới cho phù hợp với kinh tế thị trường và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp dựa trên quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của hộ nông dân Song song đó là việc thực hiện chỉ thị 68 –CT/TW ngày 24/5/1996 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII về “ phát triển kinh tế hợp tác trong các ngành các lĩnh vực kinh tế” và bốn năm thực hiện luật HTX Sau năm năm thực hiện việc chuyển đổi xây dựng mới HTX nông nghiệp và các hình thức kinh tế hợp tác đã có những chuyển biến bước đầu, quá trình phát triển HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng cũng đã trãi qua nhiều bước thăng trầm, song đây luôn là nội dung có tính chiến lược trong phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Thấy được tầm quan trọng to lớn từ vấn đề trên Đảng và Nhà nước ta

đã có nhiều chủ trương chính sách tạo mọi điều kiện thuận lợi để mỗi HTX nông nghiệp điều thể hiện hết vai trò của mình trong sự nghiệp thúc đẩy nền kinh tế nước nhà vươn lên tầm cao mới

1.3.2 Quan điểm của tỉnh An Giang về phát triển kinh tế HTX nông nghiệp

An Giang là một tỉnh nông nghiệp, trong nông nghiệp sản xuất chủ yếu là cây lúa Trong những năm qua, kinh tế hợp tác mà nồng cốt là hợp tác xã trong

Trang 20

nông nghiệp có sự phát triển theo chiều hướng tích cực, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn

Với gần 80% nông dân sống bằng nghề nông trong đó đa số họ điều có trình độ thâm canh cao, cần cù chịu khó, nhạy bén trong tiếp thu khoa học công nghệ mới vào sản xuất thì việc hình thành và phát triển HTX nông nghiệp là cầu nối liên kết nông dân trong việc định hướng sản xuất và tiêu thụ hàng hóa

Theo thống kê toàn tỉnh hiện có 101 HTX với đặc điểm tự nhiên là tỉnh thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, diện tích đất nông nghiệp rộng lớn, đất đai màu mở, đây chính là những điều kiện tốt nhất để phát triển nền nông nghiệp tỉnh nhà

An Giang với cơ cấu sản xuất độc canh cây lúa, thời kì này Đảng bộ An Giang xác định nhiệm vụ trọng tâm là cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp Trong đó, hợp tác hóa được coi là con đường duy nhất để đưa nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội Từ đó, mô hình hợp tác hóa trong nông nghiệp ở An Giang có những định hướng cơ bản:

Về mục đích: cải tạo XHCN trong nông nghiệp nhằm xóa bỏ quan hệ bóc

lột xây dựng quan hệ sản xuất tập thể dần dần thay thế quan hệ sở hữu cá thể về

tư liệu sản xuất

Về tổ chức: xây dựng các hình thức tổ đoàn kết sản xuất, tập đoàn sản xuất,

hợp tác xã gắn liền với việc tập thể hóa các tư liệu sản xuất ruộng đất được chia điều ra cho mọi người

Về nguyên tắc và bước đi: Có hai khuynh hướng:

- Một là, tiến hành trình tự từ thấp đến cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn

- Hai là, nóng vội gò ép, tập thể hóa càng nhanh càng tốt

Về nhiệm vụ hợp tác xã: ngoài nhiệm vụ kinh tế cải thiện và nâng cao đời

sống của xã viên, hợp tác xã còn giao nhiệm vụ chính trị xã hội như: Hỗ trợ kinh phí cho Đảng ủy, chính quyền cơ sở, chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ

Từ những định hướng phát triển kinh tế hợp tác dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng bộ tỉnh An Giang quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, phát triển kinh tế xã hội, kiện toàn bộ máy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, tập trung đổi mới nông nghiệp nông thôn Trong quá trình đó, nông dân được xem là chủ thể của quá trình đổi mới

Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tỉnh An Giang cụ thể hóa đường lối đổi mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ra sức giải phóng năng lực sản

