Cùng với những định hướng từ các chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển toàn diện đất nước thì những đóng góp của tôn giáo nói chung, Phật giáo Hoà Hảo nói riêng đã và đang đem lạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGÔ THANH BÌNH
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI TỪ THIỆN CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN
GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khóa học: 2008-2012
AN GIANG, 2012
Trang 2KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGÔ THANH BÌNH
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI TỪ THIỆN CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN
GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành học: Sư phạm Giáo dục Chính trị Cán bộ hướng dẫn: Th.s Phạm Thị Thu Hồng
AN GIANG, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của các cơ quan và các cá nhân Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu, quý thầy cô, cán bộ và công nhân viên trường Đại học
An Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học
Các thầy, cô trong khoa Lý luận Chính trị, tập thể lớp DH9CT, gia đình, bạn bè đã trang bị kiến thức và hỗ trợ nhiệt tình cho tôi trong quá trình làm khóa luận
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tỉnh An Giang
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Phạm Thị Thu Hồng
đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Sinh viên
Ngô Thanh Bình
Trang 4MỤC LỤC Nội dung Trang PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của khoá luận 3
6 Kết cấu của khoá luận 3
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay 5
1.1Cơ sở lý luận về tôn giáo 5
1.1.1 Khái niệm tôn giáo 5
1.1.1.1 Bản chất, nguồn gốc, tính chất của tôn giáo 7
1.1.1.2 Chức năng của tôn giáo 13
1.1.2 Vấn đề tôn giáo trong xã hội chủ nghĩa 15
1.1.2.1 Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong xã hội chủ nghĩa 15
1.1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác–Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo 16
1.2 Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay 18
1.2.1 Đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 18
1.2.1.1 Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam 18
1.2.1.2 Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 19
1.2.2 Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay… 19
1.2.2.1 Quan điểm 19
1.2.2.2 Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay 20
Chương 2: Thực trạng hoạt động xã hội từ thiện của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo góp phần phát triển kinh tế-xã hội huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay 22
2.1 Khái quát về vùng đất và đời sống dân cư ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang 22
2.1.1 Khái quát về vùng đất, con người huyện Phú Tân 22
2.1.2 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo… 24
Trang 52.2 Một số hoạt động xã hội từ thiện góp phần phát triển kinh tế-xã hội của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay………27 2.2.1 Hoạt động đạo sự của Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tỉnh An Giang hiện nay 27 2.2.2 Một số hoạt động xã hội từ thiện của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo góp phần phát triển kinh tế-xã hội huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay… 29 2.2.2.1 Tình hình hoạt động xã hội từ thiện chủ yếu của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo góp phần phát triển kinh tế-xã hội huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay 29 2.2.2.2 Những thành tựu và hạn chế trong hoạt động xã hội từ thiện của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân hiện nay 35 2.2.2.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 37 2.3 Một số giải pháp góp phần phát huy hơn nữa những đóng góp của tín
đồ Phật giáo Hoà Hảo tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang 38 2.3.1 Phương hướng và nhiệm vụ về công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay 38 2.3.2 Một số giải pháp góp phần phát huy hơn nữa những đóng góp của tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang 40
PHẦN KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng là một quốc gia
đa tôn giáo với nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo khác nhau Hiện nay, ở Việt Nam có 80% dân số có đời sống tâm linh tôn giáo Trong đó có sáu tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo với khoảng 20 triệu tín đồ chiếm 25% dân số Riêng Phật giáo Hoà Hảo, hiện nay
có hơn 2 triệu tín đồ sinh sống chủ yếu ở các tỉnh, thành Nam bộ
Phật giáo Hoà Hảo là một tôn giáo địa phương ở Việt Nam, ra đời vào năm 1939 ở tỉnh An Giang và hành đạo chủ yếu ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long Hiện nay, tổ đình của Phật giáo Hoà Hảo tọa lạc tại thị trấn Phú
Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang Hàng năm, tại đây tiếp đón rất đông tín đồ
và khách hành hương về tham quan, cúng viếng
Cùng với những định hướng từ các chính sách của Đảng và Nhà nước
về phát triển toàn diện đất nước thì những đóng góp của tôn giáo nói chung, Phật giáo Hoà Hảo nói riêng đã và đang đem lại hiệu quả tích cực, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao mức sống của người dân nhất là người dân vùng nông thôn một cách đáng kể Các tín đồ Phật giáo Hoà Hảo đều hành đạo theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đa số tín đồ của Phật giáo Hoà Hảo là những người lao động thuần nông, có tinh thần yêu nước, có quá trình gắn bó với quê hương, với dân tộc, tán thành và ủng hộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo Hiện nay, để góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đồng bào tín đồ Phật giáo Hoà Hảo đã hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Đảng và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động
Trong quá trình lãnh đạo toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến nguyện vọng của đồng bào tín đồ Phật giáo Hoà Hảo được sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng bình thường, với tinh thần tiến bộ và ỵêu nước, theo đúng pháp luật Ngày 26-5-1999, Đại hội Đại biểu đạo Phật giáo Hoà Hảo lần thứ I được tổ chức tại An Giang, thông qua Chương trình Đạo sự, quy chế tổ chức, hoạt động của Ban Đại diện, đồng thời bầu ra Ban đại diện nhiệm
kì I Ngày 11-6-1999, Ban Tôn giáo của Chính phủ đã chấp thuận quy chế đạo Phật giáo Hoà Hảo, tổ chức hoạt động và nhân sự của Ban đại diện cho đến nay, hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo trở nên bình thường đã tạo sự phấn khởi trong sinh hoạt của đồng bào tín đồ
Trang 7Trong những năm qua đã có các bài viết về đồng bào tín ngưỡng tôn giáo Phật giáo Hoà Hảo ở những góc độ khác nhau như: “Vấn đề chống tệ nạn
