Trong thời gian nghiên cứu đã thu được cá Leo thành thục ở trạng thái sẵn sàng sinh sản buồng trứng ở giai đoạn IV có khối lượng 1.550 gam, tương ứng với chiều dài 68 cm.. Mặc dù là loà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHAN PHƯƠNG LOAN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ LEO
(Wallago attu) TẠI AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2006
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHAN PHƯƠNG LOAN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ LEO
(Wallago attu) TẠI AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts NGUYỄN VĂN KIỂM
2006
Trang 3Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 2 năm 2006 tại
An Giang Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm hình thái và phân loại, đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản sinh sản cá Leo ngoài tự nhiên Mẫu cá Leo được thu mỗi tháng 1 lần ở 5 điểm thu mẫu dọc theo tuyến sông Hậu thuộc địa bàn tỉnh An Giang Có tổng cộng 394 mẫu cá Leo được thu trong thời gian nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cá Leo trên tuyến sông Hậu thuộc địa bàn tỉnh An
Giang chỉ có một giống và một loài duy nhất là Wallago attu Cá Leo là loài cá ăn
động vật và cá con là thức ăn ưa thích của chúng Có sự tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Leo theo phương trình hồi W=0,0021L3,2022với hệ số tương quan R2=0,9866 Cá Leo trong tự nhiên là loài chỉ sinh sản một lần trong năm,
mùa vụ sinh sản của cá tập trung vào các tháng 5, 6, 7 Trong thời gian nghiên cứu đã thu được cá Leo thành thục ở trạng thái sẵn sàng sinh sản (buồng trứng ở
giai đoạn IV) có khối lượng 1.550 gam, tương ứng với chiều dài 68 cm Hệ số thành thục sinh dục (GSI) ở cá Leo cái thấp, trung bình 4,05% Đường kính trứng tương đối lớn (từ 0,81-1,08 mm ở cá có tuyến sinh dục giai đoạn IV) Sức sinh sản tuyệt đối trung bình của cá Leo là 218.751 trứng/cá cái và sức sinh sản tương đối trung bình 69.714 trứng/kg cá cái
Cá Leo (Wallago attu) là loài có kích thước lớn, thịt ngon, có thể trở thành đối
tượng nuôi có triển vọng vùng ĐBSCL Vì vậy, kết quả nghiên cứu này rất quan trọng để tiến đến nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi loài cá này trong tương lai
Trang 4Abstract
This research was carried out from March, 2005 to February, 2006 in An Giang province The aims of the research were to characterize the biology and behaviors
of Freshwater Shark (Wallago attu Bloch and Schneider, 1801) as morphology,
feeding behaviors, growth rate and reproductive biology Specimens were collected 1 time per month at 5 research sites along Hau River, An Giang province Total of 394 specimens were collected during study period
The results showed that there was only one species of freshwater Shark; Wallago attu the research area Wallago attu is carnivorous fishes and feeding on small
fish The relationship of length and weight is expressed in equation W=0.0021L3.2022with R2=0.9866 Freshwater Shark, in natural, seasonally spawns only 1 time per year, from May to July The maturation size of fish was about 68
cm of the total body length and weighted about 1,500 g The gonad somatic index (GSI) was low at mean of 4,05% The egg diameter was rather big, varying from 0.81 to 1.08 mm The absolute average fecundity was 218,751 eggs per kilogram
of female and the relative average fecundity was 69,714 eggs per kilogram of female
Wallago attu is delicious and large fish and may be a potential fish species for
aquaculture in the Mekong River Delta of Vietnam The findings, therefore; of the research are important for the further study on breeding, nursing and culturing
of the fish in the future
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Trang xác nhận của Hội đồng ii
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt iv
Abstract v
Lời cam kết vi
Mục lục vii
Danh sách bảng ix
Danh sách hình x
Danh sách bảng hình xi
Danh mục các từ viết tắt xii
Chương 1: Giới thiệu 1
Chương 2: Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm phân bố 3
2.2 Đặc điểm hình thái và phân loại cá Leo 4
2.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.4 Đặc điểm sinh trưởng 6
2.5 Đặc điểm thành thục và sinh sản của cá 7
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 8
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 8
3.2 Vật liệu nghiên cứu 9
3.3 Phương pháp nghiên cứu 9
3.3.1 Thu mẫu 9
3.3.2 Phương pháp phân tích 9
3.4 Phương pháp phân tích số liệu 13
Chương 4: Kết quả thảo luận 14
