Trong tham luận “Dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hóa cho người đọc” tại hội thảo bàn về chương trình và SGK THCS tác giả đã đặt vấn đề đọc hiểu trong sự tiếp cận với các khoa học liên
Trang 1Giảng viên hướng dẫn ThS.Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương
An Giang Tháng 06 năm 2008
Trang 2Chương I: BÀI ĐỌC HIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN
NGỮ VĂN MỚI BAN HÀNH 10
II Quan niệm về kiểu bài đọc hiểu 14
1 Kiểu bài giảng văn, phân tích tác phẩm văn học của chương trình cũ 14
II Quy trình dạy học đọc hiểu văn bản văn học 37
Trang 3thuật và ý nghĩa của văn bản
3 Hướng dẫn và tổ chức học sinh trình bày các hiểu biết về văn bản 39
Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 41
I Yêu cầu chung khi tiến hành thực nghiệm 41
1 Mục đích thực nghiệm 41
2.Kế hoạch thực nghiệm 41
2.1.Đối tượng 41 2.2 Địa bàn thực nghệm 41
2.3 Tên bài dạy thực nghiệm 42 2.4 Lí do chọn bài thực nghiệm 42
II Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm 43
1 Nội dung thực nghiệm 43
2 Cách thức tiến hành thực nghiệm 43
III Kết quả thực nghiệm 51
IV Đề xuất 53
1.Với GV giảng dạy 53
2 Với nhà trường, tổ bộ môn 54
3 Với những người biên soạn SGK 54
PHẦN KẾT LUẬN 55
PHẦN PHỤ LỤC 57
A Mẫu trắc nghiệm 57
B Kết quả trắc nghiệm phần phương pháp 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 5LỜI CẢM ƠN
-Õ -
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến BGH, chủ nhiệm Khoa Sư phạm của trường Đại học An Giang đã tạo điều kiện cho em có cơ hội tiến hành nghiên cứu khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn thầy Phùng Hoài Ngọc, cùng toàn thể các thầy cô Bộ môn Ngữ văn đã động viên, giúp đỡ và dẫn dắt em trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận này
Và trên hết, em xin chân thành biết ơn cô Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương đã tận tình chỉ bảo và truyền dạy cho em nhiều kinh nghiệm quý báu không những trong việc nghiên cứu khóa luận mà cả trong việc học tập và giảng dạy sau này
Em cũng xin thành thật cảm ơn các thầy cô quản lí thư viện trường Đại học An Giang, các thầy cô và các em học sinh trường THPT Bình Mỹ đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình em, bạn bè em đã không ngừng ủng hộ, động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và làm khóa luận này
Em xin hứa sẽ luôn cố gắng, phấn đấu hết mình trong học tập và rèn luyện để làm tròn trách nhiệm của một người giáo viên trong tương lai, tiếp bước các thầy cô đi trước !
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
µ¸
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Sự đổi mới trong chương trình giáo dục THPT đòi hỏi
Chương trình giáo dục THPT đã ban hành và đi vào thực thi từ năm học 2006-2007 với bộ SGK lớp10, năm học 2007-2008 là bộ SGK lớp 11, năm học tới 2008-2009 là bộ SGK lớp 12 Sự đổi mới của chương trình và SGK lần này nhằm đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho một nền kinh tế tri thức đang phát triển và thay thế cho nền kinh tế lạc hậu, sự đổi mới của chương trình lần này còn là sự đáp ứng đòi hỏi của Đảng, nhà nước và nhân dân về một nền giáo dục toàn diện
Theo chương trình giáo dục phổ thông (Ban hành kem theo quyết định số 16/QĐ BGD và ĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng BGD và ĐT), bộ môn Ngữ văn cấp THPT được xây dựng và tiếp theo chương trình của cấp THCS Bộ môn Ngữ văn vốn gồm 3 phân môn Văn-Tiếng Việt-Tập làm văn nay trong chương trình mới
đã có sự liên thông với nhau theo hướng tích hợp để tạo nên môn học Ngữ văn, môn học này lấy văn bản làm trục chính để xây dựng hệ thống tri thức và kĩ năng Trong
