1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến lược giao tiếp trong một số bài ca dao tình yêu đôi lứa

92 43 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu chiến lược giao tiếp sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về sự đa dạng của cách thức giao tiếp, thấy được cái hay, cái tài tình trong lối thể hiện tình cảm, bày tỏ su

Trang 1

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 3

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

III MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5

3.1 Mục đích nghiên cứu 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

4.1 Phương pháp thống kê và phân loại 6

4.2 Phương pháp phân tích 6

4.3 Phương pháp miêu tả 6

4.4 Phương pháp diễn dịch và phương pháp quy nạp 6

V DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 7

5.1 Về phương diện lý thuyết 7

5.2 Về phương diện thực tiễn 7

VI CẤU TRÚC KHÓA LUẬN 7

B PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 9

1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9

1.2 MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 11

1.2.1 Định nghĩa về ngữ dụng học 11

1.2.2 Vấn về đề về giao tiếp và chiến lược giao tiếp 14

1.2.2.1 Một số vấn đề về giao tiếp 14

1.2.2.1.1 Giao tiếp và vai trò của giao tiếp bằng ngôn ngữ trong xã hội 14

1.2.2.1.2 Chức năng của giao tiếp 16

1.2.3 CÁC NGUYÊN TẮC HỘI THOẠI 21

1.2.3.1 Nguyên tắc cộng tác hội thoại 21

1.2.3.2 Nguyên tắc lịch sự 23

1.2.4 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CA DAO TÌNH YÊU ĐÔI LỨA 25

1.2.4.1 Khái niệm ca dao và ca dao tình yêu 25

1.2.4.1.1 Khái niệm ca dao 25

Trang 2

1.2.4.1.2 Khái niệm ca dao tình yêu đôi lứa 26

1.2.4.2 Các hình thức diễn xướng của ca dao tình yêu đôi lứa 27

CHƯƠNG 2: 34

CHIẾN LƯỢC GIAO TIẾP VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC CỘNG TÁC VÀ LỊCH SỰ TRONG MỘT SỐ BÀI CA DAO TÌNH YÊU ĐÔI LỨA 34

2.1 CHIẾN LƯỢC THIẾT LẬP VÀ DUY TRÌ MỐI QUAN HỆ HÀI HÒA TRONG GIAO TIẾP LIÊN NHÂN 34

2.1.1 Sử dụng từ xưng hô phù hợp với từng hoàn cảnh và từng giai đoạn của mối quan hệ 34 2.1.2 Lựa chọn hành động ngôn từ phù hợp với hành vi lịch sự cần thể hiện 37

2.2 CHIẾN LƯỢC TẠO HÀM NGÔN 43

2.2.1 Tạo lối nói mơ hồ 43

2.2.2 Tạo lối nói vòng vo 47

2.2.3 Sử dụng hành động tại lời gián tiếp 54

2.3 CHIẾN LƯỢC TẠO HIỆU QUẢ TRONG THUYẾT PHỤC VÀ GIẢI QUYẾT NHỮNG RÀO CẢN 58

2.3.1 Chiến lược tạo hiệu quả trong thuyết phục 58

2.3.2 Chiến lược giải quyết những rào cản 64

2.3.2.1 Giải quyết những rào cản gia đình 64

2.3.2.2 Giải quyết những rào cản xã hội (lễ giáo phong kiến) 66

C PHẦN KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 79

Trang 3

I PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Ngữ dụng học ra đời và phát triển như một kết quả tất yếu của lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ Đó là một chuyên ngành nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, nghiên cứu ngôn ngữ trong sự chi phối của ngữ cảnh Cho tới ngày nay, ngữ dụng học đã

và đang là mối quan tâm lớn của ngành khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ Trong ngữ dụng học, giao tiếp là khái niệm nền tảng, là căn nguyên của mọi yếu tố khác Đặc biệt, giao tiếp bằng ngôn ngữ là một hoạt động quan trọng hàng đầu Con người sử dụng ngôn ngữ để thể hiện nhận thức về sự vật, hiện tượng và trao đổi tâm tư tình cảm của mình Trong quá trình giao tiếp, người nói mã hóa thông tin để truyền thông tin cho người nghe, người nghe tiếp nhận thông tin và giải mã thông tin để hiểu Sự thông hiểu là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp Để hướng tới mục đích hay nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp như mong muốn thì vai trò của người tham gia giao tiếp đối với việc sử dụng ngôn

ngữ là có ý nghĩa then chốt Vì thế cho nên “chiến lược giao tiếp” được hình thành và sử

dụng một cách tinh tế trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

Theo quan điểm của các nhà nhân loại học, năng lực giao tiếp phải bao gồm ít nhất

ba yếu tố: kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng tương tác và hiểu biết về văn hóa Những yếu tố này giúp người tham gia giao tiếp biết cách chọn và sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả nhất trong mỗi trường hợp giao tiếp cụ thể, hay nói cách khác là có được một chiến lược giao tiếp cụ thể để đạt tới một mục đích giao tiếp nhất định Vì lẽ đó, hiệu quả giao tiếp thể hiện năng lực giao tiếp của mỗi người Nghiên cứu chiến lược giao tiếp sẽ giúp chúng

ta hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về sự đa dạng của cách thức giao tiếp, thấy được cái hay, cái tài tình trong lối thể hiện tình cảm, bày tỏ suy nghĩ, thái độ đối với mọi người xung quanh, từ đó biết cách điều chỉnh hoạt động giao tiếp của mình để đạt được hiệu quả giao

tiếp cao

2 Ca dao đã trở thành viên ngọc óng ánh trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Từ xưa đến nay ca dao luôn tác động mạnh mẽ đến nhận thức và tình cảm thẩm mỹ đối với người đọc, hơn thế nữa là nó đã đi sâu vào đời sống tinh thần và tâm hồn của người dân đất Việt Trong các chủ đề mà ca dao đề cập thì tình yêu đôi lứa là một đề tài rộng và có nhiều hình thức diễn bày Tình yêu ẩn chứa những gam màu khác nhau, đẹp đẽ

và thần kỳ Tiếp xúc và hiểu ca dao tình yêu, mỗi chúng ta đều có thể tìm thấy một phần nào hình ảnh của chính mình nơi đó Trong mỗi bài ca dao tình yêu đôi lứa, qua nhân vật trữ tình, chúng ta đều có thể rung động trước những cảm xúc trong sáng, hồn nhiên, sâu kín, chân thành, e thẹn, ngại ngùng,… của nhân vật Vậy, điều gì tạo nên sự tinh tế, ý nhị

Trang 4

trong ca dao? Đó chính là nhờ việc sử dụng chiến lược giao tiếp một cách nghệ thuật cùng với sự cân nhắc sâu sắc Mặc dù là sản phẩm của văn hóa dân gian nhưng nếu nhìn dưới góc độ ngữ dụng học thì rõ ràng bài ca dao là một cuộc giao tiếp, bởi nó có cả lời trao và

lời đáp

Trước đây, ca dao nói chung, ca dao tình yêu nói riêng đã được nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau nhưng chủ yếu thiên về bình giảng văn học Ngày nay, hướng nghiên cứu ca dao từ góc độ ngữ dụng học cũng dần được quan tâm và tiếp cận Trong đó, chiến lược giao tiếp là một hướng nghiên cứu khá mới mẻ, đặc biệt trong ca dao tình yêu đôi lứa Mặt khác, ca dao chiếm một phần lớn trong chương trình dạy học Ngữ Văn của các cấp học Cùng với việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích hợp hiện nay thì việc tiếp cận văn bản ca dao dưới lý thuyết ngữ dụng học là điều cần

thiết đối với công việc giảng dạy của giáo viên chúng ta

Việc nghiên cứu ca dao dưới góc độ ngữ dụng học là một hoạt động khoa học và mang tính tiếp nối Vì những lý do trên đây, chúng tôi chọn ca dao là đối tượng để nghiên cứu về ngữ dụng học Nhưng vì phạm vi của ca dao rất rộng và lý thuyết về ngữ dụng học cũng rất nhiều nên trong giới hạn của một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi chọn đề tài

nghiên cứu là “Chiến lược giao tiếp trong một số bài ca dao tình yêu đôi lứa” Việc tìm

hiểu các chiến lược giao tiếp của ca dao tình yêu đôi lứa cũng là cách thể hiện sự trân trọng với các giá trị văn hoá cổ truyền dân tộc, trân trọng cách tư duy, cách biểu hiện tình cảm ý nhị sâu sắc của người dân lao động, và góp một phần đóng góp nhỏ cho công trình

nghiên cứu khoa học chuyên ngành

1.2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đề tài Chiến lược giao tiếp trong một số bài ca dao tình yêu đôi lứa,

luận văn tập trung vào những vấn đề sau:

Chiến lược giao tiếp bao gồm chiến lược giao tiếp bằng các phương tiện ngôn ngữ

và phi ngôn ngữ, ở đây chúng tôi tập trung khảo sát chiến lược giao tiếp bằng ngôn ngữ Vận dụng hai nguyên tắc hội thoại chính của Ngữ dụng học là nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự để đi sâu vào nghiên cứu một số chiến lược giao tiếp chính và nổi trội

trong ca dao tình yêu đôi lứa: Chiến lược thiết lập và duy trì mối quan hệ hài hòa trong giao tiếp liên nhân; chiến lược tạo hàm ngôn; chiến lược tạo hiệu quả trong thuyết phục

và giải quyết những rào cản Các chiến lược ấy được hình thành thông qua nhiều phương

thức như lối nói vòng vo, lối nói mơ hồ, cách xưng hô, hành động ngôn ngữ, cách sử dụng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ

Trang 5

Các ngữ liệu khảo sát là những bài ca dao tình yêu đôi lứa, cụ thể là 100 bài ca dao

có kết cấu theo lối đối đáp nam – nữ được rút ra từ các công trình sưu tầm và tuyển chọn

ca dao của các nhà nghiên cứu văn học dân gian như: Nguyễn Hoàng Phương, Nguyễn Xuân Kính, Phân Đăng Nhật, Phương Thu, Vũ Ngọc Phan Chúng tôi chọn 100 bài ca dao này làm ngữ liệu khảo sát bởi những bài viết này mang đầy đủ đặc điểm của một cuộc giao tiếp, chúng ta có thể thấy được chiến lược giao tiếp trong đó

Khóa luận tập trung khảo sát quá trình chọn lựa, sử dụng các phương tiện và hình thức ngôn ngữ phù hợp với các mục tiêu giao tiếp và những yếu tố thể hiện nổi trội nhất chiến lược giao tiếp trong một số bài ca dao tình yêu đôi lứa đã được sưu tầm và tuyển chọn

1.3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1.3.1 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận tìm hiểu chiến lược giao tiếp trong một số bài ca dao tình yêu với mong muốn có thể áp dụng lý thuyết về giao tiếp, hội thoại trong ngữ dụng học để làm rõ chiến lược giao tiếp được các tác giả dân gian sử dụng trong những bài ca dao của mình Nhằm phát hiện ra biện pháp sử dụng các hành vi giao tiếp và cách thức chọn lọc ngôn ngữ trong ca dao xưa, đồng thời làm sáng tỏ nghệ thuật giao tiếp và cho thấy đặc trưng văn hóa giao tiếp của người dân Việt Nam

Qua đó, chúng ta rút ra được vốn kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân và có được chiến lược giao tiếp sao cho đạt hiệu quả cao nhất trong giao tiếp Đặc biệt là ứng dụng kết quả nghiên cứu vào lĩnh vực giảng dạy Ngữ Văn ở nhà trường phổ thông của mình

1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Giới thiệu về ca dao, ca dao tình yêu, làm rõ cách thức diễn xướng, đối đáp nam – nữ trong ca dao tình yêu đôi lứa

- Diễn giải các lý thuyết thuộc lĩnh vực ngữ dụng học, cụ thể là về giao tiếp, các nguyên tắc hội thoại, cụ thể là nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự được vận dụng làm công cụ để xác lập và phân tích các chiến lược giao tiếp trong một số bài ca dao về tình yêu đôi lứa

- Xác lập và phân tích các chiến lược vận dụng nguyên tắc cộng tác và lịch sự trong ca dao tình yêu đôi lứa Trong mỗi chiến lược, phân tích rõ biểu hiện của nó qua các đặc điểm như cách xưng hô, thái độ, lối nói vòng, lối nói mơ hồ, cách đối đáp, sử dụng

Trang 6

biện pháp tu từ, hành vi ngôn ngữ… qua đó thấy được tác dụng của các chiến lược trong giao tiếp