4.1 Đặc điểm hình thái và phân bố 14
4.1.1 Đặc trưng hình thái của cá Leo 14
4.1.2 Tập tính sống của cá Leo 16
4.2 Đặc điểm sinh trưởng 17
4.2.1 Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng 17
Trang 64.2.2 Ước lượng các tham số tăng trưởng (L, K và to) 18
4.2.3 Biến động kích thước và sự bổ sung quần thể 21
4.3 Đặc điểm dinh dưỡng 25
4.3.1 Hình thái giải phẫu hệ thống ống tiêu hóa cá Leo 25
4.3.2 Tính ăn 27
4.3.3 Kết quả phân tích thức ăn bằng phương pháp tần số xuất hiện 28
4.3.4 Kết quả phân tích thức ăn theo phương pháp khối lượng 30
4.3.5 Kết hợp phương pháp tần số xuất hiện và khối lượng 31
4.4 Đặc điểm sinh sản và sự thành thục sinh dục của cá Leo 32
4.4.1 Xác định giới tính 32
4.4.2 Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục cá Leo 33
4.4.3 Sự biến động tỷ lệ đực cái trong quần đàn 37
4.4.4 Sự biến đổi giai đoạn thành thục sinh dục của cá Leo 39
4.4.5 Sự biến đổi hệ số thành thục của cá Leo theo thời gian 40
4.4.6 Quan hệ giữa hệ số thành thục và giai đoạn thành thục 42
4.4.7 Sức sinh sản 42
4.4.8 Sự biến đổi đường kính trứng 43
4.4.9 Sự biến đổi độ béo Fulton và Clark 44
Chương 5: Kết luận và đề xuất 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề xuất 47
Tài liệu tham khảo 48
Phụ lục 51
Trang 7Gtsd Trọng lượng tuyến sinh dục
GĐ TSD Giai đoạn tuyến sinh dục
LFDA Length Frequency Data Analysis
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Chỉ tiêu hình thái của cá Leo 15
Bảng 4.2: So sánh tỷ lệ các số đo về hình thái của cá Leo 16
Bảng 4.3: Tần suất chiều dài cá Leo phân bố ở tuyến sông Hậu - An Giang 18
Bảng 4.4: Mối quan hệ giữa tuổi và chiều dài tổng của cá Leo 20
Bảng 4.5: Chiều dài trung bình và phân nhóm chiều dài cá Leo 21
Bảng 4.6: Khối lượng trung bình và phân nhóm khối lượng cá Leo 23
Bảng 4.7: Các thông số về chiều dài ống tiêu hóa và chiều dài thân 27
Bảng 4.8: Tần số xuất hiện các loại thức ăn 28
Bảng 4.9: Thành phần và lượng thức ăn trong ống tiêu hóa của cá Leo 30
Bảng 4.10: Phổ dinh dưỡng của cá Leo 31
Bảng 4.11: Các giai đoạn thành thục của cá Leo theo thời gian 39
Bảng 4.12: Sức sinh sản tương đối và sức sinh sản tuyệt đối của cá Leo 43
Bảng 4.13: So sánh sức sinh sản của cá Leo với các loài cá trong họ cá Trơn 43
Bảng 4.14: Trung bình đường kính trứng cá Leo thành thục sinh dục 44
Bảng 4.15: Sự biến đổi độ béo của cá Leo theo thời gian 44
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3.1: Cá Leo 8
Hình 3.2: Những địa điểm thu mẫu cá Leo 8
Hình 3.3: Các chỉ tiêu hình thái được khảo sát trên cá Leo 10
Hình 4.1: Hình thái bên ngoài cá Leo 14
Hình 4.2: Tương quan chiều dài và khối lượng 17
Hình 4.3: Các tham số tăng trưởng theo Von-Bertalanffy 19
Hình 4.4: Đường cong tăng trưởng cá Leo 19
Hình 4.5: Mối quan hệ giữa tuổi và chiều dài cá Leo 20
Hình 4.6: Sự biến động chiều dài trung bình cá Leo 21
Hình 4.7: Biến động quần thể theo chiều dài 22
Hình 4.8: Sự biến động khối lượng trung bình 23
Hình 4.9: Biến động quần thể theo khối lượng 24
Hình 4.10: Mô hình bổ sung quần đàn cá Leo 25
Hình 4.11: Hình thái răng, miệng cá Leo 25
Hình 4.12: Hình thái lược mang cá Leo 26
Hình 4.13: Hình thái thực quản cá Leo 26
Hình 4.14: Hình thái dạ dày cá Leo 27
Hình 4.15: Hình thái ruột cá Leo 27
Hình 4.16: Tương quan giữa chiều dài ống tiêu hóa 28
Hình 4.17: Tần số xuất hiện các loại thức ăn 29
Hình 4.18: Khối lượng các loại thức ăn trong ống tiêu hóa của cá Leo 30
Hình 4.19: Phổ thức ăn của cá Leo 31
Hình 4.20: Hình dáng bên ngoài của cá Leo đực và cái 33
Hình 4.21: Gai sinh dục cá Leo đực và cái 33
Hình 4.22: Hình thái tuyến sinh dục của cá Leo cái 34
Hình 4.23: Buồng trứng cá Leo ở giai đoạn III và IV 35
Hình 4.24: Hình thái tuyến sinh dục của cá Leo đực 36
Hình 4.25: Tuyến sinh dục cá Leo đực 37
Hình 4.26: Tỷ lệ đực cái qua các tháng thu mẫu 38
Hình 4.27: Chiều dài trung bình của cá Leo… 38
Hình 4.28: Khối lượng trung bình của cá Leo 39
Hình 4.29: Biến động các giai đoạn thành thục 40
Hình 4.30: Hệ số thành thục cá Leo cái 41
Hình 4.31: Hệ số thành thục của cá Leo ở các giai đoạn 42
Trang 10Hình 4.32: Sự biến động của độ béo 45 Hình 4.33: Mối tương quan giữa độ béo với giai đoạn 45
DANH SÁCH BẢNG HÌNH Trang
Bảng hình 4.11: Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục và tế bào trứng 35
Trang 11Chương 1 GIỚI THIỆU
