1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát câu đối hán văn trong đối liên tập được lưu trữ tại thư viện tỉnh an giang

78 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công trình nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội “Câu đối Hán- Nôm trong các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu nội thành Hà Nội” của giảng viên Lê Anh Tuấn đã dành hẳn một ch

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Các kết quả nêu trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lần đầu tiên, trong mỗi người chắc hẳn ai cũng sẽ trải qua lần đầu

tiên này và tôi cũng không ngoại lệ Đây chính là lần đầu tiên tôi làm

nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những khó khăn, sai sót

Nhưng nhờ nhận được sự giúp đỡ tận tình và ủng hộ của thầy cô, gia

đình và bạn bè, tôi đã khắc phục được những khó khăn, nhược điểm của

bản thân để hoàn thành khóa luận

Trong quá trình làm khóa luận, ngoài những nỗ lực tìm hiểu của

bản thân, tôi đã nhận được sự động viên và giúp đỡ từ nhiều phía Và

hơn hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu Trường Đại

học An Giang và quý thầy cô trong bộ môn Ngữ văn (khoa Sư phạm) đã

trang bị cho tôi những hành trang tri thức và tạo điều kiện cho tôi học hỏi,

trau dồi kiến thức về lí luận và thực tiễn

Đặc biệt tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới Thầy Nguyễn Thanh Phong!

Thầy đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề

tài của mình, từ bước đầu chọn đề tài cũng như trong suốt quá trình thực

hiện, Thầy đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và góp ý kiến kịp thời cho tôi,

cung cấp cho tôi nhiều kiến thức quý báu,… để tôi hoàn thành tốt khóa

luận tốt nghiệp của mình Tôi cũng xin gửi lời tri ân của mình đến Thầy

Trương Chí Hùng và Cô Nguyễn Thị Mỹ Linh đã dành thời gian quý báu

của mình để đọc, nhận xét và góp ý cho khóa luận của tôi

Nhân tiện tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn Huỳnh Hoàng Nam

đã giúp tôi về mặt tinh thần, tình cảm và tài liệu để tôi hoàn thành bài tập

cuối khóa này một cách trọn vẹn nhất

Cuối cùng, tôi xin gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt

đến tất cả quý thầy cô, bạn bè !

Long Xuyên, ngày 28 tháng 04 năm 2018

Người thực hiện

Trần Thị Kim Mành

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU……… 7

1 Lý do chọn đề tài……… 7

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 8

3 Tình hình nghiên cứu đề tài……… 9

4 Phương pháp nghiên cứu……… 11

5 Mục tiêu nghiên cứu……… 11

6 Đóng góp của đề tài……… 12

PHẦN NỘI DUNG……… 13

Chương 1: Khái quát chung về liễn đối……… 13

1.1 Thuật ngữ “liễn đối”……… 13

1.2 Nguồn gốc……… 13

1.2.1 Câu đối ở Trung Quốc……… 13

1.2.2 Câu đối ở Việt Nam……… 14

1.3 Phân loại câu đối……… 15

1.3.1 Câu đối ở Trung Quốc……… 15

1.3.2 Câu đối ở Việt Nam……… 16

1.4 Cách trang trí và trình bày……… 19

1.4.1 Cách trình bày……… 19

Trang 4

1.4.2.Cách trang trí……… 20

1.5 Nguyên tắc của câu đối……… 21

1.5.1 Đối ý và đối chữ……… 21

1.5.2 Vế câu đối……… 21

1.5.3 Số chữ và các thể câu đối……… 22

1.5.4 Luật bằng trắc……… 23

Chương 2: Câu đối trong Đối liên tập……… 25

2.1 Đôi nét về Đối liên tập……… 25

2.1.1 Tiểu sử soạn giả Cao Vân Hân (1924 – 1999)……… 25

2.1.2 Nguồn gốc của Đối liên tập……… 25

2.2 Nội dung câu đối trong Đối liên tập……… 26

2.2.1 Câu đối lễ nghi, phong tục……… 26

2.2.1.1 Câu đối mừng xuân (聯春)……… 26

2.2.1.2 Câu đối mừng hôn nhân (婚姻 )……… 28

2.2.1.3 Câu đối mừng tân gia (新家)……… 31

2.2.1.4 Câu đối viếng ( 輓 )……… 32

2.2.2.Câu đối về sinh hoạt, lao động……… …… 33

2.2.2.1 Nhà kho (倉庫)……… 33

2.2.2.2 Thầy bói (卜師 )……… 34

2.2.2.3 Làm ăn ( 生意 )……… 35

2.2.2.4 Câu đối trên cầu (橋 )……… 36

2.2.2.5 Câu đối ở nhà thuốc (家醫)……… 37

Trang 5

2.2.2.6 Câu đối trước sân nhà (家庭)……… ……… 38

2.2.2.7 Câu đối trên thuyền, bến sông……… 38

2.2.3 Câu đối ở những nơi thờ cúng……… ……… 39

2.2.3.1 Câu đối ở Chùa (寺)……….……… 39

2.2.3.2 Câu đối ở Miếu (廟)……….….……… 41

2.2.3.3 Câu đối ở Đình ( 亭 )……….……… 42

2.2.3.4 Câu đối ở Từ đường ( 祠 堂 )……….……… 45

2.2.3.5 Câu đối ở nơi thờ Táo Quân ( 灶 君 )……… ……… 48

2.2.3.6 Câu đối ở nơi thờ Tổ sư – tổ nghề ( 祖 師 )…… ……… 48

2.2.4 Câu đối gắn với địa danh ở Thốt Nốt……… 50

2.2.4.1 “ Thuận Hưng” ( 順 興 )……… ……… 50

2.2.4.2 Trường học ( 場 學 )……….…….………… 51

2.2.4.3 Hội quán ( 會 舘 )……….….………… 52

2.2.4.4 Chùa - Tự ( 寺 )……… ………… 52

2.2.5 Câu đối về văn hóa, giáo dục……… ………… 53

2.3 Nghệ thuật trong Đối liên tập……….……… 54

2.3.1 Thủ pháp đối……… ……… 54

2.3.2 Chơi chữ……….……… 57

2.3.3 Cường điệu……… ……… 59

2.3.4 So sánh……… ……… 60

2.3.5 Phép “điệp”……… ……… 61

2.3.6 Sử dụng điển tích, điển cố……….……… 62

Trang 6

2.4 Sự tồn tại của Đối liên tập trên địa bàn Thốt Nốt đầu thế kỉ XX 63

2.4.1 Vai trò, ý nghĩa của liễn đối trong đời sống……… 63

2.4.2 Đối tượng sáng tạo, ghi chép và sử dụng……… 64

2.4.3 Câu đối trong nhận thức và kí ức cộng đồng……… 65

PHẦN KẾT LUẬN……… 67

KIẾN NGHỊ……… 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 70

PHỤ LỤC……… 71

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Liễn đối (hay còn gọi là liên đối) là những câu đối được viết trên giấy, trên vải hoặc được khắc trên gỗ, cây trúc, trên cột Hai vế câu đối lúc nào cũng đối nhau từng từ, từng chữ và ý nghĩa của chúng luôn liên quan đến nhau và câu đối cũng chính là một trong những hình thức văn chương đặc biệt của Trung Quốc Những câu đối luôn làm tăng thêm sự thú vị, cao nhã trong sinh hoạt văn hóa của người dân thời xưa kể cả ở Trung Quốc và Việt Nam

Do hoàn cảnh lịch sử, địa lí nên nền Hán học của Trung Hoa đã dễ dàng ảnh hưởng và hội nhập vào nền văn hóa nước ta để tạo ra nền văn học cổ điển, tổ tiên chúng ta ngày trước học chữ Hán để tiếp thu văn minh Trung Hoa Bất kể lối văn chương nào dù là thơ hay phú, văn tế hay văn bia, cho đến thơ lục bát hay song thất lục bát thì đều phải có hình thức đối, tức là phải có câu đối lẫn ở trong Từ đó, cho thấy được phần nào tầm quan trọng của câu đối trong các tác phẩm văn chương thời xưa

Mặt khác, liễn đối lại có một giá trị rất to lớn trong đời sống tinh thần của người Trung Hoa và đã ảnh hưởng sâu rộng đến lối sinh hoạt văn hóa, tinh thần của người Việt xưa Nếu trông lên bàn thờ gia tiên nhà nào đó có thể biết được tình trạng kinh tế nhà ấy thì trông vào hoành phi, liễn đối có thể biết được gia thế và trình độ của chủ nhà hoặc có thể dựa vào đó mà biết được tập quán, tín ngưỡng của một địa phương

