1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Bài 5: Quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật

22 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 311,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Bài 5: Quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật bao gồm các kiến thức đặc điểm, cấu trúc của quy phạm pháp luật; phân loại các quy phạm pháp luật; đặc điểm và các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật.

Trang 1

0

Nội dung

 Khái niệm, đặc điểm, phân loại của quy phạm pháp luật

 Cấu trúc của quy phạm pháp luật

 Khái niệm, đặc điểm, phân loại quan

hệ pháp luật

 Cấu thành của quan hệ pháp luật

 Điều kiện làm thay đổi, phát sinh, chấm dứt quan hệ pháp luật

 Nghe giảng và đọc tài liệu để nắm bắt

các nội dung chính

 Làm bài tập và luyện thi trắc nghiệm

theo yêu cầu của từng bài

 Liên hệ và lấy các ví dụ trong thực tế để

minh họa cho nội dung bài học

Thời lượng học

9 tiết

Sau khi học bài này, các bạn cần:

 Trình bày được đặc điểm, cấu trúc của quy phạm pháp luật

 Phân loại được các quy phạm pháp luật

 Trình bày được đặc điểm và các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật

BÀI 5: QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

Trang 2

Cấu thành của pháp luật là các quy phạm pháp luật Các quy phạm pháp luật được coi là tế bào của pháp luật Quy phạm pháp luật này không chỉ điều chỉnh hành vi của mỗi chủ thể đơn lẻ, mà còn điều chỉnh hành vi, xử sự của các chủ thể trong mối quan hệ với nhau tuân theo ý chí của nhà nước Xã hội ngày càng phát triển, quan hệ giữa các chủ thể ngày càng phức tạp, do vậy các quy phạm pháp luật cần phải đáp ứng các điều kiện nhất định để có thể điều chỉnh các quan hệ

xã hội nhằm đạt được các mục tiêu mà nhà nước đặt ra Các quan hệ xã hội được điều chỉnh sẽ tạo nên các quan hệ pháp luật Tuy nhiên, không phải quan hệ xã hội nào cũng là quan hệ pháp luật Để trở thành quan hệ pháp luật, quan hệ xã hội cũng cần phải đáp ứng những điều kiện nhất định Trước khi tìm hiểu về các quan hệ pháp luật (mục 5.2), chúng ta cùng nghiên cứu về quy phạm pháp luật (mục 5.1)

5.1 Quy phạm pháp luật

5.1.1 Khái niệm, đặc điểm của quy phạm pháp luật

 Khái niệm quy phạm pháp luật: Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh hành vi của chủ thể và điều chỉnh các quan hệ xã hội và được nhà nước bảo đảm thực hiện

o Quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc:

 Quy tắc xử sự là những khuôn mẫu, chuẩn mực về xử sự của con người Căn

cứ vào các khuôn mẫu, chuẩn mực này để xác định giới hạn, đánh giá hành vi của con người Nhìn vào các quy tắc này mà có thể xác định được các chủ thể

đã thực hiện đúng hay không đúng pháp luật

 Quy phạm pháp luật là các quy tắc xử sự được hình thành để áp dụng chung cho các quan hệ xã hội cùng loại, nhằm áp dụng cho tất cả các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội này

 Tính bắt buộc của quy phạm pháp luật thể hiện ở điểm các chủ thể có nghĩa

vụ phải thực hiện theo đúng quy tắc xử sự được quy định

Chú ý hoặc nhận xét

Quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật Quan hệ pháp luật nảy sinh, thay đổi hay chấm dứt khi có các sự kiện pháp lý nhất định được xác định bởi các quy phạm pháp luật

o Quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của con người, điều chỉnh các quan hệ xã hội

 Đối tượng mà quy phạm pháp luật hướng tới là hành vi của con người, là các quan hệ xã hội Quan hệ xã hội là các quan hệ hình thành, phát triển trong xã hội, là các quan hệ giữa con người với con người với nhau