Từ lâu các giống loài thủy sản được coi là nguồn thức ăn tự nhiên có giá trị dinh dưỡng cao của con người Do đó nhu cầu của con người đối với loại thực phẩm này ngày càng cao và con người cũng đã có nhiều hoạt động để bảo tồn và phát triển nguồn lợi dinh dưỡng vô giá này Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nguồn lợi thuỷ sản có xu hướng giảm Riêng ở Việt Nam, việc ô nhiễm môi trường cùng với hoạt động khai thác tôm cá bừa bãi đã có tác động xấu tới điều kiện sống của nhiều giống loài thuỷ sản Một số loài đã có nguy cơ tuyệt chủng và nằm trong sách đỏ Việt Nam như cá Chiên, cá Anh Vũ, (Trương Thủ
Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Phạm Báu và ctv, 2004; Phạm Minh Thành,
2006)
Tập đoàn cá nuôi ở nước ta khá phong phú về giống loài, đặc biệt là ở Ðồng Bằng Sông Cửu Long Tuy nhiên, việc phát triển đối tượng nuôi mới với những loài cá bản địa có triển vọng về kinh tế, trong đó có cá Leo là sự cần thiết Cá Leo là loài
có kích thước lớn, phẩm chất thịt ngon được nhiều người ưa thích (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Điều này cho thấy cá Leo có thể đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng trong nước và cũng có thể dùng để xuất khẩu khi có
đủ điều kiện Mặc dù là loài cá có giá trị kinh tế cao, nhưng những nghiên cứu về loài cá này ở nước ta chưa nhiều, đặc biệt là nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản cá Leo
Xuất phát từ nhận thức trên, việc nghiên cứu các vấn đề về sinh học loài cá này sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho hoạt động qui hoạch, khai thác và bảo vệ nguồn lợi, đồng thời làm nền tảng cho quy trình sản xuất giống và nuôi đối tượng
có giá trị này Trên cơ sở đó, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Leo
(Wallago attu) tại An Giang” được thực hiện
Mục tiêu của đề tài
Cung cấp một số dẫn liệu về sinh học của cá Leo để làm cơ sở ban đầu cho việc xây dựng quy trình sản xuất giống loài cá này trong tương lai Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tiến hành nghiên cứu một số nội dung sau
Trang 12Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu 1: Nghiên cứu các đặc điểm hình thái, phân loại của cá Leo Nghiên cứu 2: Nghiên cứu tập tính dinh dưỡng của cá Leo
Nghiên cứu 3: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cá Leo
Nghiên cứu 4: Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá Leo
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Hiện nay, trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về cá trơn nói chung, tùy theo điều kiện và mục đích mà các nghiên cứu cung cấp cho độc giả những kết quả ở
mức độ khác nhau Tuy nhiên, những nghiên cứu riêng biệt về cá Leo (Wallago attu) còn ít Trên cơ sở những tài liệu nghiên cứu về cá Leo và những vấn đề có
liên quan được tổng hợp và trình bày theo một số nội dung sau
2.1 Đặc điểm phân bố
Trong các loài cá sống ở nước ngọt thì bộ Siluriformes có số lượng vào hàng lớn nhất Các loài trong họ cá Trơn phân bố rất rộng Người ta đã tìm thấy chúng ở Bắc, Trung và Nam Phi, Châu Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á… Ít gặp chúng ở vùng nước mặn, lợ, ngoại trừ 2 họ (Ariidae và Plotosidae) Đó là những cá sống ở nước lợ, mặn nhưng di cư vào nước ngọt tìm mồi Cho nên có thể nói bộ Siluriformes là bộ cá nước ngọt (Nelson, 1994; Marc Legender, 1998)
Riêng cá Leo có phạm vi phân bố khá rộng từ phía Nam đến Đông Nam Châu Á,
có mặt ở các nước như Pakistan, Ấn Độ, Sri-Lanka, Nepal, Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Indonesia và Việt Nam
Cá Leo là loài cá thích sống ở vùng nước ấm, nhiệt độ cho cá Leo sinh sống từ 19 – 290C (thích hợp nhất là từ 22-250
C), pH = 6-7,6
Ở Campuchia, cá Leo có mặt ở hầu hết các thủy vực (trừ vùng cao và các dòng suối), đặc biệt chúng xuất hiện nhiều ở các sông nhất là lưu vực các con sông lớn như sông Mekong (Rainboth, 1996) Ở những thủy vực như vậy chúng tìm thấy điều kiện sống thuận lợi như: có nhiều cây cỏ thủy sinh, dòng chảy nhẹ, nền đáy bùn,… Ngoài ra cá Leo cũng dễ dàng thích nghi với điều kiện hồ chứa (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Nelson, 1994; Rainboth, 1996) Một trong những đặc điểm nổi bật của loài cá này so với các loài khác là chúng có khả
năng nhảy rất cao (Kawamoto et al., 1972)
Cá Leo là loài cá di cư ngắn Hoạt động này nhằm tìm nơi thích hợp để đẻ trứng
và tìm mồi Trong mùa ngập lũ, cá Leo theo dòng chảy di cư đến đầm, kênh, rạch trên vùng ngập nước và ở đó trong suốt mùa lũ Nơi đây cũng là nơi đẻ trứng của chúng Tới khi nước rút, chúng chuyển ra sông Mekong hay các chi lưu lớn, ở đó
Trang 14chúng sống trong các vực sâu cho đến mùa ngập năm sau (A.F Poulsen et al.,
2005)
Theo Nelson (1994) thì họ Siluridae có 12 giống và 100 loài Ở Việt Nam, họ
