1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế website hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố kiến thức chương dao động cơ vật lý 12 chương trình chuẩn

152 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 4,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của khóa luận - Về mặt lí luận, khóa luận góp phần hệ thống hoá các lí luận về việc ôn tập và củng cố kiến thức theo quan điểm của lí luận dạy học hiện đại c

Trang 1

GVHD: ThS NGUYỄN PHẠM NGỌC THIỆN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

HUỲNH VĂN CO MSSV: DLY081437 LỚP DH9L

Trang 2

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các quý thầy, cô Trường Đại Học

An Giang, đặc biệt là các thầy, cô trong tổ bộ môn Vật Lý đã không ngừng động viên và ủng hộ em trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Phạm Ngọc Thiện

đã tạo điều kiện thuận lợi, đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy em trong suốt thời gian qua Sự nhiệt tình của cô là nguồn động lực giúp em hoàn thành khóa luận này đúng thời hạn

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp DH9L và người thân đã động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Giả thuyết khoa học 2

4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Đóng góp của đề tài 3

9 Ý nghĩa lí luận, thực tiễn của khóa luận 4

PHẦN 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG I: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lý luận của hoạt động tự học 5

1.1.1 Định nghĩa 5

1.1.2 Vai trò 6

1.1.3 Ý nghĩa của việc tự học đối với học sinh THPT 7

1.2 Cơ sở lý luận của hoạt động ôn tập, củng cố 9

1.2.1 Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập 9

1.2.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức 12

1.2.3 Nội dung cần ôn tập, củng cố trong dạy học Vật lí 13

1.2.4 Các phương pháp ôn tập ngoài giờ lên lớp 14

1.2.5 Mối quan hệ giữa ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá 16

1.3 Các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động ôn tập, củng cố cho HS THPT đang được sử dụng hiện nay 18

1.3.1 Sách (giáo khoa, bài tập, các tư liệu khác) 18

1.3.2 Các tư liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) trên mạng Internet 20

1.4 Các hình thức ôn tập 23

Trang 4

1.4.1 Ôn tập thông qua việc trả lời các câu hỏi ôn tập 23

1.4.2 Ôn tập thông qua việc xây dựng dàn ý tóm tắt bài học 24

1.4.3 Ôn tập thông qua việc xây dựng sơ đồ (graph) 24

1.4.4 Ôn tập thông qua việc làm bài tập luyện tập 26

1.4.5 Ôn tập thông qua diễn đàn thảo luận 27

1.4.6 Ôn tập trên lớp dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên 28

1.4.7 Ôn tập ngoài giờ lên lớp 28

1.5 Kết luận chương I 29

CHƯƠNG II: XÂY DỰNG TRANG WEB HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC 31

2.1 Các khái niệm cơ bản 31

2.1.1 Các khái niệm liên quan đến Website 31

2.1.2 Một số ưu điểm của Web trong dạy học hiện đại 34

2.1.3 Các khả năng hỗ trợ của Web đối với ôn tập củng cố 35

2.2 Giới thiệu về phần mềm Microsoft FrontPage và cách thiết kế trang web trên Microsoft FrontPage 39

2.2.1 Giới thiệu về phần mềm Microsoft FrontPage 39

2.2.2 Cách thiết kế trang web trên Microsoft FrontPage 39

2.3 Sơ đồ và đặc điểm cấu trúc nội dung chương “Dao động cơ” – Vật lý lớp 12 44

2.3.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức chương “Dao động cơ” 45

2.3.2 Đặc điểm về nội dung của chương “Dao động cơ” 46

2.3.3 Nội dung kiến thức, kỹ năng học sinh cần có sau khi học xong chương “Dao động cơ” vật lý lớp 12 47

2.3.4 Các sai lầm phổ biến của học sinh trong khi học phần “Dao động cơ” 52

2.3.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng ôn tập, củng cố 52

2.4 Thiết kế Website 54

2.4.1 Thiết kế giao diện trang web 54

2.4.2 Xây dựng module 1: Các khái niệm cơ bản 56

2.4.3 Xây dựng module 2: Sơ đồ tư duy cấu trúc chương 57

2.4.4 Xây dựng module 3: Các dạng bài tập và ví dụ 58

Trang 5

2.4.5 Xây dựng module 4: Bài tập các dạng 60

2.4.6 Xây dựng module 5: Video ôn tập 63

2.4.7 Xây dựng module 6: Thí nghiệm mô phỏng 65

2.4.8 Xây dựng module 7: Bài tập tự ôn tập 67

2.4.9 Xây dựng module 1: Website hỗ trợ 68

2.4.10 Thiết kế nội dung trang web 70

2.5 Kết luận chương II 80

CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82

3.1 Mục Đích 82

3.2 Phương Pháp 82

3.3 Cách tiến hành 82

3.4 Nội dung thực nghiệm 82

3.5 Kết Quả 84

3.5.1 Đánh giá vai trò của ôn tập, củng cố từ phía GV và từ phía HS 84

3.5.2 Đánh giá Website 89

PHẦN 3 KẾT LUẬN 91

1 Kết luận 91

2 Kiến nghị và định hướng phát triển đề tài 91

Phụ lục 93

Trang 6

PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) đang phát triển với tốc độ rất nhanh Theo PGS TS Phạm Xuân Quế: Trong thập kỷ tới Internet đa phương tiện, truyền thông băng rộng CD-Rom, DVD sẽ mang đến những biến đổi to lớn có tính cách mạng trên quy mô toàn cầu trong nhiều lĩnh vực, trong đó có Giáo dục

Tại hội nghị lần thứ hai BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII đã nêu lên được: Thành tựu nổi bật của CNTT-TT trong Giáo dục hiện nay chính là dạy học thông qua các chương trình chạy trên Website Nó cung cấp một kho tàng kiến thức khổng lồ của nhân loại và tạo cơ hội học tập cho nhiều người có trình độ khác nhau, tạo ra sự bình đẳng, dân chủ trong học tập

Các ứng dụng của CNTT-TT đặc biệt là Internet - Website học tập góp phần rèn luyện khả năng tự học Đây thực sự đã trở thành cầu nối giữa giáo viên và nhà trường, giữa giáo viên và học sinh, giữa gia đình và nhà trường, giữa giáo viên và giáo viên, giữa học sinh và học sinh Công tác quản lý giáo dục cũng thay đổi, các tài liệu tham khảo, các giáo án, sáng kiến kinh nghiệm, các bài tập tham khảo, các

đề thi, các hình thức luyện thi đại học liên tục được đưa lên mạng Internet để giáo viên và học sinh có thể tham khảo, nghiên cứu ở mọi lúc mọi nơi

Tuy vậy các Website dành cho học sinh học tập trong đó có hoạt động tự ôn tập và củng cố được xây dựng trên cơ sở lí luận dạy học Vật lí hiện đại vẫn còn chưa được nghiên cứu Chính vì vậy việc thiết kế các trang Web Vật lí giúp việc tự

ôn tập và củng cố theo quan điểm của lí luận dạy học hiện đại là hết sức cần thiết Trong phạm vi rất hạn hẹp của khóa luận này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thiết kế Website hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố kiến thức chương “Dao

động cơ” Vật lý 12 – chương trình chuẩn”

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận dạy học Vật lí về hoạt động ôn tập, củng cố và công nghệ xây dựng trang Web tự học nhằm thiết kế trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố kiến thức chương “Dao động cơ” - Vật lý lớp 12 chương trình cơ bản

3 Giả thuyết khoa học

Nếu trang web được xây dựng thành công, nó sẽ là công cụ hữu ích hỗ trợ cho học sinh trong việc tham khảo và khai thác nguồn tài liệu phong phú từ website nhằm mục đích ôn tập củng cố, từ đó hiệu quả học tập được nâng cao

4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự ôn tập và củng cố của học sinh

với sự hỗ trợ của trang Web

4.2 Đối tượng nghiên cứu:

- Hệ thống các kiến thức, kĩ năng học sinh cần nắm vững khi học xong phần kiến thức “Dao động cơ”- Vật lý lớp 12

- Hoạt động tự ôn tập và củng cố của học sinh lớp 12 đối với phần kiến thức

“Dao động cơ”- Vật lý lớp 12

- Các chức năng của trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập và củng cố kiến thức, kĩ năng phần kiến thức chương “Dao động cơ” - Vật lý lớp 12

5 Phạm vi nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tự ôn tập, củng cố của học sinh

để thiết kế trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập và củng cố kiến thức chương

“Dao động cơ” - Vật lý lớp 12 nhằm giúp học sinh ôn tập kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kích thích hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả việc tự ôn tập củng cố

Trang 8

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tự ôn tập, củng cố

- Nghiên cứu nội dung chương trình, chuẩn kiến thức và chuẩn kĩ năng phần kiến thức trong chương “Dao động cơ” - Vật lý lớp 12