- Từ chiến lược giao tiếp trong ca dao và dựa trên những ngữ liệu về văn hóa giao tiếp, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích các đặc trưng cơ bản trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thống kê tần số xuất hiện của các phương tiện xưng hô, khóa luận cần sử dụng biện pháp thống kê và phân loại Phương pháp thống kê và phân loại có tác dụng cung cấp

dữ liệu và số liệu xác định, tạo cơ sở cho việc phân tích các cuộc giao tiếp

1.4.2 Phương pháp phân tích

- Phương pháp phân tích hội thoại: Dưới góc nhìn ngữ dụng học, bài ca dao là một cuộc giao tiếp bởi nó có cả lời trao và lời đáp Vậy nên sử dụng phương pháp phân tích hội thoại như một phần quan trọng trong khung lý thuyết của bài khóa luận, nhằm tập trung vào sự tương tác có tính xã hội của giao tiếp ngôn ngữ trong ca dao cũng như trong đời sống hằng ngày

- Phương pháp phân tích tu từ học: Sử dụng phương pháp này khi phân tích bài ca dao để làm rõ từng yếu tố tu từ liên quan đến chiến lược giao tiếp

1.4.3 Phương pháp miêu tả

Phương pháp miêu tả được dùng để miêu tả các cuộc giao tiếp trong ca dao tình yêu nhằm làm nổi bật vai trò của các phương tiện ngôn ngữ trong việc tạo nên các chiến lược giao tiếp, chỉ ra các phương thức lập luận trong các cuộc giao tiếp đó

Đồng thời, phương pháp miêu tả cũng giúp làm sáng tỏ một số phương diện ngữ dụng liên quan đến những phương tiện ngôn ngữ như nguyên tắc cộng tác hội thoại, nguyên tắc lịch sự, phạm trù thể diện và lịch sự, lịch sự dương tính và lịch sự âm tính, hành động ngôn ngữ, hàm ngôn, xưng hô, lối nói vòng gián tiếp

1.4.4 Phương pháp diễn dịch và phương pháp quy nạp

Khóa luận sử dụng phương pháp diễn dịch để triển khai những luận cứ, luận chứng và đưa ra những minh chứng điển hình nhằm diễn giải những luận điểm mà mình

đã đặt ra Mặt khác, sử dụng phương pháp quy nạp để đưa ra những kết luận cơ bản cho mỗi chương cũng như cho toàn bài

Trang 7

1.5 DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

1.5.1 Về phương diện lý thuyết

Thông qua việc nghiên cứu về “Một số chiến lược giao tiếp trong ca dao tình yêu đôi lứa”, khóa luận sẽ góp phần:

- Bổ sung những tri thức đại cương về vận dụng nguyên tắc cộng tác và lịch sự để tạo nên các chiến lược trong giao tiếp; ứng dụng lý thuyết về ngữ dụng học vào việc khảo sát đối tượng cụ thể là ca dao về tình yêu đôi lứa, từ đó hiểu rõ hơn về các chiến lược giao tiếp trong ca dao

- Nghiên cứu, tìm hiểu ca dao dưới góc độ mới – Ngữ dụng học, cụ thể là chiến lược vận dụng nguyên tắc cộng tác và hội thoại

- Ca dao là một thể loại đặc sắc trong văn học dân gian, việc nghiên cứu ca dao dưới góc độ ngữ dụng học sẽ giúp mở rộng và làm sâu sắc hơn hướng tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn học

1.5.2 Về phương diện thực tiễn

- Từ khóa luận, chúng tôi hy vọng sẽ góp thêm tư liệu tham khảo cho bạn đọc, những người quan tâm, yêu mến ca dao

- Tiếp cận chiến lược giao tiếp giúp chúng ta có cơ sở khoa học hơn để phân tích phê bình ca dao và nâng cao chất lượng giảng dạy

- Có ý nghĩa tích cực trong việc lựa chọn cách thức, phương tiện để giao tiếp hằng ngày đạt hiệu quả cao hơn

1.6 CẤU TRÚC KHÓA LUẬN

Khóa luận gồm có ba phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết thúc Trong đó, phần nội dung là phần trọng tâm gồm hai chương:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết của đề tài

Ở chương này, chúng tôi tập trung đưa ra và phân tích những tiền đề lý thuyết

về lịch sử vấn đề nghiên cứu, những vấn đề lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, chủ yếu là lý thuyết ngữ dụng, lý thuyết giao tiếp, chiến lược giao tiếp, lý thuyết nguyên tắc cộng tác và lịch sự, nghĩa hàm ngôn, lý thuyết về ca dao tình yêu đôi lứa và các hình thức diễn xướng, để từ đó lựa chọn và đi sâu khai thác chiến lược giao tiếp trong ca dao tình yêu đôi lứa

Trang 8

Chương 2 Chiến lược vận dụng nguyên tắc cộng tác và lịch sự trong ca dao tình yêu đôi lứa

Chương này chúng tôi sẽ vận dụng hai nguyên tắc hội thoại chính của Ngữ dụng học là nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự để đi sâu vào nghiên cứu một số

chiến lược giao tiếp chính và nổi trội trong ca dao tình yêu đôi lứa: Chiến lược thiết lập

và duy trì mối quan hệ hài hòa trong giao tiếp liên nhân; chiến lược tạo hàm ngôn; chiến lược tạo hiệu quả trong thuyết phục và giải quyết những rào cản Tìm hiểu những biểu

hiện của chiến lược giao tiếp qua cách xưng hô thân mật hoặc xa lạ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và giai đoạn tình cảm, cách sử dụng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ, lối nói vòng vo, lối nói mơ hồ, hành động ngôn ngữ Từ đó phân tích hiệu quả của chúng trong việc sử dụng chiến lược giao tiếp này

Ngoài ra, khóa luận còn có thêm phần mục lục, phần phụ lục và phần tài liệu tham khảo

Trang 9

II PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 - Trước đây, ngữ dụng học ít được các nhà nghiên cứu chú ý đến Mãi đến những năm 80 của thế kỉ XX, ngữ dụng học bắt đầu phát triển mạnh mẽ và đã lôi cuốn nhiều nhà

ngôn ngữ nghiên cứu về nó

Ở Việt Nam, môn Ngữ dụng học được giảng dạy từ năm 1989 tại một số trường đại

học Ngữ dụng học đã được nghiên cứu với các công trình đáng chú ý như: Hồ Lê (1996)

với Quy luật ngôn ngữ, quyển 2, Tính quy luật của cơ chế ngôn giao; Nguyễn Đức Dân (1998) với cuốn “Ngữ dụng học” tập 1; Đỗ Hữu Châu (2001) với cuốn “Đại cương ngôn ngữ học” tập 2; Mai Ngọc Chừ (tái bản 2011) chủ biên cuốn “Nhập môn ngôn ngữ học”; Nguyễn Thiện Giáp với cuốn “Dụng học Việt ngữ”; Trần Ngọc Thêm với cuốn “Ngữ dụng học và văn hoá – ngôn ngữ học”; Đỗ Hữu Châu (chủ biên) với Giáo trình Ngữ dụng học; hay Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Nguyễn Thị Hồng Nam, Nguyễn Thị Thu Thủy (2010) cùng soạn thảo chung cuốn Ngữ dụng học (dùng cho đào tạo giáo viên đại học

trình độ đại học – bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục)

Có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động giao tiếp như công trình

của Vũ Thị Nga (2009) Lời rào đón điều kiện sử dụng hành vi ở lời của phát ngôn trong giao tiếp tiếng Việt; Tạ Thị Thanh Tâm (2009) với công trình nghiên cứu ch s trong giao tiếp tiếng iệt; Lương Hinh (2010) có viết Các hình thức cảm ơn trong giao tiếp của người Việt; Phạm Thị Mai Hương (2010) với luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật trong Truyện Kiều; Nguyễn Thị Lương (2010) có bài Các hình thức giới thiệu

tr c tiếp của người Việt; Đào Thanh Lan (2011) viết về Nhận diện hành động mời và rủ trong tiếng Việt Trong những năm gần đây đã xuất hiện khá nhiều tác giả với các công

trình nghiên cứu hữu ích về chiến lược giao tiếp như Nguyễn Văn Khang (2014) có bài

viết Giao tiếp xưng hô tiếng Việt bằng từ thân tộc; Nguyễn Đăng Khánh (2014) với Các chiến lược của lối nói vòng vo; Nguyễn Thị Việt Nga (2014) Một số chiến lược tranh cãi trong gia đình người Việt; Vũ Thị Bích Hiệp (2015) với Chiến lược giao tiếp của người nói tiếng Anh bản ngữ và phi bản ngữ; Nguyễn Hòa Mai Phương (2015) có luận án tiến sĩ Chiến lược hội thoại trong một số truyện ngắn tiêu biểu của Somerset Maugham; Nguyễn Thị Thu Hà (2016) với công trình nghiên cứu Chiến lược l ch s của một số biểu thức ngôn ngữ có chứa động từ nhận thức trong tiếng iệt; Nguyễn Thu Quỳnh, Phạm Thị Thu Trang (2016) Đặc điểm ngôn ngữ tri nhận về tình yêu của người Việt Các công trình

Trang 10

nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ đã nói rất nhiều về giao tiếp bằng ngôn ngữ, ngay trong

sách giáo khoa lớp 10 tập 1 hiện nay cũng có bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” để

giảng dạy cho học sinh trung học phổ thông Lê Thời Tân, Nguyễn Đức Can (2016) có

công trình nghiên cứu về Một cố gắng diễn giải bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (Chương trình Ngữ văn 10) Vậy nên, vấn đề giao tiếp bằng ngôn ngữ là một nội dung

quan trọng trong ngành Ngữ dụng học và trong giảng dạy Ngữ Văn ở trường phổ thông

Từ sự tìm hiểu về những công trình nghiên cứu trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng các nhà nghiên cứu trước đây mới chỉ điểm qua một vài chiến lược trong giao tiếp cuộc sống đời thường, hoặc trong một tác phẩm nào đó bằng một vài cách thức nhất định

2 - Trong suốt những thập kỷ qua, thể loại ca dao đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu đi sâu khai thác Các công trình nghiên cứu về ca dao rất phong phú và đa dạng, nó được thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau như văn học, văn hoá, thi pháp, ngôn ngữ… Trước tiên, chúng ta có thể thấy hàng loạt các công trình

nghiên cứu có tính chất sưu tầm như: Vũ Ngọc Phan (1999) với “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”; Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên), (2001), cùng nhóm biên soạn đã sưu tầm và tập hợp thành cuốn “Kho tàng ca dao người Việt” gồm bốn tập, và

“Ca dao, tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Hoàng Phương (2001); Phương Thu (2004) có

“Ca dao, tục ngữ Việt Nam”; Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) viết về đề tài ăn học dân gian những công trình nghiên cứu

Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu, phê bình, bình giảng ca dao như

“Thi pháp ca dao” của Nguyễn Xuân Kính (1992); “Những thế giới nghệ thuật của ca dao” của Phạm Thu Yến (1998); “Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt” của Triều Nguyên (1999), Vũ Thị Thu Hương với “Ca dao Việt Nam và những lời bình” (2000), “Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao người Việt”

của Nguyễn Nhã Bản (2005) Hơn nữa, còn có khá nhiều những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài nghiên cứu khoa học của các sinh viên về đề tài này như Trần Thanh Vân với

công trình nghiên cứu Đặc điểm nhân vật trữ tình trong ca dao cổ truyền Việt Nam (2002), Trần Thị Thanh với bài viết về Nhân vật trữ tình trong ca dao, Đinh Thị Mỹ Hạnh có công trình nghiên cứu Những tranh luận xung quanh một số bài ca dao hay và phương pháp phân tích ca dao (2002), Nguyễn Thị Thanh Hằng với bài nghiên cứu Một

số phương tiện và biện pháp tu từ trong ca dao Nam Bộ (2011), Nguyễn Thị Thu Hà với Đặc trưng kết cấu ca dao trữ tình (2012) Những công trình nghiên cứu này chủ yếu bình

giảng ca dao dưới góc độ thi pháp, về đặc trưng cấu trúc, ngữ nghĩa, kết cấu, nhân vật, các phương tiện và biện pháp tu từ

Trang 11

Riêng về nghiên cứu ca dao dưới góc độ ngôn ngữ thì lượng tác giả cũng đã tăng lên đáng kể, trước đây Mai Ngọc Chừ viết về Ngôn ngữ ca dao Việt Nam, bài nghiên cứu

chủ yếu nói chung về mặt ngôn ngữ trong ca dao Việt Nam Nguyễn Thị Triều Tiên có bài

khóa luận tốt nghiệp Các nhân tố giao tiếp trong ca dao tình yêu (2007), bài viết đã điểm

qua về bốn nhân tố giao tiếp trong ca dao tình yêu đó là nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh

giao tiếp, nội dung giao tiếp và mục đích giao tiếp Bùi Trọng Ngoãn với công trình Đọc lại hai bài ca dao dưới góc nhìn ngữ dụng học (2009), trong đó người viết đi vào phân

tích những đặc điểm chung về ngữ dụng trong hai bài ca dao cụ thể Lê Thị Huyền Trân

có luận văn thạc sĩ về Đặc điểm ngữ dụng của ca dao đối đáp giao duyên Tiếng Việt (2010), bài nghiên cứu đi khá sâu vào những đặc điểm của ngữ dụng học trong ca dao đối đáp giao duyên Đào Duy Tùng thì khai thác Từ ngữ Hán Việt trong ca dao Nam Bộ (2012), Huỳnh Kim Tường Vi cùng với Thạch Thị Hoàng Ngân đã làm rõ Từ ngữ xưng

hô trong thơ ca dân gian Nam Bộ (2012), Đậu Thị ánh Tuyết, Ngôn ngữ trong ca dao tình yêu của người Việt vùng Sông nước Cửu Long (2014), Trần Phỏng Diều, Phương ngữ Nam Bộ trong ca dao về tình yêu, Nguyễn Thị Hài có nghiên cứu về Động từ ngữ vi cầu khiến trong ca dao người Việt (2014), các bài nghiên cứu trên chủ yếu khai thác về vấn đề