 Không phải quan hệ xã hội nào phát sinh trong xã hội đều có quy phạm pháp luật điều chỉnh Quy phạm pháp luật xác định xử sự của các chủ thể, theo đó chủ thể có thể hoặc phải thực hiện trong những quan hệ xã hội mà nhà nước thấy có ích lợi để điều chỉnh, hoặc có thể điều chỉnh

 Quy phạm pháp luật xác định rõ những tổ chức, cá nhân cụ thể trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể sẽ phải chịu sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật chỉ ra các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ

Trang 3

thể khi tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Quy phạm pháp luật cũng quy định cả những biện pháp mà nhà nước sẽ tác động để đảm bảo việc thực hiện các quy phạm pháp luật đó

 Tùy vào từng loại quan hệ pháp luật điều chỉnh mà phân quy phạm pháp luật thành các loại khác nhau

o Quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện

 Chỉ có một số cơ quan nhà nước mới có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận các quy phạm pháp luật Đây là thuộc tính thể hiện sự khác biệt giữa quy phạm pháp luật

và các quy phạm xã hội khác

 Nhà nước ban hành các biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện quy phạm pháp luật Các biện pháp bảo đảm này được phân thành các loại khác nhau theo tính chất, mức độ của hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng

 Đặc điểm của quy phạm pháp luật: Từ khái niệm của quy phạm pháp luật suy ra đặc điểm của pháp luật Đây là những điểm phân biệt quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác

o Quy phạm pháp luật có các đặc điểm sau:

 Quy phạm pháp luật có tính áp dụng chung

 Quy phạm pháp luật có tính bắt buộc

 Quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước

o Tính áp dụng chung thể hiện ở điểm pháp luật áp dụng đến tất cả các chủ thể không phụ thuộc vào thời gian, không gian, chủ thể thực hiện, nếu thuộc các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống mà quy phạm pháp luật dự liệu

 Quy phạm pháp luật không chỉ áp dụng cho một tổ chức, cá nhân cụ thể, cho một quan hệ xã hội cụ thể mà nhằm điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có những đặc điểm, tình huống, điều kiện đã được dự liệu sẵn trong quy phạm pháp luật đó Quy phạm pháp luật thống nhất các điểm chung của các quan hệ thuộc cùng một nhóm để thiết lập ra các quy tắc xử sự có tính chất chung cho tất cả các chủ thể tham gia Ví dụ quan hệ mua bán hàng hóa, quan hệ cung ứng dịch vụ,…

 Tuy nhiên quy phạm pháp luật này chỉ có tính áp dụng chung khi có hiệu lực Thời gian có hiệu lực của quy phạm pháp luật là tương đối dài và chỉ hết hiệu lực khi hết hạn hiệu lực được quy định bởi quy phạm pháp luật đó, hoặc bị hủy bỏ, bãi bỏ, sửa đổi, thay thế bằng quy phạm pháp luật mới trong thời gian có hiệu lực của mình, quy phạm pháp luật có thể tác động nhiều lần đến các chủ thể thuộc đối tượng áp dụng của mình

 Tính áp dụng chung là điểm phân biệt quy phạm pháp luật với một số các quy phạm xã hội khác Quy tắc tôn giáo chỉ áp dụng đối với những chủ thể theo tôn giáo đó Quy tắc nghề nghiệp chỉ áp dụng đối với một số chủ thể nhất định

Trang 4

o Tính bắt buộc thể hiện thể hiện ở việc các chủ thể tham gia quan hệ xã hội mà quy phạm pháp luật điều chỉnh phải thực hiện theo khuôn mẫu hành vi, xử sự mà quy phạm pháp luật quy định Quy phạm pháp luật dự kiến các khuôn mẫu xử sự cho các chủ thể trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định Khi vào hoàn cảnh, điều kiện dự liệu, chủ thể phải thực hiện theo khuôn mẫu đó Nếu chủ thể không thực hiện đúng theo những gì pháp luật buộc phải làm hoặc làm những việc pháp luật không cho phép làm thì sẽ có khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý

Tính bắt buộc tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của quy phạm pháp luật và đáp ứng các điều kiện khác về mặt hiệu lực Ví dụ, quy tắc đó sẽ chỉ có hiệu lực khi không trái với các quy tắc có giá trị pháp lý cao hơn Tính bắt buộc của quy phạm pháp luật đối với chủ thể sẽ xuất hiện khi những điều kiện áp dụng của pháp luật trở thành hiện thực Ví dụ: các chủ thể tham gia vào giao thông thì phải dừng lại khi gặp đèn đỏ

o Tính cưỡng chế thể hiện ở việc quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước

 Trong hoàn cảnh, điều kiện, tình huống mà quy phạm pháp luật dự liệu trước, nếu tổ chức, cá nhân không thực hiện theo khuôn mẫu mà quy phạm pháp luật chỉ dẫn thì nhà nước sẽ sử dụng biện pháp cưỡng chế để buộc họ thực hiện theo đúng Các biện pháp cưỡng chế được dự kiến trước trong các quy phạm pháp luật

 Quy phạm pháp luật được cưỡng chế thực hiện bởi nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các tổ chức xã hội được nhà nước công nhận, bao gồm hệ thống các cơ quan hành pháp nhà nước, các cơ quan tư pháp và các tổ chức xã hội được nhà nước công nhận trao quyền thực hiện cưỡng chế

o Phân biệt với các quy phạm xã hội khác

Quy tắc tôn giáo, quy tắc đạo đức, quy tắc nghề nghiệp, quy tắc của tổ chức xã hội đều không do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, không có tính cưỡng chế nhà nước Sự tác động tương hỗ giữa quy phạm phạm xã hội và quy phạm pháp luật: quy phạm xã hội giúp hình thành quy phạm pháp luật (ví dụ vấn đề đồng tính), quy phạm pháp luật tạo nên quy phạm xã hội (ví dụ vấn đề chống hút thuốc lá)

5.1.2 Cấu trúc của quy phạm pháp luật

Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc của quy phạm pháp luật Dựa vào cách thức thể hiện của quy phạm pháp luật, có các quan điểm sau:

 Quan điểm cho rằng quy phạm pháp luật có ba bộ phận

Giả định, quy định và chế tài

 Quan điểm cho rằng quy phạm pháp luật có hai bộ phận

o Giả định và quy định hoặc Giả định và chế tài

o Phần giả định và phần chỉ dẫn

o Phần quy tắc và phần bảo đảm

Trang 5

o Yêu cầu của phần giả định: Phải được xác lập rõ ràng, chính xác, sát với thực tế,

và dự kiến được tối đa các tình huống có thể xảy ra trong thực tế:

 Tránh tình trạng phần giả định mập mờ, khó hiểu dẫn đến tình trạng không thể hiểu được hoặc hiểu sai lệch nội dung của quy phạm pháp luật

 Tránh tình trạng không có quy phạm pháp luật điều chỉnh ("lỗ hổng" pháp luật) khi chưa dự liệu được hết những tình huống có thể xảy ra

o Một số hình thức biểu hiện của giả định:

Có thể ở dạng đơn giản: nêu một hoàn cảnh, điều kiện Ví dụ: "Giao dịch dân

sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

của các bên kể từ thời điểm xác lập" (Điều 137 Bộ luật dân sự)

Có thể ở dạng phức tạp: nêu nhiều hoàn cảnh, điều kiện Ví dụ: "Trường hợp bên bán không có nghĩa vụ mua bảo hiểm cho hàng hóa trong quá trình vận chuyển, nếu bên mua có yêu cầu thì bên bán phải cung cấp cho bên mua

những thông tin cần thiết liên quan đến hàng hóa và việc vận chuyển hàng hóa

để tạo điều kiện cho bên mua bảo hiểm cho hàng hóa đó" (Khoản 3 Điều 36 Luật Thương mại)