Mặc dù câu đối chỉ là những câu văn đi sóng đôi với nhau, tính từng chữ chứ không đếm từng trang, từng tờ như những thể loại văn chương khác, song công dụng của nó lại rất to lớn Nó vừa cho thấy được tập quán tín ngưỡng của một địa phương vừa cho thấy được giá trị văn chương tiềm ẩn trong mỗi câu mỗi chữ Xuất phát từ những mặt giá trị

đó mà hiện nay, người ta đang bắt đầu đẩy mạnh công tác sưu tầm, tìm hiểu về hoành phi, liễn đối trên địa bàn các tỉnh để làm rõ nếp sống văn hóa, tinh thần của người dân ở địa phương đó

Và trong những năm gần đây, thực hiện Nghị định của Chính phủ

về việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thì việc bảo vệ kho tàng văn hóa Hán – Nôm cụ thể là tư liệu về hoành phi, liễn đối là hết sức cấp thiết Đây chính là dấu hiệu của sự quan tâm đến những nét văn hóa cổ xưa Từ lâu, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm tới việc sưu tầm bảo vệ sách vở, tư liệu Hán- Nôm, loại di vật dễ hư hỏng,

Trang 8

dễ mất mát, trong khi không còn sản xuất ra được nữa Chính vì lẽ đó việc sưu tầm tư liệu hoành phi, liễn đối còn lưu lại trên cả nước nói chung và một địa phương nào đó nói riêng là một việc làm rất quan trọng

và có ý nghĩa Bởi lẽ việc khảo sát tư liệu về hoành phi, liễn đối trên địa bàn nhất định cũng giống như ta đang đi vào tìm hiểu chính mảnh đất và con người trên vùng đất đó

Trong đề tài này, chúng tôi sẽ dẫn dắt mọi người tìm hiểu về mảnh đất và con người ở Thốt Nốt đầu thế kỉ XX Bởi may mắn thay là trong tổng số 263 tài liệu Hán Nôm do một vài hộ dân tại Thốt Nốt quyên tặng cho Thư viện tỉnh An Giang năm 2016, chúng tôi đã vô tình tìm thấy một

quyển Đối liên tập do Cao Đảnh Hưng (Cao Văn Hân) chép lại Quyển

sách này gần như ghi lại một cách trọn vẹn những câu đối có thể được tạo ra trong sinh hoạt văn hóa của người dân Nam Bộ xưa mà cụ thể là địa bàn Thốt Nốt (An Giang xưa) Từ những câu đối mừng xuân treo ở cửa nhà, đến những câu đối mừng hôn nhân bên nhà trai lẫn nhà gái, hay

đó còn là những câu đối được treo ở những nơi thờ tự, công sở, trường học,…Tất cả sẽ cho chúng ta thấy một diện mạo hoàn toàn mới mẻ nhưng lại rất cổ của Thốt Nốt xưa

Mặc dù từ trước đến giờ đã có không ít tài liệu viết về liễn đối, về việc sưu tầm liễn đối trên nhiều địa phương khác nhau, nhưng chúng tôi nhận thấy rằng việc tìm hiểu làm sáng rõ nguồn gốc, giá trị cũng như đặc

sắc về nội dung và nghệ thuật trong Đối liên tập là một việc làm cần thiết

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các câu đối Hán văn trong Đối liên tập được lưu trữ tại Thư viện tỉnh An Giang Cụ thể trong đề tài này,

chúng tôi sẽ khảo sát về các mặt tự dạng, ý nghĩa, dụng điển, hình thức kết cấu, nhịp điệu, hoàn cảnh lưu truyền… của các cặp câu đối Hán văn

Trang 9

Phạm vi nghiên cứu là quyển Đối liên tập, tức một quyển sách cổ

được một hoặc một vài tác giả khuyết danh người huyện Thốt Nốt (xưa thuộc tỉnh An Giang, nay thuộc địa bàn thành phố Cần Thơ) tập hợp và biên soạn Quyển sách này cho thấy diện mạo đời sống của câu đối Hán văn trong nửa đầu thế kỉ XX, thời điểm quyển sách được sưu tập và hoàn thành

3 Tình hình nghiên cứu đề tài

Khảo sát, tìm hiểu về câu đối vốn không phải là một vấn đề mới mẻ,

nó đã xuất hiện rất lâu trong các công trình nghiên cứu Hán Nôm Đã có rất nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ, các công trình nghiên cứu khoa học của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện đề tài này

Trong mấy chục năm qua, các nhà nghiên cứu đã tốn rất nhiều công sức và giấy mực cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về câu đối Nhưng trên thực tế, mỗi người lại tìm hiểu, nghiên cứu ở những góc độ, khía cạnh khác nhau của câu đối Sau đây, chúng tôi xin được giới thiệu một số tác phẩm viết về câu đối:

Cuốn Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính, Mặc Lâm đã giới thiệu

một cách sơ lược nhất về câu đối Phan Kế Bính đã xếp câu đối vào lối văn vần, khác với thơ, phú, văn tế,…

Cuốn Câu đối Việt Nam của Tạ Phong Châu đã trình bày một cách

đầy đủ và hệ thống về câu đối ở Việt Nam Cuốn sách này trình bày những lý luận xung quanh câu đối, giới thiệu những câu đối nổi tiếng và giai thoại về nó

Cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, tuy không

nói nhiều về câu đối nhưng cũng có nhắc đến câu đối, phép đối trong số rất nhiều các thể loại văn học khác

Trong hai cuốn 3000 hoành phi câu đối Hán Nôm và 5000 hoành phi câu đối Hán Nôm do Trần Lê Sáng chủ biên; cuốn Từ điển văn học

(bộ mới) do Đỗ Đức Huy chủ biên cũng đã giới thiệu một cách sơ lược

về nội dung và nghệ thuật của câu đối

Cuốn Câu đối trong văn hóa Việt Nam của Nguyễn Hoàng Huy đã

trình bày một cách sâu sát hơn so với những cuốn sách kể trên về nguồn gốc câu đối, tổng quan và thực trạng, nội dung của câu đối Việt Nam Ngoài ra, cuốn sách này còn trình bày một phần khá đặc biệt, đúng như tên gọi của nó về vấn đề địa vị của câu đối trong văn hóa Việt Nam

Trang 10

Bên cạnh những cuốn sách đã được xuất bản, còn có những công trình nghiên cứu khá công phu về câu đối đã được công bố như:

Hai công trình nghiên cứu cấp nhà nước Tổ chức bảo vệ và khai

thác văn hóa Hán – Nôm ở Huế: “Câu đối hoành phi nội thành Huế” và

“Câu đối hoành phi ngoại thành Huế” của tác giả Trần Đại Vinh và

Đinh Thanh Hiếu thực hiện là hai công trình có sức khái quát và toàn diện về hệ thống hoành phi câu đối của một vùng đất đã từng là kinh đô Công trình nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội

“Câu đối Hán- Nôm trong các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu nội thành Hà Nội” của giảng viên Lê Anh Tuấn đã dành hẳn một chương để

trình bày về câu đối: quan niệm về câu đối, các hình thức câu đối, phân loại, nội dung, nghệ thuật của câu đối và câu đối trong mối quan hệ với các thể loại văn học cổ

Công trình nghiên cứu khoa học “Sưu tầm, chú giải hoành phi, liễn đối Hán Nôm trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” của

hai tác giả Trương Chí Hùng và Lê Thị Thoại cũng đã giới thiệu một cách tương đối đầy đủ và khái quát hệ thống tư liệu Hán – Nôm (hoành phi, liễn đối) ở 18 cơ sở thờ tự tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Luận văn thạc sĩ Hán – Nôm – Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn năm 2007 của Trần Thanh Quỳnh “Nghiên cứu thể loại câu đối qua khảo sát di tích lịch sử văn hóa Hà Nội” đã trình bày hầu như

toàn bộ những giới thuyết về câu đối Và công trình nghiên cứu này được xem là một sản phẩm của công tác khoa học có giá trị cao trong lĩnh vực nghiên cứu Hán – Nôm

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Anh Nhân Trường Đại học

An Giang ở đề tài “Tìm hiểu hệ thống tư liệu Hán – Nôm ở thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang”, tuy không nói nhiều về câu đối nhưng ở đề tài này

