Đối tƣợng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề người Mỹ da đen trong các tiểu thuyết: Túp lều bác Tom của Beecher-Stowe, Cuốn theo chiều gió của Mitchell, và Bài ca Solomon
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 4
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 7
2.1 Mục đích nghiên cứu 7
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
4 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
4.1 Cơ sở lý thuyết 9
4.2 Phương pháp nghiên cứu 13
5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN 15
6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 16
6.1 Ý nghĩa lý luận 16
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 16
7 CẤU TRÚC LUẬN ÁN 16
Chương 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 17
1.1 Nghiên cứu vấn đề phân biệt chủng tộc 19
1.1.1 Về Harriet Beecher-Stowe và tiểu thuyết Túp lều bác Tom 20
1.1.2 Về Margaret Mitchell và tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió 23
1.1.3 Về Toni Morrison và tiểu thuyết Bài ca Solomon 25
1.2 Nghiên cứu vấn đề thân phận người Mỹ da đen 28
1.2.1 Về tiểu thuyết Túp lều bác Tom 28
1.2.2 Về tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió 31
1.2.3 Về tiểu thuyết Bài ca Solomon 33
Trang 21.3 Nghiên cứu vấn đề tương lai người Mỹ da đen 35
1.3.1 Về tiểu thuyết Túp lều bác Tom 35
1.3.2 Về tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió 38
1.3.3 Về tiểu thuyết Bài ca Solomon 40
Chương 2 - VẤN ĐỀ PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC 44
2.1 Túp lều bác Tom: Xung đột giữa hiện thực và lý tưởng 46
2.1.1 Túp lều bác Tom và hiện thực nước Mỹ giữa thế kỷ XIX 46
2.1.2 Túp lều bác Tom và lý tưởng tôn giáo 49
2.1.3 Xung đột trong cảm quan của Harriet Beecher-Stowe 54
2.2 Cuốn theo chiều gió: Xung đột giữa quá khứ và hiện tại 56
2.2.1 Thấu kính hoài niệm 56
2.2.2 Thời đại tuyệt vọng 58
2.2.3 Đất và miền Nam 63
2.3 Tiểu thuyết của Toni Morrison: xung đột vùng miền và xung đột văn hóa 68
2.3.1 Miền Bắc và miền Nam 68
2.3.2 Châu Phi và Phương Tây 75
Chương 3 - THÂN PHẬN NGƯỜI MỸ DA ĐEN 81
3.1 Túp lều bác Tom: những thân phận Nô lệ và Con người 81
3.1.1 Người nô lệ trước pháp luật da trắng 82
3.1.2 Con người công bằng trong tình yêu của Chúa 87
3.2 Cuốn theo chiều gió: câu chuyện về kẻ đầy tớ trung thành 91
3.2.1 The Black Mammy và The Black Daddy 93
3.2.2 “Sứ mệnh” của người da trắng đối với người da đen 104
3.3 Bài ca Solomon: Cái tôi lưỡng phân 108
3.3.1 Cái tên và cái tôi 108
3.3.2 Người da đen và giấc mơ Mỹ 112
Trang 3Chương 4 - TƯƠNG LAI NGƯỜI MỸ DA ĐEN 119
4.1 Túp lều bác Tom và những con đường cho người da đen 119
4.1.1 Cái chết giải thoát của bác Tom 119
4.1.2 Bước nhảy Eliza và biểu tượng Tự do 123
4.2 Cuốn theo chiều gió và hoài vọng “Ngày mai là một ngày khác” 127
4.3 Bài ca Solomon và hành trình truy tìm bản thể 134
4.3.1 Bản sắc của người da đen 134
4.3.2 Hòa hợp với tự nhiên trong nữ tính Vĩnh hằng 139
KẾT LUẬN 147
CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Cuối thế kỷ XIX con người đánh mất niềm tin khởi thủy (Chúa đã chết)
để giành lấy vương quyền (siêu nhân), nhưng mỉa mai thay, bằng chính ánh sáng của lý trí - niềm kiêu hãnh của con người đầu thế kỷ XX, đến cuối thế kỷ, lại nhận
ra rằng, chúng ta đã ít nhiều thất bại, bởi đã bỏ quên sức mạnh xung lực của tư duy phi lý luận, của tiềm thức, vô thức Và ở đó xảy ra một cuộc đoạn tuyệt vĩ đại giữa cái xác định và cái bất định Thế giới bao trùm một bầu sinh quyển mới: cảm quan hậu hiện đại Trong cảm quan ấy, nghệ thuật cũng mở ra cho chúng ta những hoài nghi, như nhà điêu khắc Ấn Độ, Anish Kapoor (sinh năm 1954), băn khoăn: công trình nghệ thuật nằm trên một khối đá hay trong bộ não người nghệ sĩ, hay trong mắt người xem, hoặc trong không gian giữa những thứ đó? Cũng như trong hoạt động văn học, đã không ít lần chúng ta đi tìm cội nguồn ý nghĩa đích thực cho một văn bản; phải chăng, chính trong hành động tham cuộc của sự chiêm ngưỡng, sự thưởng thức, nghệ thuật mới ra đời? Những hoài nghi nghệ thuật được khơi mở trong bầu sinh quyển của thời đại, nghiên cứu từ cảm quan nghệ thuật, chúng tôi mong sẽ đưa ra một cách hiểu về bản chất của nghệ thuật
1.2 Cho đến hôm nay, vấn đề sắc tộc vẫn là vấn đề thời sự, không chỉ ở nước
Mỹ, mà còn ở khắp nơi trên thế giới Trải qua mấy trăm năm từ khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được thành lập năm 1776, lịch sử trên đất nước đa chủng tộc này đã tiến những bước dài về phía tự do, dân chủ, xóa bỏ chế độ phân biệt màu da, nhất là đối với dòng máu da đen đến từ lục địa châu Phi, song các hệ quả dai dẳng của nó vẫn luôn căng thẳng và bùng phát Là một quốc gia đa chủng tộc, tuy nhiên, nếu các chủng tộc khác đến Mỹ là để thực hiện giấc mơ về sự giàu sang và công bằng thì người da đen bị lưu đày đến đây với tư cách là người nô lệ Dù được khắc họa hay
tự thuật, người Mỹ da đen luôn hiện diện khác biệt và bị đối xử bất công, ngay trong cộng đồng luôn tôn vinh sự bình đẳng
1.3 Luận án lựa chọn góc nhìn từ “cảm quan nghệ thuật” (artistic feeling) của
các nhà văn nữ như một thử nghiệm về cơ duyên cộng hưởng giữa người nghiên cứu
Trang 5và đối tượng nghiên cứu Hẳn nhà triết học tôn giáo người Nga, Nikolai Berdyaev (1874-1948), đã có lý khi cho rằng: “Người phụ nữ liên hệ mật thiết hơn đàn ông với linh hồn của thế giới, với sức mạnh tự nhiên nguyên sơ và chính qua phụ nữ mà đàn ông cộng thông được với những sức mạnh ấy” [10; tr.707] Nhà phân tâm học lừng danh, người Thụy sĩ Carl Jung (1875-1961) khẳng định thêm: “Tính nữ hiện thân cho những tâm trạng mơ hồ, những trực giác tiên đoán, tính nhạy cảm về sự phi
lý, năng lực tình yêu cá nhân, tình cảm đối với thiên nhiên, những mối liên hệ đối với vô thức” [10; tr.708] Lựa chọn cảm quan nữ, lối viết nữ cũng là phóng chiếu nội giới để đi tìm chân lý, những vấn đề nhân bản và nhân văn trong thời đại bình đẳng, bình quyền, đặc biệt là thân phận của người phụ nữ da đen, để thấy được ánh sáng trong lời “tiên tri” của nhà văn Pháp, Louis Aragon (1897-1982): “Phụ nữ là tương lai của loài người” Các nhà văn nữ nhìn nhận những vấn đề nhân sinh, bản thể như thế nào qua số phận người Mỹ da đen?
1.4 Chúng tôi chọn khảo sát ba nữ văn sĩ tiêu biểu cho những thời đại,
những tài năng và phong cách hoàn toàn khác nhau, nhưng lại rất gần gũi với nhau, như một cách xây dựng lại lịch sử vấn đề người da đen qua cảm quan nghệ thuật của
họ, đồng thời làm sáng tỏ được phần nào bước tiến của nghệ thuật tiểu thuyết qua mấy trăm năm của lịch sử Hoa Kỳ từ giữa thế kỷ XIX cho đến nay
Cuộc hành trình khởi đầu từ Harriet Beecher-Stowe (1811-1896), sinh ra chỉ
35 năm sau khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được thành lập (năm 1776) và cuộc đời gần như ôm trọn thế kỷ XIX; bước sang nửa đầu thế kỷ XX, với Margaret Mitchell (1900-1949); như một sự trở về và cũng là mở ra những hành trình mới, với Toni Morrison (sinh năm 1931), thời hiện đại Hai người phụ nữ da trắng (Beecher-Stowe
và Mitchell) và một người phụ nữ da đen (Morrison), vì vậy, hình ảnh người da đen trở nên đa dạng hơn từ cái nhìn bên ngoài và bên trong Chính do bản sắc chủng tộc của Morrison mà điểm nhìn của bà đã mở ra không chỉ những cánh cửa nhân sinh trong cuộc truy tìm bản ngã mà còn là ở một kiểu nghệ thuật giàu màu sắc huyền thoại
Ba nữ văn sĩ ấy đều là những nhà văn nổi tiếng ở thời đại của mình
Beecher-Stowe, với tác phẩm nổi bật Túp lều bác Tom (Uncle Tom‟s Cabin), xuất bản trước
Trang 6thời kỳ cuộc Nội chiến Nam-Bắc (1861-1865) giữa các bang miền Nam duy trì chế
độ phân biệt chủng tộc và các bang miền Bắc chủ trương giải phóng người da đen, được Tổng thống Abraham Lincoln (1809-1865) đánh giá là tác phẩm làm bùng lên cuộc chiến tranh vĩ đại xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ Cuốn tiểu thuyết duy nhất của
Mitchell nổi tiếng thế giới và được trao Giải thưởng Pulitzer năm 1937: Cuốn theo chiều gió (Gone with the Wind), sáng tác vào nửa đầu thế kỷ XX nhưng lấy bối
cảnh là cuộc Nội chiến Nam-Bắc ấy Morrison, với sự nghiệp văn học lớn lao, mang tính nhân văn sâu sắc, đã được trao Giải Nobel năm 1993
Đến nay, Morrison đã xuất bản mười một cuốn tiểu thuyết, tất cả chúng như một cuốn hồi ký ghi lại hành trình của người da đen trên đất Mỹ Nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết của bà là người da đen nhưng nằm trong trường tương tác với người da trắng, và mỗi tác phẩm của bà là một nỗ lực đấu tranh để tách văn hóa Mỹ gốc Phi vượt thoát sự phong tỏa của văn hóa Âu châu Tiểu thuyết của Morrison như một quá trình giải cấu trúc bản sắc con người cho nên thu hút không chỉ người
da đen mà còn hấp dẫn đối với người da trắng ở mối quan hệ giữa con người với
con người Trong luận án này, chúng tôi tập trung vào Bài ca Solomon (Song of
Solomon), tác phẩm kết tinh bản sắc của người da đen và chạm đến vấn đề bản thể của con người và quan trọng hơn, Morrison đã thể hiện quan điểm về con đường tương lai của người Mỹ da đen, họ vươn lên tự khẳng định mình bằng sức mạnh của cội nguồn văn hóa
Beecher-Stowe, Mitchell và Morrison là những nhà văn nữ xuất sắc của thời đại, không bằng lòng với phận nữ nhi, đã tham gia góp phần làm thay đổi lịch sử
Nghiên cứu vấn đề người Mỹ da đen trong các tác phẩm Túp lều bác Tom, Cuốn theo chiều gió và Bài ca Solomon không chỉ cho thấy sự vận động hình ảnh người
da đen trong suốt chiều dài lịch sử (văn học) mà còn theo chiều rộng không gian văn hóa (miền Bắc, miền Nam và sự giao thoa hai miền Bắc - Nam)
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Người Mỹ da đen trong cảm quan nghệ thuật của các nữ văn sĩ Mỹ
Trang 72 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là chỉ ra hình ảnh, thân phận người da đen trong cảm quan nghệ thuật của Harriet Beecher-Stowe, Margaret Mitchell, và Toni Morrison gắn với những tác phẩm tiêu biểu của họ Đây là yếu tố cốt lõi cho thấy thế giới ý thức lẫn vô thức trong tư tưởng của mỗi nhà văn, hiện diện trong bề sâu văn bản nghệ thuật Từ đó, luận án vừa chỉ ra sự vận động của hình ảnh người da đen trong lịch sử văn học Mỹ, vừa nêu bật sự khác biệt trong tư tưởng nghệ thuật của mỗi nhà văn gắn với thời đại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận án hướng đến thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tìm hiểu, phân tích, lý giải thái độ của mỗi nhà văn về vấn đề phân biệt chủng tộc, trên nền tảng tư tưởng của lịch sử và thời đại
- Khảo sát những biểu hiện cụ thể trong cảm quan của các nữ văn sĩ về vấn
đề thân phận người da đen được thể hiện trong tác phẩm của họ So sánh và lý giải những biểu hiện giống và khác nhau trong cảm quan của các nữ văn sĩ ấy
- Khảo sát và phân tích các biểu tượng, huyền thoại, mô-típ trong tác phẩm của các nữ văn sĩ để làm rõ vấn đề tương lai của người da đen Lý giải vì sao mỗi nhà văn lại có dự cảm như vậy