xã hội trong giáo lý Phật giáo Hoà Hảo”của Tiến sĩ Bùi Thị Thu Hà đăng trên tập văn Hương Sen (xuất bản ngày 14/12/2011-NXB Tôn giáo), “Một số đặc điểm tình hình tôn giáo Việt Nam”của Tiến sĩ Sử học Nguyễn Thanh Xuân đăng trên báo Tạp chí Công Tác Tôn giáo (số 01-8/2005) NXB Tôn giáo,
“Tìm hiểu về một số hoạt động của đồng bào tín đồ Phật giáo Hoà Hảo đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm
1999 đến nay.” Khoá luận tốt nghiệp đại học của Lê Thị Thu Cúc Nhìn chung các bài viết trên đều nghiên cứu ở những góc độ khác nhau về tôn giáo Phật giáo Hoà Hảo Tuy nhiên, chưa có bài viết nào đi sâu nghiên cứu về hoạt động
xã hội từ thiện tại một địa phương cụ thể
Là một sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị lại được sinh sống và học tập ở An Giang, nơi được xem là cái nôi của Phật giáo Hoà Hảo với số lượng rất đông tín đồ đang sinh sống, đang có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương Vì vậy, việc tìm hiểu những đóng góp của đồng bào tín đồ Phật giáo Hoà Hảo thông qua các phong trào xã hội từ thiện tại một địa phương cụ thể trong tỉnh An Giang là một vấn đề thiết thực hiện nay
Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài:“Một số hoạt động xã hội từ
thiện của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo góp phần phát triển kinh tế-xã hội huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay” Làm khoá luận tốt
nghiệp
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Khóa luận nhằm làm nổi bật vai trò thực tiễn và ý nghỉa nhân văn trong
hoạt động xã hội từ thiện của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo góp phần phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương từ năm 2006 đến nay
2.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu lý luận về tôn giáo, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước ta
- Tìm hiểu một số hoạt động xã hội từ thiện của tín đồ Phật giáo Hòa
Hảo góp phần phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương từ năm 2006 đến nay
- Bước đầu đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả của những hoạt động xã hội từ thiện của tín đồ Phật giáo Hoà Hảo huyện Phú
Tân, tỉnh An Giang trong những năm sắp tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 83.1 Đối tượng
Nghiên cứu thực tế về một số hoạt động xã hội từ thiện của tín đồ Phật giáo Hoà Hảo góp phần phát triển kinh tế-xã hội của huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
4 Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội khoa học kết hợp với các phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích, tổng hợp, thống kê …
5 Đóng góp của khoá luận
- Khoá luận nghiên cứu thực tế những hoạt động xã hội từ thiện của tín
đồ Phật giáo Hoà Hảo huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay và những đóng góp của các hoạt động xã hội từ thiện đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương Qua đó, đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả của công tác xã hội từ thiện của tín đồ Phật giáo Hoà Hảo huyện Phú Tân, tỉnh An Giang trong những năm tiếp theo
- Khoá luận có thể làm nguồn tư liệu cho việc tham khảo, giảng dạy và học tập về tôn giáo và tôn giáo Phật giáo Hoà Hảo tại An Giang Đồng thời, khoá luận có thể làm cơ sở cho các cấp Đảng, chính quyền địa phương trong quá trình lãnh đạo, quản lí có những chủ trương, chính sách, giải pháp phù hợp nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo tại địa phương
6 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận gồm 2 chương 5 tiết
CHƯƠNG 1: TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Cơ sở lý luận về tôn giáo
1.1.1 Khái niệm tôn giáo
1.1.2 Vấn đề tôn giáo trong xã hội chũ nghĩa
1.2 Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
1.2.1 Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
Trang 91.2.2 Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện
nay
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI TỪ THIỆN CỦA TÍN
ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ
HỘI HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY
2.1 Khái quát về vùng đất và đời sống dân cư ở huyện Phú Tân, tỉnh
An Giang
2.1.1 Khái quát về vùng đất, con người huyện Phú Tân
2.1.2 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Phật Giáo Hòa
Hảo
2.2 Thực trạng của hoạt động xã hội từ thiện của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo góp phần phát triển kinh tế-xã hội huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay
2.2.1 Hoạt động đạo sự của Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tỉnh An Giang
hiện nay
2.2.2 Một số hoạt động xã hội từ thiện của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo góp phần phát triển kinh tế-xã hội huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay
2.3 Một số giải pháp góp phần phát huy hơn nữa những đóng góp của tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
2.3.1 Phương hướng và nhiệm vụ về công tác tôn giáo của Đảng và Nhà
nước ta hiện nay
2.3.2 Một số giải pháp góp phần phát huy hơn nữa những đóng góp của
tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Cơ sở lý luận về tôn giáo
1.1.1 Khái niệm tôn giáo
“Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài vào từ cuối thế kỷ XIX Xét về nội dung, thuật ngữ tôn giáo khó có thể hàm chứa được tất cả nội dung đầy đủ của nó từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây Thuật ngữ “Tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung và khi khái niệm này trở thành phổ quát trên toàn thế giới thì lại vấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền văn minh khác, vì vậy trên thực tế
đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới “Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ
“religion” (Tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên [8, tr 25] Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng của đạo Kitô Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành tách ra từ Công giáo, trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, “religion” mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo” đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII vào sau đó du nhập vào Trung Hoa Tuy nhiên, ở Trung Hoa, vào thế kỷ XIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa hoàn toàn khác: nó nhằm chỉ đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của đức Phật, Tông: lời của các đệ tử đức Phật) Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX và được đăng trên các báo, nhưng do
kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo” [12, tr 4] Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ một tôn giáo sau
đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo
Một số thuật ngữ tương đồng với tôn giáo
Trang 11Tôn giáo là một từ phương Tây Trước khi du nhập vào Việt Nam, tại Việt Nam cũng có những từ tương đồng với nó Đó là:
Đạo: có xuất xứ từ Trung Hoa, tuy nhiên “đạo” không hẳn đồng nghĩa
với tôn giáo vì bản thân từ đạo cũng có thể có ý nghĩa phi tôn giáo “Đạo” có thể hiểu là con đường, học thuyết Mặt khác, “đạo” cũng có thể hiểu là cách ứng xử làm người: đạo vợ chồng, đạo cha con, đạo thầy trò Vì vậy khi sử dụng từ “đạo” với ý nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo đó sau “đạo”
Ví dụ: đạo Phật, đạo Kitô [12, tr 4]
Giáo: có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ thể
Chẳng hạn: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo “Giáo” ở đây là giáo hóa, dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo Tuy nhiên “giáo” ở đây cũng có thể được hiểu với nghĩa phi tôn giáo là lời dạy của thầy dạy học Cần chú ý rằng người ta không
sử dụng từ “giáo” đối với tôn giáo mới phát sinh như Cao đài, Hòa Hảo [12,
tr 5]
Thờ: có lẽ là từ thuần Việt cổ nhất Thờ có ý bao hàm một hành động
biểu thị sự sùng kính một đấng siêu linh: thần thánh, tổ tiên, đồng thời có ý nghĩa như cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy hay một người nào đó mà mình mang ơn Thờ thường đi đôi với cúng, cúng cũng có nhiều nghĩa: vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính thế tục Cúng theo ý nghĩa tôn giáo có thể hiểu là tế, là tiến dâng, là cung phụng, là vật hiến tế Ở Việt Nam, cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho các đấng siêu linh, cho người đã khuất nhưng cúng với ý nghĩa trần tục cũng có nghĩa là đóng góp cho việc công ích, việc từ thiện Tuy nhiên, từ ghép “thờ cúng” chỉ dành riêng cho các hành vi và nội dung tôn giáo Đối với người Việt, tôn giáo theo thuật ngữ thuần Việt là thờ hay thờ cúng hoặc theo các từ gốc Hán đã trở thành phổ biến
là đạo, là giáo Còn thuật ngữ tôn giáo trong sinh hoạt đời thường ít dùng [12,
tr 5]
Diễn biến của những định nghĩa về bản chất tôn giáo
Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau
về tôn giáo: Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người” Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên” Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự
cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo” Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của Các Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái
Trang 12tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần” [4, tr 682] Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Phridrich Ăngghen: “Tôn giáo là
sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …” [12, tr 6]
Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải chú ý: khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn
đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình
do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống Nó gieo niềm hy vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để mà yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải Như vậy, tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm
lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý-văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau
1.1.1.1 Bản chất, nguồn gốc, tính chất của tôn giáo
a) Bản chất của tôn giáo
Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp Khi câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX
Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử Trong các tác phẩm của mình Các Mác đã khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người” [2, tr 569] Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng
Trang 13Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ
Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách bạch
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Phridrich Ăngghen đã có một nhận xét làm cho chúng ta thấy rõ bản chất của tôn giáo như sau: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo-vào trong đầu óc của con người-của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.”[3, tr 437]
b) Nguồn gốc của tôn giáo
Vấn đề nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo học Mácxít Nhờ vạch ra được nguyên nhân xuất hiện và tồn tại của hiện tượng nào đó mà sự giải thích nó mới mang tính khoa học Đối với hiện tượng tôn giáo cũng vậy
Vladimia Ilich Lênin đã gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu làm nảy sinh niềm tin tôn giáo là những nguồn gốc của tôn giáo Nguồn gốc đó bao gồm:
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên: tôn giáo học Mácxít cho rằng sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo Như chúng ta đã biết, mối quan hệ của con người với tự nhiên thực hiện thông qua những phương tiện và công cụ lao động mà con người có Những công cụ và phương tiện càng kém phát triển bao nhiêu thì con người càng yếu đuối trước giới tự nhiên bấy nhiêu và những lực lượng tự nhiên càng thống trị con người mạnh bấy nhiêu Sự bất lực của con người nguyên thủy trong cuộc đấu tranh với giới tự nhiên là do sự hạn chế, sự yếu kém của các phương tiện tác động thực tế của họ vào thế giới xung quanh Khi không đủ phương tiện, công cụ để đảm bảo kết quả, mong muốn trong lao động, người nguyên thủy đã tìm đến phương tiện tưởng tượng hư ảo,
Trang 14nghĩa là tìm đến tôn giáo Phridrich Ăngghen nhấn mạnh rằng tôn giáo trong
xã hội nguyên thủy xuất hiện do kết quả phát triển thấp của trình độ lực lượng sản xuất Trình độ thấp của sự phát triển sản xuất đã làm cho con người không
có khả năng nắm được một cách thực tiễn các lực lượng tự nhiên Thế giới bao quanh người nguyên thủy đã trở thành cái thù địch, bí hiểm, hùng hậu đối với
họ Chúng ta cần thấy rằng, sự thống trị của tự nhiên đối với con người không phải được quyết định bởi những thuộc tính và quy luật của giới tự nhiên, mà quyết định bởi mối tính chất mối quan hệ của con người với tự nhiên, nghĩa là bởi sự phát triển kém của lực lượng sản xuất xã hội, mà trước hết là công cụ lao động Như vậy, không phải bản thân giới tự nhiên sinh ra tôn giáo, mà là mối quan hệ đặc thù của con người với giới tự nhiên, do trình độ sản xuất quyết định Đây là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo Nhờ hoàn thiện những phương tiện lao động và toàn bộ hệ thống sản xuất vật chất mà con người ngày càng nắm được lực lượng tự nhiên nhiều hơn, càng ít phụ thuộc một cách mù quáng vào nó, do đó dần dần khắc phục được một trong những nguồn gốc quan trọng của tôn giáo Mối quan hệ giữa người và người: nguồn gốc xã hội của tôn giáo còn bao gồm cả phạm vi các mối quan hệ giữa con người với nhau, nghĩa là bao gồm các mối quan hệ xã hội, trong đó có hai yếu tố giữ vai trò quyết định là tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người