Lê Anh Nhân cũng đã nói đến quá trình du nhập và hình thành câu đối ở Việt Nam

Những tài liệu trên tuy nói về câu đối ở những mức độ, khía cạnh khác nhau nhưng chung quy lại thì đều bàn đến những giá trị văn chương

và giá trị đời sống của thể loại câu đối Từ những giới thuyết có tính gợi

ý đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài Khảo sát câu đối Hán văn

trong Đối liên tập lưu trữ tại Thư viện tỉnh An Giang và đề tài này sẽ

trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đó và phát hiện những vấn đề mới chưa được làm rõ

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Để có thể đạt được hiệu quả tối ưu khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã chọn và vận dụng linh hoạt những phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp điều tra thực tế: chúng tôi sẽ tiến hành một vài chuyến đi đến địa bàn Thốt Nốt (Cần Thơ), cụ thể là nhà của cụ Cao Đảnh Hưng để thu thập thông tin về nguồn gốc ra đời cũng như giá trị văn hóa của quyển Đối liên tập này

- Phương pháp lịch sử: khái quát sự du nhập, hình thành và phát triển của hệ thống câu đối trong sinh hoạt văn hóa của người Việt xưa

- Phương pháp phân loại: dùng để phân loại câu đối theo nội dung và mục đích

- Phương pháp thống kê: được sử dụng để tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo hướng định lượng

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: dùng để phân tích làm rõ đối tượng nghiên cứu, từ đó tổng hợp thành luận điểm khoa học

Mỗi phương pháp đều có những mặt tích cực và hạn chế riêng của chúng Cho nên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã vận dụng linh hoạt các phương pháp trên để hoàn thành bài nghiên cứu của mình một cách hiệu quả nhất

5 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài này của chúng tôi chủ yếu tập trung vào các mục tiêu sau:

- Chúng tôi sẽ tiến hành phiên âm, dịch nghĩa, phân loại, sau đó đi sâu vào việc phân tích để làm nổi bật lên giá trị nội dung cũng như nghệ

thuật của hệ thống câu đối trong Đối liên tập

- Thu thập tư liệu Hán Nôm về liễn đối đang tồn tại tại các địa phương trên địa bàn Thốt Nốt (An Giang xưa)

- Khảo sát hệ thống tư liệu Hán Nôm về liễn đối đã được công bố

và đặc biệt là quyển Đối liên tập vừa tìm thấy này, để từ đó khái quát

thành lý thuyết về quá trình tiếp nhận và sáng tạo câu đối của các nhà Nho Nam Bộ xưa

- Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ khảo sát đời sống văn hóa tinh thần của

xã hội trên địa bàn huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, nơi quyển Đối

Trang 12

liên tập này ra đời Thông qua đó, công trình muốn nhấn mạnh những giá

trị vô giá mà tư liệu Hán Nôm mang lại cho đời sống tinh thần của chúng

ta

6 Đóng góp của đề tài

Khảo sát câu đối Hán văn trong Đối liên tập lưu trữ tại Thư

viện tỉnh An Giang chủ yếu làm công việc phiên âm, dịch nghĩa để làm

rõ nội dung và nghệ thuật của hệ thống câu đối trong tập liễn đối này dựa trên những cơ sở lí luận của chuyên ngành Hán Nôm Vì vậy, ở đề tài hạn hẹp này chúng tôi chỉ mong muốn được góp một phần nhỏ công sức của mình:

- Đầu tiên, chúng tôi sẽ tiến hành phiên âm, dịch nghĩa hệ

thống câu đối trong Đối liên tập để giúp cho người tham khảo (người am

hiểu Hán văn và người không biết gì về Hán văn) có thể hiểu được ý nghĩa của từng cặp câu đối được thể hiện trong đây Từ đó người tham khảo có thể hiểu được phần nào đời sống văn hóa và tư tưởng của người xưa ở địa bàn Thốt Nốt đầu thế kỉ XX

- Thứ hai, chúng tôi đi sâu vào việc phân tích làm bật lên những giá trị nội dung lẫn nghệ thuật của các cặp câu đối trong đây nhằm

giúp cho người đọc thấy được cái hay cái đặc sắc của quyển Đối liên tập

này Đồng thời, chúng tôi cũng cho người đọc thấy được cái tài của cha ông ta khi chọn lọc, sáng tạo ra những giá trị truyền thống này

- Thứ ba, giúp cho người tham khảo càng thêm yêu quý những giá trị truyền thống của dân tộc và thúc đẩy họ đi làm công tác khôi phục, bảo tồn các di sản dân tộc đang còn sót lại tại địa phương mình

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Khái quát chung về liễn đối 1.2 Thuật ngữ “liễn đối”

Thuật ngữ “liễn” được hiểu là: “Những tấm trang trí chạm khắc hoặc được sơn son thếp vàng, trước bàn thờ, bám dọc theo hai cột chính

và chạy dưới xà thượng” (theo Từ điển Bách Khoa)

Thuật ngữ “đối” được hiểu là: “Là biện pháp tu từ đặc biệt trong văn chương Trung Quốc và Việt Nam, đặt từng cặp câu sóng đôi, mỗi từ

ở câu trước cân xứng với từ tương đương ở câu sau cả về ý nghĩa lẫn từ loại; thường dùng trong thơ, phú, văn biền ngẫu và cả trong văn xuôi Thể văn được gọi là cân đối ứng dụng hoàn toàn biện pháp tu từ này” (theo Từ điển Bách Khoa)

“Liễn” chỉ sự sóng đôi từng cặp một “Đối” chỉ sự đối nhau về mặt nội dung hay nghệ thuật, lưu ý “ đối” (對) ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi “Liễn đối” dùng để chỉ những câu đối được viết, chạm khắc hoặc được sơn son thếp vàng vào hai cột chính và chạy dưới

xà thượng

1.2 Nguồn gốc

1.2.1 Câu đối ở Trung Quốc

Câu đối xét theo âm chữ Hán thì được gọi là doanh liên (楹聯), chính là đối liên (對聯), cũng gọi là đối tử (對子), liên ngữ (聯語)

và được phân chia thành hai liên trên, dưới đối nhau mà thành Suy cho cùng thì nguồn gốc xa xưa nhất của câu đối được gọi là đào phù Theo truyền thuyết thời cổ đại, Đông Hải Độ Sóc Sơn có một cây đào rất lớn, phía dưới có hai vị thần là Thần Đồ và Uất Lũy chuyên coi xét vạn quỷ, gặp bọn quỷ xấu, hại người hai thần sẽ dùng dây lau để trói lại làm mồi cho hổ ăn thịt Thế là Hoàng Đế khi làm lễ xua quỷ đã lập tượng người bằng gỗ đào lớn vẽ Thần Đồ, Uất Lũy và hình hổ ở trước cửa, đồng thời treo cây lau để chế ngự hung ma

Từ đào phù đề cập đến đối liên, theo ghi chép của người Tống, bắt đầu từ Hậu Thục thời kì Ngũ đại cách đây khoảng 3000 năm, theo Tống

sử Thục thế gia (宋史蜀世家), câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959

Nguyên văn:

Trang 14

新年納餘慶 嘉節號長春 Phiên âm:

Tân niên nạp dư khánh Gia tiết hiệu trường xuân Dịch nghĩa:

Năm mới thừa chuyện vui Tiết đẹp xuân còn mãi

Và câu đối đã được thai nghén từ đây, trải qua một thời gian dài tích lũy, phát triển mà hình thành diện mạo như chúng ta biết đến hiện nay

1.2.2 Câu đối ở Việt Nam

Ở Việt Nam, câu đối có tự bao giờ thì không thể xác định được một cách chính xác, mà chỉ biết được liễn đối cùng với những bức hoành phi

đã du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ XIII thông qua các cuộc giao tiếp giữa vua quan nước ta và vua quan Trung Quốc

Ngay từ đời Hán (206 tr CN – 220), thì nước ta đã trở thành thuộc địa của Trung Quốc Cũng từ đó, người Trung Quốc đã đem ngôn ngữ, phong tục tập quán của họ truyền bá trong nước ta Chữ Hán cùng với học thuyết của Khổng Tử đã chính thức truyền bá sang Việt Nam, khi sang Việt Nam thì chữ Hán được gọi là chữ Nho Đó là một thứ chữ mà các nhà Nho dùng để truyền bá tư tưởng Khổng Mạnh