“từ” được sử dụng trong ca dao Còn trong khoảng thời gian gần đây, La Mai Thi Gia đã

nghiên cứu Các hình thức đối đáp trong ca dao tình yêu nam nữ (2015), người viết đã

trình bày cụ thể các hình thức đối đáp trong ca dao tình yêu đôi lứa; Vũ Thị Mai Hương đi

sâu tìm hiểu Hành động khuyên bảo trong ca dao của người iệt (2016), bài viết này đã

bước đầu mở rộng ra hướng nghiên cứu của ngữ dụng, cụ thể là về hành động ngôn ngữ trong ca dao người Việt

Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về những chiến lược giao tiếp trong ca dao tình yêu đôi lứa dựa trên việc vận dụng nguyên tắc hội thoại, phần lớn các nhà nghiên cứu chỉ đi sâu tập trung vào một chiến lược cụ thể nào đó trong một phạm vi nhất định Điểm qua những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy việc

nghiên cứu Chiến lược giao tiếp trong một số bài ca dao về tình yêu đôi lứa là một đề tài

hay nhưng chưa được nghiên cứu nhiều, vậy nên rất cần tìm hiểu và mở rộng

1.2 MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

1.2.1 Định nghĩa về ngữ dụng học

Ngữ dụng học là một ngành khoa học còn khá mới mẻ nghiên cứu về ngôn ngữ và các nhân tố có liên quan Từ trước đây, lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ đã có khá nhiều định nghĩa khác nhau về ngữ dụng học:

Trang 12

“Ngữ nghĩa học có đối tượng nghiên cứu là ngữ nghĩa của phát ngôn không thể lí giải được bằng quan hệ tr c tiếp với những điều kiện đúng-sai của câu được nói ra Nói một cách sơ giản thì: ngữ dụng học = ngữ nghĩa trừ đi các điều kiện đúng-sai.” [Gazda,

1979-12 dẫn theo 1] Rõ ràng dụng học có quan hệ với nghĩa học

“Ngữ dụng học nghiên cứu việc dùng ngôn ngữ trong diễn từ và các chỉ hiệu đặc thù trong ngôn ngữ, những cái làm nên cách thức nói năng” [A.M.Diller – F.Récanati,

1979 dẫn theo 4] Định nghĩa này nhấn mạnh sự quan tâm của ngữ dụng là quá trình tạo

ra diễn từ và kết quả của chúng chứ không chỉ là ngôn ngữ Nói cách khác, một kí hiệu nói chung hay một phát ngôn nói riêng có thể được giải thích khác nhau tuỳ theo tình

huống (ngữ cảnh) của kí hiệu

Theo Levinson, trước năm 1983, người đã chú ý đến hai định nghĩa là: “Ngữ dụng học nghiên cứu tất cả những phương diện của ngôn ngữ không nằm trong lý thuyết về ngữ nghĩa” và “Ngữ dụng học nghiên cứu những quan hệ ngôn ngữ và ngữ cảnh đã được ngữ pháp hoá hoặc mã hoá trong cấu trúc của ngôn ngữ” [Levinson, 1983 dẫn theo 5; 12]

Định nghĩa này cho thấy ngữ dụng có mối quan hệ với cú pháp

Năm 1986, Jule cho rằng: “Ngữ dụng học nghiên cứu ý nghĩa của người nói, ý nghĩa của ngữ cảnh, nghiên cứu việc người ta có thể thông báo nhiều hơn điều được nói

ra như thế nào, nghiên cứu những biểu hiện của những khoảng cách tương đối” [1; 49] Năm 1990, Fasold phát biểu: “Ngữ dụng học đề cập tới mọi yếu tố con người trong quá trình giao tiếp, như tâm lý, sinh lý và xã hội” [4; 11]

Năm 1991, Nofsinger cho rằng: “Ngữ dụng học nghiên cứu s giao tiếp bằng ngôn ngữ th c s trong những ngữ cảnh chuyên biệt” [1; 49]

Năm 1993, Mey định nghĩa: “Ngữ dụng học là khoa học nghiên cứu về những điều kiện sử dụng ngôn ngữ t nhiên như là những yếu tố được chế đ nh bởi ngữ cảnh xã hội” [4; 12]

Năm 1994, Asher (chủ biên) định nghĩa: “Ngữ dụng học là s nghiên cứu ngôn ngữ được sử dụng trong ngữ cảnh của con người” [1; 51]

Năm 1995, Thomas cho rằng: “Ngữ dụng học là ngữ nghĩa trong tương tác” [1;

50]

“Ngữ dụng học nghiên cứu ý nghĩa của người nói, ý nghĩa của ngữ cảnh, nghiên cứu việc người ta có thể thông báo nhiều hơn điều được nói như thế nào, nghiên cứu những biểu hiện của những khoảng cách tương đối.” [G.Yule, 1996 dẫn theo 1]

Trang 13

Charles Willian Morris đã nêu một cách khái quát nhất về dụng học: “Dụng học nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với người lý giải chúng” [2; 14]

Năm 1997, Kasper định nghĩa: “Ngữ dụng học là ngành nghiên cứu ngôn ngữ từ phía người dùng, đặc biệt nghiên cứu những s l a chọn mà họ th c hiện, những bó buộc

mà họ gặp phải khi sử dụng ngôn ngữ trong tương tác xã hội và nghiên cứu tác động của cách sử dụng ngôn ngữ lên người đối thoại của mình trong hoạt động giao tiếp Nói cách khác, ngữ dụng học nghiên cứu hoạt động giao tiếp trong hoàn cảnh xã hội” [1; 50] Nhìn

chung, tất cả các định nghĩa trên cho thấy vấn đề trung tâm mà ngữ dụng học quan tâm là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người xét trong tương quan với ngữ cảnh

Ở nước ta, các nhà ngôn ngữ học cũng đưa ra nhiều những nhận định khác nhau

Theo Cao Xuân Hạo: “Dụng pháp có thể đ nh nghĩa là ngành nghiên cứu nội dung của ngôn từ trong những tác dụng qua lại của nó với tình huống bên ngoài, với ngôn cảnh, với những người tham gia cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ Nói một cách khác,

nó nghiên cứu tr c tiếp cách sử dụng ngôn ngữ trong sinh hoạt xã hội” [15; 59]

Còn Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân trong công trình nghiên cứu của mình thì

dẫn lại lời của F.Armengaud: “Chúng ta làm gì khi chúng ta nói? Chúng ta th c s nói điều gì khi chúng ta nói? Tại sao chúng ta lại hỏi người bạn cùng bàn ăn với chúng ta rằng anh có thể chuyển cho chúng ta lọ muối hay không trong khi rõ ràng và hiển nhiên

là anh ta hoàn toàn có thể? Ai nói với ai? Ai nói và nói cho ai? Anh nghĩ tôi là ai để có thể nói với tôi như vậy? cần biết những gì để một câu không còn mơ hồ nữa? Người ta có thể tin vào những điều trong hiển ngôn không? …” [1;12] Đó là những vấn đề chủ yếu

mà ngữ dụng học cần nghiên cứu và tìm câu trả lời Rõ ràng F.Armengaud đã đề cập đến những nhân tố giao tiếp cùng những cách thức, những chiến lược giao tiếp trong giao tiếp của con người

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng cho đến nay thì giữa những nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về đối tượng phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học Tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa đã ít nhiều đề cập đến nhiệm vụ nghiên cứu ngôn ngữ trong những ngữ cảnh nhất định của bộ môn ngữ dụng học Như vậy có thể nói, ngữ

Trang 14

dụng học nghiên cứu hoạt động ngôn ngữ ở bình diện mới – “ngữ dụng học là ngành học nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, nghiên cứu ngôn ngữ trong s chi phối của ngữ cảnh” [5; 14]

1.2.2 Vấn đề về giao tiếp và chiến lƣợc giao tiếp

1.2.2.1 Một số vấn đề về giao tiếp

Tương tự như khi nói về định nghĩa ngữ dụng học, với giao tiếp thì các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng có nhiều định nghĩa khác nhau

Theo định nghĩa của Đỗ Hữu Châu (chủ biên): “Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin (hiểu theo nghĩa rất rộng bao gồm cả tri thức miêu tả, tình cảm, thái độ, ước mong, hành động, ) giữa ít thứ hai chủ thể giao tiếp (kể cả trường hợp một người giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh và tình huống nhất đ nh, bằng một hệ thống tín hiệu nhất đ nh” [2; 14] Và “giao tiếp bằng lời là quá trình tương tác giữa hai hay một số người bằng ngôn ngữ” [2; 14]

Tô Thị Kim Nguyên lại khẳng định rằng: “Giao tiếp là một hoạt động diễn ra khi

ít nhất có hai nhân vật cùng luân phiên sử dụng cùng một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ để trao đổi với nhau những nhận thức, những tình cảm và những ý muốn của mình nhằm đạt đến một mục đích nào đó” [34; 1] Vai trò của phương tiện ngôn ngữ đã được nhấn mạnh

trong định nghĩa này, và hẳn nhiên, ngôn ngữ luôn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp của con người

Còn có tài liệu lại sử dụng thuật ngữ giao tiếp với một cách hiểu khác: “giao tiếp

là hoạt động tiếp xúc giữa con người và con người trong xã hội nhằm trao đổi thông tin, nhận thức, tư tưởng, tình cảm và thể hiện mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội”

[5; 18] Định nghĩa này như muốn nhấn mạnh vai trò của giao tiếp và tính phổ biến của nó trong đời sống xã hội của con người

Và theo nhận định của Tô Thị Kim Nguyên, một hoạt động giao tiếp được diễn ra

“khi có ít nhất hai người gặp nhau và bày tỏ với nhau về một điều gì đấy như niềm vui, nỗi buồn, ý muốn hành động hay một nhận xét nào đấy về s vật xung quanh” [36; 1] Từ

lẽ đó, chúng ta thấy trong đời sống mỗi ngày, con người ta đều phải trải qua biết bao cung bậc cảm xúc hỉ, nộ, ái, ố và luôn cần được giãi bày, chia sẻ với những người thân xung quanh mình Vậy nên, hoạt động giao tiếp diễn ra rất thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi trong hoạt động thường ngày của con người Có thể nói, hoạt động giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu của con người cũng như xã hội loài người Và chúng ta thấy rằng

Trang 15

giao tiếp là nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hằng ngày: “không ai có thể sống cô độc, lẻ loi mà không cần giao tiếp với người khác” [45;7]

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, hoạt động giao tiếp của con người ngày càng phong phú với nhiều cách thức và phương tiện đa dạng khác nhau Trong đó, cách thức phổ biến nhất là nói và viết Còn về phương tiện thì hoạt động giao tiếp có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện khác nhau như: ngôn ngữ, nét mặt, dáng điệu, cử chỉ… trong đó, giao tiếp bằng ngôn ngữ là phổ biến và quan trọng nhất Không chỉ thế, ngôn ngữ còn là phương tiện giao tiếp có hiệu quả, nó giúp cho con người bộc lộ và truyền đạt được mọi điều trong khi các phương tiện giao tiếp khác như dáng điệu, cử chỉ, nét mặt lại có sự hạn chế hơn, chúng chỉ biểu hiện được một phần nào đó ý mà con người

muốn thể hiện, truyền đạt Do đó, “giao tiếp nói chung, giao tiếp bằng ngôn ngữ nói riêng không những là một nhu cầu tất yếu của con người mà còn là một điều kiện không thể thiếu cho s hình thành, tồn tại và phát triển của con người và của xã hội loài người, của cộng đồng ngôn ngữ” [42; 9]

Trước hết, khi nói về ngôn ngữ thì theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, “bản chất xã hội của ngôn ngữ thể hiện ở chỗ: 1 Nó phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp; 2 Nó thể hiện ý thức xã hội; 3 S tồn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với s tồn tại và phát triển của xã hội” [9; 12] Và khi nói đến chức năng của ngôn ngữ, Nguyễn Thiện Giáp đã đề cập đến hai ý chính: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người; Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy” [9;17] Còn khi xét về

ngôn ngữ trong quan hệ với giao tiếp bằng ngôn ngữ thì chúng lại càng có nhiều vai trò quan trọng trong đời sống xã hội loài người