 Có thể ở dạng liệt kê: Ví dụ: "Đại diện theo pháp luật của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây: a) Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục; b) Người được đại diện chết; c) Các trường hợp khác do pháp luật quy định." (Điều 147 Bộ luật dân sự)

 Có thể ở dạng loại trừ: Ví dụ: "Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này và trường hợp doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật." (Điều 18 Luật cạnh tranh)

 Phần chỉ dẫn:

o Phần này nêu lên ý chí, mệnh lệnh của nhà nước hướng tới các chủ thể để giúp chủ thể thực hiện hành vi phù hợp với ý chí của nhà nước Bằng việc hướng dẫn hành vi của chủ thể hoặc quy định những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể hoặc nêu lên tác động của nhà nước có thể áp dụng đối với các chủ thể khi thực hiện hoặc không thực hiện theo khuôn mẫu xử sự đặt ra

 Thông qua phần chỉ dẫn, nhà nước thể hiện ý chí của mình như cho phép chủ thể làm gì, cấm chủ thể làm gì hoặc bắt buộc chủ thể làm gì

 Phần chỉ dẫn cũng giúp các chủ thể biết cách xử sự sao cho phù hợp với ý chí của nhà nước

Trang 6

o Nội dung của phần chỉ dẫn

 Xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể Ví dụ: "Bên có lỗi trong việc hợp

đồng bị đơn phương chấm dứt phải bồi thường thiệt hại." (Điều 426 khoản 4 BLDS); "Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các

bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định" (Điều 426 khoản 1 BLDS)

 Chỉ dẫn về hành vi cho các chủ thể được nêu trong phần giả định: Có thể nêu một cách xử sự mà các chủ thể buộc phải thực hiện, không có sự lựa chọn Ví

dụ: "Đại diện của tổ hợp tác trong các giao dịch dân sự là tổ trưởng do các tổ viên cử ra." (Điều 113 khoản 1 BLDS); Có thể nêu nhiều các xử sự và cho

phép chủ thể lựa chọn cho mình cách xử sự thích hợp Ví dụ: "Giao dịch dân

sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản và bằng hành vi cụ thể" (Điều

124 khoản 1 BLDS); "Giá do các bên thỏa thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên" (Điều 431 khoản 1 đoạn 1 BLDS); Có thể nêu

ra cách xử sự buộc các chủ thể phải tuân theo sau khi đã cho phép tự do thực hiện mà không thực hiện Ví dụ: "Chất lượng của vật mua bán do các bên thỏa thuận Khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định về

chất lượng thì chất lượng của vật mua bán được xác định theo mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của vật cùng loại." (Điều 430 BLDS); "Khi các bên không có thỏa thuận về thời hạn thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay khi nhận tài sản." (Điều 432 khoản 3 BLDS)

 Nêu biện pháp tác động của nhà nước đến các chủ thể ở trong hoàn cảnh, điều kiện được nêu trong phần giả định Các biện pháp tác động của nhà nước: Chế tài, các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ,… Chế tài là các biện pháp cưỡng chế

có liên quan tới trách nhiệm pháp lý để áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Các loại chế tài: hình sự, hành chính, dân sự, kỷ luật Ví dụ về chế tài hình sự: "Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình" (Điều 84 BLHS); Ví dụ về chế tài hành chính: "Phạt tiền đến 5% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm của các doanh nghiệp bị hợp nhất đối với hành

vi hợp nhất bị cấm theo quy định tại Điều 18 của Luật Cạnh tranh." (Điều 26 khoản 1 Luật Cạnh tranh); Ví dụ về chế tài dân sự: "Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ phải bồi thường thiệt hại." (Điều 425 khoản 4 BLDS) Ví dụ

về chế tài kỷ luật: Điều 52 Luật viên chức 2010 quy định các hình thức kỷ luật đối với viên chức: "1 Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tùy theo tính chất, mức

độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau: a) Khiển trách; b) Cảnh báo; c) Cách chức; d) Buộc thôi việc" Đối với các biện pháp khuyến khích về lợi ích vật chất, tinh thần hoặc các lợi ích khác đối với các chủ thể thực hiện đúng pháp luật, ví dụ: "Cán bộ, công chức được khen thưởng do có thành tích xuất sắc hoặc công trạng thì được nâng lương trước thời hạn, được

ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị

có nhu cầu." (Điều 76 khoản 2 Luật Cán bộ công chức); "Cơ quan, tổ chức được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động đã thực hiện cơ chế khoán kinh phí hoạt động hoặc tự chủ tài chính thì được sử dụng số tiền tiết

Trang 7

kiệm chi để phục vụ cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, tăng thu nhập cho người lao động" (Điều 80 khoản 3Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí) Các biện pháp mang tính hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện đối với một số chủ thể nhất định Ví dụ "Tổ chức, cá nhân đầu tư, phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường, được Nhà nước ưu đãi về thuế, hỗ trợ vốn, đất đai để xây dựng cơ sở sản xuất" (Điều 33 khoản 2 Luật bảo vệ môi trường), "Các sản phẩm tái chế từ chất thải, năng lượng thu được từ việc tiêu hủy chất thải, các sản phẩm thay thế nguyên liệu tự nhiên có lợi cho môi trường được Nhà nước trợ giá" (Điều

117 khoản 2 c Luật Bảo vệ môi trường); "Chương trình, dự án bảo vệ môi trường trọng điểm của Nhà nước cần sử dụng vốn lớn được ưu tiên xem xét cho sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức" (Điều 117 khoản 4 Luật Bảo vệ môi trường) Bộ phận chỉ dẫn có thể chỉ liệt kê các biện pháp tác động, hoặc quy định mức thấp nhất hoặc cao nhất của các biện pháp tác động, hoặc liệt kê các biện pháp tác động có thể áp dụng để chủ thể có thẩm quyền lựa chọn áp dụng cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của từng vụ việc

o Yêu cầu của phần chỉ dẫn

 Phải rõ ràng để các chủ thể có thể thực hiện được

 Tránh trường hợp khó hiểu, dẫn đến tình trạng khó thực hiện Ví dụ: Điều 390 khoản 2 BLDS, Điều 392, 393 BLDS,…

 Đối với các biện pháp tác động của nhà nước: Phải rõ ràng, phù hợp và thực hiện được mục tiêu đặt ra cho từng biện pháp Yêu cầu đối với chế tài là phải phù hợp, không được quá nặng hay quá nhẹ so với hành vi vi phạm pháp luật Yêu cầu đối với các biện pháp khuyến khích là phải thực hiện được mục tiêu đặt ra là khuyến khích, động viên, tránh tình trạng biện pháp khuyến khích không khuyến khích được chủ thể thực hiện trong thực tế Yêu cầu đối với các biện pháp mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện là phải thực hiện được mục tiêu đặt

ra là hỗ trợ, tạo điều kiện, tránh tình trạng biện pháp mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện không hỗ trợ, tạo điều kiện cho chủ thể trong thực tế

 Hình thức thể hiện cấu trúc của quy phạm pháp luật

 Nêu giả định và nêu các biện pháp tác động của nhà nước Ví dụ: "Cán bộ, công chức nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại" (Điều 120 Luật Cạnh tranh)

o Tùy theo từng điều luật mà phần giả định và phần chỉ dẫn của quy phạm pháp luật có thể được sắp xếp theo trật tự giả định – chỉ dẫn hoặc chỉ dẫn – giả định hoặc xen kẽ

Trang 8

 Ví dụ cấu trúc giả định – chỉ dẫn: "Trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị"

 Ví dụ cấu trúc chỉ dẫn – giả định: "Cấm doanh nghiệp gây rối hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó" (Điều 44 Luật Cạnh tranh)

o Hình thức thể hiện quy phạm pháp luật là các Điều, các Khoản, các Điểm trong văn bản quy phạm pháp luật