- Nghiên cứu và thiết kế trang Web hỗ trợ việc tự ôn tập, củng cố kiến thức của học sinh

- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả trang Web xây dựng được

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn

- Phương pháp thống kê toán học

8 Những đóng góp mới của đề tài

- Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ôn tập và củng cố khi học sinh học xong phần kiến thức chương “Dao động cơ” - Vật lý lớp 12

- Trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đề xuất những nội dung, hình thức và phương pháp cần hướng dẫn cho học sinh tự ôn tập kiến thức chương: “Dao động cơ” - Vật lý lớp 12

- Trang Web được xây dựng đã góp phần giúp học sinh tự ôn tập, củng cố kiến thức, kĩ năng trên cơ sở lí luận dạy học hiện đại Đồng thời bước đầu đã góp phần đổi mới phương pháp dạy và học

Trang 9

9 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của khóa luận

- Về mặt lí luận, khóa luận góp phần hệ thống hoá các lí luận về việc ôn tập

và củng cố kiến thức theo quan điểm của lí luận dạy học hiện đại cũng như vận dụng lí luận này vào công nghệ thông tin trong việc xây dựng trang Web về nội dung ôn tập, củng cố kiến thức

- Về mặt thực tiễn, trang Web xây dựng được là tài liệu tham khảo tốt cho học sinh tự ôn tập và kiểm tra kiến thức và cho giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học phần: “Dao động cơ” - Vật lý lớp 12

Trang 10

PHẦN II PHẦN NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG

ÔN TẬP, CỦNG CỐ CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT

1.1 Cơ sở lý luận của hoạt động tự học

1.1.1 Định nghĩa

Theo GS – TSKH Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động

cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”

Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998 cũng bàn về

khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn

đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”

Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn

đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi học sinh phải

tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn, tự thân rèn luyện các kĩ năng

Trang 11

1.1.2 Vai trò

a Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học

Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Trong quá trình hoạt động dạy học giáo viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu học sinh ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho học sinh tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học Giúp học sinh không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng học lên cao thì tự học càng cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi chính là dạy tự học Muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải có khả năng

phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra

b Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập

Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Và một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học Bởi từ đó nền giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say

mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập

Trang 12

c Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để

khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao

Vì vậy, tự học là cách học rất quan trọng, nếu bản thân mỗi người không tự tạo cho mình một được một thời gian tự học thì sẽ bị lệ thuộc vào những điều mà thầy đã dạy cho mình và quan trọng hơn là sẽ không nắm vững được bài Tự học

sẽ giúp chúng ta có tính chủ động học tập, là con đường dẫn đến sáng tạo, khơi nguồn lòng đam mê, tìm tòi những điều mới lạ Chính vì thế tự học là khâu quan trọng nhất trong việc học – tìm tòi kiến thức Với mỗi người bất kể cách học gì thì cũng phải tự học Chỉ có tự học mới giúp chúng ta hiểu rõ được kiến thức, hiểu được các sự vật, sự việc xảy ra trong cuộc sống và hướng tới một tương lai tươi sáng

1.1.3 Ý nghĩa của việc tự học đối với học sinh THPT

Tinh thần tự học là đức tính cần có đối với mỗi học sinh, bởi vì khi các em

tự học là các em đã mang lại cho chính mình cơ hội để khám phá ra những cái hay, cái mới mà các em không biết được khi chỉ chăm chú học theo sách vỡ Như thế chẳng khác nào các em như một khuôn đúc làm theo những khuôn mẫu có sẵn, không có những sáng tạo mới mẻ và cái “sản phẩm” mà ta tạo ra đến một ngày nào đó cũng bị những cái khác lấn lướt Nhưng để rèn luyện được tinh thần

“tự học” thì đòi hỏi các em phải có sự quyết tâm và kiên trì, không được chùn

Trang 13

bước trước những khó khăn và trở ngại Chẳng hạn chúng ta muốn giải bài tập môn Toán, dù đề rất khó nhưng chúng ta phải tìm mọi cách giải bằng được Bởi

vì trong quá trình giải đôi khi chúng ta sẽ phát hiện ra những khiếm khuyết của mình và rút ra kinh nghiệm cho chính bản thân mình

Để được một tinh thần tự học các em còn phải rèn luyện tinh thần tự giác cao, không phải đợi ai nhắc nhở ta mới bắt đầu học, mà các em phải tự ý thức rằng học là cho bản thân không cần sự nhắc nhở cảu bất cứ người nào khác, chỉ

có như thế chúng ta mới đạt được kết quả tốt đẹp Chẳng hạn như những nhà bác học nổi tiếng như: Niuton, Gagile, Acsimet… cũng nhờ sự tự tìm tòi, học hỏi mà

đã tạo ra những định luật, phát minh có ích cho thế giới, và cũng nhờ đức tính tự học và tự sửa chữa sai lầm, khuyết điểm của mình mà Cao Bá Quát đã trở thành người văn hay, chữ tốt được đời sau khen ngợi và noi theo Quay lại với hiện tại, trong nhà trường thì học sinh, thanh niên ngày nay cũng đã đặt vấn đề tự học lên hàng đầu, trên các báo đài ta vẫn thường hay nghe đến tấm gương của một anh thanh niên nhà nghèo không có tiền luyện thi Đại học, bằng cách tự học, anh vẫn

có thể đậu liên tiếp ba trường Đại học lớn

Nhưng cũng chưa hẳn tất cả học sinh, thanh niên ai cũng như thế, bên cạnh những tấm gương học tập trên, vẫn có số đông người còn phụ thuộc quá nhiều vào thầy cô, gia đình Các bạn ùa theo phong trào học thêm, nhưng đi học chỉ vài hôm thì nghỉ hoặc chỉ học nhưng không biết cách áp dụng, học rồi để đó Vì thế làm tốn thêm nhiều chi phí mà học lực cũng chẳng khá lên là mấy, như thế làm ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả học tập và sức lực nhưng không đạt được kết quả

gì cả Cho nên muốn học tốt ta cần phải kết hợp bài giảng của giáo viên trên lớp

và sự tự tìm tòi học hỏi thêm ở trên các phương tiện thông tin đại chúng Chẳng hạn như học Văn ta cần phải trao thường xuyên trau dồi vốn hiểu biết của mình thì mới có được bài làm tốt, còn học trong lớp đôi khi giáo viên cũng giảng hết được mọi khía cạnh và vấn đề mới trong cuộc sống hằng ngày, do đó sự tìm hiểu

Trang 14

và khám phá ra những điều mới là vô cùng quan trọng đối với học sinh và thanh niên ngày nay

Tóm lại tự học đóng vai trò quan trọng đối với đời sống cũng như học tập đối với tất cả mọi người và đặt biệt hơn là với học sinh, thanh niên khi rèn luyện cho mình tính tự học đồng nghĩa với việc chúng ta đang đem đến cho mình những kiến thức vô cùng có giá trị, khi tự học con người sẽ phát hiện ra những thứ mình cần phải có và hiểu hơn về bản thân mình, từ đó góp phần vào việc hoàn thiện bản thân hơn

Tinh thần tự học là rất cần thiết cho học sinh, thanh niên ngày nay Nó đã nhắc nhở các em cách học tập tốt nhất là tự học, không nên quá khuôn mẫu hay giam mình vào những công thức có sẵn mà phải trau dồi, rèn luyện thêm kiến thức cho mình Tự học cũng có nghĩa tương đồng với tự lập, bởi vì khi chúng ta

tự tìm hiểu những vấn đề nào đó thì đòi hỏi chúng ta phải dựa vào sức của mình, không phải nhờ ai làm dùm hay biến kết quả mà người khác có được thành “sản phẩm” của mình Người ta chỉ mang đến “bản đồ” để bạn đi tìm “kho báu” chứ không bao giờ mang những “kho báu” mà họ tìm thấy cho bạn Bởi vậy là học sinh, bản thân mỗi người cần phải rèn luyện cho mình tinh thần tự giác để tự học,

vì chỉ có như thế chúng ta mới thực sự trưởng thành và đạt được những kết quả tốt đẹp trong học tập

Như vậy đối với học sinh, thanh niên ai cũng phải rèn luyện cho mình tinh thần tự học, có như thế ta mới học hỏi thêm nhiều điều trong cuộc sống cũng như biết rõ hơn những vấn đề mà thầy cô đã truyền đạt trên lớp Hãy là người cầm

chắc tương lai của mình để gặt hái được thành công từ tinh thần tự học

1.2 Cơ sở lý luận của hoạt động ôn tập, củng cố

1.2.1 Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập

Theo từ điển tiếng Việt (chủ biên cố Giáo sư Hoàng Phê, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988), ôn tập là học và luyện lại những điều đã học để nhớ, để nắm

Trang 15

chắc

Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo; Hà Thị Đức; Nguyễn Bá Kim; ): Ôn tập là giúp HS củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; tạo khả năng cho