Siluridae có 6 loài cá có giá trị kinh tế trong đó có cá Leo (Wallago attu ) (Mai
Đình Yên, 1992; Bộ thủy sản, 1996) Tuy nhiên cho đến nay những hiểu biết về phân loại học, sinh lý và sinh sản của họ này còn rất ít, nhiều loài mới giống mới
và ngay cả họ mới vẫn còn đang được mô tả và còn gây nhiều tranh cãi về sự liên
hệ giữa chúng trong một họ
2.2 Đặc điểm hình thái và phân loại cá Leo
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), Mai Ðình Yên (1992) cá Leo có hệ thống phân loại như sau:
Bộ: Siluriformes
Họ: Siluridae Giống: Wallagonia
Loài: Wallagonia attu Bloch Nhưng theo Rainboth (1994), Nelson (1994) thì cá Leo có tên là Wallago attu
(Bloch and Schneider, 1801) và đây là tên loài đang được sử dụng phổ biến hiện nay Cá Leo còn có tên tiếng Anh là Freshwater Shark hay Helicopter Catfish Ở Việt Nam, cá Leo có thể còn có một số tên gọi khác nữa tùy địa phương như ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long gọi là cá Leo, nhưng các tỉnh phía Bắc gọi là
cá Nheo (Mai Đình Yên, 1978)
Cá Leo có vi lưng nhỏ với 5 tia vi, khởi điểm trước vây bụng, chiều cao vi lưng tương đương với cao thân Vây ngực rộng, gai vi ngực cứng, nhọn, vi đuôi chẻ hai, rãnh chẻ rất sâu, thùy trên lớn hơn thùy dưới (Mai Đình Yên, 1992; Khoa và Hương, 1993; Rainboth, 1996) Không có gai lưng, không có vi mỡ trên lưng Gốc vi hậu môn rất dài, chiếm khoảng 2/3 chiều dài cơ thể và tách rời hẳn vi
đuôi, số lượng tia vi hậu môn dao động từ 77-96 tia vi (Kawamoto et al., 1972;
Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Rainboth, 1996)
Công thức vi của cá Leo được Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993
mô tả như sau: Vi hậu môn có 84-94 tia mềm (A.84-94); Vi bụng có 1 tia vi cứng
và 8-9 tia vi mềm (V.1, 8-9); Vi lưng có 1 tia vi cứng và 4 tia vi mềm (D.1,4); Vi
Trang 15ngực có 1 tia vi cứng và 13-14 tia vi mềm Số tia màng mang: 17-20, số lược mang trên cung mang thứ nhất:15- 22
Theo Mai Đình Yên (1992) cá Leo có lưng màu xanh thẫm, bụng trắng nhạt, các
vi có màu hơi vàng Trong khi, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993 lại cho rằng mặt lưng của thân và đầu của cá có màu xám đen, ánh xanh lá cây và lợt dần xuống bụng, các vi có màu đen lợt
Cá Leo (W attu) có đầu to, dẹp đứng ở phần mõm, trán rộng, miệng rộng, hàm
trên không co duỗi được Rạch miệng xiên, dài, kéo dài đến gần sau mắt (Mai Đình Yên, 1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Trong miệng cá Leo có răng nhỏ, nhọn, bén, xếp thành một dãy rộng trên xương hàm, răng phía trong dài hơn răng phía ngoài, răng vòm miệng mọc thành hai đám nhỏ tách rời nhau Tất cả răng hàm và răng vòm miệng đều hướng vào hầu (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Cá Leo có hai đôi râu, râu hàm trên kéo dài đến giữa gốc vi hậu môn, râu hàm dưới kéo dài tới gốc miệng (Mai Đình Yên, 1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Rainboth, 1996)
Mắt có mí nhỏ, không nằm dưới da, ở phía trên rạch miệng và gần chót mõm so với điểm cuối nắp mang Phần trán giữa hai mắt rộng và cong lồi Lỗ mang rộng, màng mang không dính với eo mang (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Thân thon, rất dài, dẹp bên (Kawamoto et al., 1972; Mai Đình Yên, 1992; Trương
Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Chiều dài chuẩn của cá Leo bằng 6 lần
chiều cao thân (Kawamoto et al., 1972) Đường bên bắt đầu từ điểm sau khe
mang và chấm dứt ở điểm giữa gốc vi đuôi Thân và đầu không có vảy (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Cá Leo là loài cá có kích thước lớn, sản lượng tương đối cao, phẩm chất thịt ngon, tuy nhiên hiện nay đang suy giảm mạnh, cần được bảo vệ (Mai Đình Yên, 1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
2.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cấu tạo và chức phận của các cơ quan bắt mồi và tiêu hoá có liên hệ chặt chẽ với
sự khác biệt về thức ăn của cá Theo Nikolxki, 1964 cá ăn thịt có miệng kiểu vồ bắt, với đặc điểm là miệng rộng, răng sắc trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái Chiều dài của ruột có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm dinh
Trang 16dưỡng của cá, những loài cá có tính ăn thiên về động vật sẽ có chỉ số Li/L0 (tỷ lệ chiều dài ống tiêu hóa và chiều dài thân) ≤1, cá ăn tạp có Li/L0 = 1- 3 và cá ăn tạp thiên về thực vật có trị số Li/L0 >3
Ngoài ra, để xác định tính ăn của cá người ta còn căn cứ trên lược mang, cấu tạo của dạ dày, răng hầu,… Theo Nikolxki, 1964 cá ăn thịt có que mang ngắn, thưa,