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề người Mỹ da đen trong các tiểu
thuyết: Túp lều bác Tom của Beecher-Stowe, Cuốn theo chiều gió của Mitchell,
và Bài ca Solomon của Morrison, từ góc độ cảm quan nghệ thuật
Luận án lựa chọn Bài ca Solomon, trong số mười một tác phẩm đã xuất bản
của Morrison, không chỉ vì đây là một trong số những tác phẩm thành công xuất sắc nhất của Morrison mà còn chứa đựng nhiều yếu tố tâm thức huyền thoại của người Mỹ gốc Phi, phù hợp với cách tiếp nhận từ góc nhìn cảm quan nghệ thuật
Trang 8Hơn nữa, chúng tôi muốn chỉ ra sự vận động hình ảnh người da đen, và cái
nhìn của nữ tiểu thuyết gia trong ba tác phẩm, từ giữa thế kỷ XIX (Túp lều bác Tom, 1852) qua nửa đầu thế kỷ XX (Cuốn theo chiều gió, 1936) đến cuối thế kỷ
XX (Bài ca Solomon, 1977), trong đó thời gian cốt truyện của Bài ca Solomon đã
ôm trọn lịch sử của người da đen trên đất Mỹ
Trong số ba tác phẩm trên thì Túp lều bác Tom và Cuốn theo chiều gió đã được dịch ra tiếng Việt Luận án sử dụng nguyên bản tiếng Anh Uncle Tom’s Cabin (Literature Project, http://literatureproject.com/uncle-toms-
cabin/index.htm) và Gone with the Wind (The University of Adelaide Library,
South Australia, https://ebooks.adelaide.edu.au), song có đối chiếu tương quan
với các bản dịch Túp lều bác Tom của Đỗ Đức Hiểu (2 tập, in năm 2013, Nxb Văn học, Tp Hồ Chí Minh) và Cuốn theo chiều gió của Vũ Kim Thư (in năm
2010, Nxb Văn học, Hà Nội) Với tiểu thuyết Bài ca Solomon của Morrison,
chúng tôi sử dụng bản in của Vintage Books, Random House, New York (2004) Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ cố gắng mở rộng phạm vi để liên
hệ, so sánh với các tác phẩm khác của Toni Morrison và nhiều nhà văn khác viết
về người Mỹ da đen
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề người Mỹ da đen qua cảm quan nghệ thuật của các nữ văn sĩ trong các tác phẩm trên là hoạt động nghiên cứu cách nhìn và cách họ cấu trúc hóa tác phẩm từ cách nhìn ấy Tuy nhiên, hành động của chúng tôi không phải là thao tác sơ đồ hóa tác phẩm mà nhằm tìm ra những ẩn dụ, mô-típ, biểu tượng huyền thoại, vô thức tập thể… như những điểm hút (attractor), để từ đó có thể thăm dò cảm quan sáng tạo của các nữ văn sĩ
Cụ thể, chúng tôi nhìn thấy lịch sử thân phận của người da đen trong cảm quan của ba nữ văn sĩ, vì vậy, luận án sẽ đi sâu nghiên cứu quan niệm của họ về vấn đề phân biệt chủng tộc, về thân phận của người da đen, và người Mỹ da đen định hướng tương lai như thế nào
Trang 94 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Cơ sở lý thuyết
Cảm quan (Feeling)
Hằng ngày chúng ta vẫn thường nghe và nói: cảm quan đời sống, cảm quan
đô thị, cảm quan tôn giáo, cảm quan nghệ thuật, cảm quan hậu hiện đại, nghĩa
là từ cảm quan trở thành cụm từ cửa miệng nhưng để hiểu rõ nội hàm thuật ngữ thì không đơn giản
1 Về phương diện ngôn ngữ học, theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê viết
rất ngắn gọn, “cảm quan: giác quan” [48; tr.194]; “giác quan: bộ phận của cơ thể chuyên tiếp nhận những kích thích từ bên ngoài (cơ quan để cảm giác)” [48; tr.408] Theo cách diễn đạt này, nghĩa của từ “cảm quan” thiên về vai trò của yếu
tố khách quan, lý trí, nhấn mạnh sự tác động của bên ngoài đến quá trình nhận thức Còn từ phía chủ thể nhận thức, bản ngã giữ vai trò gì trong việc kinh qua những kinh nghiệm ấy, và ký ức của chủng loại, của cá nhân có tham dự vào sự vận động, trưởng thành của vũ trụ cái Tôi nội tại?
“Cảm quan” có những từ tương đương trong tiếng Pháp (Sens), tiếng Anh (Sense, Feeling); ở luận án này, chúng tôi nghiêng về dùng từ “feeling” cho nhất
quán Theo Bách khoa toàn thư Britannica (Encyclopedia Britannica): “feeling” vừa mang ý nghĩa như “cảm quan” như trong Từ điển tiếng Việt đã nói trên kia,
vừa khái quát hóa: “thu nhận thông tin qua tất cả các giác quan nhưng chẳng quy chiếu vào bất cứ giác quan đặc biệt nào…” và William James khẳng định thêm
“cảm quan là cơ sở nội tại làm thay đổi cảm xúc và nhận thức về cảm xúc” [99] Như vậy, “cảm quan” là nhận thức tổng hợp các giác quan (chính là các trạng thái cơ bản tạo nên ý thức), đồng thời sự nhận thức ấy cộng hưởng với chiều sâu bừng ngộ của chủ thể tạo nên sự thay đổi cảm xúc nội tại, “cảm quan” trở thành cầu nối giữa ý thức với tiềm thức, vô thức, giữa bản năng và lý trí
Ở nước ta, trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, từ “cảm quan” có thể khó phân biệt rạch ròi với “cảm nhận”, “cảm thức”, tuy nhiên nội hàm nghĩa
là khác nhau Theo chúng tôi, “cảm nhận” là nhận thức vấn đề chỉ ở mức độ cảm
Trang 10tính, “cảm quan” và “cảm thức” là nhận thức ở cấp độ cao hơn, sâu hơn bao gồm
cả cảm tính, lý tính lẫn chiều sâu vô thức của chủ thể Nếu nội hàm từ “cảm thức” thiên về chiều sâu tinh tế, ở khả năng thức nhận thì nội hàm từ “cảm quan” lại nghiêng về sự bao quát vấn đề một cách tổng quát, toàn cục, vì vậy từ “cảm thức” luôn đi kèm với hạn định từ, (ví như cảm thức sabi, cảm thức wabi… trong thơ Haiku), nhưng từ “cảm quan” lại ít cần đến từ hạn định
Từ “cảm quan” (feeling) cũng được sử dụng khá nhiều ở các lĩnh vực triết học, tâm lý học, lý thuyết thẩm mỹ, nhưng nó đặc biệt xuất hiện dày đặc khi nói
về những vấn đề thuộc về tinh thần, phi hình thức, phi vật chất Albert Einstein
(1879-1955) cho rằng: “Cảm quan tôn giáo mênh mông là lý lẽ bền vững nhất và cao quý nhất cho việc nghiên cứu khoa học” Cách hiểu về “cảm quan” như vậy
gặp sự đồng thuận với các công trình Cảm quan tôn giáo và Chân lý (Religious
Feeling and Truth) của nhà giáo dục Mỹ Grant H Palmer (sinh năm 1940) hay
Tôn giáo như là Cảm quan (Religion as Feeling) của nhà thần học Đức F
Schleiermachen (1768-1834)
2 Về phương diện triết học, “cảm quan” như là chỉ dẫn cho câu đố triết
học từ thời cổ đại Xa xưa, người Hy Lạp đã tự vấn: thế giới được tạo bởi cái gì, bằng cách nào và làm sao để biết được điều đó Thông qua suy xét và thực nghiệm, họ đã đạt tới một nền tảng hiểu biết, mà trên đó toàn bộ hiện thực được khám phá Hai đường ray dẫn đoàn tàu triết học của nhân loại là chủ nghĩa duy lý
và chủ nghĩa kinh nghiệm Chủ nghĩa duy lý xem “tiêu chuẩn về chân lý không
có tính giác quan mà có tính trí tuệ và suy diễn lôgic” Các nhà duy lý quan niệm cực đoan rằng: “lý tính là con đường duy nhất tới tri thức” Ngược lại, chủ nghĩa kinh nghiệm lại tuyệt đối vai trò của sự trải nghiệm Theo họ, bản chất sự vật là
do trực giác mang lại, vì vậy triết gia cổ đại Hy Lạp, Socrate (469-399 TCN), khuyên “hãy tự biết mình”, còn nhà thần học Augustine (345-430) cho rằng, chân lý nằm trong nội tâm con người, nhà triết học Ireland, G Berkeley (1685- 1753), và D Hume (1711-1776), triết gia xứ Scotland, xem “cảm giác là nguồn gốc tuyệt đối của mọi nhận thức” [69; tr.114]; nhà văn Pháp, Luc de Vauvenargues (1715-1747), tuyên xưng “cảm xúc dạy cho nhân loại biết lý
Trang 11luận” Khi chủ nghĩa lãng mạn lên ngôi, coi trọng đời sống tinh thần cá nhân, Jean Jacques Rousseau (1712-1778) đã khẳng định: “Tồn tại đối với chúng ta, đó
là cảm nhận; sự cảm nhận của chúng ta rõ ràng là có trước sự hiểu biết và chúng
ta có cảm xúc trước khi có ý tưởng” [Dẫn theo 37; tr.12] Như một hành động tổng kết lại lịch sử con đường nhận thức của nhân loại, với quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, xem nhận thức là quá trình con người phản ánh thế giới, V.I Lenin (1870-1924) khẳng định “Hoạt động nhận thức của con người đi
từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Tuy nhiên, trong kỷ nguyên này, nhận thức không chỉ là phản ánh mà còn sáng tạo thế giới
3 Từ giác độ tâm lý học, “cảm quan” là một cách để xem xét sự nhạy cảm
chung của cơ thể Nó cũng có một trường nghĩa: a/ thể hiện một sự kiện tinh thần
về tư tưởng (nhận thức), b/ cảm giác (ý thức đặc trưng về một sự kiện) và c/ ý chí (có thể có ý thức hoặc vô thức) Như vậy, “cảm quan” trực tiếp tham gia vào quá trình tiếp nhận/sáng tạo kiến thức và sự hiểu biết bằng nhiều cách khác nhau: ý thức và vô thức, duy lý và duy cảm, khách quan và chủ quan
Trong công trình Các loại hình tâm lý (Psychologische types), Carl Jung
sắp xếp và phân loại các hoạt động “có lý trí” của ý nghĩ thành hai dạng: tư duy (thinking) và cảm quan (feeling) Theo các nhà triết học duy lý, cảm quan là thiếu chặt chẽ và rõ ràng, nhưng với Jung, đó là một trong những hoạt động có lý trí nghiêm chỉnh của trí óc “Cảm quan”, theo Jung, giúp chúng ta đánh giá giá
trị vốn có của sự vật “Cảm quan” giúp ta nhìn nhận thế giới một cách tổng thể, trọn vẹn, thay vì trừu xuất, phân tách thành những bộ phận riêng lẻ Nếu tư duy
không cân bằng được với cảm quan thì nó sẽ phiến diện và giáo điều, ngược lại cảm xúc mà không được kiểm soát bởi tư duy thì sẽ là mộng tưởng
Như vậy từ việc tổng hợp, phân tích một số phương diện của thuật ngữ
“cảm quan”, chúng tôi hiểu nội hàm từ “cảm quan” mang những nét nghĩa là (1)
cách nhìn nhận, đánh giá mang tính chất tổng quan, toàn cục, nó tiên báo suy nghĩ hay lý luận về một vấn đề đang được nói tới; (2) vấn đề đó thiên về tinh thần hoặc thuộc về một hệ quy chiếu khác mà tư duy duy lý chưa thể lý giải (vô
Trang 12thức); (3) đồng thời, sự đánh giá ấy (cảm quan) có thể thay đổi theo thời gian, theo văn hóa, theo khu vực, theo bản sắc riêng của từng chủ thể nhận thức
Ở luận án này, chúng tôi sử dụng “cảm quan” như một thuật ngữ mỹ học được hình thành trên các cơ sở ngôn ngữ học, triết học và tâm lý học trên đây
Trong Từ điển các thuật ngữ văn học (The Routledge Dictionary of Literary
Terms), “cảm quan (feeling) được hiểu là bằng cách nào một tác phẩm nghệ thuật (văn học) được tạo ra và nó ảnh hưởng đến người đọc như thế nào, bằng cách nào” [90; tr.85] Nghệ thuật là lĩnh vực hoạt động sáng tạo trong đó cảm quan hữu cơ đóng vai trò kiểm soát mạnh, hay nói cách khác, mỗi tác phẩm nghệ thuật như một kiểu biểu tượng hóa ý tưởng về cảm quan Khi Eliseo Vivas (1901-1993), triết gia, nhà phê bình văn học người Mỹ gốc Venezuela, trong
Sáng tạo và khám phá (Creation and Discovery) [184] cho rằng văn học là giai
đoạn trước trong trật tự lôgic để có tất cả các kiến thức, cấu thành văn hóa là ông khẳng định tuyệt đối vai trò của cảm quan trong hoạt động nhận thức, sáng tạo của con người Phê bình gia người Anh, I.A Richards (1893-1979), trong công
trình Các nguyên tắc Phê bình văn học (Principles of Literary Criticism) [162],
nhận định “cảm quan” có vai trò rất lớn trong việc hiểu tác phẩm, và người đọc tốt là người có khả năng đọc đặc biệt tốt các dấu hiệu mà người nghệ sĩ đã ấn dấu Trong lý thuyết thẩm mỹ, “cảm quan” cũng được nữ triết gia Mỹ, Susanne
Langer (1895-1985) đặc biệt quan tâm trong các tác phẩm: Chìa khóa mới để giải mã Triết học (Philosophy in a New Key) [127] và Cảm quan và Hình thức
(Feeling and Form) [128] Theo bà, “nghệ thuật là hoạt động tạo ra các hình thức biểu tượng của cảm quan con người”, nghệ thuật đồng dạng với các hình thức năng động, trực tiếp của đời sống tình cảm, tinh thần; vì vậy, tác phẩm nghệ thuật là sự dự báo tương lai từ cảm quan về cuộc sống hiện tại