Trong tất cả các hình thái kinh tế-xã hội trước hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa, những mối quan hệ xã hội đã phát triển một cách tự phát Những quy luật phát triển của xã hội biểu hiện như là những lực lượng mù quáng, trói buộc con người và ảnh hưởng quyết định đến số phận của họ Những lực lượng đó trong ý thức con người được thần thánh hoá và mang hình thức của những lực lượng siêu nhiên Đây là một trong những nguồn gốc
xã hội chủ yếu của tôn giáo
Khi nêu lên đặc trưng của những nguồn gốc xã hội của tôn giáo trong
xã hội tư bản, Vladimia Ilich Lênin viết: “Sợ hãy trước thế lực mù quáng của
tư bản, mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho
họ phải diệt vong, biến họ thành người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm
và dồn họ vào cảnh chết đói, đó là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại mà người duy vật phải chú ý đến trước hết và trên hết, nếu người ấy không muốn
cứ mãi mãi là một người duy vật sơ đẳng” [12, tr 11] Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, sự áp bức giai cấp, chế độ bóc lột là một nhân tố quan
Trang 15trọng làm nảy sinh tôn giáo Vladimia Ilich Lênin không những làm sáng tỏ hơn nữa nguồn gốc xã hội của tôn giáo vốn đã được Các Mác và Phridrich Ăngghen đề cập tới, mà còn nói đến nguồn gốc nhận thức luận của tôn giáo Ông đã chỉ cho chúng ta thấy rõ, khả năng xuất hiện tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm nằm ngay trong phép biện chứng của quá trình nhận thức Do quán triệt quan điểm cách mạng của Các Mác và Phridrich Ăngghen, Vladimia Ilich Lênin thường nhấn mạnh: “Phải gắn liền cuộc đấu tranh chống tôn giáo với thực tiễn cụ thể của phong trào giai cấp nhằm tiêu diệt nguồn gốc xã hội của tôn giáo” [24, tr 51]
Người nô lệ, người nông nô, người vô sản mất tự do không phải chỉ là
sự tác động của lực lượng xã hội mù quáng mà họ không thể kiểm soát được,
mà còn bị bần cùng cả về mặt kinh tế, bị áp bức cả về mặt chính trị, bị tước đoạt những phương tiện và khả năng phát triển tinh thần Quần chúng không thể tìm ra lối thoát hiện thực khỏi sự kìm kẹp và áp bức trên trái đất, nhưng họ
đã tìm ra lối thoát đó ở trên trời, ở thế giới bên kia Ở đây chúng ta cần chú ý hai điểm Một là, sự bất lực của quần chúng bị bóc lột mang tính chất tương đối chứ không phải tuyệt đối, các giai cấp bị áp bức không bao giờ ngừng cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp mình và giải phóng xã hội, bởi vậy nếu ách áp bức đã nuôi dưỡng tôn giáo thì cuộc đấu tranh giai cấp là yếu tố giúp họ giải thoát khỏi tôn giáo Hai là, không nên đồng nhất “nguồn gốc xã hội” và
“nguồn gốc giai cấp” của tôn giáo Nguồn gốc giai cấp chỉ là một bộ phận trong nguồn gốc xã hội của tôn giáo Tôn giáo xuất hiện từ lâu trước khi xã hội
có giai cấp và sẽ còn tồn tại một thời gian sau khi giai cấp bị xoá bỏ
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Để hiểu rõ bản chất hình thức phản ánh tôn giáo cần phải hiểu quá trình hiện thực mà sức mạnh thế giới quan đã trở thành sức mạnh siêu thế gian như thế nào trong ý thức của con người Trước đây người ta thường cho rằng, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo bắt nguồn tự sự không hiểu biết của con người về các hiện tượng xảy ra ở thế giới xung quanh họ Kiểu giải thích làm đơn giản hoá các vấn đề, nó chưa thể giải thích rõ ràng cơ chế phức tạp của quá trình tạo ra các quan niệm tôn giáo Để giải thích nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cần phải làm rõ lịch sử nhận thức và các đặc điểm của quá trình nhận thức dẫn đến việc hình thành quan niệm tôn giáo
Trước hết, lịch sử nhận thức của con người là một quá trình từ thấp đến cao, trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính Ở giai đoạn nhận thức này (nhất là đối với cảm giác và tri giác), con người chưa thể sáng tạo ra tôn giáo, bởi vì tôn giáo với tư cách là ý thức, là niềm tin bao
Trang 16giờ cũng gắn với cái siêu nhiên, thần thánh, mà nhận thức trực quan cảm tính thì chưa thể tạo ra cái siêu nhiên thần thánh được Như vậy, tôn giáo chỉ có thể
ra đời khi con người đã đạt tới một trình độ nhận thức nhất định Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia là sản phẩm của những biểu tượng, sự trừu tượng hoá, sự khái quát dưới dạng hư ảo Nói như vậy có nghĩa là tôn giáo chỉ
có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định, đồng thời nó phải gắn với sự
tự ý thức của con người về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài Khi chưa biết tự ý thức, con người cũng chưa nhận thức được sự bất lực của mình trước sức mạnh của thế giới bên ngoài, do đó con người chưa có nhu cầu sáng tạo ra tôn giáo để bù đắp cho sự bất lực ấy
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan Những hình thức phản ánh thế giới hiện thực càng đa dạng, phong phú bao nhiêu thì con người càng có khả năng nhận thức thế giới xung quanh sâu sắc
và đầy đủ bấy nhiêu Nhưng mỗi một hình thức mới của sự phản ánh không những tạo ra những khả năng mới để nhận thức thế giới sâu sắc hơn mà còn tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai lầm nó Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến nó thành cái không còn nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là cái siêu nhiên thần thánh
Ở đây một vấn đề được đặt ra: nếu bản thân quá trình nhận thức tạo ra khả năng xuất hiện các quan niệm sai lầm duy tâm và tôn giáo thì phải chăng chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo tồn tại vĩnh viễn không phải như vậy Bởi vì: Một là, những hệ thống duy tâm và tôn giáo chỉ tồn tại khi nào còn nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của nó; Hai là, trong điều kiện của chủ nghĩa
xã hội, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo sẽ dần dần mất đi khi con người ngày càng được trang bị đầy đủ thế giới quan duy vật khoa học
Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo Họ đã đưa
ra luận điểm “Sự sợ hãi sinh ra thần thánh”
Các nhà duy vật cận đại đã phát triển tư tưởng của các nhà duy vật cổ đại, đặc biệt là Lútvich Phơbách và cho rằng nguồn gốc đó không chỉ bao gồm những tình cảm tiêu cực (sự lệ thuộc, sợ hãi, không thoả mãn, đau khổ, cô đơn ) mà cả những tình cảm tích cực (niềm vui, sự thoả mãn, tình yêu, sự
Trang 17kính trọng), không chỉ tình cảm, mà cả những điều mong muốn, ước vọng, nhu cầu khắc phục những tình cảm tiêu cực, muốn được đền bù hư ảo [12, tr 14]
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo khác về nguyên tắc so với các nhà duy vật trước
đó Nếu như các nhà duy vật trước Các Mác gắn nguyên nhân xuất hiện tôn giáo với sự sợ hãi trước lực lượng tự nhiên thì chủ nghĩa Mác lần đầu tiên vạch được nguồn gốc xã hội của sự sợ hãi đó
c) Tính chất của tôn giáo
Tính lịch sử của tôn giáo
Con người sáng tạo ra tôn giáo Mặc dù tôn giáo còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạm trù lịch sử Tôn giáo không phải xuất hiện cùng với
