Lý do chọn đề tài Hiện nay các tỉnh, thành phố trong cả nước đều có các trường chuyên với chất lượng học sinh đầu vào cao hơn rất nhiều các trường khối không chuyên.. Do đó kết quả thi
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay các tỉnh, thành phố trong cả nước đều có các trường chuyên với chất lượng học sinh đầu vào cao hơn rất nhiều các trường khối không chuyên Nhiệm vụ của các trường chuyên là bồi dưỡng học sinh phát triển năng khiếu tối
đa về một môn học Do đó kết quả thi học sinh giỏi tỉnh, thành phố luôn có sự phân hóa khoảng cách giữa học sinh ở các trường chuyên với các trường không chuyên rất lớn Học sinh các trường không chuyên thường có kết quả thi học sinh giỏi thấp hơn nhiều học sinh các trường chuyên
Ngoài ra đề thi học sinh giỏi hiện nay liên tục được cải tiến, thay đổi, nâng cao mức độ khó nhằm phân hóa và đánh giá học sinh các trường chuyên để chọn đội tuyển thi học sinh giỏi Quốc gia Cho nên phần lớn học sinh các trường không chuyên khi tham gia thi học sinh giỏi thành phố lớp 12 các môn văn hóa thường đạt kết quả không cao, trong đó có môn Sinh học
Để có được học sinh giỏi thì ngoài năng lực, tố chất của học sinh còn có công lao bồi dưỡng của người thầy là điều không thể phủ nhận được Là một giáo viên Sinh học đứng lớp giảng dạy nhiều năm và đã tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi một số năm học tôi đã cảm nhận được điều đó Mỗi môn học điều có đặc thù riêng của nó Môn Sinh học cũng có những khó khăn nhất định trong việc dạy và học
Dạy học và ôn tập như thế nào cho thật sự có hiệu quả? Đó là điều băn khoăn, trăn trở của mỗi giáo viên ôn thi học sinh giỏi Một tiết dạy bình thường trên lớp cần phải chuẩn bị bài kỹ mới có thể dạy tốt và mang lại hiệu quả Nhưng một tiết dạy bồi dưỡng học sinh giỏi cần có yêu cầu cao hơn rất nhiều
Do đó đối với mỗi giáo viên khi tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi luôn phải đề
ra nhiệm vụ: Làm thế nào để học sinh có thể đạt kết quả tốt trong khoảng thời gian ngắn? Làm sao để cho các em phát huy hết năng lực của mình trong bài thi? Làm thế nào để công lao thầy và trò không bị uổng phí? Bằng tất cả mọi nỗ lực của bản thân trong suy nghĩ, tìm tòi, trao đổi, thảo luận với các đồng nghiệp, cùng với việc trải nghiệm thực tiễn công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học qua một số năm, tôi mạnh dạn chia sẻ một số ý kiến, suy nghĩ của mình qua
sáng kiến: “Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi phần kiến thức cấu trúc tế
bào”
2 Thực trạng nghiên cứu
Theo chương trình cải cách giáo dục, đổi mới hình thức thi tuyển sinh Đại học và thi THPT Quốc gia của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm đánh giá năng lực toàn diện của học sinh Từ năm 2006 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thay đổi hình
Trang 2thức thi Đại học nay là thi THPT Quốc Gia từ hình thức thi tự luận sang hình thức thi trắc nghiệm nên đã làm thay đổi cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh
Với hình thức thi trắc nghiệm như hiện nay làm phần lớn các em học sinh ngại không muốn tham gia thi học sinh giỏi vì lý do không biết trình bày trả lời các câu hỏi tự luận Không biết trình bày như thế nào, trình bày từ đâu cho hợp logic Do đó khi các em trình bày bài thi tự luận thường lan man dài dòng, không logic và hay thiếu ý Cho nên các bài thi thường không đạt kết quả cao, làm được nhiều nhưng điểm vẫn thấp
Vì vậy ở đề tài này tôi muốn hướng dẫn cho các em học sinh cách ôn tập, cũng như trình bày các câu hỏi tự luận một cách chính xác và khoa học nhất để các em đạt được kết quả cao trong các bài kiểm tra cũng như trong kỳ thi học sinh giỏi thành phố do Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội tổ chức hàng năm
3 Cơ sở nghiên cứu