Ngôn ngữ và giao tiếp bằng ngôn ngữ đóng vai trò nhất định trong sự trưởng

thành và phát triển của con người “Chính ngôn ngữ và qua giao tiếp bằng ngôn ngữ đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình xã hội hóa, hóa một sinh thể t nhiên thành một thành viên của xã hội loài người – một con người” [45; 9] Khi mới sinh ra, một đứa bé

bình thường sẽ không có năng lực bẩm sinh hay di truyền về ngôn ngữ, đứa bé không thể

tự hiểu được về ngôn ngữ và không có vốn kiến thức về ngôn ngữ để giao tiếp như người trưởng thành, nhưng qua sự tiếp xúc với ba mẹ, anh chị, người thân và bạn bè xung quanh, tiếp xúc với cộng đồng xã hội mà đứa bé đó có thể lắng nghe, tìm hiểu, học hỏi và tích lũy dần dần vốn ngôn ngữ cho bản thân, điều này cũng tương tự như việc tiếp thu và tích lũy dần những kinh nghiệm sống, những kiến thức về tự nhiên và về xã hội loài người của mỗi cá nhân thông qua giao tiếp hàng ngày của con người

Trang 16

Mặt khác, “ngôn ngữ chính là phương tiện quan trọng nhất trong s tổ chức nên

xã hội loài người và giao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ chính là một điều kiện để tổ chức, duy trì và phát triển xã hội loài người” [45; 9] Như chúng ta đã biết, xã hội là một tập

hợp người có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, nếu như mọi người tồn tại trong đó không có mối quan hệ nào với nhau, mỗi cá nhân chỉ biết mình mà không biết đến người khác, không quan tâm, không có mối liên hệ gì với những người xung quanh thì đó không còn là một xã hội mà chỉ là một tập hợp rời rạc của những cá nhân đơn lẻ Điều kiện để xã hội phát triển phần lớn là nhờ vào mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với con người trong xã hội Chính vì thế cho nên, ngôn ngữ và giao tiếp bằng ngôn ngữ là một trong các tiền đề quan trọng giúp hình thành nên con người và xã hội; là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại của xã hội; chúng đóng vai trò không thể thiếu trong sự hình thành, tồn tại và phát triển của toàn thể xã hội loài người

Một điều đặc biệt nữa là nhờ ngôn ngữ và giao tiếp bằng ngôn ngữ mà toàn bộ những giao tiếp vật chất và tinh thần của con người được cất giữ lưu truyền và phát triển Nhờ có giao tiếp mà mỗi con người có thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội, gia nhập vào cộng đồng, phản ánh các quan hệ xã hội, kinh nghiệm xã hội và chuyển chúng thành vốn kiến thức của riêng mình Trong quá trình tiếp xúc với những người xung quanh, chúng ta nhận thức được những nguyên tắc ứng xử, biết được cái gì tốt, cái gì xấu; cái gì đẹp, cái gì không đẹp; cái gì cần làm, cái gì không nên làm mà từ đó thể hiện thái độ và hành động cho phù hợp Như vậy, giao tiếp bằng ngôn ngữ giúp con người nhận thức, hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức của mình

Theo các nhà tâm lí học, trong cuộc đời của mỗi con người, nhu cầu giao tiếp xuất hiện từ rất sớm Ngay từ khi được sinh ra, đứa trẻ đã có những nhu cầu được thương yêu, nhu cầu được an toàn, khoảng hai tháng tuổi đứa trẻ đã biết “trò chuyện” với người lớn Và khi lớn lên cũng vậy, nhu cầu giao tiếp của con người lại càng tăng cao Nhờ vậy

mà giao tiếp bằng ngôn ngữ đã giúp con người thỏa mãn được những nhu cầu cần thiết, giúp con người trao đổi những nhận thức, tâm tư và tình cảm được dễ dàng và tiện lợi hơn Nhờ đó mà con người có thể thấu hiểu, cảm thông và gần gũi nhau hơn Quả thật,

“Giao tiếp ngôn ngữ là một lẽ sống còn của xã hội”.[45;10]

1.2.2.1.2 Chức năng của giao tiếp

Ở phần trước chúng ta đã khai thác rõ về giao tiếp và vai trò giao tiếp bằng ngôn ngữ trong đời sống xã hội, được biết giao tiếp là một hoạt động quan trọng và là nhu cầu thiết yếu của con người Vậy nên bất kỳ cuộc giao tiếp nào cũng đều nhằm mục đích thực hiện những chức năng nhất định Giao tiếp là sự tương tác giữa các thoại nhân, thế nên

Trang 17

tương tác là chức năng chung nhất Ngoài ra, sự tương tác còn được cụ thể hóa bằng những chức năng nhỏ hơn Theo Đỗ Hữu Châu [1], giao tiếp có những chức năng cơ bản sau:

a Chức năng thông tin

Chức năng thông tin, còn được gọi với một vài tên khác như chức năng thông báo, chức năng miêu tả theo nghĩa rộng, hay chức năng biểu hiện Đây là chức năng cơ bản nhất của hoạt động giao tiếp Nhờ chức năng này mà các nhân vật giao tiếp thông qua giao tiếp sẽ thu nhận được những hiểu biết, những tri thức mới về thế giới Giao tiếp thực hiện những chức năng thông tin có nghĩa là trao đổi những hiểu biết, phản ánh nhận thức của người giao tiếp về hiện thực đề tài qua đó mà người nghe có được những tri thức mới

về hiện thực đề tài, làm thay đổi nhận thức có trước của họ hay làm cho họ nhận ra những giá trị, tầm quan trọng của hiện thực đề tài trước đó họ chưa biết

Lấy ví dụ điển hình qua bài ca dao:

“Khăn anh đã rớt xuống bàn Mượn em để giặt nước nguồn cho trong

- Nước nguồn nay đục mai trong

Em muốn đi giặt sợ lòng mẹ cha”

Thông qua cuộc giao tiếp này, chàng trai trong câu ca dao trên đã thông báo đến cho người con gái biết rằng mình đã làm rớt chiếc khăn xuống bàn và nhờ cô gái ấy đem

về giặt nước nguồn giùm mình cho trong và sạch Việc trao gửi thông tin và lời đề nghị tế nhị của chàng trai đã được cô gái tri nhận và hồi đáp

b Chức năng tạo lập quan hệ

Thông qua giao tiếp, quan hệ giữa người nói và người nghe có thể thay đổi Từ

xa lạ có thể trở nên quen biết, từ quen biết trở nên thân thiết, gần gũi Và đôi khi trong thực tế, kết quả cũng có thể đi ngược lại, từ mối quan hệ thân thiết có thể trở nên xa lạ hay hận thù Chẳng hạn qua bài viết ca dao sau:

“- Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

- Trầu vàng ăn với cau xanh Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời”

Trang 18

Sau khi cô gái thổ lộ tình cảm của mình và có ý thăm dò đối phương thì chàng trai cũng nhân đó mà bày tỏ tình cảm lại Cũng từ đây mà mối quan hệ giữa cô gái và chàng trai thêm đậm đà Ngược lại trong bài ca dao sau:

“Chờ anh nên tuổi em cao Nên duyên em lợt, má đào em phai

- Má đào em ra nắng nó phai

Ra mưa nó lợt, chớ nào ai biểu chờ”

Sau khi cô gái tỏ ra trách móc, giận hờn chàng trai vì đã để mình chờ đợi quá lâu đến nỗi tàn phai nhan sắc thì chàng trai cũng tỏ thái độ khó chịu và nói rằng nào ai biểu chờ Và tất nhiên, mối quan hệ giữa hai người đã trở nên xa cách hơn

c Chức năng biểu lộ

Thông qua giao tiếp, con người có thể bày tỏ được đặc điểm, sở thích, ưu điểm, nhược điểm của bản thân, bộc lộ trạng thái nội tâm, thể hiện tình cảm, thái độ, cách đánh giá của mình đối với hiện thực khách quan, đối với người đang giao tiếp với mình hoặc đối với chính cuộc giao tiếp mà mình đang thực hiện Lấy ví dụ từ trong cuộc đối đáp sau:

“- Mình về có nhớ ta chăng?

Ta thì một dạ khăng khăng nhớ mình

- Ta về ta cũng nhớ mình Nhớ yếm mình mặc nhớ tình mình trao”

Qua cách đối đáp của chàng trai và cô gái, ta thấy bộc lộ rõ nỗi nhớ thương và tình cảm chân thành, thủy chung của đôi lứa yêu nhau

“Anh xích lại đây, anh d ch lại đây, Chiếu hoa em trải, ghế mây anh ngồi

- Anh xích lại rồi, anh d ch lại rồi, Chiếu hoa em trải, ghế ngồi anh đâu?”

Trang 19

Các cuộc đối đáp của những đôi nam nữ trêu chọc, đùa giỡn với nhau sau giờ làm việc được xem là một hình thức giải trí thường gặp của người dân lao động ngày xưa

e Chức năng hành động

Hành động là một chức năng thông qua giao tiếp mà các nhân vật giao tiếp có

thể hỗ trợ, thúc đẩy, giúp đỡ nhau để thực hiện một hành động “Xét cho cùng, hành động

là mục đích cuối cùng của mọi hoạt động giao tiếp” [5; 19] Khi giao tiếp, không chỉ

người nói thực hiện hành động mà cả người nghe cũng thực hiện hành động nữa Chẳng hạn qua bài ca dao:

“- Dẫu mà không lấy được em, Anh về đóng cửa, cài rèm đi tu

- Tu mô cho em tu cùng, May ra thành Phật thờ chung một chùa”

Khi nghe chàng trai nói rằng sẽ đóng cửa, cài rèm đi tu nếu không lấy được em thì cô gái đã mềm lòng và cũng hành động theo là xin đi tu cùng Từ câu đối đáp của chàng trai và cô gái đã góp phần hỗ trợ, giúp hai người thực hiện hành động đi tu của mình, dù rằng không biết đây là lời đùa hay thật của đôi trai gái

Tất cả các chức năng trên thường được thực hiện đồng thời trong một cuộc giao tiếp Tuy nhiên, tùy từng cuộc giao tiếp, từng cách thức, chiến lược giao tiếp mà mỗi chức năng được thể hiện ít nhiều khác nhau Và bất kì cuộc giao tiếp nào, dù muốn hay không muốn thì nó vẫn chịu sự ảnh hưởng của các chiến lược giao tiếp Cũng là những lời nói

đó, nhằm đạt mục đích, mong muốn, ước vọng đó nhưng tùy vào các chiến lược giao tiếp khác nhau mà khả năng đạt được mục đích giao tiếp khác nhau Vì vậy, để đạt được hiệu quả cao trong giao tiếp, cũng như khi xem xét các cuộc giao tiếp thì ta cần chú ý tới các chiến lược giao tiếp

1.2.2.2 Chiến lƣợc giao tiếp

Mỗi người khi sinh ra đều có nhu cầu giao tiếp, lúc còn bé người ta thể hiện hoạt động giao tiếp bằng các phương tiện như kí hiệu, tiếp xúc, hành động Càng lớn thì nhu cầu giao tiếp càng cao và năng lực giao tiếp lại càng quan trọng Thông qua thời gian rèn luyện nghe, nói, đọc, viết với mọi người trong xã hội mà khả năng giao tiếp của con người dần trở nên hiệu quả và phù hợp hơn Muốn giao tiếp thực sự hiệu quả thì phải làm như thế nào? Chắc hẳn đó là câu hỏi mà con người vẫn luôn tìm kiếm dù trong thời điểm nào hay môi trường nào Muốn đạt được hiệu quả giao tiếp thực sự thì phải quan tâm đến nhiều yếu tố, mà những yếu tố này chỉ được hoàn thiện cùng với quá trình lớn lên của cá

Trang 20

nhân Mỗi người tích luỹ kinh nghiệm từ cuộc sống hàng ngày, mài giũa kỹ năng giao tiếp qua các mối quan hệ, tương tác trong xã hội

Theo quan điểm của các nhà nhân loại học, năng lực giao tiếp phải bao gồm ít nhất ba yếu tố chính: kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng tương tác và hiểu biết về văn hoá Những yếu tố này giúp người nói biết cách chọn mã ngôn ngữ một cách phù hợp trong các trường hợp giao tiếp cụ thể, hay nói cách khác là biết cách chọn và sử dụng những chiến lược giao tiếp cụ thể trong những tình huống khác nhau để đạt tới một mục đích giao tiếp nhất định Trong quá trình giao tiếp, các nhân vật giao tiếp phải tính tới việc tổ chức các lượt lời xoay quanh đích giao tiếp, tính tới việc lựa chọn và sử dụng chiến lược nào để đạt hiệu quả, phù hợp với lứa tuổi, nghề nghiệp, phù hợp với ngữ cảnh và tình huống giao tiếp