sự xuất hiện của con người Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tưu duy trừu tượng của con người đạt tới một mức độ nhất định Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử Trong từng thời kỳ của lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đó Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có
sự thay đổi, điều chỉnh theo
Đến một giai đoạn lịch sử, khi những nguồn gốc sản sinh ra tôn giáo
bị loại bỏ, khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên và xã hội thì tôn giáo dần dần mất
đi vị trí của nó trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi con người Các Mác đã nói: tôn giáo sẽ mất đi khi mà “con người không chỉ mưu sự, mà lại còn làm cho thành sự nữa, thì chỉ khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo mới sẽ mất đi, và khi
đó sẽ không còn gì phản ánh nữa” [6, tr 221] Đương nhiên, để đi đến trình
độ đó sẽ còn là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người
Tính quần chúng của tôn giáo
Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện ở số lượng tín đồ các tôn giáo Hiện nay tỉ lệ tín đồ của các tôn giáo chiếm tỉ lệ khá cao trong dân số thế giới (nếu chỉ tính các tôn giáo lớn, đã có từ 1/3 đến 1/2 dân số thế giới chịu ảnh hưởng của tôn giáo) Mặt khác, tính quần chúng của tôn giáo còn thể hiện ở chỗ các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của một số bộ phận quần chúng nhân dân lao động Dù tôn giáo hướng con người đặt niềm tin vào hạnh phúc hư ảo của thế giới bên kia, song nó luôn luôn phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái Bởi vì, tôn giáo thường có tính nhân văn, nhân đạo và hướng thiện Vì vậy, còn nhiều người thuộc các tầng lớp khác nhau của xã hội tin theo
Tính chính trị của tôn giáo
Trang 18Trong xã hội không có giai cấp, tôn giáo chưa mang tính chính trị Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp,
có sự khác biệt về lợi ích, các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục
vụ lợi ích riêng của mình
Những cuộc chiến tranh tôn giáo trong lịch sử và hiện tại, như các thập tự chinh chiến thời trung cổ hay xung đột tôn giáo ở bán đảo Ban Căng, ở Pa-kix-tan, Ấn Độ, An-giê-ri, Bắc Ailen đều xuất phát từ những ý đồ của những thế lực khác nhau trong xã hội, lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục tiêu chính trị của mình Trong nội bộ các tôn giáo, cuộc đấu tranh giữ các dòng, hệ, phái nhiều khi cũng mang tính chính trị Trong cuộc đấu tranh ý thức hệ, thì tôn giáo thường là một phần của đấu tranh giai cấp
Ngày nay, tôn giáo đang có chiều hướng phát triển, đa dạng, phức tạp không chỉ thể hiện tính tự phát trong nhân dân, mỗi địa phương, mỗi quốc gia
mà còn tổ chức ngày càng chặt chẽ, rộng lớn ngoài phạm vi địa phương, quốc gia, đó là nhiều tổ chức quốc tế của các tôn giáo với vai trò, thế lực không nhỏ trên toàn cầu và với những trang thiết bị hiện đại tác động không chỉ trong lĩnh vực tư tưởng, tâm lý mà cả trong chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Vì vậy, cần nhận thức rõ ràng đa số quần chúng nhân dân đến với tôn giáo nhằm thõa mãn nhu cầu tinh thần; song, trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các thế lực chính trị-xã hội lợi dụng cho việc thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ
1.1.1.2 Chức năng của tôn giáo
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó có nguồn gốc từ những sự hạn chế của các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và đối với nhau Sự bất lực trước những sức mạnh tự nhiên cũng như xã hội đã nảy sinh nhu cầu đền bù cho những hạn chế đó Vì vậy, tôn giáo có khá
nhiều chức năng xã hội Đó là:
a Chức năng đền bù hư ảo
Luận điểm nổi tiếng của Các Mác: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” đã làm nổi bật chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo [2, tr 581] Giống như thuốc phiện, tôn giáo đã tạo ra cái vẻ bề ngoài của “sự giảm nhẹ” tạm thời những nỗi đau khổ của con người, an ủi cho những sự mất mát, thiếu hụt của con người trong cuộc sống
Chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức năng chủ yếu, đặc thù mà còn là chức năng phổ biến của tôn giáo Ở đâu có tôn giáo ở đó có chức năng đền bù hư ảo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó không chỉ thực hiện một chức năng mà gồm một hệ thống chức năng xã hội Mặc dù là chức năng
Trang 19chủ yếu nhưng chức năng đền bù hư ảo không thể tách rời các chức năng khác của tôn giáo
b Chức năng thế giới quan
Khi phản ánh một cách hư ảo hiện thực, tôn giáo có tham vọng tạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người dưới một hình thức phi hiện thực Bức tranh tôn giáo ấy bao gồm hai bộ phận: thế giới thần thánh và thế giới trần tục và trên cơ sở đó mà tôn giáo giải thích các vấn đề của tự nhiên cũng như xã hội Sự lý giải của tôn giáo về thế giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên, thần thánh, do đó nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực Quan niệm này có thể tác động tiêu cực đến ý thức giáo dân, đến thái độ của họ đối với xung quanh
c Chức năng điều chỉnh
Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực, những giá trị nhằm điều chỉnh hành vi của những con người có đạo Những hành vi được điều chỉnh ở đây không chỉ là những hành vi trong thờ cúng mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội của giáo dân Vì vậy, hệ thống chuẩn mực, giá trị trong lý thuyết đạo đức và xã hội mà tôn giáo tạo ra
đã ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động của con người Tất nhiên ở đây chúng ta cần phải chú ý rằng những chuẩn mực, giá trị tôn giáo đã bị tước bỏ khá nhiều những đặc trưng khách quan và phụ thuộc vào những giá trị siêu nhiên, hư ảo
d Chức năng giao tiếp
Chức năng giao tiếp của tôn giáo thể hiện khả năng liên hệ giữa những người có chung một tín ngưỡng Sự liên hệ (giao tiếp) được thực hiện chủ yếu trong hoạt động thờ cúng, sự giao tiếp với thánh thần được coi là sự giao tiếp tối cao Ngoài mối liên hệ giao tiếp trong quá trình thờ cúng, giữa các giáo dân còn có sự giao tiếp ngoài tôn giáo như liên hệ kinh tế, liên hệ cuộc sống hàng ngày, liên hệ trong gia đình Những mối liên hệ ngoài tôn giáo có thể lại củng
cố, tăng cường các mối liên hệ tôn giáo của họ
e Chức năng liên kết
Trong các xã hội trước đây, tôn giáo với tư cách là bộ phận tất yếu trong cấu trúc thượng tầng đã đóng vai trò quan trọng của nhân tố liên kết xã hội, nghĩa là nhân tố làm ổn định những trật tự xã hội đang tồn tại, dựa trên những hệ thống giá trị và chuẩn mực chung của xã hội Tuy nhiên không nên quan niệm một cách sai lầm rằng tôn giáo bao giờ cũng là nhân tố liên kết xã hội chủ yếu, bảo đảm sự thống nhất của xã hội Sự thống nhất của xã hội trước hết được bảo đảm bởi hệ thống sản xuất vật chất xã hội chứ không phải bằng
Trang 20cộng đồng tín ngưỡng Hơn thế trong những điều kiện xã hội nhất định, tôn giáo có thể biểu hiện như là ngọn cờ tư tưởng của sự chống đối lại xã hội, chống lại chế độ phản tiến bộ đương thời