3 1 Cơ sở lý luận
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, khó khăn nhưng rất vinh dự Học sinh giỏi là những học sinh có tố chất đặc biệt khác với các học sinh khác về kiến thức, khả năng tư duy Như vậy, tiết dạy bồi dưỡng học sinh giỏi đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn là tiết dạy bình thường trên lớp, thậm chí phải có quá trình tích lũy kinh nghiệm qua thời gian mới có thể đạt hiệu quả và thuyết phục học sinh, làm cho các em thực
sự hứng thú và tin tưởng Đó là yêu cầu của Ban giám hiệu trường và cũng là mục tiêu của người bồi dưỡng
Thi học sinh giỏi có nhiều điểm khác biệt so với việc thi THPT Quốc Gia, yêu cầu học sinh phải có kiến thức vững vàng, hiểu sâu các kiến thức nâng cao
và biết cách vận dụng để giải thích các câu hỏi có tính lý luận khoa học cao Do
đó người giáo viên tham gia bồi dưỡng phải có sự học tập, trao đổi và lòng quyết tâm cao mới có thể đạt được yêu cầu của công việc
3 2 Cơ sở thực tiễn
Thực tế thời gian của một bài thi học sinh giỏi lớp 12 là 180 phút với nội dung chương trình thi lại rất rộng (bao gồm chương trình Sinh học lớp 10 + phần sinh lý thực vật lớp 11 và một phần chương trình lớp 12).Vì vậy đòi hỏi các em cần phải có kiến thức chắc chắn và đầy đủ, điều đó chính là yêu cầu khó khăn nhất cho cả người dạy lẫn người học
Tại trường THPT Tô Hiệu – Thường Tín thành phố Hà Nội đây là một trong số các ngôi trường ngoại thành cách xa trung tâm thành phố nên chất lượng học sinh khi tuyển sinh khá thấp, việc chọn các em học sinh dự thi học
Trang 3sinh giỏi thành phố rất khó khăn Đặc biệt chọn các em học sinh dự thi học sinh giỏi môn Sinh học lại càng khó khăn hơn Ngoài ra thời gian bồi dưỡng của giáo viên không nhiều, chỉ được bồi dưỡng 8 buổi tương đương 24 tiết Với thời lượng ít như vậy thì việc bồi dưỡng đầy đủ kiến thức theo chương trình thi học sinh giỏi Thành phố không phải là điều đơn giản, nên cần phải có phương pháp
ôn tập thật phù hợp
Kết quả khảo sát việc chọn môn đăng ký xét tuyển đại học ở hai lớp 12A1
và 12A2 như sau:
Lớp khảo sát Khối đăng ký xét tuyển Đại học
Khối A Khối B Khối C Khối D Khối khác 12A1
Tỷ lệ % 58,14% 13,95% 0% 25,58% 2,33% 12A2
Tỷ lệ % 45,28% 11,32% 9,43% 22,64% 11,32%
Tỷ lệ % 51,04% 12,5% 5,21% 23,96% 7,29% Kết quả khảo sát 2 em học sinh được chọn thi học sinh giỏi môn sinh học về nguyên nhân không thích thi học sinh giỏi và không biết trình bày logic các câu hỏi tự luận:
Đồng ý Không
2 Quen trình bày ngắn theo kiểu câu hỏi trắc nghiệm 2
3 Biết cách suy luận ngược, suy luận logic 2
4 Ảnh hưởng đến việc học và ôn tập các môn học khác 2
5 Lý thuyết Sinh học quá dài, trừu tượng, khó học, khó
nhớ, khó hiểu
2
7 Lý do khác: 0
Kết quả thống kê trên cho thấy số lượng học sinh đăng ký thi và xét tuyển Đại học ở khối B là rất ít (chiếm 12,5%) Cho nên việc chọn đội tuyển và ôn tập cho các em dự thi học sinh giỏi môn Sinh học là rất khó khăn Ngoài ra tâm lý
sợ lý thuyết và không biết cách trình bày logic cũng là những vấn đề trở ngại đối với học sinh Vì vậy việc nghiên cứu tìm giải pháp để chọn và bồi dưỡng các em tham gia dự thi học sinh giỏi biết cách ôn tập, suy luận và trình bày logic để thi đạt kết quả cao đó chính là mục đích chính của đề tài này
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương I: TỔNG QUAN
1 Mục đích nghiên cứu:
Rèn tính tự học, kỹ năng nghiên cứu tài liệu, kỹ năng phân tích và trình bày các câu hỏi tự luận cho học sinh dự thi học sinh giỏi
Nâng cao nghiệp vụ sư phạm của bản thân
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học nói riêng
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu xây dựng phương pháp ôn tập kiến thức cơ bản, bồi dưỡng thêm kiến thức nâng cao
Giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản và nâng cao của phần cấu trúc tế bào