GV sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của HS, rèn luyện kỹ năng,

kỹ xảo, phát huy tính tích cực, độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý cho HS Ôn tập còn giúp HS mở rộng đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kỹ năng kỹ xảo đã được hình thành

Một số tác giả khác lại cho rằng: Ôn tập là một quá trình giúp HS xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, tổ chức lại thông tin đó nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hay có chỗ chưa tối ưu, góp phần củng cố và khắc họa thông tin để có thể sử dụng thông tin

có hiệu quả trong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau

Tiếp thu những quan niệm về ôn tập như trên, tôi cho rằng: Ôn tập là quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung và chỉnh lý thông tin, tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ và dễ gọi lại hơn, vận dụng thông tin đã lĩnh hội qua đó mà củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức, làm vững chắc các kỹ năng,

kỹ xảo đã được lĩnh hội, phát triển trí nhớ, tư duy của người học

Theo các nhà tâm lý học, ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự cấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới Khi cần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt động khác nhau Sự lưu giữ thông tin được bắt đầu từ quá trình ghi nhớ Quá trình ghi nhớ có liên quan đến những thông tin được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài Thông tin được lưu giữ trong trí nhớ ngắn chỉ chừng vài giây trong thời gian người học làm việc, tiến hành thao tác trên các thông tin đó, còn trí nhớ dài lưu giữ thông tin trong suốt cả cuộc đời Trí nhớ ngắn lưu giữ những gì ta đang suy nghĩ vào lúc đó, cùng với những thông tin chuyển từ các giác quan như tai,

Trang 16

mắt của con người Sau khi lưu giữ và sử lý những thông tin ấy trong vài giây, trí nhớ ngắn lập tức quên hầu hết số thông tin ấy Để lưu giữ thông tin thì những nội dung của trí nhớ ngắn phải được chuyển sang trí nhớ dài Nhưng muốn chuyển được sang được trí nhớ dài thì các thông tin đó trước hết cần được xử lý, sắp xếp cấu trúc trong trí nhớ ngắn sao cho nó có nghĩa đối với người học Thực chất của hoạt động này là thực hiện việc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa để xác nhận và tổ chức lại thông tin đã thu nhận trong một cấu trúc mới sao cho nó có nghĩa đối với người học Để tổ chức được thông tin, điều đầu tiên người học phải xác nhận lại thông tin, bổ sung, chỉnh lý, chính xác hóa những thông tin đã lĩnh hội qua các thao tác trí tuệ để tìm ra những vấn đề cơ bản, những kết luận mấu chốt, những vấn đề chưa rõ, chưa hiểu, trao đổi với bạn bè, với thầy

cô giáo để làm sáng tỏ những thông tin đó Tức là phải thông hiểu thông tin, phải trả lời được câu hỏi “tại sao như vậy?” Trên cơ sở của sự thông hiểu thông tin, người học tiến hành các hoạt động phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa để tổ chức lại các thông tin đã lĩnh hội đó trong một cấu trúc mới Sau khi trí nhớ ngắn đã “làm nên ý nghĩa” cho thông tin đã được lĩnh hội thì

nó được chuyển thành trí nhớ dài Từ đây cho thấy chất lượng của việc cấu trúc lại thông tin như thế nào để chuyển sang lưu trữ tại vùng trí nhớ dài hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức ôn tập của GV và vào chính cá nhân HS

Trí nhớ dài giống như một tủ hồ sơ chứa những thông tin đã được lập thành tệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai Tuy nhiên trí nhớ dài có khuynh hướng chỉ coi một dữ liệu hoặc một ý tưởng nào đó là “hữu ích” một cách lâu dài nếu nó thường gặp phải những dữ liệu hoặc những ý tưởng đó Do vậy, với những thông tin cần được lưu giữ trong trí nhớ dài thì chúng cần phải được sử dụng và gợi nhớ lại một cách thường xuyên Điều đó có nghĩa là khi thông tin đã được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài, nếu không có sự sử dụng thường xuyên thì những thông tin đó sẽ bị lãng quên Vì vậy để lưu giữ thông tin lâu dài, GV cần

Trang 17

phải tổ chức cho HS sử dụng những thông tin đã được lĩnh hội một cách thường xuyên bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó cách sử dụng tốt nhất là vận dụng những thông tin ấy vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và thực hành

1.2.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức

Ôn tập được tổ chức tốt chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình dạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết mà

GV phải sử dụng trong việc dạy học của mình và nó giúp người học trong quá trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Nhờ ôn tập được tổ chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ được ghi lại trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại, khắc sâu một cách sáng tạo hơn, cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái chủ yếu được gắn lại với nhau và có một chất lượng mới Kiến thức

sẽ không được giữ lại trong trí nhớ nếu thiếu ôn tập, và nói chung nếu thiếu bất kỳ

sự vận dụng nào

Ôn tập cần thiết cho việc củng cố, nắm vững, hoàn thiện tri thức và sau đó là

để làm mới lại chúng trong trí nhớ lúc này hoặc lúc khác Ôn tập còn có một ý nghĩa lớn hơn trong việc rèn luyện kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức vào trong cuộc sống khi ôn tập Vật lý Nếu người thầy cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức rời rạc và không ổn định sẽ gây khó khăn cho việc tri giác kiến thức mới và củng cố kiến thức cũ “Những kiến thức cũ cần được củng

cố, điều chỉnh là để “giải phóng bộ óc” giúp cho việc lĩnh hội kiến thức mới, bởi vì chỉ có thể cố định kiến thức cũ thì mới dùng nó làm chỗ dựa cho kiến thức mới được”

Thông qua việc ôn tập, củng cố giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức, có một

“bức tranh” tổng thể, hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các kĩ năng đã được học, giúp học sinh đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa và tránh được các quan niệm sai lầm thường mắc phải trong và sau khi học lần đầu

Trang 18

1.2.3 Nội dung cần ôn tập, củng cố trong dạy học Vật lí

Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông,

vì thế ôn tập không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà trên cơ sở nội dung chương trình của môn học quy định cho từng khóa học mà lựa chọn những vấn đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn đề đó Ôn tập cũng không tự đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa trên phương pháp dạy học của bộ môn với nội dung cần ôn tập để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất trong khoảng thời gian cho phép được quy định của chương trình

Đối với môn Vật lí, cái tạo thành nội dung chính của môn học là những kiến thức Vật lí cơ bản Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó mà thực hiện các nhiệm vụ khác của dạy học Vật lí, trước hết là phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học

Trong quá trình dạy học Vật lí cần chú ý đến những tác động sư phạm khác nhằm điều hành quá trình dạy học từ đầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ, hứng thú; củng cố, ôn tập; điều chỉnh; kiểm tra, đánh giá…

Những kiến thức Vật lí cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến thức mới cũng như trong quá trình ôn tập củng cố trong chương trình Vật lí ở trường phổ thông gồm các loại sau:

- Những khái niệm Vật lí, đặc biệt là những khái niệm về đại lượng Vật

Trang 19

- Kĩ năng thu thập thông tin: kĩ năng đọc sách; kĩ năng quan sát; đọc đồ thị, biểu đồ; kĩ năng khai thác mạng Internet

- Kĩ năng xử lí thông tin: kĩ năng xây dựng bảng biểu, đồ thị; kĩ năng so sánh, đánh giá; phân tích, tổng hợp

- Kĩ năng truyền đạt thông tin: trình bày, viết, báo cáo kết quả

1.2.4 Các phương pháp ôn tập ngoài giờ lên lớp

a Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm ở nhà có tác dụng giúp học sinh tự ôn tập, củng cố kiến thức

Đọc sách là một trong những dạng hoạt động nhận thức cơ bản của con người, một loại hình tự học quan trọng và phổ biến

HS học tập ở nhà là sự tiếp tục một cách có lôgic hình thức trên lớp Ở đây,

HS phải tự lực đọc lại và hoàn thành các bài tập do GV đề ra sau các giờ lên lớp Ngoài những bài tập về nhà chung cho cả lớp, GV có thể ra những bài tập riêng cho các HS kém và giỏi Như vậy, học tập ở nhà có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của quá trình dạy học Trước hết, nó có tác dụng ôn tập, củng

cố, đào sâu, mở rộng, khái quát hóa và hệ thống hóa tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo Nó góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng ở HS năng lực tự học, năng lực làm việc độc lập Nó còn cho phép thực hiện được sự cá biệt hóa việc dạy học, giúp lấp những lỗ hổng trong trí thức của những HS kém và phát triển năng lực sáng tạo ở HS giỏi Vì HS tự thực hiện những nhiệm vụ học tập do GV giao cho, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ HS không có sự hướng dẫn của GV;

GV đánh giá kết quả của hoạt động tự học thông qua mức độ hoàn thành công việc của HS; nội dung tự học cũng rất đa dạng, tuỳ thuộc nội dung chương trình và đối tượng HS