Trang 21

xuất, khắc phục hậu quả của việc cải tạo XHCN, hợp tác hóa, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế địa phương trước hết là trên lĩnh vực nông nghiệp Từ năm 1996 trở đi, Đảng bộ An Giang chủ trương xây dựng các hình thức tổ chức nông dân trong sản xuất nông nghiệp, tổ chức lại kinh tế hợp tác trong nông nghiệp tập trung phát triển HTX theo luật HTX nhằm tập hợp phần lớn nông dân vào tổ chức liên kết sản xuất, vào HTX nếu nóng vội, mệnh lệnh, cưỡng ép hộ nông dân vào HTX sẽ rất sai lầm mà phải ra sức vận động, thuyết phục để họ thấy khi vào HTX là có lợi lúc đó, họ tự nguyện cùng đứng ra thành lập HTX theo luật Từ đó, tạo ra sức mạnh mới thích nghi với cách làm ăn mới trong điều kiện kinh tế thị trường và xem đó là con đường tự giải phóng cho bản thân, tự ra sức học tập, nâng cao trình độ trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…

Từ các chủ trương của Đảng bộ trong thời kì đổi mới giúp chúng ta thấy rõ quá trình phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp là phù hợp với tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm đổi mới của Đảng ta, đó là: từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, sự hợp tác các hộ kinh doanh riêng lẻ với nhiều hình thức đa dạng phát triển từ thấp đến cao chính là một tất yếu khách quan

Khẳng định sự liên kết giữa các hộ nông dân dựa trên nguyên tắc tự nguyện đó là sự phù hợp với quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, với

cơ chế lợi ích hài hòa tạo ra một hợp lực mới trong nông nghiệp để giải quyết các vấn đề như: nguồn vốn, kĩ thuật, thông tin, thị trường, giống cây, thủy lợi….trên

cơ sở hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi hộ nông dân Do đó, được nông dân đồng tình ủng hộ góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống của

hộ nông dân, bộ mặt nông thôn từng bước được đổi mới

Kinh tế phát triển nhu cầu hợp tác sản xuất và cung ứng dịch vụ để giảm giá thành ngày càng cấp bách Vì vậy, ngày 21/11/1999 Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đã ra chỉ thị 25/CT-UB về việc xây dựng hình thức tổ chúc nông dân liên kết hợp tác đa dạng trong sản xuất nông nghiệp và có chủ trương mạnh dạn đưa dần tín dụng ngân hàng đến trực tiếp hàng ngàn hộ nông dân vay vốn đầu tư vào sản xuất Cuối 1997 toàn tỉnh xây dựng được 4021 tổ liên kết sản xuất, tập hợp

114868 hộ nông dân bằng 43% hộ thuần nông dân trong tỉnh với diện tích 112789

ha bằng 46,6% diện tích đất nông nghiệp

Sau khi có luật HTX Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương chính sách

để khuyến khích phát triển HTX , ban Bí thư Trung ương Đảng đã có chỉ thị

Trang 22

68/CT-TW ngày 24/5/1996 về phát triển kinh tế HTX trong các ngành các lĩnh vực Nhằm thực hiện tốt các chỉ thị 68 của ban Bí thư ngày 27/7/1996 Thường vụ tỉnh ủy đã xây dựng và thông qua các chương trình hành động về “phát triển kinh

tế hợp tác trong các ngành các lĩnh vực kinh tế”

Khi luật HTX có hiệu lực thi hành ngày 1/1/1997 và điều lệ mẫu về HTX nông nghiệp của Chính phủ ban hành ngày 29/4/1997 An Giang bắt đầu tổ chức thí điểm chuyển đổi những hộ, tổ nông dân liên kết sản xuất có hiệu quả lên HTX nông nghiệp kiểu mới Đến giữa tháng 10/1997 HTX kiểu mới đầu tiên được thành lập ở thị trấn Chợ Mới và tính đến 31/12/2007 toàn tỉnh đã xây dựng được 94 HTX nông nghiệp với 8.536 xã viên, diện tích 32.984 ha, vốn gốp 26.579 triệu đồng

Cùng với chương trình hành động và phát triển kinh tế HTX trong nông nghiệp của tỉnh ủy, chỉ thị số 25/CT-UB ngày 1/7/1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh

về tập trung đẩy mạnh phát triển HTX trong nông nghiệp gắn với công tác xóa đói giảm nghèo Được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, với sự hỗ trợ của các ngành các cấp trong tỉnh về phát triển kinh tế HTX nông nghiệp đã thu được những kết quả đáng kể