Vận dụng tốt các kiến thức cơ bản và nâng cao để trả lời các câu hỏi vận dụng
Có kĩ năng trình bày bài thi tự luận logic, ngắn gọn, xúc tích, khoa học
3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh ôn thi học sinh giỏi lớp 12
4 Phương pháp nghiên cứu:
Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu, sách giáo khoa và thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi Sinh học
Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh qua các bài kiểm tra
Thông qua các bài tập có sẵn hoặc đề tự ra để kiểm tra khả năng tư duy lôgic, sáng tạo, trình bày khoa học của học sinh
Xây dựng phương pháp bồi dưỡng kỹ năng tư duy logic, trình bày khoa học bài thi tự luận cho học sinh dự thi học sinh giỏi Thành phố
5 Thời gian thực hiện:
Học kỳ I năm học 2018 - 2019
Trang 5CHƯƠNG II – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I Khái quát về Sinh học tế bào
1 Sơ lược lịch sử phát triển
Năm 1665: Robert Hook là người đầu tiên mô tả tế bào khi ông sử dụng kính hiển vi tự tạo có độ phóng đại 30 lần để quan sát lát mỏng của cây bấc Năm 1674, nhà tự nhiên học người Hà Lan Antonie Van Leuvenhoek đã quan sát các tế bào sống đầu tiên (tế bào máu, tế bào tinh trùng ) và xác định tế bào không phải là xoang rỗng mà có cấu trúc rất phức tạp
Năm 1838, Matias Sleyden khi nghiên cứu các mô thực vật đã đưa ra học thuyết về tế bào: Tất cả các cơ thể thực vật đều được cấu tạo từ tế bào
Năm 1839, Theodor Schwarm cũng cho rằng tất cả các cơ thể động vật được xây dựng từ tế bào
2 Khái quát về tế bào
Tế bào rất đa dạng, dựa vào cấu trúc người ta chia chúng thành hai nhóm:
Tế bào nhân sơ (Prokaryote) và tế bào nhân thực (Eukaryote)
Tất cả các tế bào đều có ba thành phần cấu trúc cơ bản:
- Màng sinh chất bao quanh tế bào: Có chức năng như màng chắn, vận chuyển các chất, thụ cảm…
- Tế bào chất: là chất keo lỏng hoặc keo đặc (bán lỏng) có thành phần là nước, các hợp chất vô cơ, hữu cơ…
- Nhân hoặc vùng nhân: Chứa vật chất di truyền
II Phương pháp ôn tập
1 Công tác chuẩn bị:
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy cần phải có kế hoạch bồi dưỡng cụ thể về từng nội dung ngay từ lớp 10, nhằm giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản tốt hơn Tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, cung cấp tài liệu phục vụ học tập và nhắc nhở các em ôn tập ở nhà
Chủ động phát hiện những em học sinh có tư duy tốt, yêu thích môn Sinh học để có kế hoạch bồi dưỡng riêng cho những em đó ngay từ lớp 10
Do kỳ thi học sinh giỏi Thành phố được tổ chức từ khá sớm (đầu tháng 9 hàng năm) nên từ cuối học kỳ 2 năm học lớp 11, tôi đã chủ động cung cấp tài liệu, hướng dẫn cách học, cách ôn tập cho các em được chọn vào đội tuyển ôn thi học sinh giỏi
2 Phương pháp tiến hành:
Thầy, cô cần hiểu rõ khả năng tự học và tự nghiên cứu của học sinh Hướng dẫn học sinh cách hệ thống hóa kiến thức đã học bằng cách lập bảng so sánh và
sơ đồ tư duy
Trang 6Tạo cho học sinh có cách học chủ động, không gò bó áp đặt và luôn khích
lệ những sáng tạo của học sinh
Ra đề cho học sinh làm trên lớp và giao bài tập về nhà Giáo viên chấm bài, chữa lỗi cho học sinh cẩn thận, đầy đủ đồng thời nêu ra những hạn chế của từng học sinh Giúp các em thấy những lỗi sai của mình để khắc phục
Chọn lọc một số đề thi qua các kỳ thi học sinh giỏi, hướng dẫn học sinh cách tiếp cận đề, hiểu yêu cầu đề ra giúp các em tránh bỡ ngỡ khi gặp các dạng bài mới
Cách phân tích đề thi để hiểu rõ nội dung câu hỏi và xác định đúng những vấn đề cần trả lời:
+ Bước 1: Đọc đề → tìm từ khóa có trong câu hỏi
+ Bước 2: Phân tích từ khóa, kết nối các kiến thức liên quan tới từ khóa + Bước 3: Hoàn thiện câu trả lời từ những phân tích ở bước 2
Ví dụ 1: Loại tế bào nào trong cơ thể động vật có nhiều lizôxôm nhất?