Trang 20

b Hoạt động ngoại khóa góp phần tự ôn tập, củng cố kiến thức

Hoạt động ngoại khoá Vật lí là một trong những hoạt động ngoài giờ lên lớp có tổ chức, có kế hoạch, có phương hướng xác định được HS tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện ở ngoài giờ nội khoá dưới sự hướng dẫn của các GV Vật lí nhằm gây hứng thú, phát triển tư duy, rèn luyện một số kĩ năng, bổ sung và

mở rộng kiến thức Vật lí cho HS; nó có tác dụng lớn về mặt giáo dục tư tưởng, hình thành thới giớ quan, nhân sinh quan và giáo dục kĩ thuật tổng hợp

Hoạt động ngoại khoá Vật lí có thể đem lại nhiều tác dụng to lớn mà một trong những tác dụng đó là góp phần củng cố, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức Vật lí đã học trên lớp; bổ sung những kiến thức về mặt lí thuyết hoặc khắc phục những sai lầm mà HS thường mắc phải khi học nội khoá

c Tham gia xây dựng lôgic hình thành các kiến thức thông qua xây dựng các

sơ đồ-Graph về từng phần và toàn bộ hệ thống kiến thức cần ôn tập

Trong lí thuyết graph thì từ “Graph” bắt nguồn từ “graphic” có nghĩa là tạo ra một hình ảnh rõ ràng, chi tiết sinh động trong tư duy Graph là một cấu trúc rời rạc gồm nhiều đỉnh và các cạnh (vô hướng hoặc có hướng) nối các đỉnh đó Trong dạy học người ta quan tâm nhiều đến graph định hướng Việc chuyển graph toán học sang các graph dạy học đã được ứng dụng nhiều trong các môn học như: Hóa học, Vật lí, Văn học, Địa lí, Sinh học và đã được nhiều tác giả nghiên cứu Ở Việt Nam, từ năm 1971, giáo sư Nguyễn Ngọc Quang là người đầu tiên nghiên cứu chuyển hoá graph toán học thành graph dạy học Graph có tác dụng mô hình hoá đối tượng nghiên cứu và mã hoá các đối tượng đó bằng một loại “ngôn ngữ” vừa trực quan, vừa cụ thể và cô đọng Những ứng dụng của lí thuyết graph:

- Dùng graph để hệ thống hóa khái niệm trong một tổng thể, giúp mở rộng những hiểu biết về đối tượng nghiên cứu

- Dùng graph cấu trúc hóa nội dung tài liệu giáo khoa, nghĩa là tạo nên mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức trong một hệ thống nhất định (trong một chương

Trang 21

trình, một chương hay một bài)

- Dùng graph hướng dẫn HS tự học, hoàn thiện tri thức, nghĩa là GV có thể để cho HS tự thiết kế các graph hoặc hoàn thiện các graph do GV gợi ý Hệ thống hóa kiến thức giúp HS có một bức tranh tổng thể, hệ thống về những kiến thức được học trong một lĩnh vực nhất định Sử dụng graph trong khâu này có các mức

độ sau:

* Mức độ thứ nhất: GV đưa ra:

+ Các yếu tố có trong graph đã có chiều mũi tên nối các đỉnh nhưng nội dung

ở các đỉnh còn trống, hoặc các yếu tố có trong graph chưa có chiều mũi tên nối các đỉnh và các đỉnh đã điền đủ (hoặc thiếu) các yếu tố nội dung

+ Chưa có các cạnh rồi yêu cầu HS điền thông tin vào những chỗ trống đó, tạo các liên kết giữa các đỉnh theo các chiều từ yếu tố cơ bản đến yếu tố dẫn xuất

* Mức độ thứ hai: HS tự xây dựng graph thể hiện các kiến thức đã học theo một lôgic mà mỗi HS tự xác định, giáo viên chỉ nêu định hướng chung, những yêu cầu cơ bản của bài ôn tập

Sử dụng graph trong khâu hoàn thiện tri thức là sự kết hợp giữa khâu học ở lớp với khâu tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn của GV

1.2.5 Mối quan hệ giữa ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá

Ôn tập nói chung được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với công việc kiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Những công việc mà đòi hỏi tính tích cực của

HS nhiều hơn là khi giảng kiến thức mới Chúng ta có thể hợp nhất hoàn toàn tự giác cả ôn tập và kiểm tra vào làm một Tuy nhiên tính mục đích của ôn tập và kiểm tra hoàn toàn khác nhau Ở trường hợp thứ nhất là công tác củng cố tri thức,

ở trường hợp thứ hai là việc kiểm tra chúng với sự cho điểm (đánh giá) thích đáng Tất nhiên mặc dù ở tính mục đích khác nhau nhưng ôn tập và kiểm tra tiến hành một cách đồng thời Bất kỳ việc ôn tập nào của GV (do GV tổ chức)

Trang 22

cũng đồng thời tiến hành cả kiểm tra tri thức, mặc dù người GV không có dụng ý đạt mục đích này đi nữa

Liên hệ giữa ôn tập và kiểm tra là vô cùng khăng khít Tổ chức ôn tập để tuyệt đối hóa nó, không có yếu tố kiểm tra hoặc tổ chức kiểm tra để tuyệt đối hóa nó, không có yếu tố ôn tập như thế không thể có được Ở đây công việc có thể tiến hành chỉ là trong trường hợp thứ nhất, những yếu tố ôn tập trội hơn yếu tố kiểm tra, hoặc trong trường hợp thứ hai thì ngược lại Thực tế việc giảng dạy và học tập

ở trường phổ thông cho ta thấy rõ điều này

Ôn tập được tổ chức theo tiết học thông qua kiểm tra (vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm…) và việc đánh giá đúng trình độ nhận thức của HS qua kiểm tra giúp GV lựa chọn đúng nội dung và đối tượng cần ôn tập Ôn tập tốt giúp người học thể hiện tốt trình đội nhận thức của mình trong bài kiểm tra trên lớp

Như vậy ôn tập được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với kiểm tra và thông qua các hình thức tổ chức dạy học cơ bản Việc tách riêng ôn tập và kiểm tra

là do mục đích, nhiệm vụ của mỗi công việc và chúng ta không thể tuyệt đối hóa từng công việc được Sự phân chia công việc như vậy trong tiết học chỉ mang tính tương đối Có thể biểu diễn quan hệ đó qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa ôn tập, củng cố và kiểm tra

Tiết lên lớp

Ôn tập Kiểm tra

Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà Các hoạt

động ngoại

Trang 23

1.3 Các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động ôn tập, củng cố cho học sinh THPT đang được sử dụng hiện nay

Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng - vật chất do GV hoặc HS sử dụng dưới sự chỉ đạo của GV trong quá trình dạy học, tạo những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học Phương tiện dạy học có thể được

sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá) kiến thức, kĩ năng của HS Hiện nay, các phương tiện được dùng trong ôn tập củng cố thường là các phương tiện sau:

1.3.1 Sách (giáo khoa, bài tập, các tư liệu khác)

Lượng tin trong những phương tiện dạy học này được truyền đạt qua các bài khóa, hình vẽ, đồ thị Các loại phương tiện này có nhiều điểm giống nhau, có thể truyền đạt được các lượng tin bất kỳ nào từ các hiện tượng bên ngoài đến các diễn biến phức tạp bên trong các quá trình và các qui trình sản xuất

a Sách giáo khoa:

Ở hệ giáo dục tại trường, sách giáo khoa được xem như là phương tiện phục

vụ cho công việc tự học của học sinh để nắm kiến thức ngoài thời gian lên lớp

Ở hệ thống giáo dục hàm thụ, sách giáo khoa là cơ sở cung cấp toàn bộ kiến thức Học sinh dùng sách giáo khoa để nắm kiến thức lý thuyết, làm các bài tập theo các bài mẫu và có thể nghiên cứu các vấn đề khoa học được áp dụng trong thực tế

Sách giáo khoa phải đạt được yêu cầu quan trọng là dễ hiểu và rõ ràng Giáo viên có thể sử dụng sách giáo khoa ttrong quá trình giảng bài Nhờ máy chiếu phản quang, giáo viên có thể chiếu các hình vẽ, đồ thị, hoặc bài khóa trong sách lên màn ảnh

Trang 24

Sách giáo khoa đặc biệt cần thiết khi ra bài tập làm ở nhà, khi cần định hướng chú ý của học sinh vào những khía cạnh cơ bản của các hiện tượng và đối tượng học tập

Để học sinh làm việc có hiệu quả với sách giáo khoa nói riêng với tài liệu in nói chung, điều quan trọng là phải bồi dưỡng cho học sinh ngày càng tự lực tiến hành các hoạt động sau:

- Tìm thông tin (thông qua mục lục)

- Tiếp nhận thông tin (đọc các đoạn văn, xem hình vẽ, tra cứu số liệu… trong sách)