Việc học Hán văn của người Việt trước kia cũng giống với người Trung Hoa Trước tiên họ bắt đầu học ngâm nga những câu văn trong quyển “Tam tự kinh” sau đó là “Tứ tự kinh”, “Sơ học vấn tân”,… họ ngâm nga như thế cốt là để nhớ mặt chữ, quen câu văn Sau khi tập ngâm, tập viết chữ tương đối vững thì người học mới đầu tập làm văn, trước khi làm văn phải tập làm câu đối Bất kể lối văn chương nào dù là thơ hay phú, văn tế hay văn bia, cho đến thơ lục bát hay song thất lục bát cũng không loại trừ được hình thức đối, tức là đều phải có câu đối lẫn ở trong

Cũng từ đó mà câu đối đã xuất hiện một cách hiển nhiên trong văn chương, sinh hoạt của người Việt và qua thời gian sáng tạo chúng ta đã

có một hệ thống câu đối như ngày nay Ngoài các cặp câu đối bằng chữ Hán, chúng ta còn sáng tạo ra câu đối chữ Nôm và câu đối bằng chữ

Trang 15

Quốc ngữ được treo dán, trưng bày ở hầu khắp mọi nơi như: đình chùa, miếu mạo, trường học,…

1.3 Phân loại câu đối

1.3.1 Câu đối ở Trung Quốc

Người Trung Quốc phân loại câu đối theo cách dùng và đặc điểm nghệ thuật

- Phân loại câu đối theo cách dùng gồm có:

+ Xuân liên: Câu đối xuân, chuyên dùng vào dịp tết, và được gắn ở trước cửa

+ Doanh liên: Câu đối dùng treo ở cột trụ, dùng trong nhà, cơ quan, cung điện của vua và những nơi cổ kính

+ Hạ liên: Những câu đối chúc mừng thường được dùng

để chúc thọ, chúc sinh nhật, hôn giá, mừng thăng quan tiến chức, mừng

có con, khai trương, khai nghiệp…

+ Vãn liên: Câu đối than vãn, dùng lúc tiếc thương cho ai đó

tử vong, gặp chuyện không lành

+ Tặng liên: Dùng để tán thưởng, đề cao, có ý khuyến khích người khác

+ Trung đường liên: Những câu đối treo ở những khách đường lớn, chỗ có nhiều người lưu ý và được phối hợp với bút hoạch (thư pháp)

- Phân loại câu đối theo quan điểm nghệ thuật bao gồm:

+ Điệp tự liên: Câu đối có một chữ xuất hiện liên tục

+ Phức tự liên: Câu đối có hai vế có chữ giống nhau nhưng không xuất hiện một cách trùng phức liên tục

+ Đỉnh châm liên: Chữ nằm phần đuôi của câu đầu được dùng lại làm chữ đầu của câu sau

+ Khảm tự liên: Bao gồm số, phương vị, tiết khí, niên hiệu, họ người, nhân danh, vị danh, vật danh

+ Xích (sách) tự liên: Mỗi thể hợp tự bên trong câu đối tách thành bao nhiêu chữ đơn thể, có người phân ra tinh tế hơn nữa là mở chữ

ra, hợp chữ lại

Trang 16

+ Âm vận liên: Bao gồm đồng âm dị tự, đồng tự dị âm cùng với điệp vận

+ Hài thú liên: Câu đối có ý nghĩa khôi hài, ẩn kín

+ Vô tình đối: Ý nghĩa vế trên dưới không tương quan với nhau, chỉ chỉnh những chữ và từ Phần lớn những câu đối này ít thấy ý vị

và được xếp chung với hài thú liên

+ Hồi văn liên: Câu đối đọc xuôi (thuận độc) hay đọc ngược (đảo độc) đều có ý tứ hoàn toàn như nhau

1.3.2 Câu đối ở Việt Nam

Câu đối của Việt Nam được Dương Quảng Hàm phân loại theo ý nghĩa và gồm các loại sau:

- Câu đối mừng: Câu đối được làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: Mừng thọ, mừng đám cưới, mừng tân gia - nhà mới, mừng thi đỗ

卲日歸家天賜福 良晨入宅地生財 Phiên âm Cát nhật quy gia thiên tứ phúc

Lương thần nhập trạch địa sinh tài Dịch nghĩa Ngày tốt về nhà trời ban phước lành

Giờ tốt vào nhà đất sinh tài lộc

(Câu đối mừng tân gia trong Đối liên tập)

- Câu đối phúng: Câu đối làm để viếng người chết Trong Đối liên tập có câu đối của một người con dâu viếng cha, mẹ chồng:

不幸之而幸之君子惡有君子爱 其哀也亦哀也爲人親非為人情 Phiên âm Bất hạnh chi, nhi hạnh chi; quân tử ác hữu quân tử ái

Kì ai dã, diệc ai dã; vị nhân thân phi vị nhân tình Dịch nghĩa Bất hạnh đấy, nhưng hạnh phúc đấy; quân tử xấu có

quân tử mến

Bi ai sao, thật bi ai sao; làm người thân thương không

hẳn vì tình

Trang 17

(Câu đối viếng trong Đối Liên tập)

- Câu đối tết: Câu đối làm để dán trước nhà, cửa, đền, chùa vào dịp Tết Nguyên đán

福禄夀三星在户 天地人四海同春 Phiên âm Phúc lộc thọ tam tinh tại hộ

Thiên địa nhân tứ hải đồng xuân Dịch nghĩa Phúc Lộc Thọ ba sao cùng chiếu ở cửa

Trời đất và người bốn biển cùng đón xuân

(Câu đối xuân trong Đối liên tập)

- Câu đối thờ: Là những câu đối tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo thờ, ví dụ như:

明農資飲食 教稼献杯盤

Giáo giá hiến bôi bàn Dịch nghĩa Làm nghề nông sáng suốt sẽ mang lại của cải, ấm no

cho dân

Vì ơn dạy dân trồng trọt mà hiến dâng phẩm vật

(Câu đối ca ngợi Thần nông trong Đối liên tập)

- Câu đối tự thuật: Là những câu đối kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi, ví dụ như câu đối tự thuật của Nguyễn Công Trứ:

Chị em ơi ! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác

Trời đất nhẻ ! gắng một phen này nữa, sếp cung,kiếm, cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh

- Câu đối để tặng: câu đối làm ra để tặng người khác (gần với câu đối mừng), ví như:

Nếp giầu quen thói kình khơi, con cháu nương nhờ vì ấm

Trang 18

Việc nước ra tay chuyên bát, bắc nam đâu đấy lại hàng

(Lê Thánh Tông, câu đối đề ở một hàng bán giầu (trầu) nước)

- Câu đối tức cảnh: Là những câu đối tả cảnh ngay trước mắt

Giơ tay với thử trời cao thấp Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

(Hồ Xuân Hương, vịnh cảnh trượt chân, ngã xoạc cẳng)

- Câu đối chiết tự: (Chiết là bẻ gẫy, phân tách - Tự là chữ, ký tự)

là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu

Tự (字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con nấy?

Vu (于) là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa

này?(1)

- Câu đối trào phúng: là những câu đối hàm ý chế giễu, châm chích một người nào đó

Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại

Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi (2)

(Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ)

- Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn có ở trong sách vở hoặc ở tục ngữ, ca dao

Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay không ngõng

Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi (3)

- Câu đối thách (đối hay đố): Nhiều người xưa còn nghĩ ra những câu đối oái oăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc dùng để thách người khác đối Lối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa…

Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lạ (4)

(1), (2), (3), (4) Trích dẫn lại theo: Dương Quảng Hàm, Văn học Việt Nam, Nxb Trẻ 2005, tp Hồ Chí Minh, tr 68,69

Trang 19

Các vế đối đi chung nhau thành từng cặp như thế và khi đọc, ta phải đọc theo từng cặp và đúng trật tự từ phải sang trái Dù bất cứ nơi đâu, cơ

sở thờ tự nào, khi ta đọc cũng phải theo nguyên tắc đó, tránh đọc nhầm, ghép nhằm vế thì sẽ làm sai lệch đi ý nghĩa của chúng, sai tinh thần của liễn đối

Câu đối thường đi chung với hoành phi để tạo thành một chỉnh thể thông báo thông tin đến người nhận Đó không phải là sự giới thiệu cụ thể, rõ ràng mà chỉ khái quát sơ lược rất ngắn gọn và hàm súc Có thể xem hình dưới đây:

Cổng chính đền An Sinh (An Sinh Từ) ở Khu di tích nhà Trần tại Đông Triều

Hoành phi

Liễn đối

Liễn đối

Trang 20

1.4.2.Cách trang trí

Ở phần này, chúng tôi tập trung chú ý khai thác ở ba cách thức thể hiện của liễn đối như: chạm trổ, khắc, viết