Quá trình phát triển kinh tế hợp tác ở An Giang mà nồng cốt là HTX nông nghiệp đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương, sự giúp đỡ, khuyến khích của các ngành các cấp Nghị quyết Đại hội Đảng Bộ lần VI chỉ rõ:

“ khuyến khích tạo điều kiện, tài trợ phát triển hình thức hợp tác hóa trên cơ sở tự nguyện, quản lí dân chủ, cùng có lợi với nhiều loại hình và trình độ từng bước gắn với doanh nghiệp nhà nước hỗ trợ cùng phát triển”

Để thực hiện chủ trương trên, thời gian qua, Tỉnh ủy đã có những giải pháp thiết thực nhằm tạo điều kiện phát triển HTX đó là khai thác lợi thế, hạn chế tác hại của lũ, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thông qua các công trình chuyển giao công nghệ giống cây, giống con, tăng cường trang thiết bị, ứng dụng các thành tựu về sinh học phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, coi trọng đầu tư trang thiết bị công nghệ sau thu hoạch, cơ giới hóa nông nghiệp, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông thủy lợi, lưới điện, thông tin liên lạc, phát triển đa dạng các loại hình dịch

vụ

Các doanh nghiệp Nhà nước đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX phát triển như: công ty điện nước, đầu tư đường dây trung hạ thế theo hình thức trả chậm để các HTX lắp đặt trạm bơm, công ty lương thực giúp đỡ một số

Trang 23

HTX làm đại lí về phân bón, đầu tư giống và sản xuất giống lúa xuất khẩu, đầu tư lắp đặt máy sấy lúa cho HTX với hình thức trả chậm sau 3 tháng, ứng trước 50% thành lập trung tâm cung ứng dịch vụ khoa học kĩ thuật cho HTX

Qua những việc làm trên đã góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy xây dựng

và phát triển HTX theo mô hình mới và được người dân đồng tình ủng hộ, góp phần xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn

1.3.3 Quan điểm của huyện Chợ Mới về kinh tế HTX nông nghiệp

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì vấn đề hợp tác hóa trong kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ là rất cấn thiết để tạo nên sức mạnh tổng hợp khắc phục những yếu kém phát huy những mặt mạnh đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước Hợp tác để cùng nhau xây dựng, sáng tạo và phát triển

Chợ Mới là một trong bốn huyện cù lao của tỉnh An Giang mỗi năm lũ đến mang lại một lượng phù sa rất lớn cho huyện, cùng với hệ thống đường nước tốt nhất nhì tỉnh đã mang lại lợi thế lớn cho huyện phát triển nông nghiệp

Hiện nay trên địa bàn huyện có một số HTX kiểu mới làm ăn có hiệu quả Tuy nhiên sự phát triển kinh tế HTX nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa ở huyện Chợ Mới đang gặp nhiều mâu thuẩn Hiện huyện đang đứng trước một nghịch lí giữa lý luận và thực tiễn

Về lý luận, ai cũng thấy hợp tác nói chung và HTX nông nghiệp là cần thiết và có lợi cho nông dân, được Đảng và nhà nước quan tâm, nhưng trên thực

tế việc chuyển đổi HTX nông nghiệp vẫn mang nặng tính hình thức, phát triển chậm chạp và số hộ nông dân tham gia còn quá ít, chính quyền địa phương nhiều nơi vẫn duy trì HTX nông nghiệp một cách hình thức với nhiều lý do khác nhau

và chính điều đó đã tạo nên sự trì trệ đối với quá trình phát triển HTX nông nghiệp

Hiện tại, huyện đang còn thiếu những cán bộ quản lí HTX có trình độ, kinh nghiệm, có tâm huyết vì lợi ích của HTX và xã viên Hơn nữa, bản thân HTX nông nghiệp hoạt động kinh doanh còn nhiều hạn chế chưa thích ứng với sản xuất hàng hóa và chưa nêu gương về mô hình tổ chức sản xuất tiên tiến và hiệu quả Cho nên, một số HTX nông nghiệp ở huyện Chợ Mới chưa tạo được sức hút mạnh mẽ để các hộ nông dân tham gia hợp tác, nhiều HTX theo mô hình cũ đã bộc lộ nhiều yếu kém làm hạn chế tiềm lực, tiềm năng của huyện