- Định hình thông tin (gia công thành các ý, gạch chân những ý quan trọng)

- Chế biến thông tin theo mục đích đặt ra

- Vận dụng thông tin trong phạm vi nhất định (thảo luận, báo cáo)

- Trong giai đoạn mỗi học sinh làm việc tự lực trực tiếp với sách giáo khoa, giáo viên phải lưu ý học sinh thâu tóm nội dung của đoạn sách giáo khoa, rút ra những phát biểu cô đọng (các câu trả lời) cho việc hoàn thành nhiệm vụ được giao

- Ở giai đoạn đánh giá kết quả làm việc với sách giáo khoa của học sinh, giáo viên phải kiên nhẫn sửa chữa những cái sai, bổ sung những cái chưa đầy đủ

b Sách bài tập

Cũng như sách giáo khoa sách bài tập là phương tiện học tập cơ bản, bởi vì giải bài tập là một trong những phương pháp dạy học cần thiết để rèn luyện cho học sinh kỹ năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn

Phương tiện này được học sinh sử dụng trong quá trình thực hiện các bài tập thực tế ở lớp cũng như ở nhà Giáo viên có thể dùng sách bài tập để lập các phiếu ghi, ra bài tập cho từng cá nhân, kiểm tra và giao việc cho học sinh tự làm

Trong sách bài tập thường có những bài giải mẫu giúp học sinh có thể tự làm các bài tập tương tự khác Dùng sách bài tập học sinh được làm quen với cách tra

Trang 25

cứu tài liệu, giúp họ tự giải quyết các nhiệm vụ công nghệ nhất định trong quá trình thực hiện các công nghệ sản xuất

c Tài liệu khoa học phổ thông

Tài liệu khoa học phổ thông đóng vai trò rất lớn trong việc tích lũy kiến thức khoa học ngoài giờ học của học sinh Học sinh sử dụng các tài liệu này để chuẩn

bị các đề cương báo cáo, hội thảo khoa học kỹ thuật

Tài liệu khoa học kỹ thuật có nét đặc trưng là tính dễ hiểu và sự hấp dẫn

Nó truyền lượng tin về các hiện tượng khoa học kỹ thuật phức tạp bằng cách diễn giải dễ hiểu, phù hợp với trình độ hiểu biết của học sinh, giúp học sinh làm quen với các môn khoa học kỹ thuật mà họ sẽ học và mở rộng tầm nhìn của mình

1.3.2 Các tư liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) trên mạng Internet

Do những yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học nên các phương tiện kĩ thuật phục vụ dạy học ở các trường phổ thông hiện nay được trang bị ngày càng nhiều Đặc biệt trong đó có máy vi tính

Vai trò hỗ trợ của máy vi tính trong các giai đoạn:

- Trong giai đoạn ôn luyện và vận dụng kiến thức, có thể giao cho HS độc lập sử dụng chương trình ôn tập đã cài sẵn trên MVT Có thể kết hợp sự biểu diễn của GV với việc giao nhiệm vụ cho HS, yêu cầu HS giải quyết nhiệm vụ để ôn tập vả vận dụng kiến thức đã lĩnh hội

- Trong giai đoạn củng cố, tổng kết, hệ thống hoá kiến thức, có thể sử dụng phần mềm để xây dựng chương trình tổng kết, hệ thống hoá tri thức theo từng môđun Chương trình có thể điều khiển tiến trình tổng kết, đảm bảo việc hệ thống hoá có tính logic cao về mặt nội dung Với phần mềm ôn tập thì HS có thể lựa chọn nội dung ôn tập từ hệ thống bảng chọn (menu) của chương trình HS có thể lặp lại quá trình ôn tập với số lần thích hợp không hạn chế và dễ dàng chuyển đổi

Trang 26

giữa các nội dung khác nhau

- Trong giai đoạn kiểm tra đánh giá trình độ kiến thức và các kĩ năng, sử dụng MVT làm công tác kiểm tra, đánh giá sẽ giảm đi rất nhiều thời gian nhờ khả năng thống kê và xử lý kết quả nhanh chóng của hệ thống Ngoài khả năng cho biết nhanh chóng kết quả đánh giá, thì tính khách quan, tính chính xác của các kết quả xử lý bằng MVT, khả năng cho phép thực hiện việc kiểm tra đánh giá trên nhiều nội dung kiến thức bằng các loại câu trắc nghiệm đa dạng khác nhau là một đặc tính riêng của MVT Biết tận dụng những khả năng này của MVT trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, thì GV có thể chủ động củng cố kiến thức cho HS ở bất cứ thời điểm nào trong quá trình dạy học

Hiện nay, xu hướng khai thác và sử dụng MVT trong dạy học VL chú trọng đến việc tiến hành các TN với sự hỗ trợ của máy vi tính TN với sự hỗ trợ của máy tính thường áp dụng đối với những TN không thể tiến hành theo cách thông thường, nếu có tiến hành được đi nữa cũng mất nhiều thời gian và đây là điều mà không thể thực hiện thành công trong một tiết học Trong tổ hợp TN với MVT, các TN vẫn sử dụng thông thường nhưng việc xử lí số liệu được thực hiện nhanh chóng bằng MVT với sự hỗ trợ của các phần mềm đã cài đặt trong MVT

Một hướng kết hợp khác giữa TN và MVT là sử dụng MVT với chức năng

mô phỏng và minh họa, nó mô phỏng các quá trình động như quá trình phân rã hạt nhân Các chương trình mô phỏng thường được xây dựng trên một mô hình toán học, một phương trình mô tả quy luật vận động biến đổi của đối tượng nghiên cứu Một số quá trình trong thực tế diễn ra quá nhanh hoặc quá chậm do

đó gây nhiều khó khăn cho quá trình quan sát trực tiếp và chỉ có thể khắc phục bằng việc mô phỏng lại quá trình bởi MVT Đôi khi có thể là quá trình thực được quay lại trực tiếp, nhưng bằng MVT có thể điều chỉnh tốc độ để quan sát hiện tượng một cách trung thực và rõ ràng

Trang 27

Trong dạy học VL, có nhiều trường hợp cần phải minh hoạ bằng hình vẽ, MVT có thể hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và đảm bảo sự trực quan Chẳng hạn như các bài toán về mạch điện, mạng tinh thể Hầu hết các TN

mô phỏng và minh hoạ bằng MVT đều đạt hiệu quả cao cả về độ chính xác lẫn mức độ thẩm mỹ

Khi kết hợp MVT với video, camera, có thể tạo nên một hệ thống phương tiện nghe nhìn hiện đại và tỏ ra hữu hiệu trong dạy học VL Ngoài ra, MVT còn thực hiện các chức năng tự động hoá các TN giáo khoa VL Khi MVT được ghép nối với các thiết bị như thiết bị đo, bộ chuyển đổi tương tự số, bộ khuyếch đại, kết quả TN thông qua MVT và các thiết bị ghép nối sẽ được xử lí và hiện lên màn hình ngay trong quá trình tiến hành TN Thực tế cho thấy, với sự trợ giúp của MVT trong TN, nhiều vấn đề sẽ được giải quyết với kết quả nhanh chóng và chính xác mà các TN thông thường hiện nay chưa thể đạt được

Thông qua sử dụng máy vi tính các mô hình mô phỏng các hiện tượng Vật lí, các đoạn video chưa được sử dụng khi nghiên cứu kiến thức mới có thể dùng trong giai đoạn vận dụng các kiến thức đã học để xây dựng trang Web củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá) kiến thức, kĩ năng của học sinh

Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm được xem như phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng trong dạy học Theo em, việc soạn thảo công phu các câu hỏi trắc nghiệm, các bài trắc nghiệm có phản hồi những sai lầm của HS và hướng dẫn HS

tự đọc tư liệu dựa trên công nghệ thiết kế Website hợp lí trên máy vi tính hì sẽ tạo

ra được một công cụ, phương tiện hữu hiệu để định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần ôn tập, đánh giá mục tiêu và phương pháp dạy học, mà hiện nay chưa có những bài trắc nghiệm trên mạng như vậy

Ưu thế của Website thể hiện ở các tính năng tạo lập và quản lý nội dung ôn tập như: giao - nộp bài tập; trao đổi trực tuyến giữa GV và HS, giữa các bạn học (chat), tạo lập các diễn đàn,… Nhưng đặc biệt hơn cả “Quản lý học viên” là một

Trang 28

tính năng đặc biệt quan trọng của công nghệ thiết kế Website bao gồm: kết nạp và theo dõi thông tin học viên trong một khóa học, chia học viên thành các nhóm (lớp học, khóa học), lên lịch các sự kiện của Website hoặc khóa học…, áp dụng tỉ

lệ cho các hoạt động khác nhau cho học viên, quản lí điểm, theo dõi lần truy cập của học viên và tải lên các file ở ngoài để sử dụng cho khóa học… GV có thể phân quyền truy cập vào nội dung ôn tập đối với từng nhóm đối tượng như: ôn tập cho mọi người, ôn tập dành cho học viên, Với khả năng tính toán của máy tính, máy tính có thể dễ dàng và nhanh chóng thực hiện kiểm tra trên Website đồng thời thực hiện chấm điểm trên Website theo thang điểm đã đặt ra