Có thể hiểu “chiến lược là phương thức mà các nhân vật giao tiếp sử dụng để giải quyết các mối quan hệ đặt ra trong quá trình hội thoại nhằm đạt được những mục đích giao tiếp cụ thể” [23; 32] Và “khác với chiến thuật do bản thân người hoạt động tạo

ra và điều khiển, chiến lược chỉ được ta l a chọn, khi chiến lược giao tiếp đã được l a chọn một cách t do luôn khắc chế người khởi xướng s kiện giao tiếp và buộc hành vi giao tiếp của ta phải tuân theo một ý đồ có tính chất loại hình Gần như có thể thay đổi chiến lược bất kì lúc nào, nhưng chuyển qua một chiến lược giao tiếp mới cũng có nghĩa

là kết thúc phát ngôn cũ, bắt đầu phát ngôn mới” [35; 1]

Chiến lược giao tiếp lại được hiểu là sự “điều chỉnh có chiến lược”, là “kế hoạch

có tính chủ động nhằm giải quyết những vấn đề mà người giao tiếp gặp phải nhằm đạt mục đích giao tiếp Những chiến lược này khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau”

[dẫn theo 17; 56] Trong cuốn “Dictionary of language teaching & applied linguistics”,

“chiến lược” được định nghĩa là “một cách thức để đạt tới một cái đích nhất đ nh” Cụ thể hơn, “chiến lược giao tiếp được hiểu như một kế hoạch cụ thể cho một mục đích giao tiếp nhất đ nh trong một trường hợp giao tiếp nhất đ nh, được th c hiện thông qua việc l a chọn những phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ” [dẫn theo 20; 16]

Thực chất khi xét về loại hình, ca dao tình yêu đôi lứa có cả lời trao và lời đáp, vậy nên ta có thể xem cuộc đối đáp trong ca dao chính là một cuộc giao tiếp, hình thức giao tiếp dạng hội thoại, đều diễn ra với cấu trúc trình tự của một cuộc giao tiếp, đều có những yếu tố như cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, hành vi ngôn ngữ và những yếu tố có liên quan như quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quan hệ liên cá nhân, nguyên tắc cộng tác hội thoại, vai giao tiếp, nguyên tắc lịch sự,… Vậy nên ta có thể xem chiến lược

giao tiếp ở đây như một chiến lược hội thoại Khi nói về chiến lược hội thoại, “trong lí

Trang 21

thuyết dạy tiếng, thuật ngữ này được dùng để chỉ những phương tiện, biện pháp mà những người tham gia giao tiếp sử dụng để xử lí các điểm trục trặc trong giao tiếp nhằm giữ cho cuộc thoại đi theo hướng mong muốn” [41; 6] Để có cơ sở lí thuyết thích hợp cho khóa luận này, chúng ta cần bổ sung theo quan niệm của Rodney Jones “chiến lược hội thoại là những phương cách tạo lập hình ảnh bản thân trong mắt những người chung quanh cũng như tạo lập, duy trì các mối quan hệ xã hội qua quá trình thương lượng với đối ngôn về những gì ta đang làm và về hình ảnh ta lúc giao tiếp” [dẫn theo 41; 6] Nếu

như chúng ta nhìn từ góc độ khoa học tri nhận thì chiến lược hội thoại gắn với khái niệm thông tin tiền giả định về ý định, mục đích, ước muốn, sở thích, ý kiến, thái độ, ý thức hệ, tình cảm, cá tính của người nói

Bởi xem đối đáp ca dao tình yêu đôi lứa như một cuộc giao tiếp, một cuộc hội thoại nên khi nghiên cứu về chiến lược giao tiếp trong đề tài này chúng tôi sẽ nghiên cứu các chiến lược giao tiếp vận dụng nguyên tắc hội thoại, cụ thể là nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự trong lý thuyết Ngữ dụng học

1.2.3 CÁC NGUYÊN TẮC HỘI THOẠI

Hội thoại một cách chân thực đòi hỏi người tham gia phải tôn trọng một số nguyên tắc Ngữ dụng học đưa ra ba nguyên tắc hội thoại là nguyên tắc luân phiên lượt lời, nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc lịch sự Nhưng trong phạm vi bài luận văn với đối tượng nghiên cứu về ca dao tình yêu đôi lứa này, chúng tôi nhận thấy nổi bật hơn cả là các chiến lược giao tiếp vận dụng nguyên tắc cộng tác và lịch sự, nên xin phép được bỏ qua lý thuyết về nguyên tắc lượt lời

1.2.3.1 Nguyên tắc cộng tác hội thoại

Grice giả định rằng khi giao tiếp với nhau người ta thường cộng tác để làm cho phát ngôn có thể chấp nhận được Từ giả định này, Grice đề ra nguyên tắc gọi là nguyên tắc cộng tác Nguyên tắc cộng tác hội thoại được Grice nêu ra từ năm 1967 Nguyên tắc này được phát biểu một cách tổng quát như sau:

“Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc hội thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn nào (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp nhận tham gia vào” [dẫn theo 2; 103]

Nguyên tắc này được Grice tách thành bốn phạm trù nhỏ: lượng, chất, quan hệ

và cách thức tương ứng với bốn phương châm sau:

Trang 22

a Phương châm về lượng

Phương châm này được xác định trên hai “tiểu phương châm”:

- Hãy nói sao cho có nội dung đáng nói

- Đừng nói nhiều hơn cái nội dung đáng nói

b Phương châm về chất

Phương châm này được xác định trên hai tiểu phương châm:

- Đừng nói những điều rằng mình tin là không đúng

- Đừng nói điều mà mình không có bằng chứng xác thực

c Phương châm quan hệ (quan yếu)

Phương châm này được xác định:

theo 1; 234]

d Phương châm cách thức

Phương châm này được giải thích là: hãy nói cho rõ ràng Cụ thể là:

- Hãy tránh lối nói tối nghĩa, lối nói mơ hồ

- Hãy nói ngắn gọn, nói có trật tự

Theo nguyên tắc này, người tham gia giao tiếp có thể đáp ứng được những mong đợi của đối ngôn về hành vi hội thoại, đó là mong đợi rằng điều nói ra là đúng sự thật, có liên quan đến đề tài đang trao đổi, được diễn đạt rõ ràng, không mơ hồ, và vừa đủ, không nhiều hơn điều cần nói Tuân thủ nguyên tắc cộng tác và các phương châm hội thoại là việc làm hợp lí vì nó có lợi cho người tuân thủ Người nói có thể cố tình vi phạm nguyên tắc cộng tác và các phương châm hội thoại để tạo ra hàm ngôn hội thoại và đây cũng là trường hợp cần đặc biệt chú ý khi tìm hiểu về chiến lược hội thoại trong ca dao tình yêu đôi lứa vì nhân vật có thể cố tình vi phạm một hay nhiều phương châm hội thoại để đạt mục tiêu nào đó, cũng có thể bị nhân vật giao tiếp cố tình vi phạm để tạo nên yếu tố hài hước, mỉa mai dành cho đối phương hay một nhân vật nào đó được nhắc đến

Trang 23

1.2.3.2 Nguyên tắc lịch sự

Theo Từ điển tiếng Việt: “L ch s là có thái độ nhã nhặn, lễ độ khi tiếp xúc, phù hợp với quan niệm và phép tắc xã giao của xã hội” [39]

Theo Lakoff, l ch s là tôn trọng nhau Và Lakoff cho rằng: “Có thể đ nh nghĩa

l ch s như là một phương thức để giảm thiểu s xung đột trong diễn ngôn (…) Những chiến lược l ch s có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi” [dẫn theo 1; 256] Tương tự, Orecchioni cũng cho rằng: “Phép l ch s là hệ thống những phương thức mà người nói đưa vào hoạt động nhằm điều hòa và gia tăng giá tr của đối tác của mình” [dẫn theo 1; 280]

Cơ sở của lí thuyết về lịch sự được xây dựng trên khái niệm “thể diện” của

Goffman (1967) Theo Goffman, “thể diện không nằm trong bản thân một cá nhân nào, mà

nó chỉ xuất hiện trong quá trình tương tác xã hội” [dẫn theo 1] Điều này đòi hỏi những

người tham gia giao tiếp, bên cạnh việc bảo vệ thể diện của mình, còn cần phải chú ý ứng

xử sao cho không làm tổn hại đến thể diện của người khác

Trong thực tế, tồn tại một số lí thuyết về phép lịch sự, trong đó lí thuyết của Brown

và Levinson được đánh giá cao và ảnh hưởng rộng rãi Theo Brown & Levinson, “l ch s

là chiến lược nhằm sửa đổi, giảm thiểu mức độ mất thể diện đã hoặc sẽ xảy ra trong hoạt động giao tiếp của con người” [dẫn theo 1]

Trong giao tiếp, lịch sự là một nhân tố quan trọng có tác động chi phối không những đối với các phát ngôn trong quá trình giao tiếp mà cả đối với kết quả giao tiếp Nó

là biện pháp dùng để giảm bớt trở ngại trong tương tác giao tiếp giữa các cá nhân Nhiều nhà ngôn ngữ học đã xem lịch sự là một nguyên tắc hội thoại quan trọng Phép lịch sự có thể được định nghĩa là phương tiện được dùng để thể hiện hiểu biết về thể diện của người khác Như thế, phép lịch sự thực hiện trong các tình huống có khoảng cách xã hội và có

sự thân hữu Khi có khoảng cách xã hội thì người ta thể hiện sự hiểu biết về thể diện của người khác bằng cách sử dụng những từ ngữ tôn trọng, chiều lòng Khi có sự thân hữu thì người ta thể hiện bằng việc dùng các từ ngữ có tính thân tình, đoàn kết Trong giao tiếp hàng ngày người ta cư xử y như mong muốn của họ về nhu cầu thể diện sẽ được tôn trọng Nếu một người nói cái gì đó có biểu hiện đe dọa sự mong đợi của người khác về mặt thể diện thì đó là hành động đe dọa thể diện Nếu người nói nói thế nào để làm giảm khả năng đe dọa thể diện thì hành động đó gọi là hành động giữ thể diện Ví dụ quan sát cặp thoại sau:

Trang 24

Chàng trai:

Gánh nặng mà đi đường dài,

Để anh gánh đỡ một vai nên chồng

Cô gái:

Gánh nặng thì ch trả công, Mặt em chẳng đáng làm chồng ch đâu

Trong câu nói của mình, chàng trai đã đưa ra hai yêu cầu “gánh giúp” và “làm chồng” Nghĩa là, chàng trai muốn can thiệp vào sự tự do hành động của cô gái, cho rằng

cô gái không có khả năng thực hiện hành động và thể hiện sự yêu thương đối với cô gái Như vậy, chàng trai đã đồng thời vừa thực hiện hành động đe doạ thể diện cô gái vừa giữ gìn thể diện của mình (chàng trai đề cao mình) Tương tự câu nói của chàng trai, câu trả lời của cô gái là sự từ chối việc “làm chồng” và đề nghị trả công việc “gánh giúp”, nghĩa

là thực hiện hành động đe doạ thể diện chàng trai và khẳng định thể diện của mình

Cần phân biệt thể diện âm tính và thể diện dương tính Có thể hiểu một cách ngắn

gọn, thể diện âm tính là lãnh đ a của cái tôi, còn thể diện dương tính là phần thuộc về giá

tr xã hội của một người, bao gồm thanh danh, uy tín, đ a v xã hội [5; 138]

Brown & Levinson xem thể diện như là hình ảnh bản thân trong mắt công chúng

mà người tham gia giao tiếp muốn duy trì trong sự kiện giao tiếp Thể diện là điều được chú tâm về phương diện tình cảm, có thể mất đi hay được duy trì, hoặc tôn lên, và phải luôn được lưu ý trong quá trình giao tiếp Khi giao tiếp, mọi cá nhân đều cần giữ thể diện hoặc tránh không làm phương hại đến thể diện của người khác, và điều này được thực

hiện thông qua các chiến lược lịch sự Eelen (2001) nhận xét rằng “cốt lõi của lí thuyết

l ch s của Brown & Levinson nằm ở chỗ họ xem l ch s là nền tảng của mọi cấu trúc xã hội, là thể hiện của những mối quan hệ xã hội và là phương thức giải quyết các xung đột trong giao tiếp liên nhân” [dẫn theo 41; 10] Từ những khái niệm “lịch sự” và lý thuyết

“nguyên tắc lịch sự” trong hội thoại, chúng ta có thể đánh giá đúng đắn về những hành vi lịch sự, và có thể khảo sát chiến lược giao tiếp trong ca dao tình yêu đôi lứa một cách thuận tiện và khoa học hơn

Trang 25

1.2.4 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CA DAO TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

1.2.4.1 Khái niệm ca dao và ca dao tình yêu

1.2.4.1.1 Khái niệm ca dao

Để xác định khái niệm ca dao, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đều đặt ca

dao trong mối quan hệ với dân ca Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên cho rằng: “Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy…hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể bè thành những làn điệu dân ca”

[dẫn theo 46; 10]