Cảm quan nghệ thuật
Nếu trong cuộc sống thường nhật, “cảm quan” in dấu ấn cá nhân trong cách nhìn nhận, cách nhận thức sự vật, hiện tượng thì trong nghệ thuật, “cảm quan” như là thuộc tính đặc trưng của hình ảnh nội dung được ẩn giấu (và vén mở)
trong ẩn dụ, biểu tượng, huyền thoại Trong toàn bộ cấu trúc tác phẩm nghệ
Trang 13thuật, trường nguyên mẫu này tồn tại như một trật tự ẩn, chỉ có một số khía cạnh nhất định của trật tự được lộ diện, hoặc mỗi khía cạnh ấy lại lộ diện ở mỗi thời điểm Tùy vào khả năng, trình độ, giới tính,… của người tiếp nhận và đặc biệt là đặc điểm thời đại, đặc điểm nền văn hóa mà ý nghĩa tác phẩm luôn là nhân tố bí
ẩn vẫy gọi chúng ta khám phá Và khám phá cũng là kiến tạo, kiến tạo cả những điều các nhà văn đã sáng tạo một cách không tự giác, một cách vô thức
Câu chuyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi như một ẩn dụ về giới hạn nhận
thức của con người, và cũng từ đó, dấy lên hoài vọng muôn đời: làm thế nào để nhận thức được cái toàn thể, để biết được bí mật của vũ trụ và sự sống Có lẽ ngôn ngữ bất toàn và bất định (thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý) nên con người dùng đến phép tượng trưng (biểu tượng) hoặc phép ngụ ngôn (ẩn dụ, huyền thoại) để biểu thị những điều chỉ có thể cảm được mà không thể nói ra Tác phẩm nghệ thuật thông qua biểu tượng, huyền thoại đưa ta đến một sự hiểu biết sâu sắc Đó là cái hiểu biết nhờ bên ngoài khêu gợi (khách quan) mà bên trong hưởng ứng (chủ quan), một sự cộng thông đạt đạo “đồng thanh tương ứng, đồng
khí tương cầu” (Kinh Dịch) Lắm lúc sự khêu gợi không được chủ thể ý thức
nhưng sự cộng hưởng vẫn hiển lộ trong tâm tưởng của khách thể Đó cũng là mặt bên kia của biểu tượng, tồn tại trong một trật tự ẩn
Luận án Người Mỹ da đen trong cảm quan nghệ thuật của các nữ văn sĩ
Mỹ tập trung phân tích bối cảnh thời đại như là cơ sở để làm rõ những xung đột,
ẩn ức trong thế giới tư tưởng của các nữ văn sĩ Khảo sát cảm quan nghệ thuật về người Mỹ da đen qua một số sáng tác của ba nữ văn sĩ Beecher-Stowe, Mitchell, Morrison không chỉ mong muốn chỉ ra nét đặc thù trong văn cách của các nhà văn, mà còn hy vọng làm sáng tỏ phần nào bước tiến của nghệ thuật tiểu thuyết trên hành trình sáng tạo
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng, mục đích và yêu cầu nghiên cứu đặt ra cho luận án, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
Trang 14Phương pháp tiếp cận hệ thống
Luận án nghiên cứu vấn đề người Mỹ da đen trong tiểu thuyết của ba nữ văn sĩ, và đặt vấn đề trong tiến trình lịch sử Hoa Kỳ, cũng như lịch sử văn học viết về chủng tộc này Qua đó, thấy được sự khác biệt trong cảm quan nghệ thuật của những tác giả được lựa chọn nghiên cứu, đồng thời, phác thảo sự vận động của hình ảnh người da đen trên bản đồ văn học Mỹ
Nghiên cứu cảm quan, quan điểm của các tác giả về vấn đề người da đen xét trong mối quan hệ qua lại biện chứng giữa tác phẩm và thời đại, để có một cái nhìn khách quan và chân xác nhất về cảm quan của mỗi nhà văn
Phương pháp xã hội học
Sử dụng phương pháp xã hội học, luận án không chỉ nghiên cứu theo xu
hướng xã hội học sáng tác (sự tác động của xã hội đến văn học), nghiên cứu mối
quan hệ giao thoa giữa tư tưởng thời đại và tư tưởng tác giả, tác phẩm, mà còn
theo xu hướng xã hội học tiếp nhận (sự tác động của văn học đến xã hội); trong
đó xu hướng đầu được sử dụng nhiều hơn và là hướng nghiên cứu hữu ích đối với đề tài này
Phương pháp tiểu sử học
Với tư cách là chủ thể sáng tạo, cảm quan của người nghệ sĩ in dấu ấn trực tiếp vào đứa con tinh thần của mình Vì vậy, nghiên cứu nguồn gốc gia đình, nguồn gốc chủng tộc của các nhà văn và những hệ tư tưởng mà họ chịu ảnh hưởng là một phương diện quan trọng để khám phá tác phẩm từ góc nhìn cảm quan sáng tạo
Phương pháp so sánh
Nghiên cứu cảm quan của ba nữ văn sĩ một cách độc lập và so sánh tương đối về các phương diện liên quan đến người Mỹ da đen để thấy được vấn đề mỗi nhà văn quan tâm và thế giới nghệ thuật đặc trưng của họ
Trang 15Phương pháp liên ngành
Sử dụng những tri thức dân tộc học, văn hóa học, tâm lý học,… khi nghiên cứu các tác phẩm của Beecher-Stowe, Mitchell và Morrison nhằm phát hiện ra những ẩn ý sâu xa của tác phẩm, cụ thể là mối quan hệ giữa vấn đề cảm quan nghệ thuật của nhà văn với văn hóa, với cuộc sống xã hội và với thời đại
Ngoài ra, luận án còn sử dụng các lý thuyết nghiên cứu văn học: Phê bình
cổ mẫu, Phân tâm học, Văn hóa học như cách thức chủ đạo để nghiên cứu mẫu
gốc, biểu tượng, huyền thoại, trực tiếp làm rõ cảm quan của các nhà văn trong từng tác phẩm, kết hợp với các thao tác nghiên cứu như thống kê, tổng hợp, phân tích
5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
Trên cơ sở tổng hợp tư liệu, suy nghĩ tìm tòi cái mới, đề tài Người Mỹ da đen trong cảm quan nghệ thuật của các nữ văn sĩ Mỹ, cố gắng bao quát hầu hết
các nữ văn sĩ Mỹ suốt từ ngày lập quốc cho đến nay, rồi khoanh vùng, phân tích, chọn ra được một cách đích đáng ba nữ văn sĩ tiêu biểu cho ba giai đoạn khác nhau là Harriet Beecher-Stowe, Margaret Mitchell và Toni Morrison
Sau gần ba thế kỷ nô lệ, người Mỹ da đen đã tìm thấy bản sắc của chính mình trong ý nghĩa cao quý: Con Người Từ đó tới nay, quá trình hòa giải và hòa huyết liên tục diễn ra, song sự bất bình đẳng về chủng tộc vẫn cứ hiện diện không chỉ với ý nghĩa là ám ảnh từ quá khứ, mà còn như một định mệnh đối với người da màu trong tư tưởng của không ít người da trắng Với đề tài này, chúng tôi sẽ chỉ ra cách nhìn/quan điểm khác nhau của các nữ văn sĩ Mỹ tiêu biểu về vấn đề người Mỹ da đen, đồng thời cũng từ đó, hình ảnh người da đen hiện lên trong các tác phẩm như là hình ảnh biểu tượng cho thân phận và bản sắc của họ trong suốt dòng chảy của thời gian
Luận án cũng chỉ ra vấn đề người Mỹ da đen, qua những hình tượng, biểu tượng trong tác phẩm thoát thai từ thế giới tâm thức của nhà văn như âm bản và
nó lộ diện/phản chiếu như thế nào trong tâm trí của bạn đọc dưới ánh sáng của thời hiện đại Đồng thời, chúng tôi nuôi tham vọng chỉ ra một cách hiểu về bản chất của nghệ thuật
Trang 166 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
6.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu văn học từ điểm nhìn cảm quan của người sáng tạo là một bước
kế thừa và tiếp nối lý luận về cách thức sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên, cho đến nay, nghệ thuật vẫn là một bí ẩn, chúng ta biết rất ít về bản chất của nghệ thuật,
về chức năng của nó và nguyên nhân tâm lý thúc đẩy sự sáng tạo, sự sáng tạo diễn ra như thế nào,… như than thở của nữ tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Nga, Ayn Rand (1905-1982) Luận án muốn nêu lên một quan niệm về cách Nghệ
thuật thể hiện thế giới được nhìn thấy
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Ngoài mối liên hệ gắn bó với thực tiễn xã hội liên quan đến người da đen và vấn đề phân biệt màu da ở Hoa Kỳ như đã nêu trên, luận án đã gợi dẫn một cách thức nghiên cứu văn học trên nền tảng tương tác giữa cảm quan sáng tạo của người nghệ sĩ với cảm quan tiếp nhận của bạn đọc đương đại
Đồng thời, hy vọng luận án sẽ là tài liệu hữu ích cho những ai say mê nghiên cứu người da đen trong văn học Mỹ, cụ thể là trong tác phẩm của Beecher-Stowe, Mitchell và Morrison
7 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Sau phần mở đầu, nội dung luận án có 4 chương với cấu trúc như sau:
Chương 1 - Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2 - Vấn đề phân biệt chủng tộc
Chương 3 - Thân phận người Mỹ da đen
Chương 4 - Tương lai người Mỹ da đen
Sau đó là phần kết luận, danh mục các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án và tài liệu tham khảo
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong giới hạn năng lực và tài liệu tiếp cận được, chúng tôi chưa thấy có công
trình nào ở trong nước cũng như ở nước ngoài liên quan trực tiếp đến đề tài Người
Mỹ da đen trong cảm quan nghệ thuật của các nữ văn sĩ Mỹ, chỉ có những công
trình gián tiếp đề cập đến một khía cạnh vấn đề hoặc riêng lẻ từng nhà văn mà luận
án lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu Trước khi điểm các công trình ấy, thiết nghĩ, cần làm sáng tỏ thêm về các nữ văn sĩ được lựa chọn
Khó mà kể cho hết tên tuổi của các nữ nhà văn từ khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thành lập cho đến ngày nay Song, có khoảng ba chục tên tuổi thường được các nhà nghiên cứu nhắc đến là Kate Chopin, Louisa Alcott, Harriet Beecher-Stowe, Willa Cather, Lydia Maria Child, Edith Warton, Laura Ingalls Wilder, Ayn Rand, Margaret Mitchell, Rebecca Harding Davis, Julia Ward Howe, Dorothy Parker, Leigh Brackett, Zora Neale Hurston, Harriet Ann Jacobs, Gwendolyn Brooks, Frances Harper, Audre Lorde, Toni Morrison, Lorraine Hansberry, Octavia Estelle Butler, Alice Walker, Jessie Redmon Fauset, Toni Cade Bambara… Họ có nguồn gốc chủng tộc và sáng tác nhiều thể loại khác nhau, tuy nhiên, đối tượng đề tài chúng tôi quan tâm được giới hạn ở các “nữ văn sĩ”, cụ thể là những nữ tác giả viết văn xuôi, chủ yếu là tiểu thuyết Vì vậy, luận án không xem xét đến sáng tác của các
nữ thi sĩ, mà có lẽ mở đầu là Phillis Wheatley (1755-1784) người được chứng kiến
sự ra đời của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Đề tài lại liên quan đến vấn đề “người Mỹ
da đen”, nhưng trong số các nữ văn sĩ nổi tiếng, có những người là da trắng mà sáng tác không đề cập đến “người Mỹ da đen”, chẳng hạn trường hợp nữ văn sĩ nổi tiếng Gertrude Stein (1874-1946) thuộc trường phải chủ nghĩa hiện đại Vì vậy phạm vi khảo sát lại thu hẹp thêm nữa
Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi tạm chia vấn đề thành ba giai đoạn để khảo sát: thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX và từ nửa sau thế kỷ XX đến nay
Nổi lên trong thế kỷ XIX, theo trật tự năm sinh, có thể kể: Harriet
Beecher-Stowe (1811-1896), da trắng, tác giả tiểu thuyết Túp lều bác Tom; Harriet Ann
Trang 18Jacobs (1813-1897), da đen, tác phẩm Những sự cố trong đời một cô gái nô lệ
(Incidents in the Life of a Slave Girl, 1861); Julia Ward Howe (1819-1910), da
trắng, nữ nhạc sĩ, nhà văn, nhà cải cách xã hội Hoa Kỳ thế kỷ XIX, tác giả Bài ca Chiến đấu của nền Cộng hòa (The Battle Hymn of the Republic, 1861); Frances Harper (1825-1911), da đen, với tập truyện ngắn Lola Leroy hay Những góc khuất chưa được phanh phui (Lola Leroy or Shadows unlifted, 1893); Rebecca Harding
Davis (1831-1910), da trắng, một trong những người mở đầu trào lưu chủ nghĩa
hiện thực ở Mỹ, với các tác phẩm Những bóng dáng của cuộc sống Mỹ (Silhouettes
of american life, 1892), Những cô con gái của Bác sĩ Warwick (Doctor Warwick‟s daughter, 1896), Những mẩu chuyện ngồi lê đôi mách (Bits of gossip, 1904); Kate Chopin (1850- 1904), da trắng, tác giả tập truyện ngắn Một đêm ở Acadia (A Night