1.1.2 Vấn đề tôn giáo trong xã hội xã hội chủ nghĩa
1.1.2.1 Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong xã hội xã hội chủ nghĩa
Các tôn giáo vẫn còn tồn tại lâu dài trong xã hội xã hội chủ nghĩa là do các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Nguyên nhân nhận thức
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong chế độ xã hội chủ nghĩa trình độ dân trí của nhân dân chưa thật cao, nhiều hiện tượng tự nhiên và
xã hội đến nay khoa học chưa giải thích được
Hiện nay, nhân loại đã đạt được những thành tựu to lớn về khoa học và công nghệ, với những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin, sinh học, vật liệu mới đã giúp con người có thêm những khả năng để nhận thức xã hội và làm chủ giới tự nhiên Song thế giới khách quan là vô cùng, vô tận, tồn tại đa dạng và phong phú, nhận thức của con người là một quá trình và có giới hạn, thế giới còn nhiều vấn đề mà hiện tại khoa học chưa thể làm rõ Những sức mạnh tự phát của tự nhiên, của xã hội đôi khi rất nghiêm trọng còn tác động và chi phối đời sống con người Do vậy, tâm lý sợ hãi, trông chờ, nhờ cậy và tin tưởng vào Thần, Thánh, Phật chưa thể gạt bỏ khỏi ý thức của con người trong
xã hội, trong đó có nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa
Nguyên nhân tâm lý
Tôn giáo đã tồn tại lâu đời trong lịch sử xã hội loài người, ăn sâu vào trong tiềm thức của nhiều người dân Trong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và
ý thức xã hội, thì ý thức xã hội bảo thủ hơn so với tồn tại xã hội, trong đó tôn giáo lại là một trong những hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất Tín ngưỡng, tôn giáo đã in sâu vào đời sống tinh thần, ảnh hưởng khá sâu đậm đến cách nghĩ, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệ đến mức trở thành một kiểu sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của họ Cho nên, dù có thể có những biến đổi lớn về kinh tế, chính trị, xã hội… thì tín ngưỡng, tôn giáo cũng không thay đổi ngay theo tiến độ của những biến đổi kinh tế, xã hội mà nó phản ánh
Nguyên nhân chính trị-xã hội
Trong các nguyên tắc của tôn giáo có những điểm còn phù hợp với chủ nghĩa xã hội, với đường lối chính sách của nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là một giá trị đạo đức, văn hoá của tôn giáo, đáp ứng được nhu cầu của một bộ
Trang 21phận nhân dân Dưới chủ nghĩa xã hội, tôn giáo cũng có khả năng tự biến đổi
để thích nghi theo xu hướng “đồng hành với dân tộc” sống “tốt đời, đẹp đạo”,
“sống phúc âm giữa lòng dân tộc” Nhà nước không ngừng nâng cao địa vị, tính tích cực xã hội của những con người có đạo bằng cách tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động thực tiễn Trên cơ sở đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa làm cho người có đạo hiểu rằng, niềm tin tôn giáo chân chính không đối lập với chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa, và chủ nghĩa xã hội đang thực hiện hoá lý tưởng của chủ nghĩa nhân đạo trong cuộc sống của mỗi người dân
Cuộc đấu tranh giai cấp vẫn đang diễn ra dưới nhiều hình thức vô cùng phức tạp; trong đó, các thế lực chính trị vẫn lợi dụng tôn giáo để thực hiện cho mưu đồ chính trị của mình Mặt khác, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, sắc tộc, khủng bố, bạo loạn lật đổ còn xảy ra ở nhiều nơi Nỗi lo
sợ về chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo cùng với những mối đe dọa khác là điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại
Nguyên nhân kinh tế
Trong chủ nghĩa xã hội, nhất là giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ còn nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với những lợi ích khác nhau của các giai tầng xã hội, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, vẫn là một thực tế; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân chưa cao, thì con người càng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi Điều đó làm cho con người có tâm lý thụ động, nhờ cậy, cầu mong vào những lực lượng siêu nhiên
Nguyên nhân về văn hoá
Sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo có khả năng đáp ứng ở một mức độ nào
đó nhu cầu văn hoá tinh thần và có ý nghĩa nhất định về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo đức, phong cách, lối sống Vì vậy, việc kế thừa, bảo tồn và phát huy văn hoá của nhân loại, trong đó có đạo đức tôn giáo là cần thiết Mặt khác, tín ngưỡng, tôn giáo có liên quan đến tình cảm, tư tưởng của một bộ phận dân cư,
và do đó sự tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội như là một hiện tượng xã hội khách quan
1.1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác–Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo
Tín ngưỡng, tôn giáo là những vấn đề nhạy cảm và phức tạp Do đó, những vấn đề nảy sinh từ tôn giáo cần phải được xem xét hết sức thận trọng,
cụ thể và chuẩn xác có tính nguyên tắc, với những phương thức linh hoạt theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
Trang 22Giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cần dựa trên những quan điểm sau:
Một là, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời
sống xã hội phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới
Đó là yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Hai là, khi nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận quần chúng nhân dân, thì nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của nhân dân Công dân có tôn giáo hay không có tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau Cần phát huy những nhân tố tích cực của tôn giáo, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân
Ba là, thực hiện đoàn kết giữa những người có tôn giáo và những người
không có tôn giáo, đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết những người theo tôn giáo với những người không theo tôn giáo, toàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước Nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ vì lý do tín ngưỡng tôn giáo
Bốn là, phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết
vấn đề tôn giáo Mặt tư tưởng thể hiện sự tín ngưỡng tôn giáo Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, khắc phục mặt này là việc làm thường xuyên, lâu dài Mặt chính trị là sự lợi dụng tôn giáo của những phần tử phản động nhằm chống lại sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đấu tranh loại bỏ mặt chính trị phản động trong lĩnh vực tôn giáo là nhiệm vụ thường xuyên, vừa phải khẩn trương, kiên quyết, vừa phải thận trọng và có sách lược phù hợp với thực tế
Năm là, phải có quan điểm lịch sử-cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo
Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò và sự tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội cũng khác nhau Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực, các vấn đề xã hội luôn có sự khác biệt Do đó, cần phải có quan điểm lịch sử-cụ thể khi xem xét, đánh giá và giải quyết những vấn đề có liên quan đến tôn giáo Người Mácxít phải biết chú ý đến toàn bộ tình hình cụ thể-đó là điều mà Vladimia Ilich Lênin đã từng nhắc nhở khi giải quyết vấn đề tôn giáo Nhà nước xã hội chủ nghĩa cần phải có quan điểm và phương thức ứng xử phù hợp với từng trường hợp cụ thể khi giải quyết các vấn đề tôn giáo
Trang 231.2 Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
1.2.1 Đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
1.2.1.1 Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
Một là, Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo khác nhau Hiện nay, ở
nước ta có 6 tôn giáo lớn đã được Nhà nước thừa nhận về tổ chức là: Phật giáo, Hồi giáo, Tin lành, Công giáo, Cao đài, Hoà hảo với khoảng 20 triệu tín
đồ [6, tr 230] Ngoài ra còn hàng chục triệu người khác vẫn giữ tín ngưỡng dân gian, truyền thống và cả tín ngưỡng nguyên thuỷ Tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta chủ yếu ở cấp độ tâm lý tôn giáo Nhiều tín đồ tuy khá sùng bái đạo nhưng hiểu giáo lý rất ít, gia nhập đạo phần lớn do lan truyền tâm lý, hoặc do vận động, lôi kéo; ý thức tôn giáo ở phần lớn tín đồ không thật sâu sắc
Hai là, các tín ngưỡng, tôn giáo dung hợp, đan xen và hoà đồng, không
có kỳ thị, tranh chấp và xung đột tôn giáo Các tín ngưỡng truyền thống và tàn
dư tôn giáo nguyên thuỷ in dấu khá sâu đậm vào đời sống tinh thần của người Việt Nam, theo suốt chiều dài lịch sử, đó là nền tảng tâm linh để dễ dàng đón nhận sự du nhập của tôn giáo khác Sự khoan dung, lòng độ lượng, nhân ái của dân tộc Việt Nam, cùng với yêu cầu phải đoàn kết toàn dân để bảo vệ nền độc lập, thống nhất lãnh thổ, nên người Việt Nam tiếp nhận các tôn giáo khác nhau một cách tự nhiên, miễn là nó không trái lại lợi ích quốc gia, dân tộc và truyền thống văn hoá, tín ngưỡng cổ truyền Sự phân bố tôn giáo ở nước ta có đặc điểm nổi bật là giáo dân của các tôn giáo thường sinh sống thành những cộng đồng quy mô nhỏ, các cộng đồng tôn giáo khác nhau có thể sống xen kẽ nhau
Ở nhiều nơi, trong một làng, xã cùng có các nhóm tín đồ của các tôn giáo khác nhau sống đan xen, hoà hợp với nhau hoặc xen kẽ với những người không theo tôn giáo nào
Ba là, các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội Việt Nam đều
du nhập từ bên ngoài, ít nhiều đều có sự biến đổi và mang dấu ấn Việt Nam Các tôn giáo từ bên ngoài vào Việt Nam vừa theo cách du nhập tự nhiên qua giao lưu kinh tế, văn hoá như: Phật giáo, Hồi giáo; vừa có sự áp đặt song hành với quá trình xâm lược của các đế quốc trong lịch sử như: Công giáo, Tin lành Quá trình giao lưu, gặp gỡ các tôn giáo vừa thâm nhập, bổ sung, vừa cải biến lẫn nhau, khiến cho mỗi tôn giáo đều có sự biến đổi phù hợp với đặc điểm địa
lý, lịch sử và văn hoá Việt Nam
Bốn là, sự pha trộn phức tạp giữa ý thức tôn giáo với tín ngưỡng truyền
thống và tình cảm, phong tục tập quán của nhân dân Tín ngưỡng truyền thống dân gian mà nổi bật nhất là phong tục thờ cúng tổ tiên, đã dung hợp với các
Trang 24tôn giáo, góp phần tạo nên đặc điểm tình cảm, tâm hồn, tính cách người Việt Nam Tuy vậy, sự pha trộn phức tạp giữa ý thức tôn giáo với tín ngưỡng cổ truyền và tình cảm, phong tục tập quán đã ăn sâu vào đời sống tinh thần người Việt Nam, làm cho một bộ phận quần chúng lao động rất dễ dàng tiếp nhận tình cảm, ý thức tôn giáo mới
1.2.1.2 Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Mặc dù sự hình thành và phạm vi ảnh hưởng đối với số lượng tín đồ và tác động chính trị-xã hội không giống nhau, đồng bào các tôn giáo đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hàng chục vạn thanh niên có đạo đã tham gia chiến đấu và nhiều người đã anh dũng
hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, nhiều tín đồ đã nhận thức đúng chính sách, pháp luật của nhà nước, làm tốt cả “việc đời” và “việc đạo” Tình hình kinh tế, an ninh chính trị và trật
tự xã hội ở nhiều vùng tôn giáo khá ổn định Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một bộ phận đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo còn băn khoăn, lo lắng cả phần đạo và phần đời Những năm gần đây, sinh hoạt tôn giáo có phần phát triển, nhà thờ, đình chùa, miếu mạo, thánh thất được tu sửa và tôn tạo, xây cất lại, đào tạo các chức sắc Số người tham gia các hoạt động tôn giáo gia tăng Những hoạt động lễ hội gần gũi với tôn giáo nhiều, mang nhiều màu sắc khác nhau, cũng xuất hiện nhiều hiện tượng mê tín dị đoan Thực trạng trên, một phần phản ánh nhu cầu tinh thần của một số đông quần chúng Từ khi đổi mới và dân chủ hoá tự do tín ngưỡng càng có điều kiện thể hiện, đáp ứng nguyện vọng của một bộ phận nhân dân Mặt khác cũng nói lên điều không bình thường vì trong đó không chỉ có sự sinh hoạt tôn giáo thuần tuý, mà còn biểu hiện lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để phục vụ cho mưu đồ chính trị và hoạt động mê tín dị đoan
1.2.2 Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
1.2.2.1 Quan điểm của Đảng ta
Xuất phát từ những quan điểm chỉ đạo trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội và tình hình tôn giáo ở nước ta, Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Đoàn kết các đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo Chăm lo phát triển kinh
Trang 25tế, văn hóa, nâng cao đời sống của đồng bào Nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia” [10]
Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về công tác tôn giáo đã chỉ rõ quan điểm lớn sau: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đoàn kết dân tộc; Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc; nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng; công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị [10]
1.2.2.2 Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Theo tinh thần trên, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay bao gồm:
Thứ nhất, thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của
công dân trên cơ sở pháp luật
Thứ hai, tích cực vận động đồng bào các tôn giáo tăng cường đoàn kết
toàn dân nhằm xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực góp phần vào công cuộc đổi mới kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định về chính trị, trật tự và an toàn xã hội Trên cơ sở đó, chăm lo cải thiện đời sống vật chất và văn hóa, nâng cao trình độ mọi mặt cho đồng bào
Thứ ba, hướng các chức sắc, Giáo hội hoạt động tôn giáo theo đúng
pháp luật, ủng hộ các xu hướng tiến bộ trong các tôn giáo, làm cho các Giáo hội ngày càng gắn bó với dân tộc và sự nghiệp cách mạng toàn dân, thể hiện rõ vai trò trách nhiệm của tôn giáo ở một quốc gia độc lập