dạ dày to, manh tràng và răng hầu phát triển
Tính ăn của cá thay đổi theo kích thước của cơ thể Lúc còn nhỏ (1-3 ngày tuổi)
cá dinh dưỡng chủ yếu bằng noãn hoàng, khi hấp thu hết, cá chuyển sang ăn thức
ăn bên ngoài nhưng chủ yếu là động vật phù du cỡ nhỏ Theo Vahta (1994, được trích dẫn bởi Nguyễn Văn Kiểm, 1997), đối với cá Trơn ở giai đoạn cá con thức
ăn gồm: giáp xác nhỏ, rotifera, phytoplankton, Số ngày tuổi càng tăng tỉ lệ giáp xác nhỏ càng giảm trong khi giáp xác lớn càng tăng Ngoài ra cá Trơn cũng có thể
ăn thức ăn ở đáy như: giun ít tơ, ấu trùng Chironomus
Hầu hết các loài cá Trơn đều có tập tính bắt mồi chủ động (M Leygendre et al.,
1994; L.G Buttle, 1994 được trích dẫn bởi Nguyễn Văn Kiểm, 1997) cho rằng cá Trơn có khả năng sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau và sinh trưởng của cá có phần không tăng khi thành phần protein vượt quá 45%
Theo Smith (1945), cá Leo là loài cá ăn động vật, thức ăn chủ yếu của chúng là các loài cá nhỏ Đây là loài cá dữ, thường sống trong các thủy vực nước ngọt sâu,
diện tích rộng và chuyên kiếm ăn vào ban đêm (Poulsen et al., 2005)
Cá Leo còn nhỏ thường tìm mồi ở vùng ngập nước hoặc ven đầm hồ lớn, trong khi cá già, cá trưởng thành chủ yếu ăn cá ở những dòng sông chính khi chúng di
cư tới đó vào thời điểm nhất định trong năm (Poulsen et al., 2005)
2.4 Đặc điểm sinh trưởng
Nguyễn Văn Trọng và Nguyễn Văn Hảo (1994) cho rằng, ở cá Leo cái sinh trưởng nhanh nhất vào năm đầu, sau đó giảm dần Sự sinh trưởng theo khối lượng
ở cá Leo cái đạt tốc độ cao nhất vào năm thứ 3-4, còn ở cá đực điều này xảy ra vào năm thứ 3, sớm hơn cá cái
Cá Leo là loài cá có kích thước lớn Theo Mai Đình Yên, 1992; Rainboth, 1996 kích thước tối đa của cá đã tìm thấy là 200cm, nặng 25kg Tuy nhiên, người ta đã tìm thấy cá Leo có trọng lượng 45kg ở Ấn Độ và thực tế, hiện nay những con cá Leo có kích cỡ lớn hơn 180 cm chiều dài là rất hiếm (Rainboth, 1996, N.H
Chandrashekhariah et al., 2000)
Trang 17Nguyễn Văn Trọng và Nguyễn Văn Hảo (1994) xác định mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Leo ở Campuchia qua phương pháp bình phương
bé nhất Kết quả tính toán đã tìm ra phương trình hồi qui ở cá Leo đực là W = 0,003028 L3,107 và ở con cái là W = 0,00232 L3,195
2.5 Đặc điểm thành thục và sinh sản của cá
Ở cá Leo, cá trưởng thành, thành thục phải đạt kích thước 90 cm chiều dài và có
khối lượng trên 2 kg (A.F Poulsen et al., 2005) Sức sinh sản của cá Trơn thường
rất lớn và có sự thay đổi tùy theo loài Chẳng hạn như sức sinh sản tương đối của
cá Tra dao động trong khoảng 130.000-150.000 trứng/kg cá cái; ở cá Kết là 9.200-69.560 trứng/kg cá cái; ở cá Ngát là 1.414-1.560 trứng/kg cá cái (Nguyễn
Văn Triều và ctv, 2006)
Đa số cá Trơn đều có tập tính đẻ vào mùa ngập lũ và một số loài có tập tính di cư sinh sản, bãi đẻ của chúng có thể là các vùng ngập nước ven sông, hồ lớn vào mùa mưa Cũng có thể chúng làm tổ trong các hang hốc, dọc các bờ ao, mương, nơi có mực nước nông 0,1-0,3m (Nguyễn Tường Anh, 1979 được trích dẫn bởi
Nguyễn Văn Triều và ctv, 2006)
Trong tự nhiên, trứng cá Leo hiện diện trong suốt mùa ngập lũ, tập trung từ tháng
6 đến tháng 8, đây cũng là thời gian cá đực và cá cái bắt cặp sinh sản
Theo A F Poulsen et al (2005), cá Leo mang trứng từ tháng 3 đến tháng 10, thời
điểm cá Leo có trứng tập trung nhất là tháng 5 và tháng 7 Ngư dân ở Chiang Khong, miền Bắc Thái Lan cho rằng, từ tháng 6 đến tháng 7 là thời điểm những con cá Leo nặng trên 2kg đến những chỗ nước nong trên những cánh đồng cỏ ngập nước để đẻ trứng Những trứng này dính trên nền đáy, bám vào cây cỏ và nở trong vòng ba ngày
Theo Bardach (1959, trích từ A.F Poulsen et al., 2005) và ngư dân Việt Nam
cho rằng cá Leo thường đẻ trứng trên những cánh đồng lúa trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung nhất vào tháng 7 đến tháng 9
Trang 18Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện
- Đối tượng nghiên cứu: Cá Leo (Wallago attu Bloch and Schneider, 1801)
Hình 3.1: Cá Leo (Wallago attu)
- Thời gian thực hiện: từ tháng 3/2005 đến tháng 3/2006
- Địa điểm thực hiện: mẫu cá được thu ở các điểm dọc theo sông Hậu thuộc địa bàn tỉnh An Giang
Hình 3.2 Những địa điểm thu mẫu cá Leo
Trang 193.2 Vật liệu nghiên cứu
- Dụng cụ gồm: mẫu cá, bộ đồ giải phẩu cá, cân điện, kính hiển vi, kính lúp, và một số dụng cụ khác
- Hoá chất: formol cố định mẫu, dung dịch Bouin,
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thu mẫu