in Acadia, 1897)… Trong số các nữ văn sĩ ấy, xét về vấn đề người da đen và tầm ảnh hưởng thế giới của họ thì vị trí hàng đầu phải thuộc về Harriet Beecher-Stowe Sang nửa đầu thế kỷ XX, cũng theo trật tự năm sinh là các tên tuổi đáng chú ý sau đây: Edith Wharton (1862-1937), da trắng, nữ văn sĩ có tư tưởng nhân đạo, bênh vực người nghèo, nhiều lần được đề cử giải Nobel vào các năm 1927, 1928, 1930,
tác giả tiểu thuyết Mùa hè (Summer, 1917), Những đứa trẻ (The Children, 1928); Jessie Redmon Fauset (1882-1961), da đen, tác giả Cây xoan: cuốn tiểu thuyết về cuộc sống Mỹ (The Chinaberry Tree: A novel of American Life, 1931); Margaret
Mitchell (1900-1949), da trắng, người chào đời cùng với thế kỷ này, tác giả tiểu
thuyết Cuốn theo chiều gió; Lorraine Hansberry (1930-1965), người phụ nữ da đen
đầu tiên sáng tác vở kịch được biểu diễn ở hệ thống nhà hát chuyên nghiệp
Broadway, vở kịch nổi tiếng nhất của bà là Nho khô trong nắng (A raisin in the sun,
2009) nói về cuộc sống người da đen dưới chế độ phân biệt chủng tộc ở Chicago… Trong giai đoạn này, mặc dù có nhiều tên tuổi lớn, song tiểu thuyết của Margaret Mitchell tiêu biểu hơn cả cho quan điểm của các nhà văn miền Nam về vấn đề người da đen
Từ giữa thế kỷ XX đến nay, vẫn theo trật tự năm sinh, là Maya Angelou (1928-2014), người phụ nữ da đen đấu tranh không mệt mỏi cho công bằng xã hội, chống phân biệt chủng tộc, được người đời biết nhiều nhất với loạt bài gồm bảy tự truyện; Toni Morrison, da đen, đến nay đã xuất bản 11 tiểu thuyết xuất sắc và đạt
Trang 19nhiều giải thưởng cao quý; Toni Cade Bambara (1939-1995), da đen, bà hoạt động
xã hội, làm phim, viết văn, với tập truyện ngắn Những con chim biển vẫn còn sống (The sea birds are still alive, 1977) và tiểu thuyết Những kẻ ăn muối (The salt
Eaters, 1980), sáng tác của bà mang văn phong thực nghiệm, với nội dung chính trị
rõ rệt, đấu tranh cho quyền công dân, cho các phong trào nữ quyền và phản đối chiến tranh sôi nổi vào những thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX; Alice Walker (1944) một trong những tên tuổi nổi bật của dòng văn học Mỹ gốc Phi đương đại,
riêng tiểu thuyết Màu tím (The Color Purple, 1982) đã giành được những giải
thưởng danh giá (Giải Pulitzer, Giải sách Quốc gia vào năm 1983),… Tuy còn nhiều
nữ văn sĩ nữa chưa kể hết, nhưng chẳng ai sánh được với nhà văn nữ da đen được trao tặng giải Nobel năm 1993, Toni Morrison
Nhìn chung, tiêu biểu cho ba giai đoạn là ba nữ tiểu thuyết gia Harriet Beecher-Stowe, Margaret Mitchell và Toni Morrison, hai người da trắng, một người
da đen, mỗi người một vẻ, với những tư tưởng khác nhau, phong cách nghệ thuật khác nhau Luận án sẽ khảo sát vấn đề đặt ra tập trung vào tác phẩm của ba gương mặt tiêu biểu ấy
Đã có rất nhiều công trình (chủ yếu bằng tiếng Anh) nghiên cứu về vấn đề
người da đen và các tác phẩm Túp lều bác Tom (Harriet Beecher-Stowe), Cuốn theo chiều gió (Margaret Mitchell) và Bài ca Solomon (Toni Morrison) Tuy nhiên, trong
luận án, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát các tài liệu liên quan đến vấn đề phân biệt chủng tộc, thân phận người da đen, con đường đến tự do (tương lai) của người da đen trong tư tưởng và tác phẩm của các nữ văn sĩ trên
1.1 Nghiên cứu vấn đề phân biệt chủng tộc
Ở Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, văn học Pháp là mảng văn học nước ngoài chiếm vị trí độc tôn, hầu như không có tác phẩm văn học Mỹ, lẫn các tài liệu nghiên cứu được dịch ra tiếng Việt Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, văn học Mỹ được quan tâm nhiều hơn, nhưng do đặc điểm hạn chế về dung lượng thời gian và tài liệu nên cũng còn rất sơ sài, ít giáo
trình đề cập, bàn luận đến Túp lều bác Tom, Cuốn theo chiều gió Toni Morrison là
nhà văn đương đại nên vấn đề có khác đi, song nhìn chung tài liệu bằng tiếng Việt rất hạn chế Vì vậy, trong quá trình viết tổng quan, chúng tôi không chia tách vấn đề
Trang 20theo loại ngôn ngữ của tài liệu, mà lồng ghép các tài liệu ấy xoay quanh các vấn đề nghiên cứu của luận án
Phân biệt chủng tộc là một vấn nạn trong lịch sử loài người, và những tàn dư, định kiến ấy vẫn còn tiếp diễn trong đời sống hôm nay, đặc biệt là ở một quốc gia đa chủng tộc như Hoa Kỳ, nó trở thành một nỗi ám ảnh khủng khiếp Viết về người da đen, hầu hết các tác phẩm đều đề cập đến vấn đề phân biệt chủng tộc, tuy nhiên thái
độ của nhà văn và cơ sở tư tưởng của thái độ ấy ở mỗi tác phẩm là khác nhau Túp lều bác Tom thường được xem là một tác phẩm mang tư tưởng bãi nô, trong khi điểm yếu của Cuốn theo chiều gió lại là bảo vệ chế độ nô lệ, tiểu thuyết của Toni Morrison nói chung và Bài ca Solomon nói riêng là nỗ lực loại bỏ dấu vết của chế
độ ấy trên thân xác và trong tâm trí người da đen
1.1.1 Về Harriet Beecher-Stowe và tiểu thuyết Túp lều bác Tom
Túp lều bác Tom tên đầy đủ là Túp lều bác Tom, hay, Cuộc sống của những người Dưới đáy (Uncle Tom‟s Cabin; or, Life Among the Lowly) là cuốn sách đã
tạo nên danh tiếng cho Harriet Beecher-Stowe sống mãi với thời gian Trong thế kỷ
XIX, Túp lều bác Tom là cuốn sách được đọc nhiều nhất, với sự hấp dẫn lạ thường trên khắp thế giới phương Tây, chỉ có Kinh thánh mới có thể vượt qua về số lượng
sách xuất bản Nó tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, không chỉ xã hội thế kỷ XIX, mà mãi đến thế kỷ XX, Malcolm X vẫn cho rằng: “Martin Luther King Jr là một bác Tom hiện đại” Vì vậy có rất nhiều công trình, chủ yếu ở dạng Anh ngữ,
riêng Những tiểu luận và bài báo về Túp lều bác Tom (Uncle Tom’s Cabin Essays and Papers) đã gồm 201 tài liệu Các bài nghiên cứu như Tác động của Túp lều bác Tom (The Effect of Uncle Tom’s Cabin), Tầm quan trọng của cấu trúc trong Túp lều bác Tom (Importance of the Setting in Uncle Tom’s Cabin), Chủ nghĩa bãi nô và
sự trì trệ trong Túp lều bác Tom (Abolitionism and Inactivity in Uncle Tom’s Cabin),… thường tập trung vào tác động của cuốn tiểu thuyết đến đời sống chính trị
xã hội ở nước Mỹ, gây ra sự “rạn nứt” trong mối quan hệ giữa miền Bắc và miền
Nam Túp lều bác Tom là nguyên nhân (tư tưởng) dẫn đến cuộc Nội chiến, khi
người ta thường trích dẫn rằng, Tổng thống Abraham Lincoln đã phát biểu khi gặp
bà Beecher-Stowe: “Vậy, bà là người phụ nữ nhỏ bé, người viết cuốn sách mở đầu cho cuộc chiến Vĩ đại này!” Trong trường tư tưởng đó Kathryn Vanspanckeren với
Trang 21công trình Phác thảo Văn học Mỹ (Outline of American Literature) [67] đã khẳng định: “Lý do cho sự thành công của Túp lều bác Tom là hiển nhiên: ở Hoa Kỳ -
quốc gia tự nhận là dân chủ và hiện thân cho mọi sự bình đẳng, vậy mà tồn tại chế
độ nô lệ dã man, là một nghịch lý, một bất công” [67; tr.44], điều đó ai cũng thấy, nhưng đến thời điểm đó (giữa thế kỷ XIX) chỉ có Beecher-Stowe lên tiếng một cách quả quyết
Ở Việt Nam, các tài liệu về Túp lều bác Tom không nhiều, song đều thừa nhận Beecher-Stowe là một phụ nữ rất tiến bộ, với tư tưởng bãi nô và Túp lều bác Tom là
tác phẩm chống chế độ nô lệ điển hình Tiêu biểu nhất là công trình chính thống của
Bộ Giáo dục, Văn học Phương Tây [28], tiểu thuyết Túp lều bác Tom được nhắc đến
trong phần khái quát Văn học Mỹ, vẻn vẹn chưa đầy một dòng: “phê phán chế độ nô
lệ như tiểu thuyết của Beecher-Stowe” [28; tr.443] Hoặc Lê Đình Cúc ở công trình
Lịch sử văn học Mỹ [13], chỉ ra những thành công nhanh chóng và những ảnh hưởng
chính trị của tác phẩm: “Nó [Túp lều bác Tom] cung cấp hình ảnh cụ thể và hình dung ra các cảnh tượng mà từ đó kêu gọi sự căm ghét đối với chế độ nô lệ” [13; tr.109]; đồng thời “ngay lập tức dấy lên một dòng văn học Mỹ viết về chế độ nô lệ
của các nhà văn miền Nam” [13; tr.109] Còn Lê Huy Bắc trong công trình Văn học
Mỹ (2003) [4], với mục đích phục vụ giảng dạy trong nhà trường, chỉ giới thiệu khái
quát nền văn học Mỹ và đặt trọng tâm vào bốn tác giả: Mark Twain, O Henry, Jack London, Ernest Hemingway Song trong phần khái quát, tác giả công trình có dành hơn một trang để nói về Beecher-Stowe, và cho rằng nữ văn sĩ chưa ý thức được tầm ảnh hưởng của “đứa con tinh thần” của mình: “Khi Beecher-Stowe bắt tay vào viết, bà không nghĩ cuốn sách lại có tầm ảnh hưởng lớn như thế và chưa thể hình dung tư tưởng bà gửi gắm lại là nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào giải phóng nô lệ” [4; tr.28]
Như vậy, các công trình, chúng tôi đã tham khảo trên đây, đều chỉ ra thái độ phê phán chế độ nô lệ của Beecher-Stowe là tư tưởng nhân văn tiến bộ Đó là cơ sở
tư tưởng tạo nên thành công vang dội của tác phẩm gắn với lịch sử - xã hội đương thời Như nhận định của Hữu Ngọc (sinh năm 1918), nhà nghiên cứu văn hóa lão
thành người Việt, trong Hồ sơ văn hóa Mỹ: “Sức hấp dẫn của tác phẩm [Túp lều bác
Tom] là thời điểm của vấn đề được đặt ra và lý tưởng cao cả của tác giả” [44;
Trang 22tr.553] Tuy nhiên, bên cạnh bức tranh hiện thực thảm khốc về đời sống của người
nô lệ thì tinh thần Thanh giáo thấm đẫm từng trang văn đã khiến các nhà nghiên cứu gặp khó khăn khi khẳng định tư tưởng chủ đạo của Beecher-Stowe, cũng như phong cách tác phẩm; rốt cuộc nhà văn phê phán chế độ nô lệ hay ca ngợi phẩm chất, tinh thần tôn giáo, văn của bà thuộc dòng hiện thực hay lãng mạn? Bằng cách đi sâu tìm hiểu và lý giải những xung đột trong tư tưởng của Beecher-Stowe và tác phẩm của
bà, chúng tôi hy vọng sẽ lấp đầy những khoảng trống này trong luận án
Nửa sau thế kỷ XX, khi chế độ nô lệ đã là quá khứ và phong trào đấu tranh đòi
tự do bình đẳng của các dân tộc bước sang giai đoạn mới, và đặc biệt là khi tinh
thần Thanh giáo đã mất đi vai trò lịch sử thì Túp lều bác Tom được đọc với tinh thần
mới Tiêu biểu là James Baldwin (sinh năm 1933), nhà văn Mỹ gốc Phi tiến bộ,
trong bài viết Cuốn tiểu thuyết [Túp lều bác Tom] bị mọi người phản đối (Everybody‟s Protest Novel) in trong Hợp tuyển văn học Mỹ (The Norton
Anthology of African American Literature, 1997), cho rằng nhân vật bác Tom là tiêu cực: nhẫn nhục, bất lực, thụ động, và vì vậy bác Tom trở thành một thuật ngữ
mang tính miệt thị Ông chỉ trích Túp lều bác Tom: đơn giản hóa tình cảm, thay vì
mở rộng sự hiểu biết của chúng ta về con người, và nó là một cuốn sách cho thấy nỗi sợ hãi đáng bị nguyền rủa hơn là bất kỳ sự hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh của
những người nô lệ Theo đó, nhà phê bình kết luận: “Đặc điểm trong Túp lều bác Tom là phân biệt chủng tộc trong sự phát triển của nó” (the characterization in Uncle Tom’s Cabin is racist in its development) [79; tr.1655]
Bước sang thế kỷ XXI, Henry Louis Gates Jr (sinh năm 1950), nhà phê bình
văn học Mỹ, trong cuốn Bản in Túp lều bác Tom có chú thích (The Annotated Uncle
Tom‟s Cabin, 2006) bác bỏ những quan điểm của James Baldwin Theo Gates Jr, những cách đọc ấy đều chưa thấy được ý nghĩa đạo đức tốt đẹp hiển lộ ở nhân cách của bác Tom, không thấy được sức mạnh bên trong của bác và cái chết vì đạo (như