1.4 Các hình thức ôn tập

1.4.1 Ôn tập thông qua việc trả lời các câu hỏi ôn tập

Để hiểu được nội dung bài học, HS phải trả lời được các câu hỏi ôn tập mà

GV giao cho Câu hỏi ôn tập có nhiều dạng có thể là câu hỏi tái hiện, câu hỏi yêu cầu HS phải có sự so sánh, phân tích, tổng hợp để rút ra những dấu hiệu bản chất của đối tượng nghiên cứu, câu hỏi dưới dạng tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa nhằm giúp HS xác định được kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài, câu hỏi dưới dạng bài tập có vấn đề, đây là dạng câu hỏi gợi ý HS xem xét một vấn đề dưới nhiều góc độ, tạo cho HS có thói quen suy nghĩ sâu sắc, có óc hoài nghi khoa học

Để trả lời được câu hỏi HS cần phải thực hiện các bước sau:

- Đọc kỹ câu hỏi, phân tích và xác định yêu cầu của câu hỏi

- Đọc nội dung của tài liệu có liên quan đến kiến thức mà dùng để trả lời cho câu hỏi

- Phân tích, tổng hợp vận dụng những kiến thức đã có trong bài học để trả lời câu hỏi

Trang 29

1.4.2 Ôn tập thông qua việc xây dựng dàn ý tóm tắt bài học

Xây dựng dàn ý tóm tắt bài học chính là việc rút ra những nội dung chủ yếu của bài học đó Do vậy dàn ý tóm tắt bài học phải là một bản tóm tắt khái quát nhất, đầy

đủ nhất về nội dung bài học, nhìn vào đó có thể thấy ngay được bài học nghiên cứu

về vấn đề gì, các nội dung được đề cập đến trong bài, các kiến thức cơ bản của từng nội dung và mối quan hệ giữa các kiến thức được thể hiện như thế nào Qua

đó HS nắm bài một cách vững chắc, ghi nhớ được lâu, tái hiện nhanh Đồng thời qua việc tự tóm tắt dàn ý bài học sẽ hình thành ở HS tính tự giác, tính tích cực học tập; có thái độ, động cơ học tập đúng đắn; có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, phát triển năng lực nhận thức, hình thành được phương pháp học tập

Để có thể lập được dàn ý tóm tắt bài học, HS phải thực hiện các thao tác cơ bản sau:

- Đọc kỹ toàn bài để biết được bài học nghiên cứu về vấn đề gì

- Xác định cấu trúc bài học (bài học đó bao gồm bao nhiêu nội dung, những nội dung đó nghiên cứu về vấn đề gì và được sắp xếp như thế nào)

- Xác định các ý chính của từng nội dung (mỗi nội dung gồm bao nhiêu ý cơ bản, những ý cơ bản đó là gì?)

- Xác định mối quan hệ giữa các nội dung

- Tóm tắt toàn bài (nêu lên các nội dung chủ yếu)

- Kiểm tra và hoàn thiện

Sau đó HS sẽ phải diễn đạt một cách tóm tắt nhất nhưng đầy đủ ý nghĩa nhất toàn bộ nội dung các kiến thức cơ bản của bài học dưới dạng một bản tóm tắt

1.4.3 Ôn tập thông qua việc xây dựng sơ đồ (graph)

Xây dựng sơ đồ, mô hình hóa nội dung bài học chính là quá trình gạt bỏ những yếu tố không bản chất, chỉ giữ lại những yếu tố bản chất, cơ bản nhất, kết

Trang 30

nối chúng lại với nhau theo lôgic phát triển bên trong của đối tượng nghiên cứu Với quan điểm như trên thì việc xây dựng sơ đồ bài học (graph bài học) cho ta cái nhìn khái quát, trực quan và mang tính lôgic- hệ thống về nội dung kiến thức và mối quan hệ ràng buộc giữa các đơn vị kiến thức trong một bài học hoặc các bài học với nhau Cụ thể là:

- Tính khái quát: Khi nhìn vào sơ đồ, ta có thể thấy được toàn bộ nội dung kiến thức Bởi vì các kiến thức cơ bản "chốt" được đặt tại các đỉnh của graph, mối liên hệ giữa các kiến thức được thể hiện bằng các cung kết nối (hay mũi tên), nhờ vậy mà ta có còn nhận ra mối quan hệ tiềm ẩn giữa các kiến thức đó

- Tính trực quan: Sơ đồ sau khi xây dựng được là một bản tóm tắt nội dung bài học, trong đó các kiến thức được sắp xếp theo một hệ thống logic chặt chẽ, theo một mối liên hệ nhất định Do đó nó trở thành một công cụ giúp người học nhanh chóng nhận ra vấn đề

- Tính lôgic- hệ thống: Với nội dung kiến thức được trình bày bằng lời, phải suy nghĩ tìm hiểu lâu mới tìm ra lôgic của vấn đề Nhưng với sơ đồ graph thì mối liên hệ giữa các nội dung được thể hiện rất rõ qua việc sắp xếp các đỉnh kiến thức và các cung thể hiện mối liên hệ của các kiến thức đó, giúp học sinh nắm kiến thức một cách khái quát, ghi nhớ và tái hiện kiến thức thuận lợi hơn Bởi vì kiến thức phải nhớ là các kiến thức “chốt” được đặt trên các đỉnh và dựng lại những gì cần nhớ từ kiến thức “chốt” ấy Sơ đồ không chỉ giúp HS nhớ được tốt,

có nhiều cơ hội hơn để xử lý thông tin ở "cấp độ cao hơn" mà còn tạo cơ hội cho lối tư duy chia sẻ, hợp tác, vừa kích thích tư duy, vừa gây hứng thú Ngoài ra, nhờ xây dựng sơ đồ kiến thức mà phát triển ở HS khả năng tổng hợp, khả năng khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức, qua đó hình thành những kỹ năng học tập cần thiết, thay đổi dần cách học thuộc lòng vở ghi hoặc sách giáo khoa một cách máy móc

Trang 31

Muốn xây dựng sơ đồ bài học HS cần phải thực hiện các thao tác sau:

- Tìm hiểu nội dung bài học: Nghiên cứu nội dung bài học trong SGK, tài liệu tham khảo để có cái nhìn tổng quát về nội dung bài học

- Lập danh mục kiến thức cơ bản: Phân tích nội dung tài liệu học tập, phát hiện, chọn lọc, liệt kê toàn bộ kiến thức cơ bản (kiến thức “chốt”) của tài liệu học tập để đặt nó vào các đỉnh của sơ đồ Có thể gộp những kiến thức “chốt” cùng tính chất, cùng thể loại về ý nghĩa và nội dung vào chung một đỉnh

+ Lập cung: nối các đỉnh từng đôi lại với nhau có hoặc không có mũi tên Nếu cung có mũi tên thì đi từ kiến thức xuất phát đến kiến thức dẫn xuất

+ Hoàn thiện sơ đồ: Nghiên cứu xem sơ đồ đã phản ánh đầy đủ nội dung tài liệu chưa về những kiến thức cơ bản và mối quan hệ của các kiến thức ấy, sau đó hoàn thiện sơ đồ

1.4.4 Ôn tập thông qua việc làm bài tập luyện tập

Làm bài tập là hoạt động vận dụng kiến thức để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức hoặc thực hành theo nhiều mức độ khác nhau Việc giải các bài tập Vật lý có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy định hướng HS một các tích cực, khả năng vận dụng kiến thức cũng như giải quyết vấn đề của HS

Các bài tập luyện tập có thể có nhiều thể loại và hình thức khác nhau bao gồm:

Trang 32

- Bài tập định tính dưới dạng các câu hỏi ôn tập: câu hỏi có thể chỉ yêu cầu ở mức độ tái hiện kiến thức, cũng có những câu hỏi đòi hỏi HS phải đọc lại toàn bộ bài học, sử dụng các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh để tìm câu trả lời

- Bài tập trắc nghiệm có phản hồi hướng dẫn: hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm có phản hồi hướng dẫn được xoạn thảo một các công phu dựa trên sự phân tích các sai lầm phổ biến của HS được sử dụng như một công cụ, một phương tiện

để định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức của HS, đồng thời cũng là một phương tiện để HS tự kiểm tra, đánh giá mức độ thu nhận kiến thức của mình

- Bài tập lập sơ đồ graph tóm tắt bài học: bài tập dạng này có thể có các mức độ:

+ Mức độ một: cho trước sơ đồ, yêu cầu HS chuyển hóa từ sơ đồ tóm tắt sang bản tóm tắt bằng lời