Đầu tiên, cách thức “chạm trổ” là một cách thể hiện rất cầu kỳ, tinh

vi, tỉ mỉ…và chắc hẳn là sẽ mất thời gian cho việc làm này rất nhiều Những chữ Hán đã được chạm trổ xong thì sẽ được sơn son thếp vàng rất đẹp mắt, trang nhã Phông nền của liễn đối thường được chọn là màu đỏ

và màu đen để nhằm làm nổi bật lên những nét chữ điêu luyện kia

Thứ hai, “khắc” ở cách thức này thì thường là những câu đối sẽ được khắc vào chất liệu gỗ Chúng được khắc một cách rất công phu và cầu kỳ… Sau khi chữ Hán đã được khắc thì sẽ được sơn màu vàng, đỏ có khi là màu đen (rất ít) Phông nền của liễn đối lúc này cũng là tông màu vàng hoặc đen miễn làm sao nổi bật được nét chữ lên là được

Thứ ba, “viết” đây là cách thể hiện phổ biến nhất cho tất cả các thể loại của hệ thống tư liệu Hán – Nôm Đa số các đôi liễn nét chữ được viết đều theo lối chữ “Thảo” với những đường bút hết sức điêu luyện Đây là một loại chữ mang giá trị nghệ thuật rất cao, chính vậy mà nó đòi hỏi nghệ nhân phải có một trình độ rất cao trong nghề Ngoài việc viết những bức liễn đối bằng chữ Hán, chữ Nôm, ngày nay người ta cũng khá chuộng cách viết các cặp liễn bằng chữ Quốc ngữ với những đường nét của cách viết chữ thư pháp vừa mang nét cổ kính, trang nghiêm vừa gần gũi, đời thường

Ngoài những đường nét chữ viết hết sức công phu, những bức liễn đối còn được làm bật lên, được tôn vinh lên bởi sự trang trí với họa tiết, hoa văn, biểu tượng xung quanh với những đường nét rất sắc sảo, uyển chuyển Có nhiều cặp liễn, hai bên được kết hợp với những họa tiết dây đầy hoa lá để làm cho câu liễn thêm phần mềm mại Còn có những bức được trang trí thêm với những hàng chữ Hán bên cạnh và những bài thơ bằng chữ Hán (chữ nhỏ)…

Bên cạnh đó thì cũng có những bức liễn được trang trí rất giản dị mới nhìn vào ta thấy toát lên một vẻ rất cổ điển với những họa tiết rất đơn giản, thậm chí có những bức không trang trí gì hết mà vẫn cảm thấy bắt mắt vì nét chữ rất tinh xảo

Cách trang trí đối với liễn đối không phải là tùy ý muốn mà nó thường theo nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của người dân Như cách trang trí muốn đề cập đến con vật thì người ta thường chọn bốn con vật

Trang 21

Tứ linh: long, lân, qui, phụng Khi đề cập đến cây cối thì người ta nghĩ đến bốn loài cây tượng trưng cho sự cao sang: tùng, cúc, trúc, mai Khi nói đến thần linh thì thường có sự xuất hiện của những vị tiên… Tất cả những sự kết hợp này đều phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ và đó là kết tinh của văn hóa dân tộc

Nói tóm lại, những bức liễn đối được trang trí và trình bày có cầu

kỳ, sắc sảo hay đơn sơ, mộc mạc thì chung quy lại nó cũng là đại diện của cái đẹp chân chính, bất hủ gắn liền với văn hóa cộng đồng và đó cũng là ước nguyện, khát vọng thiêng liêng mà con người muốn gửi gắm

1.5 Nguyên tắc của câu đối

Từ ngay cái tên liễn đối thì người ta có thể hiểu được hai vế của nó phải đối nhau, nhưng đối nhau không phải tùy ý mà cần phải có những nguyên tắc nghiêm nhặt chung của nó Cũng giống như làm thơ (thơ cổ),

ta cũng phải chú ý đến niêm luật của nó Có như thế thì câu đối mới được gọi là chỉnh đối hay đối cân

1.5.1 Đối ý và đối chữ

- Đối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau

- Đối chữ: phải xét 2 phương diện thanh và loại

+ Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại

+ Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây ) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru ) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ; nếu vế đối này có đặt chữ Nho thì vế kia cũng phải đặt chữ Nho Ví dụ như câu đối Trạng Quỳnh khi còn nhỏ đối lại vế đối của ông Tú Cát nêu ra:

Trời sinh ông Tú Cát Đất nứt con bọ hung

( Theo truyện Trạng Quỳnh)

Về đối ý thì hai vế câu trên đã quá rõ ràng, còn về đối thanh, chúng ta thấy “trời” là thanh bằng đối với “đất” là thanh trắc, “cát” thanh trắc đối với “hung” thanh bằng; ở đây về từ loại thì “trời” và “đất” đều là danh từ

1.5.2 Vế câu đối

Một đối câu đối gồm hai câu đi song song nhau, mỗi câu là một vế Nếu câu ấy từ một người sáng tác thì gọi là vế trên và vế dưới Nếu một

Trang 22

người nghĩ ra một vế để người khác làm vế kia thì gọi là vế ra và vế đối Khi một câu đối do một người làm ra cả hai vế, thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải (khi treo) là thanh trắc; còn chữ cuối, vế dưới, câu bên trái

là thanh bằng

1.5.3 Số chữ và các thể câu đối

Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu

có thể chia câu đối ra làm các thể sau:

- Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống Ví dụ như:

Cứu nhân độ thế Khuyển thiện trừng dâm (6)

- Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn

春來潜报柳 時至早開梅

Thời chí tảo khai mai

(Câu đối xuân trong Đối liên tập)

- Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có:

+ Lối câu song quan: là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền Ví như:

男女正則人倫立 夫婦和而家道成 Phiên

âm

Nam nữ chính tắc nhân luân lập Phu phụ hòa nhi gia đạo thành

( Câu mừng hôn nhân trong Đối liên tập)

+ Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài Ví dụ như:

Mười năm bia đábảng vàng, / tiếc thay người ấy ! Trăm tuổi răng long đầu bạc, / khổ lắm con ơi ! (7)

(6), (7) Trích dẫn lại theo: Dương Quảng Hàm, Văn học Việt Nam, Nxb Trẻ 2005, tp Hồ Chí Minh, tr 64

Trang 23

+ Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên.ví như câu đối sau:

Trên quan dưới dân, / sao cho trên thuận dưới hòa, /

lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét Ngoài làng trong họ, / quí hồ ngoài êm trong ấm, /

(9), (10) Trích dẫn lại theo: Dương Quảng Hàm, Văn học Việt Nam, Nxb Trẻ 2005, tp Hồ Chí Minh, tr 65

(11) Trích phần câu đối xuân trong Đối liên tập 1968

Tôi tôi vôi Bác bác trứng(10)

Trang 24

门迎貴客茶三盏 户接金朋酒二杯 Phiên âm Môn nghênh quý khách trà tam bảo (t)

Hộ tiếp kim bằng tửu nhị bôi (b)

(Câu đối xuân trong Đối liên tập)

Trang 25

Chương 2: Câu đối trong Đối liên tập 2.1 Đôi nét về Đối liên tập

2.1.1 Tiểu sử soạn giả Cao Vân Hân (1924 – 1999)

Người cất công sưu tầm và sáng tác tất cả các câu đối trong quyển

Đối liên tập là ông Cao Văn Hân, còn có tên khác là Cao Đảnh Hưng

(đây cũng là tên hiệu thuốc bắc của ông tại chợ Thuận Hưng, Thốt Nốt, Cần Thơ), còn dân cư sinh sống trong vùng quen gọi là Ông Trần Bì (Ông Năm Trần Bì) vì ông là một thầy thuốc bắc nổi tiếng trong vùng Ông Cao Văn Hân quê ở làng Thới Long, quận Ô Môn, Cần Thơ Sinh ra trong gia đình truyền thống Nho học ở Cần Thơ, nhiều đời làm nghề thuốc bắc mưu sinh Lúc còn nhỏ, ông học chữ Nho ở nhà với cha mình, lên mười mấy tuổi theo học chữ Nho và thuốc với ông Phạm Tôn Long, một thầy đồ kiêm thầy thuốc nổi tiếng trong vùng Lên 19 tuổi, ông lấy bà Nguyễn Thị Kiết làm vợ, sinh được 7 người con, gồm 3 trai 4 gái