- Bước 1: Xác định từ khóa → lizoxom
- Bước 2: Phân tích từ khóa:
+ Lizoxom là bào quan chứa các enzim thủy phân có chức năng phân hủy các chất hữu cơ, tế bào già, tế bào bị tổn thương
+ Tế bào tham gia phân hủy tế bào bị tổn thương, diệt vi khuẩn là Bạch cầu
- Bước 3: Hoàn thiện câu trả lời:
Loại tế bào trong cơ thể động vật có nhiều lizoxom nhất là bạch cầu
Vì tế bào bạch cầu làm nhiệm vụ tiêu diệt tế bào vi khuẩn, tế bào bị bệnh
và các tế bào già nên phải chứa nhiều Lizoxom nhất
Ví dụ 2: Sử dụng 10 rễ cây khoai môn còn non (có màu trắng), cho 5 rễ cây cho vào nước đun sôi Đem 5 rễ đã đun sôi và 5 rễ còn sống ngâm vào phẩm nhuộm xanh metylen trong 30 phút Rửa sạch mẫu, cắt lát mỏng đưa lên kính quan sát Mẫu nào bị nhuộm màu, mẫu nào không nhuộm màu ? Giải thích?
- Bước 1: Xác định từ khóa → đun sôi rễ cây
- Bước 2: Phân tích từ khóa:
+ Rễ cây khi bị đun sôi trở thành tế bào chết
+ Tế bào chết không có khả năng điều chỉnh tính thấm chọn lọc
- Bước 3: Hoàn thiện câu trả lời:
Mẫu rễ không đun sôi không bị nhuộm màu xanh metylen
Mẫu rễ đun sôi bị nhuộm màu xanh metylen
Giải thích: Vì các tế bào sống có khả năng thấm chọn lọc chỉ cho những chất cần thiết đi qua màng vào trong tế bào chất Do đó các rễ cây bị đun sôi (tế bào chết) mất tính thấm chọn lọc nên thuốc nhuộm có thể đi vào tế bào dễ dàng
Trang 73 Nội dung kiến thức
3.1 Tế bào nhân sơ (Procaryota)
3.1.1 Cấu tạo tế bào nhân sơ:
- Kích thước 1- 5µm, bằng 1/10 tế bào nhân thực
- Có tỷ lệ S/V lớn → Giúp tế bào trao đổi chất với môi trường, sinh sản nhanh
- Không có các bào quan có màng bao bọc
Lông (Ở
một số VK)
Bản chất là protein Giống thụ thể tiếp nhận:
+ Tiếp hợp: trao đổi plasmit giữa các tế bào nhân sơ
+ Bám vào bề mặt tế bào: Một số
vi khuẩn gây bệnh ở người thì lông giúp chúng bám được vào bề mặt tế bào người
Roi (Ở một
số VK)
Bản chất là protein Giúp vi khuẩn di chuyển
Vỏ nhầy (Ở
một số VK)
Bản chất là polysaccarit và polypeptit
- Giúp vi khuẩn tăng sức tự vệ hay bám dính vào các bề mặt, gây bệnh…
- Cung cấp dinh dưỡng khi gặp điều kiện bất lợi
Thành tế bào
peptidoglican
Gồm các chuỗi polysaccarit liên kết bởi pentapeptit hoặc cầu nối gian-peptit phức tạp
- Giữ cho vi khuẩn có hình dạng
ổn định
- Bảo vệ, duy trì áp suất nội bào
- Dựa vào cấu tạo thành tế bào chia vi khuẩn ra làm hai loại →
đề xuất các biện pháp chữa bệnh
Gram dương Gram âm Dày, nhiều lớp
(40 lớp)
Mỏng (1–
2 lớp)
Có Axit teichoic Không có
lipopolysaccarit
Có
Mẫn cảm với lizôzim
Không