+ Mức độ hai: cho trước sơ đồ nhưng còn khuyết một số nội dung, yêu cầu HS

bổ sung để hoàn chỉnh sơ đồ

+ Mức độ ba: yêu cầu HS tự lập và hoàn chỉnh sơ đồ thể hiện nội dung kiến thức và logic hình thành kiến thức trong bài học

1.4.5 Ôn tập thông qua diễn đàn thảo luận

Thảo luận nhóm trong ôn tập là sự bàn bạc, trao đổi ý kiến, trình bày quan điểm của mỗi cá nhân về một vấn đề học tập dưới sự tổ chức điểu khiển của GV Trong quá trình thảo luận nhóm, HS được tự do trình bày ý kiến của mình, lắng nghe ý kiến của bạn, hợp tác với nhau trong việc giải quyết nhiệm vụ chung Thông qua thảo luận, HS có điều kiện mở rộng, đào sâu kiến thức đã học, nhìn nhận chúng một cách rõ ràng hơn Đồng thời thông qua thảo luận còn giúp HS phát triển kỹ năng nói, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tranh luận Trong quá trình tham gia thảo luận HS thể hiện tính tích cực, chủ động hơn trong học tập, nâng cao tinh

Trang 33

thần trách nhiệm với mọi người Việc thảo luận trong nhóm không những tạo cơ hội cho HS cọ sát những quan điểm, chính kiến về tri thức, mà còn là điều kiện

để các em thể hiện chính mình, hình thành năng lực tự đánh giá, tự ý thức Mặt khác việc tổ chức cho HS thảo luận nhóm còn giúp GV nắm được hiệu quả giáo dục HS về các mặt nhận thức, thái độ, quan điểm, xu hướng hành vi của HS …

1.4.6 Ôn tập trên lớp dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên

Ôn tập trong khi trình bài tài liệu mới, nếu việc tiếp thu kiến thức mới dựa trên

cơ sở của những kiến thức đã học trước đó Hình thức này được thực hiện thông qua

hệ thống các câu hỏi được GV chuẩn bị sẵn, đó là các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc những câu hỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại kiến thức cũ mà nó là cơ

sở để hình thành kiến thức mới trong bài học

Ôn tập được thực hiện ngay sau khi trình bài tài liệu mới, nhằm củng cố những kiến thức HS vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt lõi của bài học Hình thức này có thể tiến hành bằng cách đưa ra các câu hỏi để HS trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổng kết những kiến thức cơ bản của bài học

Ôn tập sau khi kết thúc một chương hoặc một phần của chương trình Hình thức ôn tập này thường được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết học riêng biệt Mục đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lý lại, hệ thống lại, tìm ra mối liên hệ logic giữa các kiến thức mà HS đã được lĩnh hội trong một phần của tài liệu học; tạo cho HS có cái nhìn toàn diện về nội dung kiến thức trong phần

đó

1.4.7 Ôn tập ngoài giờ lên lớp

Hoạt động ôn tập ngoài giờ lên lớp diễn ra sau khi nghe giảng và dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập mang tính định hướng HS thực hiện việc ôn tập của mình bằng cách đọc lại bài học hoặc tái hiện lại nội dung bài học như cấu trúc của các phần, các mục, nội dung của các đề

Trang 34

mục trong bài học Sau đó trả lời các câu hỏi của GV hoặc câu hỏi trong sách giáo khoa (SGK), hoặc tự đặt ra câu hỏi để trả lời Đồng thời cần tìm đọc các tài liệu

có liên quan để mở rộng và đào sâu những kiến thức đã học Trong quá trình ôn tập HS có thể trao đổi với bạn bè về kết quả ôn tập của mình, sau đó ghi chép lại toàn bộ nội dung ôn tập bằng cách tóm tắt bài học, xây dựng dàn ý, sơ đồ, bảng biểu; bằng cách xây dựng đáp án trả lời câu hỏi hay bằng cách vận dụng kiến thức của bài học

Theo quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm hiện nay, dạy học là dạy HS biết tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cũng như tự ôn tập và củng cố kiến thức, dạy học là dạy HS biết phối hợp hoạt động trong nhóm dưới sự hướng dẫn của thầy thì hoạt động tự ôn tập, củng cố cũng như hoạt động ôn tập, củng cố trong nhóm như thế nào trong thời gian hiện nay và tương lai là hết sức quan trọng và cần chiếm

tỉ lệ cao Hơn nữa, ngày nay CNTT-TT phát triển, việc tổ chức cho HS tự ôn tập củng cố, và ôn tập củng cố trong nhóm thông qua việc xây dựng các Website, các Forum trên mạng Internet dưới sự điều khiển của GV thông qua việc xây dựng các chương trình ôn tập phân nhánh, thông qua các bài trắc nghiệm có phản hồi, hướng dẫn hoàn toàn có thể làm được để nâng cao chất lượng ôn tập, củng cố

1.5 Kết luận chương I

Ôn tập là quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung và chỉnh lý thông tin, tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ hơn, vận dụng thông tin đã lĩnh hội qua đó mà củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức, làm vững chắc các kỹ năng, kỹ xảo đã được lĩnh hội, phát triển trí nhớ, tư duy của HS

Ôn tập, củng cố có vai trò hết sức quan trọng bởi lẽ theo quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm hiện nay, dạy học là dạy HS biết tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cũng như tự ôn tập và củng cố kiến thức, dạy học là dạy HS biết phối hợp hoạt động trong nhóm dưới sự hướng dẫn của thày Thông qua việc ôn tập, củng cố giúp HS hệ thống hoá kiến thức, có một “bức tranh” tổng thể, hệ thống về những

Trang 35

kiến thức, luyện tập và phát triển các kĩ năng đã được học, giúp HS đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa và tránh được các quan niệm sai lầm thường mắc phải trong và sau khi học lần đầu Ôn tập còn có một ý nghĩa lớn hơn trong việc rèn luyện kỹ năng đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức vào trong cuộc sống khi

ôn tập Vật lý

Thực tiễn cho thấy trong các tiết học GV cũng đã có chú ý tới việc hướng dẫn HS ôn tập, tuy nhiên việc chỉ ra cách thức thực hiện và yêu cầu HS tự thực hiện ít được GV quan tâm

Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là do GV chưa thực sự quan tâm đến việc ứng dụng CNTT-TT trong dạy học, đặc biệt hiện nay chưa hề có một Website chính thức nào hỗ trợ cho HS trong việc tự ôn tập, củng cố

Như vậy việc xây dựng một cách hợp lý trang Web hỗ trợ HS tự ôn tập, củng

cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức sẽ góp phần nâng cao chất lượng ôn tập kiến thức cho HS từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học đồng thời đẩy mạnh phong trào khai thác và ứng dụng CNTT-TT trong dạy học

Trang 36

CHƯƠNG II: XÂY DỰNG TRANG WEB HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ

ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ” – VẬT LÝ LỚP 12 CHƯƠNG TRÌNH

CƠ BẢN

2.1 Các khái niệm cơ bản

Hiện nay song song với cách dạy học truyền thống đã xuất hiện một xu hướng mới đó là dạy học qua mạng Internet (E-learning) sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt nam E-Learning tạo điều kiện để người học có thể học tập ở mọi lúc, mọi nơi và quan trọng hơn là người học có thể tự học, tự ôn tập và tự kiểm tra , đánh giá thông qua các chương trình đã được GV tạo lập và đưa lên mạng máy tính dưới dạng các trang Web

2.1.1 Các khái niệm liên quan đến Website

- Internet: Thuật ngữ Internet đã được sử dụng vào những năm 1980 nhằm diễn tả mạng thông tin hỗn hợp nhiều dịch vụ được kết hợp với nhau có tính toàn cầu Internet gồm các máy tính được liên kết với nhau sao cho chúng có thể truyền

và nhận thông tin từ nơi này đến nơi khác, từ máy tính này đến máy tính khác trong phạm vi một vùng, một quốc gia hay trên toàn thế giới

- WWW (World Wide Web) gọi tắt là Web: là một trong những dịch vụ trên Internet Tim Berners Lee được biết đến là người sáng lập ra Web trong thời kỳ ông là nhà Vật lý ở viện nghiên cứu hạt nhân Châu Âu (CERN) Sở dĩ Web trở nên phổ biến vì nó cung cấp cho người sử dụng khả năng truy cập dễ dàng, từ đó người

sử dụng có thể khai thác các thông tin trên Internet dưới dạng văn bản, hình ảnh thậm chí cả âm thanh và video Vì thế, Web đôi khi còn được gọi là đa phương tiện của mạng Internet

Để dùng Web, người sử dụng phải có trình duyệt Web như Firefox,

Trang 37

Opera, Maxthon, Google Chrome, Internet Explorer… Trình duyệt Web là một ứng dụng tương thích với máy tính của người dùng, cho phép họ nhìn thấy các trang Web trên màn hình máy tính