Ông Cao Văn Hân vừa giỏi chữ Hán chữ Nôm, vừa giỏi văn chương thơ phú Sinh thời, ông có dạy chữ Nho cho một số thanh niên hiếu học trong làng, một số hiện nay đã qua đời, một số khác đã di cư đến những nơi khác, không còn rõ tung tích Theo con gái ông kể lại, ông

có tài xuất khẩu thành thi, đi đâu làm gì cũng thường hay “tức cảnh sinh tình”, sáng tác thành thơ ghi vào trong sánh vở, lâu lâu mang ra đọc cho con cháu nghe Làng trên xóm dưới xa gần ai cũng mến mộ tài văn chương thơ phú của ông, thường đến nhờ ông đặt thơ giới thiệu thực đơn đám tiệc, hoặc đặt câu đối, lời chúc mừng, văn tế Bản thân ông đi dự tiệc sinh nhật, mừng thọ, đám cưới đám hỏi, hoặc đám tang đều hay sáng tác câu đối, thơ văn thù tặng, chúc mừng, phúng điếu Tài liệu sách vở ông để lại khá nhiều, tiếc là phần lớn đã bị mối mọt cắn phá hư hoại, giờ

chỉ còn lại một số ít, trong đó có quyển Đối liên tập.(13)

2.1.2 Nguồn gốc của Đối liên tập

Đối liên tập là quyển sách chép tay bằng mực bút bi của ông Cao

Văn Hân, hoàn thành sớm nhất năm 1968 Quyển sách tập hợp một cách phong phú các câu liễn đối lưu hành trên địa bàn Thuận Hưng và các xã

(13) Tư liệu điền dã của thầy Nguyễn Thanh Phong tại Phường Thuận Hưng, Quận Thốt Nốt, Tỉnh Cần Thơ, ngày 17/12/2017 Thông tin trên được Bà Cao Mỹ Dự, 72 tuổi, con gái lớn (sau một người anh cả) của ông Cao Văn Hân, cũng là người phụ trách quản lý phủ thờ ông hiện nay, cung cấp

Trang 26

lân cận thuộc huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ Bìa quyển sách có

ghi dòng chữ Đối liên tập cùng năm ra đời là 1968

Quyển sách tập hợp trên 200 cặp câu đối, vốn được trang trí và thờ cúng tại các cơ sở thờ tự (đình, chùa, miếu, từ đường, võ ca, hội quán…), các công trình kiến trúc công cộng tại địa phương (trường học, kho hàng, công sở, bến tàu…), đề cập đến nhiều loại đối tượng khác nhau trong xã hội (thầy bói, thợ mộc, thợ máy, thầy thuốc, hương chức, tiên sư…), gắn liền với nhiều hoạt động sinh hoạt hằng ngày (cưới hỏi, tang ma, tân gia…) Ngoài ra, cũng có rất nhiều câu đối do chính Cao Văn Hân sáng tác, thể hiện trình độ Hán Nôm điêu luyện của ông Có thể nói, hệ thống câu đối trong sách này bao quát một phạm vi nội dung rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực văn hóa, văn học, tôn giáo, tín ngưỡng, tư tưởng triết học… Vì thế, nó rất đáng được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu

2.2 Nội dung câu đối trong Đối liên tập

Trong quyển Đối liên tập này có rất nhiều câu đối với nhiều nội

dung khác nhau và trong công trình nghiên cứu này, với khả năng của mình chúng tôi chỉ xin được dịch và phân loại một số câu đối đặc sắc mang tính tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật chung cho toàn tập đối liên Việc dịch thuật và phân loại này đối với chúng tôi là một việc làm không hề đơn giản, chúng tôi phải dịch từ Hán văn sang quốc Ngữ, có nhiều câu không hết được nghĩa Nên khi dịch, chúng tôi đã phải cân nhắc thật kĩ, có cặp câu chúng tôi dịch thẳng nguyên văn, có khi chúng tôi chỉ có thể lấy đại ý mà nói

2.2.1 Câu đối lễ nghi, phong tục

2.2.1.1 Câu đối mừng xuân ( 聯春)

人生百行孝爲先 Phiên âm Thiên hữu tứ thời xuân tác thủ

Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên Dịch nghĩa Trời có bốn mùa, mùa xuân được lấy là đầu

Đời người ra có trăm đức hạnh, hạnh hiếu là hạnh

đứng đầu

Trang 27

春滿乾坤福滿堂 Phiên âm Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ

Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường Dịch nghĩa Trời thêm năm tháng người thêm tuổi thọ

Khí xuân đầy trời đất phúc đầy nhà

天地人四海同春

Thiên địa nhân tứ hải đồng xuân Dịch nghĩa Phúc Lộc Thọ ba sao cùng chiếu ở cửa

Trời đất và người bốn biển cùng đón xuân

帄安二字值千金 Phiên âm Hòa hợp nhất gia thiêm ngũ phúc

Bình an nhị tự trị thiên kim Dịch nghĩa Một nhà hòa thuận thêm nhiều phúc lộc

Hai chữ bình an đáng ngàn vàng

户有人來福禄來 Phiên âm Môn đa khách tiến tiền tài tiến

Hộ hữu nhân lai phúc lộc lai Dịch nghĩa Trước cửa có càng nhiều khách đến thì tiến tài càng

tăng Cửa mở ra có người đến thì phước lộc tự đến

Trang 28

Nguyên văn 萬象回春沾雨露

五雲彩日燦烟霞 Phiên âm Vạn tượng hồi xuân triêm vũ lộ

Ngũ vân thái nhật xán yên hà Dịch nghĩa Muôn cảnh tượng khi xuân về đều ướt đẫm mưa móc

Năm sắc mây làm cho ngày thêm rực rỡ khói trong

ráng chiều

Từ những câu đối trên, chúng ta thấy được những mong mỏi của con người nơi đây, họ chỉ mong sao gia đình được bình an, hòa thuận; họ xem trọng hiếu lễ và ví như sự cần thiết của mùa xuân Và những câu đối xuân luôn mang ước nguyện về một năm đầy phước lộc, tiền tài, bên cạnh đó là sự vẽ lại cảnh sắc tươi đẹp của đất trời khi vào xuân

2.2.1.2 Câu đối mừng hôn nhân ( 婚姻)

2.2.1.2.1 Câu đối bên nhà trai ( 男婚)

乾坤相配泰方開 Phiên âm Tuế nguyệt thủy hòa duyên chính hợp

Càn khôn tương phối thái phương khai Dịch nghĩa Năm tháng mới bắt đầu, duyên phận dung hòa hảo

hợp Trời đất cùng kết hợp càng mở ra phương tốt lành

户納金釵十二行 Phiên âm Môn nghênh châu lí tam thiên khách

Hộ nạp kim thoa thập nhị hàng Dịch nghĩa Cửa đón giày châu của ba ngàn khách

Nhà nhận hoa vàng mười hai hàng

Trang 29

Trong phần nhiều lễ nghĩa dân gian, trang trí hay tặng liễn đối chúc mừng hôn nhân là hình thức cổ xưa được dùng nhiều nhất Những câu đối mừng thường có nội dung đều là để chúc mừng, ca ngợi, tán thưởng những việc vui vẻ Ở đây chúng ta thấy, đó là những lời chúc hàm chứa ý nghĩa kiết tường, chúc phúc

2.2.1.2.2 Câu đối bên nhà gái (女嫁)

拜祠堂之子于歸

Bái từ đường chi tử vu quy Dịch nghĩa Trình cha mẹ con trẻ ra khỏi nhà

Lạy tổ tiên con về nhà chồng

白雪光浮紫燕飛 Phiên âm Hồng mai kiều ánh thanh loan vũ

Bạch tuyết quang phù tử yến phi Dịch nghĩa Mai hồng xinh đẹp trong nắng, chim loan xanh ca

múa Tuyết trắng chiếu sáng, chim én tía lượn bay

永諧琴瑟地天長

Vĩnh hài cầm sắt địa thiên trường Dịch nghĩa Cùng kết hợp tơ mành như núi sông đã định

Mãi mãi hòa hợp như sắt cầm trong trời đất trường

tồn

Trang 30

如雲如雨爛盈门

Như vân như vũ lạn doanh môn Dịch nghĩa Tiếng đàn sắt, tiếng đàn cầm ầm ĩ ở nơi đây