Mẫu cá được thu mỗi tháng/lần từ các ghe câu, ghe đáy, chà của người dân đánh bắt cá và các điểm chợ trên địa bàn tỉnh An Giang Mỗi đợt thu từ 30-50 con theo tiêu chuẩn dùng cho nghiên cứu sinh học (mẫu cá thu được đảm bảo ở nhiều cỡ khác nhau)
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng: mẫu cá Leo sau khi thu được cân,
đo và ghi nhận số liệu tại chỗ
- Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản của cá Leo: cá vừa mới thu thì được mổ bụng lấy nội quan và cố định bằng dung dịch formol 10% để đem về phân tích tại phòng thí nghiệm thuộc Khoa Nông Nghiệp & TNTN- Trường Đại Học An Giang
3.3.2 Phương pháp phân tích
3.3.2.1 Đặc điểm hình thái
- Các chỉ tiêu hình thái (hình 3.3) được xác định dựa theo phương pháp của I.F.Pravdin, 1973 kết hợp với quan sát trực tiếp Với:
+ L: Chiều dài tổng (cm) + Lo: Chiều dài chuẩn (cm)
+ P: Khối lượng toàn thân (g) + Po: Khối lượng cá bỏ nội quan (g) + O: Đường kính mắt (cm) + OO: Khoảng cách giữa hai mắt (cm) + H: Chiều cao thân (cm) + Hđ: Chiều cao đầu (cm)
+ Lđ: Chiều dài đầu (cm) + Lcđ: Chiều dài cuống đuôi (cm)
+ Hcđ: Chiều cao cuống đuôi (cm) + Số tia vi ngực (P)
+ Số tia vi lưng (D) + Số tia vi bụng (V)
+ Số tia vi hậu môn (A)
Trang 20Hình 3.3: Các chỉ tiêu hình thái được khảo sát trên cá Leo
3.3.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Xác định tính ăn của cá: Dựa vào hình thái cấu tạo của bộ máy tiêu hóa (miệng, răng, lược mang, dạ dày, ruột), kết hợp với phân tích thức ăn trong dạ dày theo phương pháp tần số xuất hiện (TSXH) và phương pháp khối lượng để xác định
tính ăn của cá
+ Phương pháp tần số xuất hiện: trong phương pháp này số lượng từng loại
thức ăn riêng biệt hiện diện ở dạ dày (ruột) cá được qui đổi ra phần trăm (%) trên tổng số thức ăn có trong dạ dày (ruột) cá được quan sát (Hynes, 1950 được trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
+ Phương pháp khối lượng: trước tiên cân tổng khối lượng thức ăn có trong dạ
dày (ruột) cá, sau đó cân khối lượng của từng loại thức ăn có trong dạ dày (ruột)
cá Khối lượng của mỗi loại thức ăn được tính thành phần trăm trên tổng khối lượng thức ăn có dạ dày (ruột)
3.3.2.3 Đặc điểm sinh trưởng
Xác lập mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng
Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Leo được thực hiện bằng cách: Mẫu cá thu được qua các tháng sẽ được cân, đo khối lượng và chiều dài, sau
đó xác lập phương trình tương quan của cá theo công thức
Trang 21W = a*Lb
Trong đó:
W: Khối lượng L: Chiều dài a: Hằng số b: Số mũ của mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng
Ước tính các tham số tăng trưởng (L, K, t o ) và xác định tuổi cá Leo
Các tham số tăng trưởng của cá Leo được tính toán dựa vào dữ liệu tần suất chiều dài của các mẫu cá được thu thập định kỳ hàng tháng và kéo dài trong 12 tháng (từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 2 năm 2006)
Sử dụng phương trình Von-Bertalanffy, 1934 để ước tính các tham số tăng trưởng (L, K, to) của cá Dựa vào đường cong tăng trưởng không mang tính mùa vụ và phương pháp ELEFAN của phần mềm LFDA (Length Frequency Data Analysis)
để xác định các tham số tăng trưởng của cá Từ các tham số tăng trưởng L, K, tocho phép xác định tuổi của cá theo phương trình Von-Bertalanffy, 1934
Phương trình Von - Bertalanffy
Lt = L (1-e-K (t-to))
Trong đó: Lt: Chiều dài tổng của cá ở tuổi t
Trang 223.3.2.4 Đặc điểm sinh học sinh sản
- Nghiên cứu mối tương quan giữa kích thước với sự thành thục của cá trên cơ sở
đo chiều dài tổng và khối lượng của cá Leo có tuyến sinh dục phát triển
- Quan sát trực tiếp đặc điểm của tuyến sinh dục kết hợp với tiêu bản mô học để xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục dựa theo thang 6 bậc của O.F Xakun và N.A Buskaia, 1982
+ Tiêu bản mô học buồng trứng được thực hiện dựa theo phương pháp của Drury
và Wallington, 1967; Kiernan, 1990 Các bước được tiến hành như sau: Tuyến sinh dục của cá được cố định bằng dung dịch Bouin, thời gian cố định 24 giờ, sau
đó mẫu phôi được giữ trong dung dịch cồn 70% Sau khi cố định, mẫu phôi được cắt thành từng phần nhỏ Trước khi tiến hành đúc khối mẫu được khử nước lần lượt qua các dung dịch 70%, 80%, 95%, 100% ethanol và xylen Mẫu được cắt ra thành từng băng dài, cho vào nước ở nhiệt độ 45-500C làm cho parafin căng ra Dùng kim mũi giáo tách riêng từng đoạn và dán lên lam Tiêu bản sau đó được nhuộm với thuốc nhuộm Haematoxyline và Eosin (H&E), quan sát và chụp ảnh dưới kính hiển vi quang học
+ Quan sát tiêu bản mô học: quan sát và mô tả các giai đoạn phát triển của tế bào trứng trên cơ sở bắt màu thuốc nhuộm khác nhau của các thành phần trong trứng