Trang 24

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì phát triển, mở rộng mô hình HTX nông nghiệp huyện Chợ Mới là một yêu cầu rất cần thiết Bởi vì:

Thứ nhất, để tích tụ và tập trung sản xuất chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản

xuất lớn, đưa nông nghiệp nước ta phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc tổ chức và quản lý

Thứ hai, phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa khắc

phục tình trạng manh mún, khép kín, tự cấp tự túc của kinh tế hộ nhằm tạo nhu cầu và động lực tham gia HTX của kinh tế hộ Trên cơ sở tích tụ tập trung ruộng đất cho sản xuất nông nghiệp, hàng hóa mà phân công lao động chuyển dịch lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ theo phương châm “ai giỏi nghề

gì làm nghề đó”

Thứ ba, coi trọng công tác cán bộ cho HTX Thực tế cho thấy rằng cán bộ

chủ chốt của các HTX trước hết là chủ nhiệm HTX có vai trò quyết định sự thành bại của HTX Do đó, việc lựa chọn, đào tạo , bồi dưỡng cũng như cơ chế chính sách đối với chủ nhiệm HTX và ban quản trị phải được coi trọng và đổi mới cơ bản theo nguyên tắc lấy mục tiêu hiệu quả kinh doanh của HTX làm tiêu chí xem xét hàng đầu

Bốn là, phải xuất phát từ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với

tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Năm là, mở rộng liên kết hợp tác giữa các HTX nông nghiệp với các

doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Đặc điểm của kinh tế thị trường

là cạnh tranh và hợp tác do đó, từng HTX nông nghiệp không thể khép kín mà phải mở rộng hợp tác hỗ trợ các doanh nghiệp để nâng cao trình độ kinh doanh và sức cạnh tranh của mình

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI

2.1 TÌM NĂNG THIÊN NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CHO VIỆC PHÁT TRIỂN HTX NN HUYỆN CHỢ MỚI

2.1.1Tiềm năng thiên nhiên:

Vị trí – diện tích: Chợ Mới là một trong bốn huyện cù lao của tỉnh An

Giang, đất đai trù phú, hàng năm được một lượng phù sa rất lớn do hai nhánh

sông Tiền và sông Hậu bồi đắp Có diện tích đất tự nhiên 36.928 ha, diện tích đất

sản xuất đất nông nghiệp 27.681 ha Nằm dọc sông Tiền và sông Hậu, có địa hình tương đối cao từ 1,5m – 2,4m và thấp dần vào trong, độ dốc địa hình theo hai hướng từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam, cao độ bình quân toàn khu vực

+1,3m

Thỗ nhưỡng - nguồn nước:Theo bản đồ thỗ nhưỡng của phân viện quy

hoạch thủy lợi Nam bộ, Bộ thủy lợi thì nhìn chung, các loại đất của huyện Chợ Mới đều là nhóm đất phù sa, có diện tích phân bố rãi rác tương đối đồng đều, không bị ảnh hưởng chua phèn Là điều kiện thuận lợi để phát triển trồng trọt Có nguồn nước dồi dào, chất lượng nước tốt thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp Việc khai thác và sử dụng nguồn nước có hiệu quả hơn khi hệ thống

đê bao kiểm soát lũ kết hợp hệ thống giao thông thủy lợi tương đối hoàn chỉnh

Khí hậu thủy văn: Chợ Mới nằm trong vùng nhiệt gió mùa, khí hậu tương đối đồng nhất, ít thay đổi giữa các tháng và chế độ mưa phân hóa theo mùa

rõ rệt Nhiệt độ trong năm tương đối cao và ít thay đổi Nhiệt độ trung bình nhiều năm khoảng 27c, phù hợp với sản xuất nông nghiệp.Mùa khô: số giờ nắng trung bình 8giờ/ngày, mây che khuất 4-6/10 Mùa mưa: số giờ nắng trung bình: 6giờ /ngày, mây che khuất 7-8/10 độ ẩm trung bình trong khu vực: 82%, thấp nhất 75% vào tháng 3 và cao nhất 87% vào tháng 9 chế độ gió trong khu vực được phân bố theo hai hướng chính: Gió đông bắc xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (trùng với mùa khô) Gió Tây Nam xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10 (trùng với mùa mưa)