Bắt màu tím thuốc nhuộm
Bắt màu
đỏ Mẫn cảm với penixilin cao
Mẫn cảm thấp
Trang 8Mẫn cảm thấp với steptomycin
Mẫn cảm cao
Màng sinh
chất
- Gồm 90% photpholipit kép (có 2 đầu kị nước quay vào nhau) và 10% protein
- Bị phá hủy bởi cồn
- Bảo vệ tế bào, kiểm soát sự vận chuyển các chất ra vào tế bào
- Mang nhiều enzym tham gia tổng hợp ATP, lipit
- Tham gia phân bào
Tế bào chất
(không có
hệ thống nội
màng phân
chia)
- Bào tương: Là một dạng chất keo bán lỏng, chứa nhiều hợp chất hữu cơ và vô
cơ khác nhau
- Chứa các hạt dự trữ: Giọt mỡ (Lipit) và tinh bột
- Riboxom (70S): cấu tạo từ protein, rARN và không có màng bao bọc Riboxom của
vi khuẩn (30S+ 50S)
-Là nơi tổng hợp nên các loại protein của tế bào
Mezoxom Chủ yếu có ở Gram dương,
do màng sinh chất xâm nhập, đâm sâu vào tế bào chất
-Gắn với ADN và có chức năng trong quá trình sao chép ADN và quá trình phân bào
Vùng nhân Không có màng nhân, bộ
máy di truyền là một phân tử ADN dạng vòng không kết hợp với protein histon
-Mang thông tin di truyền quy định các đặc điểm của vi khuẩn
Plasmit Là 1 phân tử ADN dạng
vòng nhỏ ở một số vi khuẩn
- Giúp thích nghi với ngoại cảnh, kháng vi rút, chống nhiệt cao
3.1.2 Câu hỏi vận dụng
Câu 1: Hãy giải thích vì sao vi khuẩn có cấu trúc đơn giản nhưng lại có tốc độ sinh trưởng và sinh sản cao?
Hướng dẫn trả lời:
- Vi khuẩn có cấu trúc đơn giản nhưng lại có ưu điểm:
+ Có hệ enzim nằm trên màng sinh chất hoặc trong tế bào chất, các enzim này có hoạt tính mạnh nên vi khuẩn có khả năng đồng hóa mạnh, chuyển hóa vật chất nhanh
+ Kích thước nhỏ nên S/V lớn giúp khả năng trao đổi chất diễn ra nhanh + Dễ phát sinh biến dị nên khả năng thích nghi với môi trường rất cao
Câu 2: Vì sao một số loại vi khuẩn có khả năng kháng thuốc kháng sinh?
Hướng dẫn trả lời:
- Vi khuẩn có thể kháng lại thuốc kháng sinh là do gen kháng thuốc trong tế bào
Trang 9- Vi khuẩn có được gen kháng thuốc là do:
+ Đột biến gen dễ xảy ra (vì vi khuẩn là sinh vật đơn gen, vật chất di truyền ít)
+ Lai tạo gen giữa các dòng vi khuẩn
+ Hiện tượng chuyển gen giữa các dòng vi khuẩn
Câu 3 Vì sao màng nhầy của vi khuẩn gây bệnh lại liên quan đến tính kháng nguyên?
Hướng dẫn trả lời:
Màng nhầy của vi khuẩn có tính kháng nguyên vì:
- Màng nhầy được cấu tạo từ polysaccarit và lipoprotein có tác dụng tăng cường độc lực với tế bào vi khuẩn
- Màng nhầy có vai trò hạn chế khả năng thực bào
Câu 4 Vì sao có nhiều loại vi khuẩn có thể sống ở những nơi có điều kiện khắc nghiệt (Bắc cực hoặc Nam cực)?