Điều là phương thức chứa đựng và thể hiện nội dung của quy tắc hoặc các quy tắc xử sự Nói một cách khái quát, Điều là sự thể hiện các quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật Trong cấu trúc của Điều, có thể được chia thành các Khoản, các Điểm Ví dụ: Điều 23 khoản 1, điểm a Luật Thương

mại quy định về trường hợp chấm dứt hoạt động của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam khi hết thời hạn hoạt động ghi trong giấy phép

 Một quy phạm pháp luật có thể được trình bày trọn vẹn trong một Điều Khi

đó quy phạm pháp luật trùng với Điều Ví dụ: Điều 10 Luật Thương mại:

"Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại"

Một Điều có thể chứa nhiều quy phạm pháp luật Mỗi Điểm, mỗi Khoản của Điều có thể chứa đựng các quy phạm pháp luật độc lập Ví dụ: Điều 37 Luật

Thương mại về Thời hạn giao hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa: "1 Bên bán phải giao hàng đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng 2 Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua

3 Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng."

 Các bộ phận của quy phạm pháp luật có thể được trình bày đầy đủ trong một

Điều hoặc có thể được viện dẫn tại một Điều, Khoản khác trong cùng văn bản

đó hoặc ở các văn bản quy phạm pháp luật khác Ví dụ: "Cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền áp dụng các biện pháp quy định tại điểm a khoản 1, điểm

b khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 117 và khoản 2 Điều 118 của Luật này" (Điều 119 khoản 2 Luật Cạnh tranh) Ví dụ: "Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô" (Điều

126 khoản 2 Luật các tổ chức tín dụng 2010)

5.1.3 Phân loại quy phạm pháp luật

 Có nhiều cách phân loại quy phạm pháp luật

o Căn cứ vào vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của pháp luật,

có thể phần loại quy phạm pháp luật theo các ngành luật, theo các chế định luật

 Quy phạm pháp luật thuộc các ngành luật: hình sự, hiến pháp, dân sự, hành chính

Trang 9

 Quy phạm pháp luật thuộc các chế định luật: sở hữu, thừa kế, hợp đồng, đại diện,

o Căn cứ vào bộ phận chỉ dẫn của quy phạm pháp luật

 Căn cứ vào sự tác động của các quy phạm pháp luật đến các chủ thể, phân thành: quy phạm pháp luật điều chỉnh và quy phạm pháp luật bảo vệ Quy phạm pháp luật điều chỉnh gồm quy phạm pháp luật cho phép hay quy phạm pháp luật trao quyền, quy phạm pháp luật cấm đoán, quy phạm pháp luật bắt buộc Quy phạm pháp luật bảo vệ là quy phạm xác định các biện pháp cưỡng chế mà nhà nước áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật

 Căn cứ vào bộ phận chỉ dẫn về hành vi: Quy phạm tùy nghi, quy phạm mệnh lệnh, quy phạm trao quyền Quy phạm mệnh lệnh là quy phạm nêu rõ ràng, dứt khoát điều không được làm, hoặc bắt buộc phải làm Do vậy, quy phạm này có thể được chia thành quy phạm ngăn cấm và quy phạm bắt buộc Quy phạm tùy nghi là quy phạm không nêu rõ ràng, dứt khoát cách xử sự nhất định

mà để cho các bên tự thỏa thuận, định đoạt trong phạm vi nào đó Đây là những quy định thường gặp trong pháp luật dân sự và pháp luật kinh doanh Quy phạm trao quyền là trực tiếp xác định quyền hạn của một chức vụ, một

cơ quan nào đó trong bộ máy nhà nước hoặc xác nhận quyền nào đó của công dân, của một tổ chức