Vũ Ngọc Phan còn nói rõ hơn “Theo ý kiến của tôi, ca dao của ta có những câu bốn năm chữ, sáu tám hay hai bẩy sáu tám, đều có thể ngâm được nguyên câu, không cần tiếng đệm như người ta ngâm thơ vậy Còn dùng bài ca dao để hát thì bài ca dao sẽ biến thành dân ca… ậy ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây d ng thành các điệu dân ca” [38; 42] Từ đó, Vũ Ngọc Phan đúc kết rằng “Ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân” [38; 45]

Từ điển thuật ngữ Văn học cho rằng: “Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn

bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca” [dẫn theo 31]

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Ca dao là thơ ca dân gian được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất đ nh, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc Ca dao là thể loại văn vần, thường làm theo thể thơ lục bát” [31;

132]

Đặng Văn Lung, Trưởng Ban Văn học dân gian, Viện Văn học phát biểu: “Tất

cả các dân tộc trên thế giới suốt mấy nghìn năm chỗ nào cũng có dân ca và ca dao ì thế nói về ca dao dân ca của một dân tộc hay ca dao dân ca nói chung là vấn đề rất lớn Nó tồn tại rất lâu, từ hàng ngàn năm trước và như các nhà khoa học nghiên cứu trước đây, các học giả đã nói ca dao ra đời khi trong lòng mình có những điều muốn thể hiện ra, muốn nói lên Những điều đó được gọi là ca dao” Đây có lẽ là một nhận định gần gũi và

dễ hiểu hơn cả Có thể hiểu một cách khái quát rằng ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian, về hình thức, nó là thơ có nhịp điệu, có tiết tấu, nó là loại hình văn nghệ truyền miệng, là một hình thức văn hóa dân gian đã có từ lâu đời

Nghiên cứu về ca dao không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam mà còn làm nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người của nhân dân lao

Trang 26

động, tầng lớp bình dân của xã hội xưa Có thể xem ca dao là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam

1.2.4.1.2 Khái niệm ca dao tình yêu đôi lứa

Nhắc đến ca dao là ta đã biết đến một loại hình văn học dân gian với khối lượng sáng tác đồ sộ, phong phú Tiêu biểu và đặc sắc hơn cả là mảng ca dao trữ tình, đó

là “tiếng hát đi từ trái tim lên miệng, tiếng hát được cất lên từ nhu cầu được giãi bày tình cảm giữa những người lao động [dẫn theo 45; 19] Trong đó, ca dao tình yêu đôi lứa

chiếm một phần khá lớn và có sức ảnh hưởng nhất định Những nội dung, tình cảm mà ca dao tình yêu mang tới luôn đem đến cho người đọc, người nghe những cảm giác gần gũi,

trong sáng, dễ chịu, nhẹ nhàng và dễ đi vào lòng người “Ca dao dân ca về tình yêu đôi lứa, trước hết là những sáng tác của người lao động, nên s gắn bó giữa tình yêu và lao động trong những bài viết ca dao này cũng là điều dễ hiểu Đó là mối quan hệ hai chiều, biểu hiện trong quá trình sáng tác, diễn xướng và cả trong nội dung bài viết ca ao động làm tình yêu thêm bền chặt, sâu sắc, tình yêu làm lao động thêm có ý nghĩa và năng suất Nhờ môi trường lao động con người dễ cảm thông, hiểu biết nhau hơn” [7;18]

Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên cũng cho rằng: “Trong ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ, chúng ta thấy đa số các câu hát, các bài ca của “chàng trai” và “cô gái” được kết cấu theo lối đối thoại giữa hai nhân vật ấy… là hình thức trao đổi tình cảm giữa nam và nữ, từ những lời ướm hỏi nhau rồi thề nguyền gắn bó với nhau, tới những lời than thở, nhớ nhung, trách móc nhau…” [dẫn theo 11; 46] Đồng quan điểm với các tác giả trên, Mã Giang Lân cũng nói: “Phong phú nhất, sâu sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu nam nữ Trai gái gặp gỡ tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong lao động, hội

hè đình đám, vui xuân Họ có thể thổ lộ tình cảm với nhau bằng câu ví, bằng hình thức giao duyên trong những cuộc hát đối đáp nam nữ Nội dung của những câu ca dao này phản ánh được mọi biểu hiện sắc thái, cung bậc của tình yêu” [dẫn theo 11; 46] Những

bài ca dao trữ tình về tình yêu đôi lứa được sinh thành, tồn tại và phát triển chủ yếu do nhu cầu bộc lộ tâm tư, tình cảm, ước muốn, khát khao hạnh phúc của đôi lứa trong lao động thường ngày

Chủ thể trữ tình trong mảng ca dao này là những đôi nam nữ, là những người lao động, họ cảm nhận trực tiếp cuộc sống của họ, bao gồm cả những niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc hay khổ đau Từ những câu ca dao ấy, họ thường cất lên những làn điệu ngọt ngào nhưng mang đầy những cảm xúc dạt dào, ý nghĩa:

“Ra đây mà hát mấy câu Được thua thua được cho nhau bằng lòng”

Trang 27

Hay là:

“- Em chạy theo anh, em vấp, em té sấp bụi bờ

Miệng em kêu, tay em ngoắt, em biểu anh chờ, sao anh lại đi luôn”

Và:

“- Em thương anh thầy mẹ ngăm nghe Cậu, cô, chú, bác đòi đậu bè thả trôi”

“- Anh xa em vì thiên hạ hay vì thúc bá tới xui

Đó băn khoăn đó nhớ, đây bùi ngùi đây thương”

Vậy ca dao tình yêu đôi lứa là ca dao trữ tình thể hiện tình cảm chung trong quan

hệ tình yêu đôi lứa Ca dao tình yêu đôi lứa cũng xuất phát từ trong giới bình dân nên rất gần gũi và mang ý nghĩa đậm đà, dễ xúc cảm người nghe Chính vì khả năng dễ nói, dễ tiếp thu, dễ hiểu, dễ nhớ nên ca dao nói chung và ca dao tình yêu đôi lứa nói riêng đã đi vào đời sống của nhân dân một cách rất tự nhiên Càng đi sâu vào tìm hiểu ca dao tình yêu đôi lứa, chúng ta sẽ càng thấy được những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm

mỹ cùng những tình cảm hết sức ý nhị mà táo bạo của nhân dân ta ngày xưa

1.2.4.2 Các hình thức diễn xướng của ca dao tình yêu đôi lứa

Khi nghiên cứu về diễn xướng và những vấn đề liên quan đến diễn xướng thì chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết các nhà nghiên cứu đều đưa ra ý kiến chung về diễn

xướng, nhận định diễn xướng là hình thức biểu hiện, trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, điệu bộ, cử chỉ diễn xướng có s biến đổi theo thời gian; cần phải linh hoạt khi tìm hiểu về diễn xướng và lưu ý đến tính ước lệ của thuật ngữ này [dẫn theo 38] Có lẽ đó là những đặc điểm cơ bản về diễn xướng mà chúng ta cần nắm được

Và theo Nguyễn Hữu Thu thì “Nghệ thuật cao nhất của ngôn ngữ trong diễn xướng là hát” [38], mà hát lại là một hình thức diễn xướng trong ca dao

Dựa trên sự phân chia của Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong “Ca dao dân ca đẹp và hay”, chúng ta thấy có hai hình thức hát chính đó là hát đối đáp lẻ và hát đối đáp trong

cuộc Mỗi hình thức đều có những đặc điểm riêng nên rất dễ nhận diện Vốn dĩ ca dao tình yêu đôi lứa có nhiều hình thức diễn xướng nên dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, các chàng trai và các cô gái đều có thể mượn lời hát để thổ lộ, bày tỏ những điều thầm kín trong lòng mình cho đối phương có thể cảm nhận Qua những cuộc đối đáp như thế, mỗi người sẽ thấy được khả năng trí tuệ, ứng khẩu cũng như ca hát của đối phương và của những người tham gia

Trang 28

a Hát đối đáp lẻ

Đây là một hình thức hát tự do, người hát có thể thoải mái trong cách hát, trong lời bài hát, không bị ràng buộc bởi những quy định nào về lối hát Thời điểm, địa điểm hát không cố định Có thể diễn ra trong bất cứ hoàn cảnh nào, mọi lúc, mọi nơi, có thể là khi các chàng trai, cô gái gặp nhau trên đường, khi đi qua cầu, hay đi cấy ngoài đồng ruộng, nơi dòng sông, trên con thuyền, bến đò… Lời ca, tiếng hát đã giúp các chàng trai,

cô gái thăm hỏi, kết bạn, giao duyên, giúp họ vơi đi những mệt nhọc trong công việc lao động thường ngày, tạo nên những mối quan hệ mới tốt đẹp Và cũng giống như ở trên chúng ta đã biết, đó còn là dịp để thử trí thông minh, tài ứng khẩu của đôi bên

Chàng trai:

“- Hỡi cô mặc áo vá vai Tay ngắn tay dài đã có chồng chưa?

Cô gái trả lời:

“- Anh hỏi thì em xin thưa Vài ba nơi hỏi nhưng chưa nhận trầu”

Khi chàng trai ngậm ngùi, nuối tiếc vì người con gái mình thương đã có chồng, chàng trai thốt lên với vẻ hờn dỗi, trách móc:

“- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím

Em đã có chồng trả yếm cho anh!”

Cô gái bỗng nhiên cũng trở nên ấp úng, ngây ngô và quay ngược lại đáp:

“- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh Yếm em, em mặc, yếm gì anh, anh đòi?”

Trong bài ca dao khác, một chàng trai tình cờ gặp được một cô gái và liền cất tiếng hát với ý nghĩ rất táo bạo:

“- Gánh nặng mà đi đường vòng Tuy rằng không gánh mà lòng cũng thương

Gánh nặng mà đi đường dài

Để anh gánh đỡ một vai nên chồng”

Ai ngờ đâu cô gái đang bị trêu trọc lại là một người cá tính, cũng đáo để không kém:

Trang 29

“- Gánh thì ch lại trả công Mặt em không đáng là chồng ch đâu”

Trái ngược với tính cách mạnh mẽ, táo bạo của cô gái trong bài ca dao trên, ở đây chúng ta lại bắt gặp hình ảnh của một người con gái dịu dàng, thùy mị, nết na đúng phẩm chất của người con gái đất Việt:

“- Đèn hết dầu đèn tắt, Nhang hết v hết thơm, Anh đừng lên xuống đêm hôm, Thế gian đàm tiếu, tiếng đồn tội em”

Nghe xong câu nói bày tỏ nỗi lòng mà bấy lâu đã giấu kín của người con gái, chàng trai cũng mạnh dạn, thẳng thắn nói lên quan điểm và tấm lòng của mình:

“- Thế gian sao khéo lạ kì,

Ta thương, ta tới, mắc gì đón ngăn”

Và đôi khi trong tình yêu, vì sự ngại ngùng, thiếu tự tin về bản thân mà người con trai thường không nói hết những điều về bản thân mình, về gia đình mình cho người mình thương biết, cũng có khi là do mặc cảm về số kiếp nghèo nàn nên che giấu tất cả, hoặc là họ chưa có dịp để ngồi lại cùng nhau chia sẻ, tâm sự Nhưng sau cùng thì người con gái đã phát hiện và biết hết sự thật:

“- Hỏi anh, anh bảo học trò, Sao em lại thấy cưỡi bò hôm qua?

Khi biết rằng cô gái đã thấy mình đi chăn bò, chàng trai đành phải giải thích rõ cho cô gái hiểu, cùng thổ lộ hết sự thật về công việc của nhà mình và mạnh mẽ, can đảm nói lên ước mong được nàng chấp nhận tình cảm, hy vọng hai đứa sẽ nên vợ thành chồng:

“- Em ơi, bò ấy bò nhà, Đứa ở đi khỏi anh ra thăm đồng

Nếu mai nên vợ, nên chồng, Anh lại đi học, em trông bò giùm”

Trên đây là những màn đối đáp lẻ điển hình giữa những đôi trai gái đang tìm hiểu, giao duyên Rõ ràng hình thức diễn xướng này không bị gò bó bởi bất cứ quy định nào, mỗi câu đối đáp có những nét riêng và điều đó đã làm phong phú hơn trong mọi mặt của ca dao tình yêu đôi lứa

Trang 30

b Hát đối đáp trong cuộc

Khác với hình thức hát đối đáp lẻ, thời gian, địa điểm, trình tự, nội dung của cuộc hát đối đáp trong cuộc được qui định khá chặt chẽ Trong cuộc hát đối đáp này, những người tham dự là những nhóm thanh niên nam nữ ở các làng khác nhau, hoặc thuộc những phường khác nhau: phường vải, phường nón, phường cấy, phường gặt,… Mà hát được chia thành các giai đoạn khác nhau Cũng theo Nguyễn Thị Ngọc Điệp, hát đối đáp trong cuộc được chia ra làm ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Hát dạo, hát mừng, hát chào, hát hỏi, hát thăm Hai bên chào hỏi nhau

về gia đình, tên tuổi, quê quán, tình duyên…

Nam:

“Đến đây lạ bến, lạ rào, Hỏi con chim hồng nhạn ở phương nào lại đây?