Chúa) của bác Với Gates Jr, Túp lều bác Tom là “một tác phẩm quan trọng về mối
quan hệ chủng tộc ở Mỹ đồng thời là sáng tác giàu ý nghĩa về đạo đức và chính trị khi khám phá tính cách con người trong những mối quan hệ đó” [106; tr.xiii]
Trang 23Như vậy, trải qua thời gian với nhiều cách tiếp cận khác nhau, quan điểm về
vấn đề phân biệt chủng tộc của Beecher-Stowe trong tiểu thuyết Túp lều bác Tom
chưa thật sự thống nhất Luận án sẽ nỗ lực làm rõ vấn đề này
1.1.2 Về Margaret Mitchell và tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió
Cuốn theo chiều gió được xuất bản lần đầu tiên năm 1936, và sau một năm
đoạt giải Pulitzer, thành công nhanh chóng ngoài mong đợi Nhiều tài liệu đã ghi lại rằng: Mitchell đã rất ngại ngùng khi đưa tập bản thảo cho Howard Latham, một nhân viên của nhà xuất bản Macmillan, đang tuyệt vọng trong việc tìm kiếm gương mặt mới tài năng Đến phút cuối, Mitchell đã hối hận vì “hành động thiếu suy nghĩ”
đã đưa tập bản thảo dày cộp cho Latham, và bà vội vàng viết một bức điện yêu cầu Latham trả lại tập bản thảo Nhưng bằng cặp mắt tinh nhạy nhà nghề, ông đã nhận
ra “đây sẽ là một trái bom tấn” và điều này được Harold Macmillan, người giành quyền xuất bản tác phẩm khẳng định: “Tôi phải thú nhận, rằng đây là cuốn sách hài hước và cũng nghiêm túc hơn bất cứ thứ gì tôi đọc được kể từ khi bước chân vào ngành kinh doanh này” [121; tr.182]
Được đón nhận rộng rãi trên thế giới, cũng như Túp lều bác Tom, Cuốn theo chiều gió đã trở thành huyền thoại trong lịch sử ngành xuất bản Khi nền kinh tế Mỹ
đang lao dốc vì cơn khủng hoảng nhưng hơn một triệu bản đã được bán trong sáu tháng đầu tiên, (đây) được xem một kỳ tích phi thường trong thời kỳ kinh hoàng của nước Mỹ, các nhà in phải làm việc suốt đêm ngày để phục vụ nhu cầu khổng lồ này
Và Cuốn theo chiều gió trở thành cơn sốt thực sự khi David O Selznick đã trả
50.000$ để mua bản thảo, đây là số tiền cao nhất từng được trả cho một bản thảo vào thời kỳ đó
Từ khi tác phẩm ra đời, các nhà nghiên cứu cũng đã có những ý kiến trái ngược nhau về giá trị văn chương của nó, tiêu biểu là nhận định của George S Schuyler (1895-1977), nhà báo người Mỹ gốc Phi, “Mitchell có thể đạt giải Pulitzer của người da trắng, nhưng nó cũng chỉ là một bài luận tuyên truyền chống đối người
da đen” [169; tr.205]
Nhận định của George S Schuyler gần như trùng khít với quan điểm của Hữu
Ngọc, tác giả cuốn sách Hồ sơ văn hóa Mỹ [44] Đúng như tên gọi, công trình là
Trang 24nhiều “file” hồ sơ khác nhau về nhiều mặt của nền văn hóa đa chủng tộc, đa văn hóa: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Và nhờ vậy, đây cũng là công trình có lẽ duy nhất,
trong các bộ lịch sử văn học Mỹ ở Việt Nam, nhắc đến Cuốn theo chiều gió của
Mitchell Điều này có vẻ trái ngược với nhận định của ông: “Cuốn tiểu thuyết hiện
đại nước ngoài được phổ biến nhất có lẽ là Cuốn theo chiều gió” [44; tr.597]
Nhưng có lẽ nó nổi tiếng ở phương diện câu chuyện tình hấp dẫn Rhett Butler - Scarlett, còn từ điểm nhìn tiến hóa của văn minh nhân loại thì ông cho đó là một
bước thoái lui: “Ngẫm cho cùng Cuốn theo chiều gió là một tác phẩm phản tiến bộ
vì nó tô vẽ cho giới địa chủ miền Nam và bênh vực cho chế độ nô lệ” và “tác phẩm xây dựng hình ảnh người da đen sung sướng là một hư cấu có ý đồ” [44; tr.599] Trên cơ sở phân tích ý kiến của các chuyên gia, luận án của chúng tôi sẽ còn trở lại những nhận định này như một cách hiểu về thái độ của Mitchell đối với vấn đề chủng tộc, cũng như cảm quan của bà về người da đen
Năm 1939, David O Selznick (1902-1965) và cộng sự đã chuyển thể tiểu thuyết của Mitchell thành bộ phim ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh, trở thành
bộ phim có doanh thu cao nhất thế giới Bộ phim đã giành mười giải Oscar và luôn thuộc nhóm mười phim hay nhất mọi thời đại do Viện phim Mỹ bầu chọn Cũng từ
đó (năm 1939), giới phê bình điện ảnh (và văn chương) xuất bản hàng loạt bài nghiên cứu về nhiều khía cạnh trong tác phẩm, nhưng tâm điểm vẫn là vấn đề nô lệ
và thái độ chính trị của nhà văn, đạo diễn
Tiêu biểu nhất là bài viết Lãng mạn hóa miền Nam Cũ: một phân tích Cuốn theo chiều gió về nữ quyền, lịch sử (Romanticizing the Old South: A Feminist, Historical Analysis of Gone with the Wind) [91], Janelle Collett cho rằng, không giống như
phụ nữ da trắng mạnh mẽ và phức tạp, phụ nữ da đen thì hời hợt, lười biếng Tác giả
bài báo kết luận: “Cuốn theo chiều gió mang lại cho chúng ta thông điệp lẫn lộn” và
bà kiên quyết “ngăn chặn việc gắn “nhãn” “nữ quyền” cho tiểu thuyết/phim” Như vậy, theo bà, trước khi nói đến bình quyền nam/nữ (giới tính) thì phải bình đẳng về quyền con người (chủng tộc, màu da) Điều này trùng khít với ý nghĩa của đề tài luận án: tìm hiểu vấn đề chủng tộc từ điểm nhìn nữ giới
Một luận điểm nữa liên quan đến thái độ phân biệt chủng tộc của Mitchell thường được các nhà nghiên cứu chỉ ra là sai lầm lịch sử của nữ văn sĩ: khi xây
Trang 25dựng những quý ông da trắng đáng kính (Frank Kennedy, Ashley Wilkes, Bác sĩ Meade,…) lại tham gia vào đảng khủng bố dã man, 3K (Ku Klux Klan) 3K là hội kín thành lập năm 1865, xuất hiện lần đầu ở bang Tennessee, sau phát triển khắp miền Nam Hoa Kỳ, với chủ trương đề cao thuyết Người da trắng thượng đẳng (white supremacist) Hội kín này là một tổ chức vũ trang phục vụ cho đảng Dân chủ, thường sử dụng những biện pháp khủng bố, bạo lực để đe dọa người Mỹ gốc Phi, phá vỡ cơ cấu của đảng Cộng hòa ở Miền Nam và gieo rắc kinh hoàng cho cả miền
Nam thời Tái thiết Với tư cách là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, Cuốn theo chiều gió
viết về thời kỳ đau thương nhất trong lịch sử ba trăm năm của nước Mỹ, thời kỳ Nội chiến tương tàn (1861-1865) giữa hai miền Nam - Bắc và thời kỳ Tái thiết đen tối (1865-1877) của giới cầm quyền Hoa Kỳ Vì vậy cảm quan lịch sử của Mitchell sẽ được chúng tôi làm rõ khi phân tích những xung đột, ẩn ức trong tư tưởng của nhà văn gắn liền với bối cảnh lịch sử của thời đại
1.1.3 Về Toni Morrison và tiểu thuyết Bài ca Solomon
Được đánh giá là nhà văn Mỹ gốc Phi quan trọng nhất của thế kỷ XX, với sự nghiệp văn học lớn lao, mỗi tác phẩm của Toni Morrison luôn thu hút độc giả giải
mã theo cách riêng Vì vậy, bao quát các công trình nghiên cứu về Morrison và tác phẩm của bà là điều bất khả Tuy nhiên, chúng ta có thể phân loại, một cách tương đối, những khuynh hướng tiếp cận cơ bản như sau:
Với tư cách là nhà văn da đen, vấn đề chủng tộc, lịch sử, bản sắc văn hóa châu Phi là vấn đề cốt lõi trong toàn bộ tác phẩm của Morrison nên sử dụng các phương pháp nghiên cứu phê bình lịch sử - xã hội, văn hóa học, dân tộc học,… để soi sáng các tác phẩm Điều này cũng phù hợp với dụng tâm của Morrison, khi quyết định cầm bút viết là khi Morrison muốn đi tìm câu trả lời: Người da đen sinh sống trên đất Mỹ, họ là ai? Họ mong muốn điều gì và họ cần phải làm gì để thoát khỏi “những
số phận cay đắng”?; và từ lịch sử thân phận của cá nhân ta có thể nhận thức được quá khứ của một chủng tộc, một dân tộc?
Với tư cách là một nữ văn sĩ, tác phẩm của Morrison như là những tự truyện, nên những nghiên cứu theo hướng nữ quyền đã đạt hiệu quả tối ưu trong việc khai thác thế giới nội tâm của người phụ nữ với tất cả khát vọng và thiên chức, người phụ nữ trong cuộc sống bình quyền hiện đại, nghiên cứu giới tính trong mối quan hệ
Trang 26với chủng tộc,… nghĩa là tất cả phẩm chất và thân phận của một người phụ nữ da đen
Là một nhà văn hiện đại và hậu hiện đại với kỹ thuật kể chuyện lôi cuốn, kết cấu tác phẩm độc đáo, sử dụng huyền thoại, mẫu gốc, yếu tố huyền ảo vừa như là phương tiện vừa là cứu cánh,… nên chúng ta gặp số lượng lớn công trình nghiên cứu về nghệ thuật tiểu thuyết Toni Morrison, từ lý thuyết tự sự học, thi pháp học, huyền thoại học, phê bình cổ mẫu, phân tâm học, phân tâm học cấu trúc,…
Do hạn chế về năng lực lẫn thời gian nên ở phần tổng quan này, chúng tôi sẽ điểm những công trình tiêu biểu đã có dịp tiếp xúc xoay quanh các vấn đề liên quan đến luận án
Trong công trình Phác thảo Văn học Mỹ [67], Kathryn Vanspanckeren giới
thiệu nhà văn Toni Morrison, những tác phẩm của bà, và khẳng định ngay trong tác
phẩm đầu tay Mắt biếc (The Bluest Eye), “Morrison đã thể hiện cảm quan về bản sắc (identity) như sự xác tín của chính nhà văn, tôi đã là Pecola, là Claudia, là tất
cả mọi người” [67; tr.114] Đặc biệt, tác giả công trình nhấn mạnh, tác phẩm của
Morrison đan dệt một cách tài hoa yếu tố huyền ảo, và nhận được sự ca ngợi của bạn đọc trên phạm vi toàn thế giới, mà sức hấp dẫn của nó xuất phát từ “sự phức tạp trong bản sắc người da đen” [67; tr.115]
Ở Việt Nam, năm 2010 Lê Huy Bắc ra mắt công trình đồ sộ Lịch sử văn học Hoa Kỳ [5], gần 1000 trang, giới thiệu điểm xuyết lịch sử Văn học Mỹ từ khởi thủy
đến viễn cảnh thế kỷ XXI Trong đó, Toni Morrison được dành 20 trang giới thiệu
về cuộc đời và tóm tắt giản lược 9 tiểu thuyết (trừ Home, God Help the Child) Riêng cuốn tiểu thuyết thứ ba, Bài ca Solomon thì chỉ được lướt qua với vài dòng
nói về những giải thưởng mà Morrison đã nhận được từ “đứa con tinh thần” của
mình Tác giả đi sâu phân tích Người yêu dấu (Beloved), tác phẩm được đánh giá là
xuất sắc nhất của nữ văn sĩ, và kết luận, tác phẩm của Toni Morrison: “kết hợp nhuần nhuyễn hai nền văn hóa Phi - Mỹ trong nỗ lực hướng đến sự giải phóng, ước
mơ bình đẳng để mang lại quyền lợi cho người da đen, phụ nữ và người lao động nghèo” [5; tr.903] Ý kiến của Lê Huy Bắc gần gũi với nhận định của Hữu Ngọc
trong “file” Di sản văn hoá da đen: nhà văn nữ Toni Morrison, trích từ Hồ sơ văn
Trang 27hóa Mỹ [44]: “Mỗi tác phẩm đều thấm nhuần truyền thuyết miền Nam nước Mỹ,
mảnh đất đau thương của người nô lệ da đen gốc tự châu Phi xa xôi” [44; tr.611]
Bài viết Quan niệm về Phân biệt chủng tộc trong Bài ca Solomon của Morrison (The Concept of Racism in Morrison‟s Song of Solomon) của Mahmoud
A Ahmed & Mohanad M Kadhim [74] và Một nghiên cứu về chủng tộc trong Bài
ca Solomon của Toni Morrison (A Study of Racism in Toni Morrison‟s the Song of Solomon) của Fatemeh Azizmohammadi & Hamedreza Kohzadi [77] đã trực tiếp đề cập đến vấn đề phân biệt chủng tộc trong tác phẩm Bài ca Solomon Ahmed &
Kadhim nghiên cứu vấn đề từ góc nhìn lịch sử và bi kịch chủng tộc, họ khẳng định phân biệt chủng tộc như là “di căn” từ quá khứ và là vấn nạn khủng bố bạo lực trong hiện tại bởi lòng hận thù còn chưa nguôi ngoai trong một bộ phận người Mỹ gốc Phi (Nhóm Bảy ngày) Và đau xót hơn là sự chia rẽ và phản bội chủng tộc của một số người da đen giàu có ảo tưởng rằng mình đã đặt chân vào thế giới của người da trắng như Macon Dead II, Milkman, Dr Foster,… Azizmohammadi & Kohzadi lại phân tích nạn phân biệt chủng tộc trong mối quan hệ với vấn đề giới tính, bài viết kết luận: “Milkman là biểu tượng của tất cả đàn ông da đen và Pilate là nguyên mẫu của tất cả phụ nữ da đen” [77; tr.2261]