Chế độ mưa: ĐBSCL nói chung và Chợ Mới nói riêng có chế độ mưa

liên quan mật thiết với chế độ gió mùa Lượng mưa trong khu vực Chợ Mới phân

bổ rõ rệt theo mùa:

Trang 26

Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa chiếm 90% lượng mưa cả năm Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 10% cả năm Trong tháng 1,2,3 hầu như không có mưa Số ngày mưa trung bình từ 90-120ngày/năm, thường tập trung vào các tháng mùa mưa Trong mùa mưa số ngày mưa trung bình 11-17ngày /tháng; mùa khô số ngày mưa trung bình từ 1-3 ngày/tháng (tháng 1,2,3)- đây là điểm điển hình cho tính khô hạn ở ĐBSCL

2.1.2 Kinh tế - Xã hội

Kinh tế: Tổng sản phẩm nội địa (GDP) ước đạt 4.064,8 tỷ đồng (Giá so

sánh), tăng 15,85% so năm 2009; trong đó khu vực I tăng 2,8%, khu vực II tăng 19,9%, khu vực III tăng 18,9% Về cơ cấu kinh tế: khu vực I chiếm 21,1% giảm 1,1%, khu vực II chiếm 25,7% tăng 0,4% và khu vực III chiếm 53,2% tăng 0,7%

so cùng kỳ GDP bình quân đầu người 26,99 triệu đồng/người/năm, tăng 5,19 triệu

đồng so năm 2009

Về sản xuất nông nghiệp:

- Tổng diện tích gieo trồng cả năm là 78.774 ha, đạt 100,9% so kế hoạch, tăng 649 ha so cùng kỳ; trong đó diện tích lúa 49.603 ha đạt 100,2% so kế hoạch giảm 249 ha, diện tích cây màu 29.171 ha đạt 102% so kế hoạch tăng 898 ha so cùng kỳ Năng suất lúa 3 vụ ước đạt 18,7 tấn/ha với tổng sản lượng lúa 310.727 tấn, giảm 1.396 tấn so cùng kỳ Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản (Giá thực tế) ước đạt 4.729,4 tỷ đồng, tăng 8,4% so năm 2009

Chương trình khuyến nông, chuyển giao khoa học kỷ thuật được thực hiện

thường xuyên bằng nhiều hình thức, nông dân áp dụng chương trình “3 giảm, 3 tăng” chiếm 87,5%, “1 phải, 5 giảm” chiếm 6,37% diện tích xuống giống; công

tác phòng trị bệnh được thực hiện kịp thời; toàn huyện có 1.998 ha sản xuất lúa giống, cung ứng gần 12.000 tấn lúa giống xác nhận cho nông dân trong và ngoài huyện Chương trình sản xuất rau an toàn từng bước được ổn định, có 12/18 xã - thị trấn quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn với diện tích 1.931 ha; toàn huyện có

6 Tổ sản xuất rau an toàn ở các xã Hòa An, Long Giang, Thị trấn Chợ Mới, Mỹ

Luông, trong đó đã xây dựng thương hiệu được 04 Tổ sản xuất rau an toàn ở các

xã Kiến An, Hòa An, Mỹ An và Long Giang Mô hình “Cánh đồng mẫu” được

triển khai thực hiện ở 02 xã Long Điền A (494 ha) Nhơn Mỹ (40 ha) và thực hiện Chương trình VietGAP ở xã Long Điền B (27 ha) bước đầu đạt kết quả tốt Áp dụng công nghệ sản xuất, thu hoạch và sau thu hoạch, đến nay toàn huyện có 1.337 dụng cụ sạ hàng, 146 máy sấy, 41 máy gặt xếp dãy, 146 máy gặt đập liên hợp

Trang 27

- Về chăn nuôi, tổng đàn bò hiện có 17.094 con tăng 0,8%, tổng đàn gia cầm là 791.246 con tăng 8,4%, riêng đàn heo do ảnh hưởng bệnh tai xanh nên hiện còn 20.311 con giảm 20,1% so cùng kỳ Trong đợt dịch heo tai xanh vừa qua, toàn huyện có 13/18 xã - thị trấn có heo bệnh với 617 con/18.863kg/98 hộ bị tiêu huỷ với mức hỗ trợ 25.000đ/kg; hiện nay tỉnh đã công bố hết dịch heo tai xanh trên phạm vi toàn tỉnh Tổng diện tích nuôi thuỷ sản hiện có 288,6 ha/450 ha đạt 64,1% so KH giảm 32,7 ha so năm 2009, nguyên nhân do giá cả không ổn định, người nuôi không có lãi, hiện nay tuy giá cá có tăng nhưng giá thức ăn và con giống cũng tăng cao