- HTML (tiếng Anh, viết tắt cho HyperText Markup Language, tức là

“Ngôn ngữ Đánh dấu Siêu văn bản”) là một ngôn ngữ đánh dấu được thiết kế ra để tạo nên các trang Web, nghĩa là các mẩu thông tin được trình bày trên World Wide Web Được định nghĩa như là một ứng dụng đơn giản của SGML (Standard Generalized Markup HyperText Markup Language), vốn được sử dụng trong các

tổ chức cần đến các yêu cầu xuất bản phức tạp, HTML giờ đây đã trở thành một chuẩn Internet do tổ chức World Wide Web Consortium (W3C) duy trì

- HTTP: là chữ viết tắt từ HyperText Transfer Protocol (giao thức truyền tải siêu văn bản) Nó là giao thức cơ bản mà World Wide Web sử dụng HTTP xác định cách các thông điệp (các file văn bản, hình ảnh đồ hoạ, âm thanh, video, và các file multimedia khác) được định dạng và truyền tải ra sao, và những hành động nào mà các Web server (máy chủ Web) và các trình duyệt Web (browser) phải làm để đáp ứng các lệnh rất đa dạng Chẳng hạn, khi người dùng gõ một địa chỉ Web URL vào trình duyệt Web, một lệnh HTTP sẽ được gửi tới Web server để ra lệnh và hướng dẫn nó tìm đúng trang Web được yêu cầu và kéo

về mở trên trình duyệt Web Nói tóm lại, HTTP là giao thức truyền tải các file từ một Web server vào một trình duyệt Web để người dùng có thể xem một trang Web đang hiện diện trên Internet HTTP là một giao thức ứng dụng của bộ giao thức TCP/IP (các giao thức nền tảng cho Internet)

- Web Server: là máy chủ có dung lượng lớn, tốc độ cao, được dùng để lưu trữ thông tin như một ngân hàng dữ liệu, chứa những website đã được thiết kế cùng với những thông tin liên quan khác (các mã Script, các chương trình, và các file Multimedia)

Web Server có khả năng gửi đến máy khách những trang Web thông qua môi

Trang 38

trường Internet (hoặc Intranet) qua giao thức HTTP - giao thức được thiết kế để gửi các file đến trình duyệt Web (Web Browser), và các giao thức khác

Tất cả các Web Server đều có một IP Address (địa chỉ IP) hoặc cũng có thể có một Domain Name Giả sử khi người dùng đánh vào thanh Address trên trình duyệt một dòng http://www.abc.com sau đó gõ phím Enter thì tức là đã gửi một yêu cầu đến một Server có Domain Name là www.abc.com Server này sẽ tìm trang Web có tên là index.htm rồi gửi nó đến trình duyệt của người dùng đó Bất kỳ một máy tính nào cũng có thể trở thành một Web Server bởi việc cài đặt lên nó một chương trình phần mềm Server Software và sau đó kết nối vào Internet Khi máy tính của người dùng kết nối đến một Web Server và gửi đến yêu cầu truy cập các thông tin từ một trang Web nào đó, Web Server Software sẽ nhận yêu cầu và gửi lại những thông tin mà người dùng mong muốn

Giống như những phần mềm khác, Web Server Software cũng chỉ là một ứng dụng phần mềm Nó được cài đặt, và chạy trên máy tính dùng làm Web Server, nhờ có chương trình này mà người sử dụng có thể truy cập đến các thông tin của trang Web từ một máy tính khác ở trên mạng (Internet, Intranet)

Web Server Software còn có thể được tích hợp với Database (cơ sở dữ liệu), hay điều khiển việc kết nối vào cơ sở dữ liệu để có thể truy cập và kết xuất thông tin từ cơ sở dữ liệu lên các trang Web và truyền tải chúng đến người dùng Server phải hoạt động liên tục 24/24 giờ, 7 ngày một tuần và 365 ngày một năm, để phục vụ cho việc cung cấp thông tin trực tuyến Vị trí đặt server đóng vai trò quan trọng trong chất lượng và tốc độ lưu chuyển thông tin từ server và máy tính truy cập

Trang 39

2.1.2 Một số ưu điểm của Website trong dạy học hiện đại

- Dạy học trên mạng Internet tạo điều kiện cho người học vượt qua “rào cản về thời gian và không gian”:

+ Đối với các lớp học truyền thống, mỗi GV tại một thời điểm chỉ có thể giảng dạy cho một lớp học sinh với số lượng ít Hơn nữa, cả GV và HS phải có mặt tại cùng một địa điểm và cùng một thời điểm Những đặc điểm đó sẽ trở nên bất lợi đối với xu hướng dạy học hiện đại Dạy học trên mạng Internet là một biện pháp có thể tạo điều kiện cho người học vượt qua các bất lợi đó

+ Đối với dạy học trên mạng Internet, người học không phải có mặt đúng giờ quy định tại một địa điểm quy định cho tất cả các lớp như ở các lớp học truyền thống khi nghe giảng lý thuyết, làm bài tập hay thảo luận nhóm… Họ tùy điều kiện

về thời gian của mình trong ngày và ở bất kỳ chỗ nào có Internet là có thể học lý thuyết, làm bài tập, thảo luận nhóm, làm bài kiểm tra… Họ có thể đặt các câu hỏi đối với GV qua email Họ có thể hỏi đáp trực tuyến, trực tiếp với GV theo các giờ quy định ghi sẵn trong chương trình, hay đã thỏa thuận trước Họ có thể trao đổi thảo luận trong nhóm học tập qua các hình thức online hoặc offline

- Dạy học trên mạng Internet giúp cho việc dạy học vượt qua “rào cản liên quan đến đối tượng học tập”:

+ Đối với các đối tượng học tập có liên quan đến các thí nghiệm thì dạy học bằng Web có thể hỗ trợ được rất nhiều cho cả GV và HS Do hiện nay, nhờ các công cụ lập trình hỗ trợ tạo các thí nghiệm trên màn hình có thể tương tác được nên người học có thể tự lắp đặt thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm, thu thập số liệu, vẽ đồ thị thực nghiệm, khớp đồ thị thực nghiệm với các hàm chuẩn…ngay trên mạng Internet Như vậy nếu không có điều kiện đến phòng thí nghiệm, HS có thể thực hiện các thí nghiệm trên mạng Internet Hơn thế nhiều thí nghiệm không thể thực hiện được trong phòng thí nghiệm truyền thống (do đắt

Trang 40

đỏ, quý hiếm hay do không an toàn trong khi thực hiện thí nghiệm) thì nay có thể thực hiện được trong các “phòng thí nghiệm trên mạng”, và HS cũng như GV có thể sử dụng

- Nhờ dạy học trên mạng Internet, người học có thể vượt qua được “rào cản

về tư liệu học tập”:

+ Do nội dung các trang Web trên Internet là kho tài nguyên tri thức khổng lồ của nhân loại liên quan đến tất cả các lĩnh vực trong xã hội và cuộc sống, giúp cho người học có thể tra cứu đầy đủ các tư liệu cần thiết liên quan đến chuyên môn của mình Hơn thế nữa, việc tìm kiếm, tra cứu trên Internet lại rất tiện lợi và nhanh chóng, nên có thể nói nội dung trên Internet thực sự là một “thư viện số lí tưởng” của nhân loại, đầy đủ về nội dung, nhanh chóng và tiện lợi về tra cứu

- Các trang Web trên mạng còn có các nội dung ôn tập kiến thức cũng như tự kiểm tra, đánh giá đối với từng bài, chương, phần kiến thức đã học Sau khi tự học, từng người có thể tự ôn tập và kiểm tra đánh giá trình độ lĩnh hội kiến thức của mình ngay Khả năng này không thể thực hiện được ở hình thức dạy học truyền thống đối với tất cả học sinh trong lớp trong cùng một lúc

2.1.3 Các khả năng hỗ trợ của Web đối với ôn tập củng cố

- Sử dụng Web như một công cụ hỗ trợ GV nâng cao chất lượng giảng dạy:

+ GV có thể sử dụng Web trình bày bài giảng với những tính năng đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh, video, flash…) làm cho bài giảng thêm sinh động hơn Những hiện tượng khó quan sát (do xảy ra quá nhanh, hoặc quá chậm), những thí nghiệm khó thực hiện (do các lý do kỹ thuật, tài chính, mức độ an toàn….) GV có thể đưa những đoạn video, hình ảnh vào trong Web hoặc xây dựng mô phỏng những hiện tượng đó trên Web với những công cụ hỗ trợ giúp HS học tập, lĩnh hội kiến thức tốt hơn, gây hấp dẫn, hứng thú với các em khi được học, nghiên cứu một vấn đề mới, đồng thời giúp cá em tiếp cận với các phương tiện

Ngày đăng: 01/03/2021, 09:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w