Khác với Beecher-Stowe và Mitchell về nguồn gốc chủng tộc lẫn thời đại sống, Morrison luôn có cái nhìn nghiêm khắc từ bên trong bản thể người da đen như một cách tự giải phẫu bản thân để có cuộc sống tự do hòa hợp trong bối cảnh văn hóa da trắng Morrison không cảm thương người da đen bằng niềm tin tôn giáo như Beecher-Stowe, cũng không phê phán người da đen chỉ vì làn da đen hay quá khứ
nô lệ mà tiểu thuyết của bà là nỗ lực xác định bản sắc của người da đen, của chủng tộc bà Ở đó bà vừa phê phán người da trắng mang định kiến phân biệt chủng tộc, vừa xót thương cho người da đen vì phải sống bằng “cái nhìn” của “kẻ khác”
John N Duvall, ở Đại học Purdue, trong công trình Những tiểu thuyết tự thuật của Toni Morrison: Tính Xác thực Hiện đại và Sự đen Hậu hiện đại (The
Identifying Fictions of Toni Morrison: Modernist Authenticity and Postmodern Blackness) khám phá “cuộc đấu tranh để tạo ra một bản sắc hữu dụng” (struggle to fashion a useable identity) của Morrison [98; tr.101] Và theo Duvall, “sự căng thẳng giữa bộc lộ bản thân như một bản chất sinh học và như một con người xã hội
Trang 28có lẽ là động lực thúc đẩy trung tâm trong công việc của bà ấy” [98; tr.9] Ý tưởng
của Duvall gặp gỡ Timothy Powell trong bài viết Toni Morrison: Cuộc đấu tranh để miêu tả Nhân vật Đen trên trang giấy Trắng (Toni Morrison: The Struggle to Depict
the Black Figure on the White Page) [159] Tuy nhiên, nếu Duvall nghiên cứu tiểu thuyết Morrison như một hình thức tự truyện và chỉ ra bản thân Morrison cũng như các nhân vật da đen của bà luôn “tự tạo” (self-fashioning) để là một người Mỹ gốc Phi thì trọng tâm của Powell lại làm rõ người da đen bị thao túng bởi các biểu tượng, quan điểm của người da trắng Đây là một trong những luận điểm quan trọng
để chúng tôi có cơ sở khảo sát và đối thoại, khi nghiên cứu về người Mỹ da đen trong cảm quan nghệ thuật của Morrison
Trên đây, chúng tôi đã điểm qua một số công trình liên quan đến vấn đề chủng tộc trong tư tưởng lẫn tiểu thuyết của Beecher-Stowe, Mitchell và Morrison Có thể
thấy, phần lớn các nhà nghiên cứu đều kết luận Túp lều bác Tom phản đối phân biệt chủng tộc, Cuốn theo chiều gió dường như lại bảo vệ tư tưởng phản tiến ấy, còn Bài
ca Solomon gián tiếp trả lời câu hỏi ấy bằng cách tự xác định bản sắc chủng tộc
Tuy nhiên, vì sao Beecher-Stowe phản đối và có phản đối hoàn toàn (?), hoặc Margaret Mitchell bảo vệ và có bảo vệ hoàn toàn (?), hay Toni Morrison tạo dựng mẫu hình bản thể như thế nào là những vấn đề mà chúng tôi sẽ nỗ lực làm rõ trong chương hai của luận án
1.2 Nghiên cứu vấn đề thân phận người Mỹ da đen
Quan điểm của các nữ văn sĩ về vấn đề phân biệt chủng tộc là tiền đề phản ảnh thân phận người Mỹ da đen trong tác phẩm của họ Bối cảnh không gian và tinh thần thời đại ở mỗi tác phẩm là khác nhau, vì vậy, không có những căn cứ chung để phân loại, đánh giá từng kiểu thân phận Song, đây lại là cơ sở để phác thảo hình ảnh, thân phận người Mỹ da đen trong tiến trình lịch sử và văn học, bằng cảm quan của các nữ văn sĩ tiêu biểu
1.2.1 Về tiểu thuyết Túp lều bác Tom
Các công trình nghiên cứu về vấn đề thân phận người da đen trong Túp lều bác Tom, theo chúng tôi, gồm ba nội dung cơ bản: số phận bi thảm của bác Tom, của
Trang 29người mẹ can đảm Eliza và tội ác của việc chia cắt tình cảm gia đình Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
Morris Dickstein (sinh năm 1940) viết Văn học Mỹ (American Literature) từ
khởi thủy cho đến giữa thế kỷ XX, trên trang Encyclopedia Britannica, đã đánh giá Harriet Beecher-Stowe là đại biểu xuất sắc của phong trào Cải cách New England,
và Túp lều bác Tom “kết hợp các yếu tố hài hước hiện đại và tiểu thuyết tình cảm để
bi thảm hóa (dramatize) hoàn cảnh của người da đen”
Trong luận văn thạc sĩ Một tường thuật về chế độ nô lệ trong tiểu thuyết Túp lều bác Tom năm 1852 của Harriet Beecher-Stowe (An Account of Slavery in Harriet Beecher Stowe‟s Novel Uncle Tom’s Cabin, 1852) [193], Reffas Fatma
Zohra nhấn mạnh: “tội ác của chế độ nô lệ cũng như số phận bi thảm của người da đen trước nhất là sự lạm dụng thể xác của người nô lệ, đàn ông (bác Tom, George) thì bị ông chủ (Legree, Harris) tra tấn dã man trong bất cứ tình huống nào, còn phụ
nữ (Cassy, Emilline) thì bị cưỡng bức, ngược đãi tình dục” [193; tr.53]
Jessy Sower, với bài viết Vai trò thay đổi của phụ nữ ở nước Mỹ (The
Changing Role of the Woman in America) [174], phản ánh trực tiếp sự thay đổi vai trò của người phụ nữ trong suốt lịch sử, và chỉ ra rằng trước thế kỷ XX vai trò của người phụ nữ chỉ được công nhận trong gia đình, việc ngoài xã hội là của nam giới, vai trò như một người mẹ là vị trí quan trọng nhất người phụ nữ có thể có Song trong tác phẩm của Beecher-Stowe, vai trò của người phụ nữ rất tiến bộ: là “trung
tâm đạo đức để góp phần đổi thay xã hội và chính trị” Hơn nữa trong Túp lều bác Tom, tác giả đi ngược lại sự hiểu biết truyền thống, coi phụ nữ nô lệ như con vật,
thay vào đó mô tả họ là con người, mang bản năng nữ tính và tình mẫu tử sâu sắc như bất kỳ một người phụ nữ da trắng nào (như Eliza vừa là một người mẹ thương con hết mực vừa là một phụ nữ rất ngoan đạo) Đồng thời tác giả bài viết cũng ghi chú thêm rằng Beecher-Stowe cường điệu hóa tình cảm, có phần bi lụy, nhưng điều đáng nói hơn là “Eliza không có khả năng trau dồi sức mạnh bên trong”, với tư cách
là con người cá nhân muốn làm chủ vận mệnh của mình, cô cảm thấy hạnh phúc khi
là nô lệ ở gia đình bà Shelby, chỉ khi đứa con (bé Harry) bị đe dọa, Eliza mới có những quyết định táo bạo
Những Tiểu luận mới về Túp lều bác Tom, (New Essays on Uncle Tom’s Cabin, 1986) [176], do Eric Sundquist (sinh năm 1952) chủ biên, là công trình tổng
Trang 30hợp năm bài viết của nhiều học giả khác nhau, trong bối cảnh lịch sử xã hội mới,
các vấn đề: chủng tộc và giới tính, được xem xét lại Đáng chú ý có bài Chính bà làm thế: Túp lều bác Tom và vai trò của người phụ nữ trong cuộc khủng hoảng nô
lệ (Doing It Herself: Uncle Tom’s Cabin and Woman‟s Role in the Slavery Crisis)
của học giả người Mỹ gốc Phi, Jean Fagan Yellin; bài viết đã chỉ ra sự phân biệt chủng tộc không chỉ trên màu da (da đen/da trắng), mà còn trên giới tính (nam/nữ),
và đặc biệt là niềm tin tôn giáo (ngoài Kitô giáo/Kitô giáo) trong tác phẩm của Beecher-Stowe Theo Yellin, Beecher-Stowe đã gán sức mạnh thể chất cho nhóm đầu (người da đen, nam giới, người ngoài Kitô) và sức mạnh tinh thần cho nhóm sau (người da trắng, nữ giới, người Kitô), từ đó khẳng định tiểu thuyết của Beecher-Stowe mang màu sắc “văn hóa tư bản chủ nghĩa gia trưởng phân biệt chủng tộc ở Mỹ” (racist patriarchal capitalist culture in America) [176; tr.101]
Trong luận án Đi tìm hạnh phúc: chia cắt gia đình nô lệ trong những cuộc tranh luận về chế độ nô lệ (Gone for Good: Slave Family Separation in the Slavery Debates) [137], Meyer Kathryn không trực tiếp đặt vấn đề nghiên cứu về Túp lều bác Tom song đã chỉ ra một khía cạnh trong thân phận của người da đen: sự chia rẽ
các thành viên trong gia đình là một tội ác mà xã hội Mỹ đương thời đang dung dưỡng Đề cập đến vấn đề buôn bán nô lệ (người da đen chỉ là món hàng, tài sản), đặc biệt là phụ nữ và trẻ em được xem như một món hàng mua vui trong mắt của giới con buôn và một bộ phận chủ nô trụy lạc, vấn đề nhức nhối của xã hội song lại không có được sự đồng thuận trong cách nhìn và giải quyết vấn đề giữa những người chủ trương bãi nô và những người ủng hộ chế độ nô lệ
Những công trình trên đây có vai trò nhất định, cung cấp những kiến thức lịch
sử xã hội lẫn những cách nhìn về thân phận người da đen trong tiểu thuyết Túp lều bác Tom, để chúng tôi rộng đường bàn luận hơn khi đề cập đến vấn đề này trong luận án Tuy nhiên, theo thiển ý chủ quan, ở Túp lều bác Tom bên cạnh khắc họa số
phận bi thảm của người da đen, Beecher-Stowe còn khẳng định người da đen cũng
là một con người bình đẳng trong tình yêu Thiên chúa Đây là chỗ mà các công trình
đi trước chưa chỉ ra, mặc dù có nêu lên phẩm chất thiện lương mộ đạo của các nhân vật da đen; luận án sẽ đi sâu vào cảm quan nghệ thuật của nhà văn để làm rõ khoảng trống này
Trang 311.2.2 Về tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió
Cuốn theo chiều gió, cuốn tiểu thuyết không ngừng thu hút sự chú ý của độc
giả thế giới bởi đó là một câu chuyện lãng mạn tuyệt vời, nhưng bên cạnh câu chuyện tình yêu ấy còn có một chủ đề lớn lao hơn, và cũng nhân bản không kém chủ đề thứ nhất, đó là sự sống còn, sự sống còn của con người và của một nền văn hóa Luận án của Hana Konecna, bảo vệ năm 2010 tại trường Đại học Masaryk,
Cuốn theo chiều gió: Cuộc Nội chiến tạo ra những Biến đổi trong Xã hội miền Nam, đặc biệt là sự Thay đổi vai trò và Địa vị Phụ nữ (Gone with the Wind: Changes in
the Southern Society brought by the Civil War, especially changing the role and Status of Women) [125], đã chỉ ra cách Margaret Mitchell trình bày sự thay đổi của cuộc sống, tình trạng và vai trò của phụ nữ quý tộc trong xã hội miền Nam trước, trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ và thời kỳ Tái Thiết Tác giả luận án đã dùng phương pháp xã hội học văn học để chứng minh rằng Mitchell đã miêu tả cuộc sống chân thực Tác giả tập trung phân tích thái độ và quan niệm của Melanie và Scarlett về chiến tranh, lẫn những thay đổi trong đời sống xã hội và chỉ ra khả năng tồn tại của họ: Scarlett thông minh, mạnh mẽ, vượt thoát truyền thống, thành công trong kinh doanh và bước vào thế giới đàn ông; còn Melanie và những người phụ nữ khác, muốn có một sự hồi sinh của các giá trị truyền thống để duy trì nữ tính của họ Ở chỗ này, có lẽ, thái độ của Mitchell chưa thật sự dứt khoát, như chính tâm thế của con dân miền Nam thời hậu chiến: hoài niệm về nền văn minh đã sụp đổ và bế tắc trước việc tạo dựng một bảng giá trị mới
Mặc dù luận án không đặt ra vấn đề người da đen, nhưng tác giả đã so sánh phụ nữ thượng lưu miền Bắc khác hẳn phụ nữ thượng lưu miền Nam ở bổn phận và
vị trí: trở thành một người vợ và một người mẹ có nghĩa là hoàn thành bổn phận của một người phụ nữ miền Nam trong khi phụ nữ miền Bắc tham gia vào các hoạt động
xã hội Tác giả chỉ ra nguyên nhân của sự khác biệt đó là do chế độ nô lệ: “Nó ảnh hưởng đến tình trạng của phụ nữ cũng như cuộc sống của họ” [125; tr.40], tác giả luận án còn khẳng định thêm, nô lệ trong tác phẩm được xem như những người thân trong gia đình người da trắng (Mammy, Peter, Sam, Pork…)
Cùng quan điểm với Hana Konecna về người da đen, Tim A Ryan trong công
trình Những Đòi hỏi và Đáp ứng: Tiểu thuyết về chế độ nô lệ Mỹ từ Cuốn theo chiều
Trang 32gió (Calls and Responses: the American Novel of Slavery since Gone with the Wind,
2008), chia người da đen thành hai bộ phận: những nô lệ lao động trên đồng ruộng