Như mây như mưa tràn đầy cửa

朱陳好合室家宜

Châu trần hảo hợp thất gia nghi Dịch nghĩa Trai chức tước xứng gái khuê các

Họ Châu họ Trần kết hợp cho đôi trẻ nên vợ chồng

工言容行助宜家 Phiên âm Chung cổ sắt cầm thuần tĩnh nữ

Công ngôn dung hành trợ nghi gia Dịch nghĩa Tiếng chuông kêu, tiếng đàn cầm trong thanh như

người trinh nữ Công, dung, ngôn, hạnh sẽ giúp ích được việc trong

nhà

人遇君王富貴全

Nhân ngộ quân vương phú quý toàn Dịch nghĩa Gái hiền lương gặp người quân tử là một nhân duyên

tốt Người dân mà gặp được vua là mọi việc tốt lành

Trang 31

Nguyên văn 门中女嫁三從道

户外男婚六礼成 Phiên âm Môn trung nữ giá tam tòng(14) đạo

Hộ ngoại nam hôn lục lễ(15) thành Dịch nghĩa Trong cửa con gái lấy chồng mang theo cái đạo tam

tòngNgoài cửa con trai lấy vợ phải thực hiện đầy đủ sáu

lễ Nội dung của câu đối chúc mừng hôn nhân trên đa số dùng những lời kiết tường chúc phúc cho đôi vợ chồng mới cưới, nó không chỉ phản ánh ước mơ của đôi vợ chồng mới cưới đối với cuộc sống tương lai, mà còn biểu thị lời chúc nguyện tốt đẹp của bạn bè, người thân dành cho họ

Nó tượng trưng cho sự kiết tường và cũng thắp sáng bầu không khí tươi vui của ngày hôn lễ Ngoài ra, những câu đối trên còn nhắc và cho chúng

ta biết về tục lễ khi người con gái phải đi lấy chồng với đạo tam tòng, với tiết hạnh của người trinh nữ

2.2.1.3 Câu đối mừng tân gia ( 新家 )

良晨入宅地生財 Phiên âm Cát nhật quy gia thiên tứ phúc

Lương thần nhập trạch địa sinh tài Dịch nghĩa Ngày tốt về nhà trời ban phước lành

Giờ tốt vào nhà đất sinh tài lộc

五福星臨卲慶家 Phiên âm Tam dương nhật chiếu bình an địa

Ngũ phúc tinh lâm cát khánh gia (14)

Tam tòng Tại gia tòng phụ (在家從父): người phụ nữ khi còn ở nhà phải nghe theo cha Xuất giá tòng phu (出嫁從夫): lúc lấy chồng phải nghe theo chồng Phu tử tòngtử (夫死從子): nếu chồng qua đời phải theo con trai.

(15) Xưa trong việc giá thú có sáu lễ: lễ nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tế, thỉnh kỳ và thân nghinh

Trang 32

Dịch nghĩa Ba dương mặt trời chiếu sáng mang đến bình yên cho

đất đai Năm phúc tinh chiếu rọi mang phúc lành cho nhà cửa

立成樑棟得帄安 Phiên âm Tạo tác tân gia do thiên định

Lập thành lương đống đắc bình an Dịch nghĩa Chọn ngày ăn mừng nhà mới là do trời định

Dựng nên sường cột nhà vững chắc thì ắt sẽ bình an

福地榮成事業興 Phiên âm Tòng thiên tân tạo quy mô thạnh

Phúc địa vinh thành sự nghiệp hưng Dịch nghĩa Thuận theo ý trời thì xây nhà mới rộng lớn và thịnh

vượng Đất đai tươi tốt, thịnh vượng thì sự nghiệp mới hưng

thịnh Văn hóa Việt có nhiều nét văn hóa mang tính đặc trưng đậm đà bản sắc dân tộc, với nhiều thể loại song hành cùng nhiều nền văn hóa khác nhau Đến hiện nay vẫn lưu giữ được nhiều nét đẹp một trong số đó là lễ

mừng tân gia Trăm món quà quí giá cũng không bằng một câu chúc an

lành, nên người Việt ta từ xưa đã rất chuộng những câu đối như thế này

để chúc tụng nhau, tán thưởng chủ nhà chọn được đất tốt, bên cạnh đó là chúc tài lộc và thịnh vượng đến với gia chủ

2.2.1.4 Câu đối viếng ( 輓 )

玉摟去鳳桑愴底局嘆毌常 Phiên âm Tuế vận tại long, qua cát chi tình, ứng hữu cảm

Trang 33

Ngọc lâu khứ phụng, tang thương để cục, thán vô

thường Dịch nghĩa Năm tháng xoay vần rồng vẫn ở, dưa sán còn lưu

luyến tình nên có cảm Lầu ngọc còn đây phượng bay mất, dâu bể cuộc đời

rốt cục thau cô thường

其哀也亦哀也爲人親非為人情 Phiên âm Bất hạnh chi, nhi hạnh chi, quân tử ác hữu, quân tử ái

Kì ai dã, diệc ai dã, vị nhân thân, phi vị nhân tình Dịch nghĩa Bất hạnh đấy, nhưng hạnh phúc đấy; quân tử xấu có

quân tử mến

Bi ai sao, thật bi ai sao; làm người thân thương không

hẳn vì tình Dịp vui thì người ta chúc tụng nhau bằng câu đối mừng, thế thì lúc buồn người ta cũng dùng câu từ, chữ nghĩa để viếng tặng nhau chỉ với mục đích là tỏ lòng thương xót, ca ngợi việc tốt mà người quá vãng đã làm nhằm an ủi gia đình Từ hai câu đối trên cũng đủ để chúng ta thấy được người xưa quí chữ nghĩa như thế nào, bất luận trong hoàn cảnh như thế nào họ cũng đều có thể xuất khẩu thành văn

2.2.2.Câu đối về sinh hoạt, lao động

2.2.2.1 Nhà kho ( 倉庫)

常年滿庫十收成 Phiên âm Mỗi tuế doanh thương tam bội lợi

Thường niên mãn khố thập thu thành Dịch nghĩa Mỗi năm bồ đựng đầy thóc, lợi gấp ba lần

Thường năm kho chứa đầy hàng, thu gấp mười lần

Trang 34

Nguyên văn 千门拱照鴻禧字

五穀豊登大有年 Phiên âm Thiên môn củng chiếu hồng hi tự

Ngũ cốc phong đăng đại hữu niên Dịch nghĩa Ngàn cửa cùng chiếu chim hồng mang đến chữ bình

yên Được mùa lớn là do trời phù hộ

風調雨順年年府庫豊盈 Phiên âm Vật phụ dân khang tuế tuế điền hòa tịnh mậu

Phong điều vũ thuận niên niên phủ khố phong doanh Dịch nghĩa Đất cao, cây lúa sẽ tốt tươi thì mỗi năm người dân

được sống trong an khang thịnh vượng Mưa thuận gió hòa mỗi năm thóc trong kho càng nhiều

mà tràn ra ngoài

Dù bất kể nơi đâu người Việt ta đều cũng dán được câu đối, họ tin vào ý nghĩa may mắn của câu đối, ngay cả ở nhà kho họ cũng treo câu đối với ước mong là lúa thóc được đầy bồ, con người sẽ ấm no, an lành

và hạnh phúc

2.2.2.2 Thầy bói (卜師 )

陰陽既济巨门夲命得長生 Phiên âm Thế ứng tỉ hòa, văn ấn lộc thần lâm đế vượng

Âm dương kí tế, cự môn bổn mệnh đắc trường sinh Dịch nghĩa Đời ứng giao hòa, văn vẻ lộc thần đúng thời vua thịnh

trị

Âm dương tương tế, cửa to bổn mạng sẽ được sống lâu

dài

Trang 35

子孫旺相两爻世應相生 Phiên âm Phụ mẫu hưng long nhất quái âm dương đới hợp

Tử tôn vượng tướng lưỡng hào thế ứng tường sinh Dịch nghĩa Cha mẹ hưng thịnh một quẻ âm dương kết hợp

Con cháu cùng nhau tốt đẹp hai vạch bát quái tương linh

với cuộc đời Câu đối về nghề Thầy bói ở đây nói về sự giao hòa giữa âm, dương;

sự kết hợp tốt đẹp giữa trời đất hay nó còn nói về sự hưng thịnh của con cháu đời sau đều là do phong thủy, hay ý trời Bởi người làm nghề bói toán thường việc gì cũng là ý trời cả, hai câu đối trên cũng mang ý như thế: về âm, dương kết hợp

2.2.2.3 Làm ăn (生意)

公帄可聚世间財 Phiên âm Trung hậu năng chiêu thiên hạ khách

Công bình khả tụ thế gian tài Dịch nghĩa Người trung hậu có thể kêu gọi khách trong thiên hạ