- Công tác thuỷ lợi được quan tâm đầu tư, hoàn thành đưa vào sử dụng 27 trạm bơm điện, 95/101 công trình thủy lợi nội đồng và 11/23 công trình nạo vét kênh tạo nguồn, các công trình còn lại đang tiếp tục thi công Công tác phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn, di dân vùng sạt lở được triển khai thực hiện tốt,

đã hỗ trợ chi phí di dời 113 hộ dân (10 triệu đồng/hộ) ở các xã Long Điền A, Tấn

Mỹ Trong năm, các xã trong huyện được cấp phát 321.908 cây giống các loại để trồng cây lâm nghiệp phân tán trên các tuyến kênh, đê nhằm bảo vệ bờ bao, chống xoáy mòn và bảo vệ môi trường

- Về kinh tế hợp tác, toàn huyện hiện có 18 HTX nông nghiệp, 01 HTX nuôi thuỷ sản, 01 HTX giao thông vận tải, 01 HTX khai thác cát, 04 Quỹ tín dụng nhân dân, 76 Tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp, 16 Tổ hợp tác sản xuất phi nông nghiệp, 1.421 trang trại Công tác cũng cố HTX được quan tâm để nâng cao chất lượng và mở thêm dịch vụ phục vụ sản xuất, tuy nhiên đa phần các HTX chỉ làm dịch vụ tưới tiêu, hiệu quả hoạt động không cao

Tài nguyên, môi trường:

Trong năm đã lập hồ sơ cấp mới giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho 780 hộ dân với diện tích 89,32 ha, chuyển quyền sử dụng đất 2.660 hộ với diện tích 723,66 ha, chuyển mục đích sử dụng đất 46 hộ với diện tích 16,84 ha; thực hiện hoàn thành công tác tổng kiểm kê và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 trên địa bàn huyện; hoàn thành nghiệm thu bàn giao công tác cấp đổi giấy CN.QSD đất nông nghiệp thị trấn Mỹ Luông, Qua kiểm tra, đã xử

lý 29 trường hợp vi phạm sử dụng đất không đúng mục đích trên địa bàn xã, thị trấn

Về công tác bảo vệ môi trường, đã kiểm tra xử phạt hành chính 2/153 cơ

sở được kiểm tra, số còn lại cho cam kết, nhắc nhở; thẩm định và cấp xác nhận

Trang 28

đăng ký cam kết bảo vệ môi trường cho 32 cơ sở; hoàn thành san lắp mặt bằng khu xử lý rác xã Hòa Bình; thi công đường dẫn khu xử lý rác ấp Mỹ Hòa A xã

Mỹ Hội Đông; thực hiện hoàn thành công tác rà soát, điều tra nhà xây cất trên sông, kênh, rạch gây ô nhiễm môi trường với tổng số 3.347 căn (giảm 327 căn so năm 2007) Về công tác quản lý khai thác khoáng sản, đã kiểm tra phát hiện và xử phạt hành chính 66 trường hợp mua bán, tàng trữ, khai thác cát sông trái phép

Năm 2010 ngành điện đã tích cực đẩy nhanh tiến độ lắp đặt thêm 7.502 điện kế cho các hộ dân, nâng tổng số khách hàng có điện kế đang quản lý đến nay

là 59.779 hộ/84.373 hộ, chiếm 71% tổng số hộ; đồng thời đầu tư xây dựng mới, sửa chữa nâng cấp 44 hạn mục công trình đường dây hạ thế, trạm biến áp với tổng

số tiền 2,833 tỷ đồng, kết hợp với công trình đường dây điện vượt sông Vàm Nao

từ Phú Tân qua Chợ Mới hoàn thành đưa vào sử dụng

Về nước, đưa vào vận hành 4 hạng mục và cải tạo sửa chữa các hạng mục tuyến ống phân phối với tổng số tiền 900 triệu đồng; lắp đặt thuỷ lượng kế cho 2.200 hộ dân, nâng tổng số khách hàng có thuỷ lượng kế đang quản lý đến nay là 26.690 hộ/84.373 hộ, chiếm 31,6% tổng số hộ Qua đó đã góp phần nâng cao khả năng cung cấp nguồn điện và hệ thống cấp nước đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu

sử dụng của nhân dân, tuy nhiên do sản lượng điện sản xuất hiện nay còn thiếu, ngành điện thường xuyên cúp tiết giảm đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân địa phương