Hướng dẫn trả lời:
Các loại vi khuẩn có thể sống ở những nơi có điều kiện sống lạnh như Bắc Cực hoặc Nam cực là vì:
- Thành phần cấu trúc của các loại vi khuẩn này gồm các enzim và protein
có thể hoạt động ở nhiệt độ rất thấp
- Màng tế bào được cấu tạo từ các axit béo không no luôn đảm bảo độ linh hoạt (trạng thái lỏng không bị đông cứng của màng) giúp vi khuẩn trao đổi chất bình thường khi ở nhiệt độ thấp
3.2 Tế bào nhân thực (Eucaryota)
3.2.1 Cấu trúc tế bào nhân thực
- Kích thước tế bào lớn gấp 10 lần tế bào nhân sơ
- Cấu trúc phức tạp, tế bào chất được phân chia thành các xoang riêng biệt
- Đã có nhân hoàn chỉnh, các bào quan có màng bao bọc
Nhân tế bào - Màng nhân:
+Gồm 2 lớp màng dày 6 – 9 nm
Màng ngoài nối với lưới nội chất hạt,
có nhiều lỗ nhân (đường kính từ 50 – 80nm)
Lỗ trên màng nhân được gắn liền với nhiều phân
tử protein cho phép các phân tử nhất định đi vào hay đi ra khỏi nhân -Chất nhiễm sắc: Gồm một phân tử
ADN cuộn quanh các phân tử protein histon
- Có số lượng đặc trưng cho loài
- Mang thông tin di truyền, điều khiển mọi hoạt động của tế bào
Trang 10- Nhân con (hạch nhân): Là một hay vài thể hình cầu bắt màu đậm hơn so với phần còn lại của chất nhiễm sắc
- Cấu tạo hoá học: Gồm ADN hạch nhân, protein, rARN và enzim ARN
- polymeraza
-Tổng hợp ARN, đóng gói, tích lũy riboxom, điều chỉnh quá trình phân bào và sự di chuyển của mARN ra tế bào chất
Riboxom -Là bào quan nhỏ không có màng
bao bọc, kích thước từ 15 – 25nm, gồm một tiểu phần lớn (60S) và một tiểu phần bé (40S)
- Số lượng: hàng triệu riboxom
- Cấu trúc: gồm rARN và protein
Riboxom là nơi tổng hợp protein cho tế bào
Khung
xương tế bào
-Gồm các sợi và ống protein (vi ống,
vi sợi, sợi trung gian) đan chéo nhau nâng đỡ tế bào
+ Vi ống: Ống rỗng hình trụ dài, đường kính 25nm, cấu tạo từ protein tubulin
+ Vi sợi: Đường kính 7nm, gồm 2 sợi nhỏ protein actin xoắn vào nhau
+ Sợi trung gian: Đường kính 10nm, nằm giữa vi ống và vi sợi, gồm nhiều sợi nhỏ được cấu tạo bởi các tiểu đơn
vị protein dạng sợi xoắn với nhau
- Giá đỡ cơ học cho tế bào→ Duy trì hình dạng
- Neo giữ các bào quan
- Giúp tế bào vận động (trùng amip, trùng roi xanh, bạch cầu)
- Các vi ống tạo nên thoi
vô sắc Các vi ống và vi sợi là thành phần cấu tạo nên roi của tế bào Các sợi trung gian là thành phần bền nhất của khung xương tế bào
Trung thể
(chỉ có ở tế
bào động
vật)
- Gồm hai trung tử xếp thẳng góc với nhau theo trục dọc
- Mỗi trung tử là một ống hình trụ, rỗng, dài, đường kính khoảng 0,13µm, gồm 9 bộ ba vi ống xếp thành vòng
-Tạo ra các vi ống hình thành nên thoi vô sắc trong quá trình phân chia
tế bào
Ti thể - Bao bọc bởi hai lớp màng:
+ Màng ngoài: trơn nhẵn
+ Màng trong: gấp nếp → các mào
ăn sâu vào khoang ti thể Trên mào
có nhiều loại enzym hô hấp
- Bên trong: Chứa nhiều protein và
- Là nơi tổng hợp ATP, cung cấp cho mọi hoạt động sống của tế bào
- Ngoài ra, ti thể còn tạo
ra nhiều sản phẩm trung gian có vai trò quan