và những người đày tớ phục vụ trong gia đình chủ; và xung đột lớn nhất trong tác phẩm là xung đột giai cấp chứ không phải là xung đột chủng tộc Nếu những người
da trắng nghèo không những bị những người da trắng giàu khinh miệt mà những người đầy tớ của gia đình giàu cũng có quyền dè bỉu họ (Mammy gọi gia đình Slaterry, Wilkerson là đám da trắng cặn bã…); và những nhân vật da đen trong tác phẩm của Mitchell đều thuộc tầng lớp trên trong cấu trúc chủng tộc da đen (elite slave) và họ tin rằng “họ cũng thuộc tầng lớp với ông chủ da trắng” [166; tr.25] trong cấu trúc xã hội Quan điểm đúng đắn của Ryan không chỉ giúp chúng tôi xác
lập thân phận của người da đen trong tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió mà quan trọng
hơn lý giải được tư tưởng phức tạp của Mitchell xoay quanh vấn đề nô lệ, vấn đề tưởng như không được bà quan tâm trong cuốn tiểu thuyết duy nhất của mình Ngoài ra còn có một số bài viết quan trọng khác liên quan đến thân phận người
da đen trong cuốn tiểu thuyết lẫn bộ phim cùng tên, Cuốn theo chiều gió, đã bổ sung
thêm cơ sở để chúng tôi có cái nhìn khách quan hơn khi nghiên cứu
Tác giả bài viết Phác họa các mối quan hệ chủng tộc (Portrayal of Race
Relations) trên trang sparknotes.com [108] cho rằng: vấn đề gây tranh cãi nhất của
Cuốn theo chiều gió là vấn đề chủng tộc, và Mitchell “miêu tả nó quá đơn giản”
Người da đen thường được ví với động vật, bản chất thì ngu ngốc, lười biếng, và luôn cần phải được giám sát; song trong mối quan hệ với chủ, lại được mô tả rất thân thiện, trung thành, sống hạnh phúc trong những đồn điền đậm màu sắc gia trưởng Sau cuộc Nội chiến, những nô lệ chọn con đường tự do thì bị khinh miệt và
bị coi là “giống vô ơn”, dân da trắng cho rằng người da đen tốt nhất là trở thành nô
lệ vì họ không có khả năng tự chăm lo cho bản thân mình
Ta cũng gặp những nhận xét tương tự, về người da đen và chế độ nô lệ trong cuốn tiểu thuyết và bộ phim cùng tên, của Hugh Ruppersburg trên trang georgiaencyclopedia.org [109] Theo ông, miền Nam dưới nhãn quan của Mitchell
là một nền văn minh lớn, việc tồn tại và duy trì chế độ nô lệ là một điều hiển nhiên,
và người nô lệ được miêu tả như những chú hề, làm tôi tớ trung thành Ông khẳng
Trang 33định: “Cuốn theo chiều gió có lẽ là tác phẩm duy nhất trong những năm 1930, đã vẽ
nên bức tranh biếm họa về nhân vật người Mỹ gốc Phi” [109]
Dù người da đen được xây dựng đối lập giữa hình thức bề ngoài (xấu) và phẩm chất bên trong (tốt đẹp) nhưng trong cảm quan sáng tạo của Mitchell họ có phải là những chú hề? Hay sâu xa hơn chính người da đen, mà trước nhất là Mammy, là biểu tượng cho những ẩn ức của người da trắng miền Nam? Vấn đề này
sẽ được chúng tôi lý giải rõ hơn trong nội dung của luận án
1.2.3 Về tiểu thuyết Bài ca Solomon
So với Beecher-Stowe và Mitchell thì ở Việt Nam, Morrison được giới thiệu, nghiên cứu nhiều hơn, chủ yếu là sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh,
song phần lớn đều tập trung vào hai tác phẩm Mắt biếc (The Bluest Eye), và Người yêu dấu (Beloved) đã được dịch ra tiếng Việt Nguyễn Thị Minh Thảo (2013) với đề tài Ngôn ngữ mảnh vỡ trong tiểu thuyết của Toni Morrison [52] là luận án đầu tiên ở
Việt Nam nghiên cứu về thế giới nghệ thuật của Morrison, trên phương diện hình tượng ngôn từ, theo hướng nghiên cứu thi pháp, về ba tác phẩm nổi tiếng và quen
thuộc: Mắt biếc, Người yêu dấu và Bài ca Solomon Từ quan niệm mảnh vỡ như là
đặc trưng tư duy hậu hiện đại, Nguyễn Thị Minh Thảo cho rằng: “Toni Morrison đã lựa chọn hình thức mảnh vỡ là để thể hiện thân phận vỡ nát của người nô lệ”, “sự vỡ vụn cả về thể xác lẫn tâm hồn” [52; tr.119]
Trang Bách khoa toàn thư Britannica giới thiệu Toni Morrison và khẳng định
bà là nhà văn có vị trí nổi bật trong nền văn học Mỹ đương đại, giới thiệu các tác phẩm của bà, (các) tác giả kết luận: “Chủ đề trung tâm của tiểu thuyết của Morrison
là kinh nghiệm người Mỹ da đen; trong một xã hội bất công, mỗi nhân vật của bà là một hành trình đấu tranh để tìm kiếm chính mình và bản sắc văn hoá dân tộc mình” Tiểu thuyết của Morrison đậm đặc yếu tố kỳ ảo, huyền thoại: huyền thoại đóng vai trò vừa như một mô hình kết cấu tác phẩm, vừa là cội nguồn tổ tiên tự trong ý nghĩa bản thể
Từ cảm quan lịch sử và ý thức hệ của người Mỹ gốc Phi, Patrick Bryce Bjork,
ở Đại học Colorado, trong công trình Những tiểu thuyết của Toni Morrison: Sự tìm kiếm bản thể và vị trí trong cộng đồng (The Novels of Toni Morrison: The Search
Trang 34for Self and Place within the Community, 1992) [85] đã chứng minh rằng, trong mỗi cuốn tiểu thuyết, Morrison dựng lại các giá trị truyền thống và chính những di sản văn hóa ấy soi sáng cho mỗi cá nhân trong việc tìm kiếm bản thể; từ sự nhận thức ấy
mở ra những lựa chọn sự phát triển hay tự hủy hoại, hòa hợp trong cộng đồng hay chia tách và tha hóa
Cuốn sách tập trung nghiên cứu năm tiểu thuyết đầu của Morrison, riêng Bài
ca Solomon có bài viết “Bài ca Solomon: Hiện thực và Huyền thoại trong Cộng đồng” (Song of Solomon: Reality and Mythos within the Community) Tác giả
khẳng định huyền thoại tổ tiên tham gia vào đời sống hiện thực của nhân vật (Milkman) và trên cơ sở đó, Milkman nỗ lực tìm kiếm bản sắc cá nhân và vị trí trong cộng đồng: “anh có thể truyền cảm hứng và hướng dẫn những người khác” [85; tr.95] Như vậy, theo Bjork, nơi mà bản sắc cá nhân của người da đen được tìm thấy chính là ở trong cộng đồng và bằng kinh nghiệm của cộng đồng chứ không phải trong tư duy siêu việt của cá nhân
Cũng nghiên cứu về những sáng tác giai đoạn đầu của Morrison, Oumar
Ndongo với bài báo Toni Morrison và những tác phẩm giai đoạn đầu của bà: tìm kiếm châu Phi (Toni Morrison and her early works: in search of Africa) [153] đã nghiên cứu vấn đề ý thức kép của người Mỹ gốc Phi, từ cái nhìn Khác của chủng tộc
và giới tính, tức là da đen và nữ giới, từ Pecola, đến Sethe là những số phận bị tác động và lai ghép giữa những bảng màu đen trắng Tác giả bài báo cũng nỗ lực chỉ ra những kết nối của tiểu thuyết Morrison với mảnh đất tổ tiên, mặc dù không có tác phẩm nào lấy bối cảnh châu Phi, song khuôn mặt văn hóa tinh thần Phi châu vẫn luôn hiện diện trong tâm thức của nhân vật Dẫu vậy, nhân vật của Morrison không sống với cảm thức lưu vong bởi cá nhân luôn gắn bó chặt chẽ với cộng đồng và được truyền bá lịch sử và văn hoá tổ tiên bằng điệu nhạc, bài ca và huyền thoại… Thân phận của người da đen trong cảm quan nghệ thuật của Morrison nói
chung và tiểu thuyết Bài ca Solomon nói riêng là sự vỡ nát của thân phận bên lề văn
hóa da trắng và hành trình của mỗi cá nhân là hành trình truy tìm bản thể, tìm kiếm được hay không và bằng cách nào là lựa chọn riêng của mỗi người
Trang 351.3 Nghiên cứu vấn đề tương lai người Mỹ da đen
Nếu thân phận của người Mỹ da đen trong cảm quan của các nữ văn sĩ được xây dựng gắn liền với lịch sử, văn hóa và thời đại thì vấn đề tương lai người Mỹ da đen cũng được hiểu trong mối tương tác đó Và vấn đề bức thiết của người da đen
trong Túp lều bác Tom là thoát khỏi gông cùm xiềng xích của chế độ nô lệ thì Cuốn theo chiều gió lại hoài vọng về khung cảnh những đồn điền nô lệ đông đúc đang lao động trên cánh đồng bông thanh bình, và Bài ca Solomon như một chiếc la bàn định
hướng con đường cho người Mỹ gốc Phi giữa đại dương văn hóa
1.3.1 Về tiểu thuyết Túp lều bác Tom
Khi thi sĩ Henry Longfellow (1807-1882) viết: “Túp lều bác Tom là một thành
công vĩ đại nhất trong lịch sử văn học”, có lẽ ông đang nói đến ảnh hưởng sâu rộng của tác phẩm đối với tinh thần thời đại Beecher-Stowe viết cuốn tiểu thuyết khi cuộc tranh đấu về vấn đề nô lệ da đen ngày càng gay gắt, không khí ấy được ví như nồi thuốc súng chỉ đợi một tia lửa để nổ tung tất cả Tương lai của người da đen sẽ
ra sao, một cách gián tiếp, trở thành câu hỏi lớn nhất của nước Mỹ giữa thế kỷ XIX
Trong công trình Tác gia văn học Mỹ (thế kỷ XVIII-XX, 2004), Lê Đình Cúc
đã quan tâm đến cách Túp lều bác Tom giải quyết vấn đề lớn của thời đại, song ông
có phần thất vọng khi kết luận: Beecher-Stowe là “người đào mồ chôn chế độ nô lệ nhưng (bà) đã không biết chôn nó như thế nào” [14; tr.214] Ở điểm này, Đỗ Đức
Hiểu, trong lời giới thiệu bản dịch Túp lều bác Tom cho rằng: “Tác phẩm có hai con
đường hướng đến tự do, con đường nhẫn nhục cam chịu nhưng thê thảm của bác Tom và con đường đấu tranh không khoan nhượng của Eliza” [7; tr.9] và dịch giả ủng hộ con đường thứ hai, con đường tất yếu nếu muốn có tự do Ý kiến trên của các nhà nghiên cứu là một điểm tham chiếu thú vị, để chúng tôi có cơ sở tranh luận
và đưa ra quan điểm cá nhân về vấn đề này, trong chương bốn của luận án
Bà Dorothy S Brown với bài báo Luận đề và Chủ đề trong Túp lều bác Tom, (Thesis and Theme in Uncle Tom’s Cabin, 1969) cho rằng Túp lều bác Tom là một
bản cáo trạng không đầy đủ các tội phân biệt chủng tộc của nước Mỹ, rằng luận đề của cuốn tiểu thuyết là “chế độ nô lệ là độc ác” [87; tr.1330] và người da đen trong tác phẩm sở hữu hầu hết các đức tính tốt đẹp (như thông minh, siêng năng, giàu tình
Trang 36yêu thương) Brown nhận xét các nhà phê bình gần hai thập kỷ này (khoảng giữa thế
kỷ XX) thường đọc Túp lều bác Tom như một tài liệu xã hội, lịch sử hơn là một tác
phẩm văn chương, theo bà “chủ đề của tác phẩm là một cái gì đó hoàn toàn riêng biệt: sức mạnh của tình yêu, tình yêu gia đình, tình yêu nhân loại, tình yêu Thiên chúa” [87; tr.1332] Và chính bằng sức mạnh tình yêu mà xây dựng được sự hòa hợp màu da (cậu chủ George và gia đình bác Tom, những người da trắng Quaker giúp đỡ gia đình Eliza - George, và Jim cùng bà mẹ già trên đường chạy trốn), hướng đến những giá trị nhân bản và tự do
Tư tưởng ấy của bà Brown gặp gỡ với quan điểm của Laurie E Rozaki trong
công trình Hướng dẫn bước đầu tìm hiểu văn học Mỹ (The Complete Idiot‟s Guide
to American Literature, 1999), rằng một trong những thông điệp chính của Stowe gửi gắm vào cuốn sách là “cuộc khủng hoảng chế độ nô lệ chỉ có thể được giải quyết bằng tình yêu Kitô giáo” [164; tr.125], rằng bằng tình yêu vĩ đại thì con người mới vượt qua được bạo lực và cái ác Với quan điểm đạo đức như vậy, giới
Beecher-nghiên cứu khẳng định, Túp lều bác Tom là một cuốn tiểu thuyết vẫn cần được đọc
rộng rãi một trăm năm sau khi kết thúc việc loại bỏ cái ác
Dưới nhãn quan các nhà phê bình đương đại, Túp lều bác Tom được xem như
cuốn sách tiêu biểu của chủ nghĩa nữ quyền, lý tưởng hóa, ca ngợi sức mạnh đạo đức của người phụ nữ, và bằng đạo đức của mình, những người phụ nữ da trắng như
bà Bird có thể thuyết phục chồng mình - những người có quyền bỏ phiếu chống lại chế độ nô lệ; phụ nữ da đen rất mạnh mẽ, dũng cảm, và có khả năng tìm tự do, bảo
vệ hạnh phúc của mình như Eliza Thông qua các nỗ lực của các nhà phê bình nữ
quyền Túp lều bác Tom đã một lần nữa trở thành đề tài nghiên cứu học thuật nghiêm túc như một mối liên hệ sâu sắc với thời đại ngày nay (How is Uncle Tom’s Cabin still relevant today?)