Chính sách xã hội:

Các đối tượng chính sách xã hội (CSXH) được chi trợ cấp kịp thời, đúng chế độ, đối tượng, theo mức tăng trợ cấp bình quân 12,3% so năm trước; Công tác dạy nghề và giải quyết việc làm được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện, đã

tổ chức được 63 lớp dạy nghề, giải quyết việc làm cho 9.486 lao động, đưa đi xuất khẩu 14 lao động Ngân hàng Chính sách xã hội huyện cho vay 18.269 lượt

hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác với số tiền 143,799 tỷ đồng để chăn nuôi, sản xuất, mua bán dịch vụ,…Tính đến nay, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện giảm còn 1,85%, giảm 0,15% so kế hoạch (Nếu tính theo tiêu chuẩn mới thì tỷ lệ hộ nghèo của huyện hiện là 6,15%)

Trang 29

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG

NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI

2.2.1 Khái quát thực trạng về HTX.NN ở Chợ Mới

Đến nay, trên toàn huyện Chợ Mới có 22 hợp tác xã, với 1.870 xã viên,

khoảng 450 lao động trực tiếp, vốn điều lệ 10.802 triệu đồng; 69 tổ hợp tác sản

xuất, với 1.748 thành viên hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp; 506

trang trại Trong đó: xã viên nông dân là 1.231, xã viên là pháp nhân kinh doanh

là 5, cán bộ công chức 335, xã viên hộ nghèo là 159, thành phần khác 71

Lĩnh vực Số lượng Xã viên/thành viên Không hoạt động

Giao thông vận tải 01 21

Công nghiệp – TTCN 01 40 01

Tổng diện tích làm dịch vụ: 5.124ha, giảm 0,98% so cùng kỳ năm 2008

Nguyên nhân, do diện tích hợp tác xã phục vụ chuyển thành đất trồng cỏ, lên

vườn, thổ cư

Dịch vụ hoạt động: trong năm 2009 nhìn chung các loại hình dịch vụ chưa

có những chuyển biến tích cực so với năm 2008, hoạt động chủ yếu của hợp tác

xã nông nghiệp vẫn là dịch vụ bơm tưới; một số dịch vụ khác hoạt động kém hiệu

quả không còn phù hợp trên địa bàn đã được các hợp tác xã mạnh dạn cho ngưng

hoạt động và chuyển sang các dịch vụ khác phù hợp với nhu cầu của các xã viên

hơn Ngoài ra có một số dịch vụ khác cũng được các hợp tác xã tập trung phát

triển như cày xới làm đất, hỗ trợ vốn sản xuất (tín dụng nội bộ) cung cấp giống,

thu hoạch lúa, cung cấp vật tư phân bón…

Chỉ tính riêng 20 hợp tác xã nông nghiệp, có 120 người làm công tác quản

lý, trong đó: Ban Quản trị 54 người, Ban Kiểm soát 25 người, Kế toán và Thủ

quỹ 41 người, đều được Đại hội xã viên bầu ra đúng Luật định Có 3 cán bộ quản

lý có trình độ đại học và có 6 cán bộ kế toán có trình độ trung cấp Về trình độ

văn hóa: 75 cấp III, 38 cấp II và 7 cấp I Ngoài ra có khoảng 300 lao động làm

trong các tổ dịch vụ của HTX

Tình hình nợ phải thu năm 2008 tăng cao do ảnh hưởng tình hình kinh tế

chung của cả nước nông dân sản xuất lúa nhưng không bán được, do đó trong

năm 2009 này dự kiến HTX sẽ thu nợ tồn đọng năm trước khả quan hơn do nền

Ngày đăng: 01/03/2021, 10:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w