Hỏi mai nhớ núi chim về,

Ai nhớ chim muốn hỏi, biết như đề ra sao ?

Nữ :

Em đây là con chim phượng,

Ch em đó là con chim nga,

Từ Bằng Sơn bay lại, bướm gặp hoa làm tình

Hỏi anh quý tính, phương danh, Mai ra đường gặp, khỏi mang tiếng vô tình làm ngơ

Nam :

Trăng lên cao chiếc sao chầu, Hỏi thăm đào liễu đã ăn trầu ai chưa?

Nữ:

Mận hỏi thì đào xin thưa:

ườn hồng có lối, nhưng chưa ai vào

Giai đoạn 2: Hát đố, hát họa, hát mời, hát xe kết Sau giai đoạn hát dạo, hát hỏi, hát

thăm thì đôi bên đã làm quen với nhau, bây giờ họ sẽ bước sang hát mời, hát đố, hát họa

và hát xe kết với mục đích là để tỏ bày tình cảm, ước mong được sống bên nhau nên vợ thành chồng

Trang 31

Hát đố:

- Lá gì không nhánh không ngành?

á gì chỉ có tay mình trao tay?

- á thư không nhánh không ngành,

á thư chỉ có tay mình trao tay

Hát họa (họa núi):

- Núi mòn nhưng nghĩa không mòn,

ời thề ngày trước mình còn nhớ không?

Giai đoạn 3: Hát thề, hát dặn, hát tiễn Sau khi đã gặp gỡ, đối đáp và thổ lộ hết

tình cảm thì bây giờ là lúc phải thề hứa, ước hẹn và nói lời chào tiễn nhau :

- Ra về răng được mà về ? Bức thư ai gửi, lời thề ai trao ?

- Ra về răng đứt, răng đành ?

Ra về bỏ múi tơ mành ai quây ?

- Ra về lòng lại dặn lòng, Cam chua chớ phụ, ngọt bòng chớ ham

- Vì cam nên quýt đèo bòng,

ì anh cần mẫn, nên lòng em mơ

- Ra về bẻ lá cắm đây, Đến mai ta nhớ chốn này ta qua

Trang 32

- Trăng khuya soi bóng anh đi, Thấy chân anh bước, ruột em thì quặn đau !

Lại có những cuộc tiễn đưa đầy lưu luyến, nhớ nhung, cảm xúc dạt dào không tài

nào tả xiết của những đôi trai gái yêu nhau :

- Ra về nhớ lắm, em ơi ! Nhớ xa em kéo, nhớ lời em than

- Yêu nhau chưa ráo mồ hôi Chưa tan buổi chợ, đã rời nhau ra

Thật đúng là những lời ca, tiếng hát đã giúp các chàng trai, cô gái có thể thăm hỏi, kết bạn, giao duyên, giúp họ vơi đi những mệt nhọc trong lao động thường ngày Đồng thời, những lời ca, tiếng hát ấy cũng đã tạo nên những mối quan hệ mới tốt đẹp, những luyến lưu, bồi hồi, xao xuyến, giúp họ hưởng trọn mọi cung bậc cảm xúc trong tình yêu

Trang 33

Tiểu kết: Trong phần này bao gồm 23 trang chúng tôi chủ yếu tìm hiểu các vấn đề

sau:

Trước tiên là điểm qua về lịch sử nghiên cứu vấn đề, những công trình nghiên cứu về ngữ dụng học, nghiên cứu về ca dao tình yêu đôi lứa và ngữ dụng học trong ca dao tình yêu đôi lứa

Về ngữ dụng học, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu các vấn đề chính như những định nghĩa về ngữ dụng, khái niệm về giao tiếp, vai trò và chức năng của giao tiếp, và một số vấn đề về chiến lược giao tiếp, trong đó có nhắc đến lý thuyết về hai nguyên tắc hội thoại

là nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự

Về ca dao tình yêu đôi lứa, chúng tôi đã tìm hiểu về khái niệm ca dao, khái niệm

ca dao tình yêu đôi lứa, tìm hiểu hai hình thức diễn xướng trong ca dao tình yêu đôi lứa là hát đối đáp lẻ và hát đối đáp trong cuộc

Trên đây là những vấn đề lý thuyết được nghiên cứu trong những công trình nghiên cứu đã được kiểm nghiệm và thẩm định Vậy nên chúng tôi đã sử dụng những thành tựu này để làm cơ sở lí luận cho đề tài, nhằm mục đích dựa trên cơ sở đó luận văn

Trang 34

CHƯƠNG 2:

CHIẾN LƯỢC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC CỘNG TÁC VÀ LỊCH SỰ

TRONG MỘT SỐ BÀI CA DAO TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

Chương này chúng tôi nhận diện và phân tích các chiến lược chi phối nội dung giao tiếp và mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật chàng trai, cô gái trong ca dao tình yêu đôi lứa Có ba chiến lược được gọi tên theo tác dụng, hiệu quả của chúng Và chúng

ta sẽ lần lượt đi sâu khai thác, tìm hiểu từng chiến lược một cách cụ thể

2.1 CHIẾN LƯỢC THIẾT LẬP VÀ DUY TRÌ MỐI QUAN HỆ HÀI HÒA TRONG GIAO TIẾP LIÊN NHÂN

Chiến lược này đáp ứng được chức năng cơ bản nhất của các nguyên tắc hội thoại, nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự, đó là thiết lập và duy trì mối quan hệ tốt đẹp trong giao tiếp Tùy theo những mối quan hệ xã hội khác nhau và mức độ tham gia của mục tiêu giao tiếp, thiện cảm khác nhau trong từng tình huống cụ thể mà nhân vật sử dụng

từ xưng hô và chọn lựa hành động ngôn từ phù hợp với hành vi lịch sự cần thể hiện

2.1.1 Sử dụng từ xưng hô phù hợp với từng hoàn cảnh và từng giai đoạn của mối quan hệ

Trong Ngữ học trẻ 2000, tác giả Nguyễn Văn Nở đã khái quát về từ xưng hô như

sau: “Từ xưng hô trong tiếng Việt không chỉ dùng để “xưng” và “hô” nhằm thể hiện mối quan hệ giữa các đối tượng khi giao tiếp mà còn là phương tiện biểu đạt tình cảm Giao tiếp không chỉ nhằm thông báo một nội dung nào đó mà nhằm chinh phục tình cảm của người khác Từ xưng hô không chỉ là từ dùng để xưng và gọi người khác mà còn tạo ra

nh p cầu giao cảm giữa đôi bờ tâm hồn Khi xưng hô, ta đã xác đ nh vai vế “thân-sơ, gia đình-xã hội”, và thái độ tình cảm của mình(âm tính-trung tính-dương tính) Đối tượng giao tiếp cũng dễ dàng cảm nhận được điều ấy và sẽ l a chọn từ xưng hô cũng như hành

vi ngôn ngữ thích hợp Th c tiễn giao tiếp cho thấy không phải bao giờ chúng ta cũng dễ dàng xử lý các mối quan hệ trên để chọn từ xưng hô phù hợp nhất Trong ca dao trữ tình,

dù là cách nói tr c tiếp hay ẩn dụ, ví von, vẫn hiện lên hình ảnh hai nhân vật đang bộc bạch nỗi lòng hoặc dò ý trao lời” [dẫn theo 6; 317] Từ nhận định trên, tác giả đã khẳng

định vai trò của từ xưng hô trong giao tiếp giữa người với người và những giá trị tình cảm

từ lối xưng hô mang lại

Trang 35

Hệ thống các từ xưng hô trong ca dao đôi lứa tiếng Việt rất đa dạng, chứa đựng nhiều sắc thái biểu cảm Mỗi cặp từ xưng hô đều tiền giả định một kiểu quan hệ giao tiếp nhất định Trong giai đoạn đầu khi mới gặp nhau, vẫn còn đây quan hệ giữa hai người xa

lạ, ca dao đã giúp họ mở lời để chào hỏi làm quen và tiến gần khoảng cách giữa hai người:

Cô kia cắt cỏ một mình, Cho anh cắt với chung tình làm đôi

Cô còn cắt nữa hay thôi Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng

Nhân vật nam dùng cách gọi là cô trong lời ngỏ ý xin được cắt cỏ chung với cô gái

mình đang gặp đây, điều này thể hiện khoảng cách tình cảm giữa hai người, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng đối phương một cách nhất định Vì đây là giai đoạn mới tìm hiểu nên cách xưng hô có phần giữ khoảng cách như vậy, nhưng cũng không quá xa lạ khi

chàng trai xưng là anh, cô gái cũng sẽ dễ dàng đáp trả hơn trong lời ngỏ ý này Và cùng là

cách tiếp cận làm quen, nhưng trong bài ca dao dưới đây chàng trai lại có cách xưng hô khác:

- Đến đây hỏi bạn một lời, Đường dây mối chỉ, có người nào chưa?

- Anh hỏi thì em xin thưa, Gần xa đã có mà chưa vừa lòng

Sự khéo léo ở đây không chỉ thể hiện ở sự dạm hỏi về đường dây mối chỉ xem cô

gái đã có ai hay chưa, mà còn thể hiện ở cách sử dụng từ xưng hô của chàng trai: bạn Với

bước tiếp cận như thế, từ ngữ xưng hô đã cho chúng ta thấy khoảng cách của đôi trai gái này, mối quan hệ vẫn đang giữ ở mức tình bạn chưa phải tình yêu, đồng thời thể hiện sự tôn trọng của chàng trai dành cho cô gái, khi chưa được sự đồng ý thì chưa dám dùng những từ xưng hô thân mật Tuy nhiên, để đáp lại lời ngỏ của chàng trai, dẫu chưa phải mối quan hệ tình yêu đi chăng nữa thì bằng cách hành xử phải lễ, cô gái vẫn nhẹ nhàng

xưng em, hô anh, đó là những cách ứng xử hết sức tế nhị và lịch sự

Và nhiều hơn hẳn đó chính là lối xưng hô anh – em trong ca dao tình yêu đôi lứa Trong tổng số 100 bài ca dao mà chúng tôi khảo sát thì có đến 60 bài xưng hô anh – em

(chiếm 60%), đây là phương tiện xưng hô được sử dụng phổ biến và dễ tiếp nhận nhất trong ca dao:

Trang 36

Đến đây anh hỏi một lời Đường dây mối chỉ có người nào chưa

- Anh hỏi thì em xin thưa

Xa gần đã có mà chưa vừa lòng

Trong giai đoạn yêu đương như thế, các chàng trai, cô gái vẫn luôn giữ được mối

quan hệ tốt đẹp, cách sử dụng từ xưng hô anh, em cũng đã tạo nên sự thân mật, gần gũi

cho đôi lứa yêu nhau Và để duy trì mối quan hệ, họ đã có những cách xưng hô ngọt ngào

Ở phát ngôn thứ nhất, “thiếp” là lời tự xưng của người con gái, “chàng” là lời hô gọi của người con gái đối với người con trai Qua cách xưng hô “thiếp- chàng” của cô gái,

ta thấy mối quan hệ tình cảm giữa họ là thân thiết khắng khít, giữa họ không còn khoảng cách nào nữa Nàng đã xem mình như một người yêu, người vợ tương lai của chàng Hơn nữa lời hồi đáp của chàng trai đã thể hiện được tình cảm giữa họ là tình yêu chân thành, bởi chân thành thì mới có thể trách nhau phụ bạc, mới mong muốn gắn bó với nhau và mới thề nguyền son sắt, thủy chung Trong hành trình duy trì tình yêu, duy trì mối quan

hệ, những người yêu nhau vốn dĩ họ vẫn luôn có những hành động như thế dành cho nhau

Và bài ca dao dưới đây lại đặc biệt hơn khi có sự chuyển đổi từ xưng hô từ chàng - thiếp sang mình - tôi:

- Bấy lâu chàng đợi thiếp trông, Bây giờ chàng hỏi thiếp nói không sao đành

- Mình nghiêng tai tôi nói nhỏ cho rành,

Trang 37

Theo mình có thác cũng đành dạ tôi

Sự chuyển cách xưng hô “chàng - thiếp, mình - tôi” như vậy là ngầm bày tỏ quan

hệ giữa hai người, cặp từ chàng - thiếp biểu thị một tình cảm nghiêm túc, tha thiết, gắn bó; cặp từ mình - tôi cho thấy quan hệ giữa hai nhân vật đã rất thân thiết nhưng vẫn chưa

phải là quan hệ vợ -chồng Mình – tôi phản ánh mối quan hệ hiện tại của hai người, đã gần như là một nhưng vẫn còn khoảng cách Tuy nhiên, sự chuyển đổi cách xưng hô như thế đã làm cho mối quan hệ được xích lại gần nhau hơn