 Căn cứ vào bộ phận chỉ dẫn về biện pháp tác động: Quy phạm pháp luật cưỡng chế, quy phạm pháp luật khuyến khích hỗ trợ, tạo điều kiện,…

o Căn cứ vào phạm trù nội dung và hình thức của quy phạm pháp luật

 Quy phạm nội dung: quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể

 Quy phạm hình thức: quy định thủ tục, trình tự thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể

o Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh của quy phạm pháp luật

 Quy phạm xác lập hành vi của con người: đưa ra khuôn mẫu hành vi mang tính chất bắt buộc chung cho các chủ thể

 Quy phạm định nghĩa (là quy phạm xác định những đặc điểm, những thuộc tính cơ bản của sự vật hay hiện tượng hoặc những khái niệm, phạm trù được

sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật), quy phạm tuyên bố hay quy phạm nguyên tắc (nêu các nguyên tắc chính trị, pháp lý làm cơ sở xuất phát và

tư tưởng chỉ đạo trong việc xây dựng và thi hành các quy phạm pháp luật khác, ví dụ các quy phạm pháp luật trong Hiến pháp),

5.2 Quan hệ pháp luật

5.2.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại quan hệ pháp luật

 Khái niệm quan hệ pháp luật

o Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật

 Tất cả các quan hệ xã hội đều được thể hiện thông qua cách xử sự của con người với nhau, vì thế, bằng cách quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các

Trang 10

chủ thể tham gia vào một quan hệ xã hội nhất định, nhà nước có thể tác động lên các quan hệ xã hội, điều chỉnh chúng theo chiều hướng nhà nước mong muốn

 Quan hệ pháp luật gắn liền với tổng thể các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội phát sinh giữa con người với con người trong xã hội Tất cả quá trình phát triển, hội nhập và liên kết giữa con người với con người trong xã hội được diễn ra trong khuôn khổ được pháp luật điều chỉnh

 Không phải quan hệ xã hội nào cũng là quan hệ pháp luật Chỉ những quan hệ

xã hội được pháp luật điều chỉnh thông qua các quy phạm pháp luật mới tạo nên quan hệ pháp luật Cuộc sống càng hiện đại, nhu cầu của con người ngày càng nhiều, các quan hệ xã hội ngày càng phức tạp đòi hỏi càng phải có nhiều thêm các quy tắc, các khuôn mẫu để điều chỉnh hành vi của con người cũng như các quan hệ giữa họ Nếu như trước đây, pháp luật chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội, thì ngày nay pháp luật càng mở rộng phạm vi điều chỉnh của mình đến rất nhiều các quan hệ xã hội quan trọng

 Khi được pháp luật điều chỉnh, quan hệ xã hội được hưởng chế độ pháp lý nhất định, các chủ thể tham gia quan hệ xã hội đó có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định

 Các quan hệ pháp luật có thể coi là hình thức hiện thực hóa các quy phạm pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống, nhằm thực hiện các chức năng của pháp luật Tuy nhiên sự tác động của pháp luật đến các quan hệ xã hội không nhất thiết phụ thuộc vào sự hình thành các quan hệ pháp luật Có những quy phạm pháp luật đã tác động đến các chủ thể, đến xã hội ngay cả khi không có

sự hình thành của quan hệ pháp luật Người ta gọi chúng là các quy phạm pháp luật tự thực hiện Ví dụ các quy phạm pháp luật có nội dung cấm Đối với các quy phạm pháp luật có nội dung cấm, đặc trưng của quy phạm này là bảo vệ và tác động đến các quan hệ xã hội bằng việc loại trừ những hành vi nguy hiểm đối với xã hội, đối với nhà nước Do vậy, việc các chủ thể không thực hiện các hành vi này là thể hiện sự tác động của pháp luật đối với các chủ thể, đối với xã hội Sự xuất hiện của quan hệ pháp luật trong trường hợp này lại là do có hành vi vi phạm pháp luật

o Trên cơ sở quy phạm pháp luật, khi có sự kiện pháp lý xảy ra thì quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh trở thành quan hệ pháp luật với các chủ thể tham gia quan hệ cụ thể, có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định