Kẻ làm việc theo cách công bằng có thể hội tụ tài lộc

của thế gian

春夏秋冬利路通 Phiên âm Đông tây nam bắc tài nguyên tụ

Xuân hạ thu đông lợi lộ thông Dịch nghĩa Bốn phương đông, tây, nam, bắc tài nguyên, lợi lộc

cùng hội tụ về Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông con đường làm ăn đều

thông đạt

Trang 36

四季財源似水源

Tứ quý tài nguyên tự thủy nguyên Dịch nghĩa Một năm sinh điều tốt lành như mùa xuân tốt lành

Bốn mùa tài nguyên, lợi lộc vào như nguồn nước tuôn

trào

Dù bất kể là làm công việc gì thì ta thường mong dược như ý nguyện, con người Việt Nam thì đã quen với việc cầu thần linh phù hộ mình, ngoài niềm tin vào đấng linh thiêng họ còn mang ý nguyện của mình ra mà viết lên giấy, làm thành các câu đối để ngày ngày đọc, ngày ngày mỉm cười với niềm tin ấy, hoặc khi bạn bè thăm hỏi nhau cũng làm nên đôi ba câu đối tặng người bạn mình làm ăn suông sẻ, tiền tài luôn tiến tới như nước trên nguồn không bao giờ cạn

2.2.2.4 Câu đối trên cầu (橋 )

Nguyên

văn

四面開春色 百川水光帄

Bách xuyên thủy quang bình Dịch nghĩa Bốn mặt mở ra màu sắc xuân

Trăm dòng nước sáng ánh trên mặt nước phẳng lặng

Nguyên

văn

橋樑入昇降 里路客往來

Lí lộ khách vãng lai Dịch nghĩa Cầu đình thường có người ra vào lên xuống

Trên đường quê thường có khách vãng lai Cầu là nơi giao thương qua lại, thế nên con người cũng muốn cầu chúc bình an cho khách đi đường, ngoài ra còn muốn diễn tả cảnh sắc mây nước hữu tình, bên cạnh đó những câu đối treo trên cầu còn thể hiện

Trang 37

được trình độ học vấn của người dân địa phương nơi đó Nhìn vào những câu trên ta thấy rõ cái tài năng xuất chúng của người dân ở vùng Thốt Nốt xưa, khi mà ở đâu họ cũng làm được câu đối, quả thật là đáng để người đời kính phục

2.2.2.5 Câu đối ở nhà thuốc (家醫)

四時誠敬術前謀

Tứ thời thành kính thuật tiền mưu Dịch nghĩa Ba đời danh tiếng thầy thuốc còn lưu truyền cho con

cháu sau này Bốn mùa luôn kính cẩn, thành tâm học y thuật của

người đi trước

扶危济困賴神医 Phiên âm Cứu tử hồi sinh thông thượng giới

Phù nguy tế khốn lại thần y Dịch nghĩa Cứu người chết thành người sống thông cả cõi trên

Phò giúp hiểm nguy, gian khó dựa vào thần y

灵丹可聚世间財 Phiên âm Diệu dược năng chiêu thiên hạ khách

Linh đan khả tụ thế gian tài Dịch nghĩa Diệu dược có thể cứu giúp được người trong thiên hạ

Linh đan có thể hội tụ tài lợi khắp thế gian

沾濡妙藥自長生

Trang 38

Phiên âm Hiển hách thần công năng thọ thế

Triêm nhu diệu dược tự trường sinh Dịch nghĩa Công đức thần ân trên cao có thể giúp đời thêm thọ

Khéo dùng các loại diệu dược tự sẽ trường sinh Trị bệnh, cứu người là một nghề cao quý vì thế mà người đời thường ca tụng công đức người thầy thuốc như thần tiên có thể cứu tử hồi sinh, ngoài những câu đối ngợi ca công đức, ở những nhà thuốc còn treo những câu đối do người đời trước để lại nhằm nhắc nhở mình và muốn răn dạy con cháu mai sau

2.2.2.6 Câu đối trước sân nhà (家庭)

寿名留萬代原從道德中來 Phiên âm Phước lộc hưởng thiên thu chỉ tại nhân từ thượng xuất

Thọ danh lưu vạn đại nguyên tòng đạo đức trung lai Dịch nghĩa Phước lộc có hể hưởng được ngàn năm là ở tại con người

có lòng từ bi Tên tuổi lưu vạn đời là do đến từ trong chữ đạo đức

教子千方不外勤

Giáo tử thiên phương bất ngoại cần Dịch nghĩa Xử lý việc nhà muôn sự đều do trung thành, kiên nhẫn

Dạy dỗ con cái ngàn cách không ngoài cần kiệm rõ ràng

Ở trước sân nhà thường treo câu đối, không nằm ngoài mục đích giáo huấn con cháu, ở đây ta thấy người xưa đã xem sự cần kiệm, lòng từ

bi, tâm đạo đức là cái cơ bản nhất khi răn dạy người đời sau và đặc biệt

họ treo trước sân nhà như muốn nhắc nhở con cháu mình mỗi ngày

2.2.2.7 Câu đối trên thuyền, bến sông

車行遲步往來人

Trang 39

Phiên âm Thuyền đáo giang biên nghênh tống khách

Xa hành trì bộ vãng lai nhân Dịch nghĩa Thuyền đậu bến sông đưa đón khách

Xe đưa, ngựa đón người lại qua

車到江濱賴棹船

Xa đáo giang tân lại trạo thuyền Dịch nghĩa Đi trên sông nước chỉ mong gặp được bạn chèo thuyền

Xe đến bến sông chỉ nhờ cậy mái chèo trên truyền

得利達三江

Đắc lợi đạt tam giang Dịch nghĩa Gió thuận thuyền đi bốn biển

Được tài lợi sẽ đi đến thấu cả ba sông Nhà kho hay cầu đình thường có câu đối thì trên thuyền cũng thế, câu đối trên thuyền gắn với mái trèo, gắn với ước mong mưa thuận gió hòa, thần sông bảo hộ

2.2.3 Câu đối ở những nơi thờ cúng

2.2.3.1 Câu đối ở Chùa (寺)

2.2.3.1.1 Câu đối ở nơi thờ Quán âm (观音)

一屏淨水滿乾坤 Phiên âm Mãn tọa tường vân thùy thế giới

Nhất bình tịnh thủy mãn càn khôn Dịch nghĩa Quanh tòa sen mây lành chùm thế giới

Ngày đăng: 01/03/2021, 09:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Xuân Mỹ. 2009. Lễ tục trong gia đình người Việt. Hà Nội. NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ tục trong gia đình người Việt
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
2. Dương Quảng Hàm. 2005. Văn học Việt Nam. Tp. HCM. NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam
Nhà XB: NXB Trẻ
3. Lê Hoài Việt. 2001. Câu đối – Một loại hình văn học trong nền văn hóa cổ truyền Việt. Hà Nội NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đối – Một loại hình văn học trong nền văn hóa cổ truyền Việt
Nhà XB: NXB Phụ nữ
4. Nguyễn Hoàng Huy. 2004. Câu đối trong văn hóa Việt Nam. tp. HCM. NXB tổng hợp tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đối trong văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB tổng hợp tp. HCM
5. Nam Anh. 2010. 282 câu đối. Tp. HCM. NXB tổng hợp tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: 282 câu đối
Nhà XB: NXB tổng hợp tp. HCM
6. Nguyễn Văn Ngọc. 2001. Thú chơi câu đối. Tp.HCM. NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thú chơi câu đối
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
7. Thiều Chửu. 2000. Hán Việt tự điển. Tp. HCM. NXB tổng hợp tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt tự điển
Nhà XB: NXB tổng hợp tp. HCM
8. Toan Ánh. 1996. Phong tục Việt Nam. Tp. HCM. NXB Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Nhà XB: NXB Đồng Tháp
9. Trương Thìn. 2010. Mẫu hoành phi câu đối thường dùng. Hà Nội. NXB Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu hoành phi câu đối thường dùng
Nhà XB: NXB Thời đại
1. Lê Anh Nhân. 2012. Tìm hiểu hệ thống tư liệu Hán-Nôm ở thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Khóa luận tốt nghiệp đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu hệ thống tư liệu Hán-Nôm ở thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang
10. Trần Ngọc Thêm. 1999. Cơ sở văn hóa Việt Nam. NXB Giáo dục II. Các bài nghiên cứu Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w