Estefanía Ons Paz bảo vệ luận án Giá trị đạo đức của chế độ nô lệ như được thể hiện trong Túp lều bác Tom của Harriet Beecher-Stowe (The moral value of slavery as represented in Harriet Beecher Stowe‟s Uncle Tom’s Cabin, 2014) ở Đại học Goteborg, chỉ ra rằng Túp lều bác Tom khẳng định sức mạnh tinh thần của
người phụ nữ (The moral power of women), họ có một quyền lực đạo đức đặc biệt,
“Beecher-Stowe với tư tưởng nữ quyền, xây dựng những phụ nữ bình đẳng với nam
Trang 37giới ở sự thông minh, lòng dũng cảm và tinh thần, sức mạnh” [156; tr.13] như bà Bird, bà Shelby, và Eliza
Một luận điểm nữa mà Estefanía Ons Paz muốn thể hiện trong luận án của mình là những đối lập trong đạo đức Kitô và chế độ nô lệ Cuốn tiểu thuyết của bà Beecher-Stowe được viết vào năm 1852, hai năm sau khi Đạo luật Slave Fugitive (Nô lệ bỏ trốn) được thông qua, tuyên bố rằng không ai được giúp đỡ, viện trợ để nô
lệ chạy trốn Cuốn tiểu thuyết nhấn mạnh sự khủng khiếp của chế độ nô lệ, và nó đối lập với Kitô giáo, đối lập với niềm tin và lương tri con người, sự đối lập giữa hiện thực và hình ảnh nước Mỹ lý tưởng Mặc dù “đạo đức Thiên chúa giáo đối lập với chế độ nô lệ dã man, nhưng tương lai của người nô lệ lầm than (như bác Tom) lại chỉ tìm thấy niềm hy vọng ở tình yêu Thiên chúa” [156; tr.20]; đây là hạn chế tư tưởng của nữ văn sĩ hay là mô-típ Khải huyền trong niềm tin Kitô giáo (bác Tom như chúa Kitô)?
Nhấn mạnh vai trò của tình yêu thương Kitô, bà Jane Tompkins trong bài viết
Sức mạnh tình cảm - Túp lều bác Tom và quan điểm Chính trị của Lịch sử Văn học (Sentimental Power - Uncle Tom’s Cabin and the Politics of Literary History, 1994)
cho rằng: “Chế độ mẫu hệ mang màu sắc Thanh giáo là điều mơ ước của
Beecher-Stowe” Eva và Tom là những nhân vật biểu tượng mang màu sắc Thánh kinh: “Tên
đầy đủ của Eva là Evangeline, và được cho là “một hiện thân trực tiếp và nhân cách của Tân Ước” thì bác Tom là người đại diện cho “tất cả nhân đức và luân lý Kitô giáo” [179; tr.515], đồng thời, những người nô lệ, phụ nữ và trẻ em trong tác phẩm đều rất ngoan đạo (trừ mẹ Eva, bà Augustine) đặc biệt là “người phụ nữ nên được xem là Thiên chúa trong hình dạng con người” Và theo Tompkins, mục tiêu chính trị tố cáo chế độ nô lệ chỉ là thứ cấp, khát vọng của Beecher-Stowe thể hiện trong tác phẩm của mình là xây dựng thiên đường trên mặt đất, vì “thần học đã gắn bó với chính trị và chính trị phục vụ cho sự tiến bộ của vương quốc Thiên chúa” [179; tr.518]
Tác giả bài viết cũng cho rằng tên của địa danh rõ ràng là mang mục đích chính trị: “Khi Eva nhìn ra hồ Pontchartrain, cô nhìn thấy “Canaan tự do”; Eliza thấy ở phía bên kia của sông Ohio là “bờ vĩnh cửu”; Eliza và George Harris sẽ chấm dứt kiếp nô lệ khi họ băng qua hồ Erie” [179; tr.514] Nước là môi trường trung gian
Trang 38giữa hai thế giới: nô lệ và tự do, giữa địa ngục và thiên đường Cũng trong phân tích
các biểu tượng của địa danh, Chủ đề và biểu tượng trong Túp lều bác Tom gắn
những địa danh với hành trình các nhân vật: câu chuyện nô lệ của bác Tom càng ngày càng di chuyển xuống phía Nam xa xôi, còn hành trình tự do của Eliza và Georgia tiến lên phía Bắc Việc phân chia không gian như vậy thể hiện quan điểm chính trị của nữ văn sĩ: miền Bắc là vùng trời tự do, miền Nam là vũng lầy nô lệ
Tóm lại, trong bối cảnh lịch sử Hoa Kỳ giữa thế kỷ XIX, khi Túp lều bác Tom
ra đời, với nhãn quan khác nhau, lập trường chính trị khác nhau, họ đọc thấy tác phẩm có những “phác thảo” khác nhau về tương lai đất nước Có ba luồng tư tưởng
cơ bản: 1/những người theo chủ nghĩa bãi nô cho rằng cuốn sách chưa đủ mạnh để chấm dứt triệt để chế độ nô lệ, rằng bác Tom quá thụ động; 2/những người chống chế độ nô lệ ôn hòa thì ca ngợi phẩm chất của người nô lệ, chỉ ra ảnh hưởng của chế
độ nô lệ đối với cuộc sống gia đình và cảm thông cho thân phận của người nô lệ đặc biệt là những người phụ nữ; 3/lực lượng ủng hộ chế độ nô lệ cho rằng chế độ nô lệ
đã được thừa nhận trong Thánh kinh và cáo buộc Beecher-Stowe không hiểu gì về
đồn điền miền Nam Không chỉ vậy thuật ngữ bác Tom trở thành một hiện tượng đa nghĩa: với bộ phận này bác Tom là hình ảnh Chúa tự hiến sinh cuộc sống của mình
để cứu cuộc sống của những người nô lệ khác thì với những người khác, đó là một thuật ngữ xúc phạm đối với cá nhân người Mỹ gốc Phi, một kẻ phản bội chủng tộc mình để làm vừa lòng những ông chủ da trắng,… Trải qua thời gian, những dòng tư tưởng trên vẫn chưa ngã ngũ, cho thấy những tư tưởng, thái độ khác nhau về chế độ
nô lệ và thân phận của người da đen
1.3.2 Về tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió
So với Túp lều bác Tom thì Cuốn theo chiều gió không đặt trọng tâm vấn đề
ở tương lai, và nếu có thì cũng chỉ là tương lai của người da trắng; sau Nội chiến người da trắng vượt qua cơn tuyệt vọng bằng cách nào, nhưng qua đó cũng gián tiếp nói lên tương lai của người da đen
Một trong số ít công trình đề cập đến tương lai của người da đen là nghiên
cứu của Tim A Ryan, Những Đòi hỏi và Đáp ứng: Tiểu thuyết về chế độ nô lệ
Mỹ từ Cuốn theo chiều gió [166] Trong nghiên cứu của Tim A Ryan, chế độ nô
Trang 39lệ là một cuộc đối thoại văn hóa đang diễn ra mà vượt cả ranh giới chủng tộc,
khởi đi từ vấn đề các hệ tư tưởng của Cuốn theo chiều gió và các giả định có vấn
đề về tâm lý nô lệ, đến Tự thú của Nat Turner (The Confessions of Nat Turner của William Styron), Nguồn gốc (Roots của Alex Haley), Sấm sét da đen (Black
Thunder của Arna Bontemps), Như một sự xét lại quá khứ từ tiểu thuyết, đồng thời cho thấy bức tranh sống động về chế độ nô lệ trong văn học, cuối cùng, Ryan cũng không quên khẳng định rằng: “Thái độ của một cá nhân đối với chế
độ nô lệ là hoàn toàn phụ thuộc vào sắc tộc của mình” [166; tr.10]
Như trên, chúng tôi đã nhắc đến nhận định của Ryan rằng, vấn đề trung tâm
của Cuốn theo chiều gió không phải là vấn đề chủng tộc, vì vậy sau Nội chiến
Mammy vẫn là Mammy, những người đầy tớ trung thành là những người da đen
tốt, còn những nô lệ trên đồng ruộng trở thành những kẻ vô gia cư
Không có nhiều công trình nghiên cứu về tương lai người da đen trong tư tưởng của Mitchell, nhưng theo một cách khác những số phận ấy vẫn tiếp tục hiện diện Từ tranh cãi mạnh mẽ về cảm quan lịch sử và thân phận người đen,
Cuốn theo chiều gió đã trở thành một điểm tham chiếu cho các nhà văn miền
Nam, cả nhà văn da đen lẫn da trắng Bên cạnh những tác phẩm viết tiếp về cuộc
đời của các nhân vật da trắng như: Scarlett (Scarlett của Alexandra Ripley, 1991), Rhett (Rhett Butler’s People của Donald McCaig, 2007), và những thay đổi của thời đại (The Wind Done Gone của Alice Randall, 2001), (The Winds of Tara của Katherine Pinotti, 2008), hay những nhọc lòng của Anne Edwards khi
đi tìm huyền thoại của cuộc đời Mitchell như là những trải nghiệm mà nhân vật
nữ chính đã trải qua (Road to Tara của Anne Edwards, 1984) thì còn có tác phẩm viết tiếp về số phận của Mammy (Ruth’s Journey của Donald McCaig, 2014) Với Cuốn theo chiều gió Mitchell đã sáng tạo ra một huyền thoại cho người
miền Nam với một niềm hy vọng vượt qua thảm họa, “sau tất cả, ngày mai sẽ là một ngày khác”, trong đó, người da đen không được nhắc tới
Ít nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu học thuật và những tài liệu
bàn về Cuốn theo chiều gió phần lớn theo phương pháp lịch sử xã hội, quan điểm
Trang 40chính trị của nữ văn sĩ đối với chế độ nô lệ, hoặc nghiên cứu tác phẩm dưới ánh sáng một số lý thuyết văn học như thuyết nữ quyền, Trong luận án này, chúng
tôi hy vọng sẽ khai thác vấn đề chủng tộc và người da đen trong tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió từ cảm quan nghệ thuật của nhà văn
1.3.3 Về tiểu thuyết Bài ca Solomon
Sau thập niên 60 của thế kỷ XX, phong trào đòi sự bình đẳng của người Mỹ gốc Phi bước sang giai đoạn mới và đạt được nhiều thành tựu đỉnh cao, đặc biệt
có nhiều thủ lĩnh là trí thức tiến bộ, với những phương châm hành động khác nhau như James Baldwin, Malcom X (1925-1965) và Martin Luther King Jr (1929-1968)… Là một nhà văn có ý thức chính trị rất cao, Morrison bao giờ cũng hướng đến vấn đề bản thể và tương lai của người Mỹ gốc Phi trong tiểu
thuyết của mình, Bài ca Solomon là tác phẩm tiêu biểu nhất cho giai đoạn này
Từ hướng tiếp cận phê bình lịch sử xã hội, Nguyễn Thị Hiếu Thiện, với đề
tài Con đường đi tới tự do của người Mỹ da đen trong nghệ thuật tiểu thuyết Toni Morrison (2003), đã đi sâu vào ba tác phẩm Mắt biếc, Bài ca Solomon, Người yêu dấu khẳng định quá trình tới tự do của cộng đồng người Mỹ da đen là
quá trình từ thức tỉnh bản thể đến chiều sâu bản sắc nguồn cội Và chỉ khi ý thức được giá trị của bản thân, của nguồn cội thì nhân vật mới được giải thoát và hướng tới tự do đúng nghĩa
Nếu luận văn của Nguyễn Thị Hiếu Thiện sử dụng phương pháp phê bình Mác-xít là phương pháp chủ đạo, còn luận án của Nguyễn Thị Minh Thảo lại xuất phát từ góc nhìn của thi pháp học, thì Nguyễn Phương Khánh trong công
trình Toni Morrison và tiểu thuyết (2012) và luận án Cái huyền ảo trong tiểu thuyết của Toni Morrison (2015) đi vào bốn tiểu thuyết Mắt biếc, Bài ca Solomon, Người yêu dấu, và Jazz lại giải mã thế giới nghệ thuật Morrison từ yếu
tố huyền ảo Tuy cách tiếp cận khác nhau nhưng mỗi công trình có đóng góp nhất định trong hành trình tìm kiếm Morrison: Nguyễn Thị Hiếu Thiện quan tâm nhiều đến vấn đề của cả cộng đồng của người da đen, Nguyễn Thị Minh Thảo lại
đi sâu vào từng mảnh vỡ của bản thể trong sự ghép nối, đứt đoạn, Nguyễn