 Bên cạnh quy phạm pháp luật, sự kiện pháp lý và chủ thể tham gia quan hệ là các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật Phải có sự tham gia của các chủ thể cụ thể thì mới hình thành nên quan hệ pháp luật Các chủ thể này phải là các chủ thể được dự liệu sẵn trong phần giả định của quy phạm pháp luật

 Các quyền và nghĩa vụ pháp lý được quy định rõ trong quy phạm pháp luật Các chủ thể chỉ có thể có được các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ này khi có sự kiện pháp lý

 Quy phạm pháp luật, sự kiện pháp lý và chủ thể tham gia quan hệ pháp luật có mối quan hệ tác động lẫn nhau Tuy nhiên tùy từng ngành luật mà sự tác động qua lại giữa các yếu tố này có sự khác biệt nhau

Trang 11

o Định nghĩa: Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật quy định mối quan hệ tương hỗ giữa các bên chủ thể xác định Thông qua các quan hệ pháp luật, pháp luật được thực hiện trong đời sống xã hội Sự hình thành các quan hệ pháp luật phần nào phản ánh sự phù hợp của các quy phạm pháp luật nói riêng, của pháp luật nói chung đối với thực tiễn cuộc sống

 Đặc điểm của quan hệ pháp luật

o Quan hệ pháp luật hình thành trên cơ sở quy phạm pháp luật

 Đây là đặc điểm phân biệt quan hệ pháp luật với các quan hệ xã hội khác

 Quy phạm pháp luật là nền tảng của quan hệ pháp luật Thiếu quy phạm pháp luật, quan hệ xã hội sẽ không trở thành quy phạm pháp luật

 Quy phạm pháp luật quy định các điều kiện làm phát sinh quan hệ pháp luật

cụ thể, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật đó cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên

o Quan hệ pháp luật thể hiện mối quan hệ của hai loại ý chí: ý chí của Nhà nước và

ý chí của chủ thể

 Bên cạnh ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ, quan hệ pháp luật còn chịu

sự chi phối bởi ý chí của nhà nước Hình thành trên cơ sở quy phạm pháp luật nên quan hệ pháp luật chứa đựng ý chí của nhà nước Quan hệ của các chủ thể, ý chí của các chủ thể phải phù hợp với ý chí của Nhà nước

 Có nhiều quan hệ pháp luật phát sinh, thay đổi, chấm dứt do ý chí của các bên tham gia quan hệ pháp luật trong khuôn khổ ý chí của nhà nước Ví dụ quan

hệ hợp đồng, quan hệ hôn nhân,

 Có những trường hợp quan hệ pháp luật phát sinh, thay đổi, chấm dứt chỉ trên

cơ sở ý chí của nhà nước Ví dụ: quan hệ pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, quan hệ xử phạt hành chính, quan hệ tài chính…

 Mối quan hệ giữa ý chí của chủ thể và ý chí của Nhà nước có thể là quan hệ hợp tác, hòa thuận hoặc quan hệ xung đột (khi ý chí của các chủ thể, hành vi của các chủ thể không tuân theo quy tắc ứng xử được dự liệu trước trong quy phạm pháp luật)

o Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật luôn được xác định và có các quyền và nghĩa

vụ do pháp luật quy định

 Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật có thể là tổ chức hoặc cá nhân

 Để có thể tham gia quan hệ pháp luật, chủ thể phải đáp ứng một số điều kiện nhất định về năng lực chủ thể

 Các chủ thể này luôn có các quyền và nghĩa vụ nhất định, được quy định rõ, tạo nên nội dung của quan hệ pháp luật cụ thể

o Quan hệ pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế của nhà nước

 Các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luôn được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế của nhà nước

 Chủ thể xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác trong một quan

hệ pháp luật cụ thể sẽ bị xử lý theo những biện pháp được dự liệu trước

Ngày đăng: 01/03/2021, 09:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w