- Xác định mối tương quan giữa độ béo với sự thành thục
Nghiên cứu độ béo của cá theo công thức (I F Pravdin, 1973)
W x 100 Fulton (%) = -
L03Trong đó: W: Khối lượng toàn thân cá (g)
L0 : Chiều dài cá tính từ đầu mõm tới hết cán đuôi (cm)
Wo x 100 Clark (%) = -
L03
Trong đó: Wo: Trọng lượng cá bỏ nội quan (g)
L0: Chiều dài cá tính từ đầu mõm đến hết phần cán đuôi (cm)
Trang 23- Xác định sự biến đổi hệ số thành thục Gonadosomatic Index (GSI) theo thời gian: GSI được xác định cho từng đợt thu mẫu và là một trong những chỉ số phản ánh mùa vụ sinh sản của cá dựa theo công thức
GSI = 100 x (Khối lượng tuyến sinh dục)/(Tổng khối lượng cá)
- Xác định sức sinh sản
Sức sinh sản tuyệt đối (F) của cá được xác định theo Banegal, 1967
F = nG/g
Trong đó:
G: là khối lượng buồng trứng
g: khối lượng 01 mẫu trứng được lấy ra để đếm
n: số lượng trứng có trong 1 mẫu trên (mẫu trứng được lấy để đếm ở 3
vị trí: đầu, giữa và cuối của buồng trứng)
Sức sinh sản tương đối của cá = Sức sinh sản tuyệt đối/khối lượng cá cái
- Xác định sự biến đổi đường kính trứng: đường kính trứng được xác định bằng thước đo trên kính hiển vi, trứng được lấy để đếm ở 3 vị trí đầu, giữa và cuối của buồng trứng với số lượng trứng là 30 tế bào trên 1 mẫu
3.4 Phương pháp phân tích số liệu
Dùng phần mềm Excel để tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị tối thiểu và tối đa Sử dụng phần mềm LFDA để xác định các tham số tăng trưởng
và phần mềm FISAT II (FAO) để xác định sự bổ sung quần thể cá
Trang 24Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm hình thái và phân bố
4.1.1 Đặc trưng hình thái của cá Leo
Kết quả thu mẫu cá ở tuyến sông Hậu thuộc địa bàn tỉnh An Giang từ tháng 3/2005 đến tháng 2/2006 cho thấy, cá Leo ở đây chỉ có một giống và một loài
duy nhất là Wallago attu, không phát hiện loài nào khác so với các kết quả
nghiên cứu trước đây của tác giả Mai Đình Yên, 1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993 Loài cá Leo ở nghiên cứu này có vị trí phân loại như sau:
Bộ: Siluriformes
Họ: Siluridae
Giống: Wallago
Loài: Wallago attu (Bloch and Schneider, 1801)
Hình 4.1: Hình thái bên ngoài cá Leo (Wallago attu)
Kết quả nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái trên 357 mẫu cá Leo có kích thước dao động từ 12,5 đến 112 cm, tương ứng với khối lượng 8,8 - 6.400 gam được trình bày ở bảng 4.1
Trang 25Bảng 4.1 Chỉ tiêu hình thái của cá Leo (n=357)
Khối lượng bỏ nội quan (W0) 5,70 5080,00 652,30 666,20
Số lược mang trên cung mang
Kết quả ở hình 4.1 và bảng 4.1 chỉ ra rằng: cá Leo có thân thon dài, dẹp bên, toàn thân không có vẩy Đầu tương đối to, cứng, dẹp bằng Miệng rất rộng, hàm trên không co duỗi được, hàm dưới hướng lên trên, xương hàm rất cứng, rạch miệng xiên kéo dài qua mắt Răng hàm sắc, nhọn, có nhiều răng chó (răng dài, nhọn, nhô cao, cong vô xoang miệng) và xếp thành nhiều hàng Cá Leo có hai đôi râu, râu hàm trên phát triển, kéo dài đến khởi điểm vi hậu môn, chiều dài râu trên dài hơn 1/3 chiều dài thân (Lrâu/L = 0,41), râu hàm dưới ít phát triển hơn, kéo dài tới góc miệng Mắt nhỏ, hình bầu dục, lỗ mang rộng, màng mang phát triển và không dính với eo mang Có 22 đến 38 lược mang trên cung mang thứ nhất
Vi lưng nhỏ, tia vi lưng thứ nhất dài xấp xỉ 2 lần tia vi lưng thứ hai, vi ngực rộng, vi hậu môn rất dài và không dính với vi đuôi
Mặt lưng của thân và đầu cá khi còn sống có màu xám ánh xanh lá cây, lợt dần xuống mặt bụng, bụng cá có màu trắng sữa Cá chết một lúc mặt lưng chuyển sang vàng Vi ngực, vi bụng của cá có màu trắng ánh vàng, vi lưng, vi đuôi, vi hậu môn có màu xám đen
Trang 26Bảng 4.2: So sánh tỷ lệ các số đo về hình thái của cá Leo trong nghiên cứu này
Kết quả bảng 4.2 cho thấy tỷ lệ các số đo về hình thái trong nghiên cứu có khác so với kết quả của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993;
Nguyễn Bạch Loan và ctv, 2006 Có sự khác biệt này là do số mẫu của nghiên
cứu này đủ lớn về số lượng (n=357), kích cỡ của mẫu phân bố khá rộng (L = 12,5 - 112 cm), trong khi số mẫu của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương chỉ có 16 và hầu hết cá cá đã trưởng thành (L = 163 - 422 cm), của
Nguyễn Bạch Loan và ctv là 40 (L = 42 - 77,7 cm) nên kết quả nghiên cứu như
đã trình bày có thể có tính khách quan hơn
4.1.2 Tập tính sống của cá Leo