Xét về các từ xưng hô trong ca dao tình yêu đôi lứa, ta thấy có nhiều cách xưng hô

khác nhau như cô, tôi, bạn, anh, em, qua, bậu, thiếp, chàng, ta, nàng, tùy theo cách lựa

chọn từ xưng hô như thế nào của nhân vật giao tiếp mà sẽ giúp thiết lập và duy trì mối

quan hệ tình cảm của họ Qua đó, cách xưng hô cô, tôi, bạn, bậu, qua,… thể hiện được

phép lịch sự âm tính trong giao tiếp Và phép lịch sự dương tính đã được thể hiện trong

cách xưng hô anh - em, chàng - thiếp, ta - nàng của các đôi nam nữ đối với nhau Cách

xưng hô này đã cho ta thấy được thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe, tình cảm của đôi trai gái yêu nhau được gắn kết hơn và từ đó họ có thể bày tỏ được cảm xúc, nỗi lòng của mình nhằm đạt được mục đích giao tiếp Mở rộng hơn chúng ta thấy người

Việt Nam xưng hô theo nguyên tắc “xưng khiêm hô tôn” tức là gọi mình thì khiêm

nhường, gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính Đó phép lịch sự trong giao tiếp, là chuẩn mực xã hội, nét đẹp văn hoá của con người Việt Nam

2.1.2 Lựa chọn hành động ngôn từ phù hợp với hành vi lịch sự cần thể hiện

Tình yêu đôi lứa là quan hệ tình cảm vô cùng phức tạp với nhiều cung bậc tình cảm khác nhau và trải qua nhiều giai đoạn quan hệ khác nhau Vì thế chiến lược thiết lập

và duy trì mối quan hệ hài hòa trong tình yêu là vô cùng phong phú Trong những lời đối đáp ca dao, chúng ta thấy được tình yêu thật kỳ diệu, nó là sợi dây gắn kết những đôi trai gái mà họ vốn là hai người xa lạ, có thể là quen biết nhưng mới chỉ là quan hệ xóm giềng, bạn bè hay từ những làng, phường gần đó tới chơi, tham gia hát đối đáp Bởi vậy, những

nam nữ thanh niên ấy cần phải thiết lập quan hệ với đối phương để có thể cùng nhau làm

quen, trao đổi tâm tình Trong đó, họ đã lựa chọn và sử dụng những hành động ngôn từ phù hợp với hành vi lịch sự trong giao tiếp Ca dao đã giúp họ có được những cách mở lời hết sức tế nhị với những câu chào hỏi, bắt chuyện, làm quen:

- Bờ cao năng đắp năng cao Gặp nhau năng hỏi, năng chào nên quen

- Đó đây trước lạ sau quen

Trang 38

Chẳng gần qua lại đôi phen cũng gần

Trong những cách chào hỏi như thế này, các chàng trai đã tuân theo những nguyên tắc hội thoại, cụ thể là phương châm quan hệ, luôn muốn nói vào vấn đề, các câu hỏi luôn gắn liền với mục đích giao tiếp của mình:

- Gặp nhau anh muốn tỏ tường, Xin nàng cho biết quê hương nơi nào?

- Chàng hỏi em phải nói ra, Bắc Ninh là tỉnh, huyện nhà không sai

Bên cạnh đó, vấn đề thiết lập mối quan hệ nó không chỉ dành riêng cho các chàng trai mà ngay cả với các cô gái cũng có những lời gợi chào kèm theo hành động ngôn từ với hành vi rất lịch sự:

- Hỏi chàng quê quán nơi đâu

Mà chàng thả lưới buông câu chốn này?

- Quê anh ở phủ Hưng Nguyên, Phù Long là tổng, Liệu Xuyên là làng

Với hành động hỏi trực tiếp nơi chốn, phần lớn các cô gái, chàng trai muốn biết quê quán của nhau, vì cuộc đối đáp thường diễn ra trong ngày hội làng, trai gái nhiều vùng khác nhau kéo đến Điều này phù hợp với tính cách người Việt là trước khi trao gửi tình yêu, người ta cần xác định nguồn gốc và gia cảnh hai bên

Và theo truyền thống văn hóa người Việt xưa, khi tình yêu chưa bén, vai trò chủ động thường thuộc về cánh đàn ông con trai, vậy nên muốn có được mối quan hệ tốt đẹp, chàng trai phải là người mở lời, là người chinh phục Cái cách mà các chàng ướm ý, ngỏ lời cũng hết sức khéo léo, không hỏi thẳng về chuyện hai người mà lại mượn hình ảnh bướm và chậu hoa để gợi với hành vi xin phép lịch sự, tử tế, đàng hoàng, và cũng chính nhờ vậy mà đã có được sự đồng ý của nàng:

- Chiều chiều bướm đậu vườn hoa,

Có cho bướm đậu hay lùa bướm đi?

- Bướm đậu ai dám lùa đi, ườn hoa thêm đẹp, người thì có đôi

Trang 39

Trong bài ca dao dưới đây, chàng trai đã tỏ tình với cô gái bằng cách lấy việc làm rơi khăn và mượn cô gái giặt nước nguồn cho trong:

- Khăn anh đã rớt xuống bàn Mượn em để giặt nước nguồn cho trong

- Nước nguồn nay đục mai trong

Em muốn đi giặt sợ lòng mẹ cha

Chàng trai đã không dùng từ nhờ mà dùng từ mượn để thực hiện hành vi cầu khiến nhờ vả Thật không may là khi dùng từ mượn lại cho thấy lời tỏ tình của chàng vẫn còn

khách sáo thế nên chàng trai nhận được lời từ chối tế nhị muốn đi giặt nhưng lại sợ lòng

mẹ cha Nhưng dù sao thì cái cách lấy cớ làm rơi khăn và tiếp cận cô gái như thế cũng là một chiến lược rất sáng tạo của chàng trai, hành động táo bạo, thông minh, tuy chỉ có điều

là cách dùng từ ở đây còn hơi giữ khoảng cách nên cô gái cũng còn e ngại chưa dám đáp lời Tuy nhiên, đây chính là bước đệm để đạt mục đích giao tiếp hiệu quả hơn cho những cuộc giao tiếp tiếp theo

Để bắt đầu mối quan hệ, các đôi trai gái đã dùng những lời chào hỏi, lời mời gọi, thăm dò, tiếp cận Và khi đã biết nhau rồi, họ vẫn tiếp tục duy trì mối quan hệ ấy bằng nhiều phương thức khác nhau Trong đó, hành động các cô gái đặt ra những câu hỏi đố vui cho một cuộc trò chuyện là một hình thức đặc biệt, vừa nhằm đưa đẩy tình duyên, vừa như cho đối phương một cơ hội được tiến tới gần hơn, vừa tạo nên những thách đố, tạo không khí vui vẻ cho cuộc giao tiếp:

- Lạ lùng bắt gặp chàng đây,

Có mấy câu nầy em đoán chưa ra

Nếu mà anh giảng cho ra, Thì em kết nghĩa giao hòa cùng anh

Cái gì trong trắng ngoài xanh, Cái gì soi tỏ mặt anh mặt nàng, Cái gì xanh đỏ trắng tím vàng, Cái gì ăn phải dạ càng tương tư

Cái gì năm đợi tháng chờ, …….?

Chàng trai cũng đáp trả một cách rất thông minh, nhanh nhẹn và đưa ra ngỏ ý muốn kết nhân duyên cùng nàng:

Trang 40

- Lạ lùng bắt gặp nàng đây Quả bí đao trong trắng ngoài xanh Gương tàu soi tỏ mặt anh mặt nàng Chỉ ngủ sắc xanh đỏ trắng tím vàng Bùa yêu ăn phải dạ càng tương tư Nhân duyên năm đợi tháng chờ …

Anh nay đã giải hết liền, Vậy anh xin kết nhân duyên cùng nàng

Tiến tới một bước tiếp theo, rằng khi tình yêu đã bén rễ, cái quan trọng ở đây là các

chàng trai, cô gái phải có chiến lược giao tiếp như thế nào để giữ gìn, duy trì và phát triển mối quan hệ tốt đẹp ấy Bởi vì khi mới quen nhau, người ta chỉ thường trao cho nhau

những điều ngọt ngào, nhưng trên đoạn đường đi tới hôn nhân không đơn giản chỉ là những tấm thảm trải đầy hoa hồng, mà đó thực chất là cả một quá trình dài với nhiều những khó khăn, thử thách Vậy nên, mỗi người đều cần phải có cách ứng xử khéo léo, linh hoạt tùy từng hoàn cảnh, từng giai đoạn của mối quan hệ Ca dao tình yêu đôi lứa đã

có vô vàn những lời mô tả về giai đoạn tình cảm gắn bó này, những câu thoại đòi hỏi hai người yêu nhau phải thấu hiểu, chung thủy, không thay lòng đổi dạ, những hành động chứng minh cho lòng chung thủy ấy Và hành động đầu tiên nhằm mang lại niềm tin để tiếp tục duy trì mối quan hệ tình yêu đôi lứa nơi đây đó chính là những lời thề nguyền đúng với tình cảm truyền thống xưa:

- E khi thắm lạt vàng phai, Sắc tàn nh mất anh lại bỏ hoài không thương

- Anh thề có bóng trăng đây, Núi kia có lở tấm lòng này vẫn nguyên

Ngày đăng: 01/03/2021, 09:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2, “Ngữ dụng học”, Nxb Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2", “Ngữ dụng học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng, Giáo trình Ngữ dụng học, Nxb Đại học Sư phạm, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngữ dụng học
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
3. Trần Tùng Chinh, Giáo trình ăn học dân gian, Trường Đại học An Giang, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ăn học dân gian
4. Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập 1, Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học, tập 1
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Nguyễn Thị Hồng Nam, Nguyễn Thị Thu Thủy, Ngữ dụng học (dùng cho đào tạo giáo viên đại học trình độ đại học – bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục), Nxb GD Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học (dùng cho đào tạo giáo viên đại học trình độ đại học – bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục)
Nhà XB: Nxb GD Việt Nam
6. Hà Thùy Dương, Nhận thức của người Việt về tình yêu đôi lứa trong kho tàng ca dao, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường, Kỉ yếu hội thảo khoa học, tập 1, Nxb Dân trí, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức của người Việt về tình yêu đôi lứa trong kho tàng ca dao
Nhà XB: Nxb Dân trí
7. Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Ca dao dân ca đẹp và hay, Nxb Trẻ, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca đẹp và hay
Nhà XB: Nxb Trẻ
8. La Mai Thi Gia, Các hình thức đối đáp trong ca dao tình yêu nam nữ, Tạp chí Nguồn sáng dân gian, 2015, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức đối đáp trong ca dao tình yêu nam nữ
9. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb GD Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb GD Việt Nam
11. Hoàng Thúy Hà, Một số cách thức sử dụng nói lời hay trong giao tiếp tiếng iệt, Kỉ yếu hội thảo khoa học, Ngữ học toàn quốc 2015, Diễn đàn học tập và nghiên cứu, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cách thức sử dụng nói lời hay trong giao tiếp tiếng iệt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Nguyễn Thị Hài, Động từ ngữ vi cầu khiến trong ca dao người Việt, Ngôn ngữ và đời sống, 2014, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động từ ngữ vi cầu khiến trong ca dao người Việt
13. Đinh Thị Mỹ Hạnh, Những tranh luận xung quanh một số bài ca dao hay và phương pháp phân tích ca dao, Luận văn Thạc sĩ, trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tranh luận xung quanh một số bài ca dao hay và phương pháp phân tích ca dao
14. Nguyễn Thị Thanh Hằng, Một số phương tiện và biện pháp tu từ trong ca dao Nam Bộ, Luận văn Thạc sĩ, trường ĐH Vinh, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương tiện và biện pháp tu từ trong ca dao Nam Bộ
15. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1, Nxb Khoa học xã hội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
16. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
17. Vũ Thị Bích Hiệp, Chiến lược giao tiếp của người nói tiếng Anh bản ngữ và phi bản ngữ, Ngôn ngữ và đời sống, 2015, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược giao tiếp của người nói tiếng Anh bản ngữ và phi bản ngữ
18. Lương Hinh, Các hình thức cảm ơn trong giao tiếp của người Việt, Ngôn ngữ, 2010, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức cảm ơn trong giao tiếp của người Việt
19. Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), Từ điển ăn học – bộ mới, Nxb Thế giới, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển ăn học – bộ mới
Nhà XB: Nxb Thế giới
20. Vũ Thị Huyền, Chiến lược che giấu tình cảm trong ngôn ngữ của người iệt (có đối chiếu tiếng Anh), Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược che giấu tình cảm trong ngôn ngữ của người iệt (có đối chiếu tiếng Anh)
21. Vũ Thị Thu Hương, Ca dao iệt Nam và những lời bình, Nxb Văn hoá thông tin, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao iệt Nam và những lời bình
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w