Thứ tư, luôn luôn cảnh giác, kịp thời chống lại những âm mưu và thủ
đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân, chống chủ nghĩa xã hội
Thứ năm, những quan hệ quốc tế và đối ngoại về tôn giáo hoặc có liên
quan đến tôn giáo phải theo chế độ, chính sách chung về quan hệ quốc tế đối ngoại của Nhà nước
Như vậy, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta bao gồm nhiều mặt, vừa có mặt đối nội, vừa có mặt đối ngoại Thực hiện chính sách tôn giáo
là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình thông qua chính sách, pháp luật, các đoàn thể nhân dân và Mặt trận Tổ quốc có nhiệm vụ vận động các tín đồ và chức sắc trong các Giáo hội phấn đấu xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” [6,tr 233]
Trang 26Có thể khẳng định, tôn giáo là hệ thống các tư tưởng, quan điểm giải thích về thế giới mang màu sắc huyền bí, thần thoại Xét trên phương diện khoa học và nhận thức, nó kìm hãm sự phát triển của nhân loại, kìm hãm sự phát triển của tư duy con người trong những bức tường chật hẹp của những sách kinh, giáo điều Nhưng cũng không thể không nhắc đến ý nghĩa của tôn giáo như là một phương thuốc giảm đau cho những con người đang bất lực trước tự nhiên kinh khủng và bí ẩn, đang rên siết trong gông cùm của nô dịch
và đàn áp, bất công Do đó, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận đời sống nhân dân Đánh giá được tầm quan trọng của công tác tôn giáo Đảng và Nhà nước ta chủ trương, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng tự do, tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo Dựa trên nguyện vọng chính đáng của nhân dân, điều đó đã củng cố niềm tin trong nhân dân, tạo sự phấn khởi trong đồng bào tôn giáo hiện nay
Trang 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI TỪ THIỆN CỦA TÍN
ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ
HỘI HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY
2.1 Khái quát về vùng đất và đời sống dân cư ở huyện Phú Tân, tỉnh
An Giang
2.1.1 Khái quát về vùng đất, con người huyện Phú Tân
Tỉnh An Giang nằm ở phía Tây của Việt Nam, giữa hai sông Tiền, sông Hậu và dọc theo hữu ngạn sông Hậu thuộc hệ thống sông MêKông, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107.628 km), phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang (69.789 km) và thành phố Cần Thơ (44.734 km), phía Bắc giáp với nước bạn Campuchia (97 km) với tổng diện tích 3.406,2 km² Hiện nay, An giang có 11 huyện thị thành với 8 huyện, 2 thị xã và thành phố Long Xuyên Phú Tân là 1 trong 8 huyện của tỉnh An giang với thế mạnh là sản xuất nông nghiệp và các làng nghề thủ công truyền thống
Về điều kiện tự nhiên, Phú Tân là một trong ba huyện cù lao của tỉnh
An Giang rộng 314,2 km², phía Bắc giáp thị xã Tân Châu, phía Tây giáp thị xã Châu Đốc và huyện Châu Phú, phía Đông Nam giáp huyện Chợ Mới, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp Bốn phía của huyện Phú Tân được bao bọc bởi các con sông Sông Tiền ở phía Đông, kênh Vĩnh An (nối sông Tiền với sông Hậu) ở phía Bắc và Tây Bắc, nhánh sông Vàm Nao (nối sông Tiền với sông Hậu) ở phía Nam và Tây Nam
Phú Tân nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, có địa hình đồng bằng nên hàng năm vào mùa lũ nước sông dâng cao ngập trắng cả ruộng đồng, vì thế phù sa cũng được mang theo bồi đắp cho vùng đất này Thổ nhưỡng huyện Phú Tân thuộc loại đất phù sa màu mỡ, rất thuận lợi cho canh tác lúa và hoa màu Đặc biệt, huyện Phú Tân nổi tiếng khắp cả nước với những sản phẩm đặc trưng chiết xuất từ cây nếp-loại cây đặc sản của huyện
Đặc sản nổi tiếng của huyện là bánh phồng Phú Mỹ Làng nghề bánh phồng thị trấn Phú Mỹ hình thành, tồn tại và phát triển gần 70 năm nay, có 50
cơ sở sản xuất, thu hút khoảng 300 lao động Trong đó, các gia đình nổi tiếng
có truyền thống làm bánh như gia đình cụ Lê Minh Dơn, Ngô Thị Dờn, Trần Văn Tâm Nguyên liệu làm bánh phồng là loại nếp đặc sản được trồng tại huyện Phú Tân Bánh phồng Phú Mỹ nhỏ bằng cái dĩa nhưng nướng chín phồng to hơn cái quạt nan Bánh vừa xốp, vừa mềm, có vị béo của nếp, vị ngọt của đường, mùi thơm của sữa, mè, đậu nành, đậu phộng Những năm qua, bánh phồng thị trấn Phú Mỹ được người tiêu dùng ưa chuộng nên làng nghề phát triển mạnh và sản xuất quanh năm, nhộn nhịp nhất là tháng giáp Tết Các
Trang 28kỳ Hội chợ hay triển lãm tại tỉnh An Giang, Cần Thơ hoặc thành phố Hồ Chí Minh, bánh phồng thị trấn Phú Mỹ đều có mặt trong gian hàng trưng bày sản phẩm đặc sản của An Giang Làng bánh phồng Phú Mỹ đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang công nhận làng nghề truyền thống vào cuối năm 2006 Nếu
có dịp đến An Giang, bánh phồng Phú Mỹ là một món quà rất có ý nghĩa để
du khách mang về làm quà cho người thân
Cũng như khí hậu chung của cả tỉnh An Giang-khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ quanh năm của Phú Tân từ 200C đến 350C Lượng mưa trung bình trong năm vào khoảng 1000 mm đến 1300 mm, mưa nhiều vào các tháng
07, 08, 09 Phú Tân chịu ảnh hưởng chính của hai ngọn gió là gió Nồm (gió Nam) và gió Bắc Nhìn chung khí hậu huyện Phú Tân điều hòa dễ chịu tương đối thuận lợi cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân địa phương
Huyện Phú Tân có hệ thống sông ngòi chằng chịt, ngoài ra còn có các kênh, rạch, lạch, búng, bưng Với mạng lưới kênh rạch dày đặc, địa hình thấp nên hàng năm vào mùa mưa Phú Tân là một trong những huyện bị ngập lụt nặng nề nhất Vào mùa nước nổi nước trong đồng ngập sâu từ 01m-03m Hơn thế nữa, cùng với sự xuất hiện của mùa nước nổi đã mang lại cho Phú Tân nhiều loại cá, tôm Đây là nguồn lợi to lớn giúp cho người dân kiếm thêm thu nhập, cũng như cải thiện bữa ăn hàng ngày
Với điều kiện tự nhiên sẵn có như đã trình bày, phần nào cho thấy huyện Phú Tân đang có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, cũng như tận dụng được nguồn thủy sản tự nhiên trong mùa lũ
Về tình hình kinh tế-xã hội, sau khi điều chỉnh địa giới hành chính huyện Phú Tân có 31.422,3 ha diện tích tự nhiên và 221.059 nhân khẩu, có 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Long Hoà, Phú Hiệp, Phú Long, Phú Lâm, Phú Thạnh, Phú Thành, Hoà Lạc, Phú An, Phú Bình, Hiệp Xương, Phú Xuân, Phú Thọ, Bình Thạnh Đông, Phú Hưng, Tân Hoà, Tân Trung và thị trấn Phú Mỹ, thị trấn Chợ Vàm Dân cư sống chủ yếu ở nông thôn, người Kinh là dân tộc chiếm đa số (98%) Là dân cư sống chủ yếu ở đây, người Kinh đã sớm hòa nhập với cộng đồng dân tộc bản địa đã sống từ trước
đó, đoàn kết và gắn bó cùng nhau bảo vệ và xây dựng quê hương Phú Tân ngày càng giàu đẹp Ngoài ra còn có người Hoa, người Chăm chiếm phần nhỏ dân số của huyện Đặc biệt, Phú Tân là huyện mang bản sắc văn hóa của tôn giáo bản địa, toàn huyện có tới trên 85% dân số theo đạo Hoà Hảo Ngoài ra huyện có những công trình kiến trúc nổi tiếng như: chùa Giồng Thành, thánh đường Mubarak