Kết quả ghi nhận từ những hộ dân tham gia đánh bắt cá Leo qua 12 đợt thu mẫu trên tuyến sông Hậu thuộc địa bàn tỉnh An Giang cho biết cá Leo thường sống ở những khu vực sông rộng, nước chảy nhẹ và đặc biệt là chúng tập trung nhiều ở khu vực có nguồn cá, tôm dồi dào Để đánh bắt cá Leo người ta thường dùng lưới kéo, câu, lưới xúc, lưới bao chà (phổ biến lúc nước lũ bắt đầu rút)
Qua các đợt thu mẫu chúng tôi nhận thấy đa số những con cá Leo thu được đều thuộc nhóm cá trẻ, những con cá già rất ít và chỉ bắt gặp chúng vào mùa sinh sản trên địa bàn huyện An Phú Điều này phù hợp với nhận định của A.F
Poulsen et al., 2005 là cá trẻ có thể trải qua mùa khô ở khu vực nước ngập
quanh năm, trong khi những con cá già di cư đến khu vực sâu để ẩn náu, đến mùa lũ chúng di chuyển đến những vùng ngập để sinh sản, đến khi nước rút chúng mới di chuyển ra các chi lưu lớn của sông Mekong
Trang 274.2 Đặc điểm sinh trưởng
4.2.1 Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng
Dựa vào số liệu thu thập chỉ tiêu hình thái của cá Leo (Wallago attu), mối
tương quan giữa chiều dài và khối lượng thể hiện qua phương trình hồi qui W=0,0021L3,2022với hệ số tương quan R2=0,9866
y = 0,0021x 3,2022
R 2 = 0,9866
01.000
Hình 4.2: Tương quan chiều dài (L) và khối lượng (W) cá Leo
Hình 4.2 cho thấy có sự tương quan hồi qui chặt chẽ giữa chiều dài và khối
lượng của 394 mẫu cá Leo (Wallago attu) có chiều dài cơ thể (chiều dài tổng)
từ 5,8 - 112 cm, tương ứng với khối lượng cơ thể từ 0,9 – 6,400 g Kết quả nghiên cứu đã cho thấy khi chiều dài cá nhỏ hơn 50 cm thì có sự tăng nhanh
về chiều dài, nhưng khi cá đạt chiều dài L = 50 - 60 cm thì sự gia tăng về chiều dài và khối lượng gần như tương đương nhau Đến khi cá đạt chiều dài lớn hơn 60 cm thì sự gia tăng về khối lượng nhanh hơn chiều dài Trong khi
đó, Nguyễn Văn Trọng và Nguyễn Văn Hảo, 1994 cho rằng cá Leo tăng nhanh
về khối lượng khi cá đạt chiều dài L = 40 - 50 cm Như vậy có sự khác nhau
về chỉ tiêu nghiên cứu trên cùng một đối tượng Có nhiều nguyên nhân gây ra
sự khác nhau về kết quả nghiên cứu Dưới đây có thể do hai trong số các nguyên nhân đó: Thứ nhất là số mẫu trong nghiên cứu thu được nhiều hơn (394 mẫu) so với số mẫu của Nguyễn Văn Trọng và Nguyễn Văn Hảo, 1994 chỉ có 88 mẫu và thứ hai là địa bàn thu mẫu trong nghiên cứu này là Việt Nam, trong khi địa bàn thu mẫu của hai tác giả trên là Campuchia
Trang 28Mai Đình Yên và ctv (1979) cho rằng sự tăng nhanh về chiều dài trong giai
đoạn đầu ở cá có ý nghĩa thích nghi rất lớn nhằm vượt khỏi sự chèn ép của kẻ thù Trước lúc cá thể đạt được trạng thái thành thục lần đầu chủ yếu cá tăng nhanh về kích thước, khi cá đạt được trạng thái sinh sản, tốc độ tăng trưởng về chiều dài chậm lại nhường bước cho sự tăng trưởng về khối lượng Theo nhận định trên thì cá Leo ở trạng thái thành thục sinh dục, tham gia sinh sản lần đầu phải đạt kích thước từ 50 - 60 cm
4.2.2 Ước lượng các tham số tăng trưởng (L, K và t o ) và xác định tuổi cá Leo
Bảng 4.3: Tần suất chiều dài cá Leo phân bố ở tuyến sông Hậu - An Giang Chiều
Trang 29Hình 4.3: Các tham số tăng trưởng theo Von-Bertalanffy của cá Leo
Hình 4.4: Đường cong tăng trưởng cá Leo phân bố trên sông Hậu - An Giang
(đường màu vàng là đường cong tăng trưởng cá Leo, màu đỏ là số cá thu thực
tế, màu trắng là số cá ước tính được từ chương trình LFDA, các giá trị 0; 0,5; 1,0 là nhịp thu mẫu - tháng)
Đường cong tăng trưởng của cá Leo trên tuyến sông Hậu thuộc địa bàn tỉnh
An Giang (sử dụng phương pháp ELEFAN, đường cong tăng trưởng không mùa vụ) cũng được minh họa qua hình 4.4 Kết quả cho thấy, cá có cỡ nhỏ
Nhịp thu mẫu (tháng)
Trang 30tăng trưởng nhanh hơn cá cỡ lớn và khi cá đạt chiều dài cực đại L=126,99 cm thì tốc độ tăng trưởng của cá bị giảm
Phương trình tăng trưởng Von-Bertalanffy (1934) cho phép xác định mối quan
hệ giữa tuổi và chiều dài của cá tương ứng với mỗi nhóm chiều dài đã khảo sát được trong khoảng từ 5,8 - 112 cm (Bảng 4.3) Kết quả cho thấy, khi cá Leo đạt kích thước khoảng 90,7 cm thì cá có thể được 1 tuổi, khi cá được 2 tuổi thì chiều dài có thể lên đến 109,3 cm và khi cá đạt chiều dài khoảng 118,4 cm thì chúng có thể được 3 tuổi (Bảng 4.4) Trong 394 mẫu cá Leo (Bảng 4.3) thu được chỉ có 1 cá thể có chiều dài 112 cm, nếu dựa vào phương trình Von- Bertalanffy (1934) thì rất có thể cá thể này đã được 2 tuổi
Bảng 4.4: Mối quan hệ giữa tuổi và chiều dài tổng của cá Leo tại khu vực nghiên cứu
020406080100120140
Hình 4.5: Mối quan hệ giữa tuổi và chiều dài cá Leo
Kết quả khảo sát mối quan hệ giữa tuổi và chiều dài của cá Leo tại khu vực nghiên cứu cho thấy hầu hết các cá thể thu được thuộc nhóm cá trẻ có độ tuổi
từ 0+ đến 1+ (Bảng 4.4)