đó trọng tâm của yêu cầu dạy học phần văn học là giúp học sinh biết cách đọc-hiểu văn bản theo đặc trưng loại thể Đây là yêu cầu lần đầu tiên được gợi lên một cách chính thức trong SGK Ngữ văn, xác định những thao tác chiếm lĩnh giá trị tác phẩm, hướng tới hiệu quả hành dụng và kết nối kiến thức với các phần Tiếng Việt và Làm văn Đọc-hiểu văn bản có kế thừa những nội dung và phương pháp dạy học của giảng văn, của phân tích tác phẩm, của việc dạy học văn trước đây nói chung nhưng lại có những yêu cầu mới về nội dung và phương pháp dạy học Giáo viên Văn ở THPT sẽ có nhiều bỡ ngỡ, lúng túng khi dạy kiểu bài đọc hiểu văn bản Thực tế đó đòi hỏi phải có nhiều công trình nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các phương diện khác nhau của kiểu bài này, từ khái niệm đến các đặc điểm về nội dung, phương pháp dạy, phương pháp học
Nghiên cứu phương pháp dạy kiểu bài đọc hiểu văn bản trở thành đòi hỏi cấp
bách của thực tiễn giáo dục THPT hiện nay
Trang 72 Yêu cầu của môn phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt ở trường
Sư phạm đòi hỏi
Việc đổi mới chương trình và SGK đòi hỏi đổi mới về phương pháp dạy học Thông thường sau khi có chương trình, có SGK rồi các trường Sư phạm mới có được những phương pháp dạy học thích hợp để đào tạo Giáo viên Điều này không
có nghĩa là ngành phương pháp đi theo sau chương trình và SGK Trước khi chương trình và SGK chính thức thực hiện phổ cập thì chỉ thị số 15/1999/CT-BGD&ĐT ngày 20/4/1999 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT đã yêu cầu tổ chức các hoạt động để
“đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy và học trong các trường Sư phạm…” Từ năm
1999 đến nay, nhiều cuộc hội thảo đổi mới phương pháp dạy học Văn-Tiếng Việt được tổ chức ở cả quy mô cấp Bộ và cấp trường hoặc bên trường Sư phạm từng khu vực Ví dụ: Cuộc hội thảo “Đổi mới phương pháp dạy học Văn-Tiếng Việt ở cấp trường Sư phạm” tại Đà Lạt 2000, ở Thái Nguyên năm 2001, 2002 ở thành phố Hồ Chí Minh
Những cuộc dự thảo này mang tính chất đón đầu cho chương trình và SGK
mới, nhằm tìm ra và áp dụng những phương pháp tiên tiến, hiện đại thích hợp cho
việc dạy và học theo chương trình SGK mới sẽ ban hành Tuy nhiên, thực sự khi thực hiện việc giảng dạy Văn-Tiếng Việt theo chương trình và SGK mới nhiều vấn
đề mới được đặt ra, trong đó có việc nghiên cứu về kiểu bài đọc hiểu văn bản
Chương trình và SGK THPT Ngữ văn đi vào phổ cập toàn quốc từ năm
2005-2006 Nhìn lại chương trình và hệ thống giáo trình phương pháp dạy học văn và phương pháp dạy học Tiếng Việt trong các trường Sư phạm, chúng ta thấy kiểu bài Đọc hiểu văn bản chưa có sự hiện diện Điều này cũng dễ hiểu, nhưng để cho các khóa đào tạo từ nay về sau, sinh viên sau khi ra trường có đủ tự tin và năng lực dạy học chương trình mới, đặc biệt là năng lực dạy học phân môn đọc hiểu văn bản, thì nhiệm vụ nghiên cứu để xây dựng một nội dung chương trình và hệ phương pháp dạy kiểu bài này trong các trường Sư phạm là việc có tính cấp thiết
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi thấy vấn đề đặt ra hiện nay là: cần xúc tiến nghiên cứu dạy kiểu bài đọc hiểu văn bản (đề tài này gói gọn trong phạm vi SGK Ngữ văn 10) nhằm đáp ứng đòi hỏi có tính cấp thiết khi thực hiện chương trình
giáo dục THPT mới Do đó, chúng tôi đã chọn đề tài “Hướng dạy kiểu bài đọc hiểu
văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn 10” với mong muốn góp một tiếng nói nhỏ
hữu ích vào việc vận dụng phương pháp dạy học kiểu bài đọc hiểu trong SGK Ngữ văn 10
Trang 8II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Vấn đề hoạt động văn học là một vấn đề từ lâu đã được các nhà phương pháp, các nhà lý luận, phê bình trong và ngoài nước đề cập đến Chúng ta đã từng biết đến
những công trình nghiên cứu của Wolfgang Iser như “Hoạt động học”, “Hiện tượng
học về đọc” của Hanô Robert Jauss, hay “Phương pháp đọc diễn cảm” của
B.Naiđênốp và “nghệ thuật đọc diễn cảm ” của Vũ Nho…
Ở phạm vi đề tài này, chúng tôi nghiên cứu về vấn đề đọc hiểu văn bản văn học và hướng vận dụng vào quá trình dạy học hiện nay Đây là một vấn đề đang thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà giáo, các nhà phê bình và các nhà phương pháp Một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này
- GS.TS Nguyễn Thanh Hùng là người có rất nhiều tâm huyết và có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đọc hiểu
Trong bài viết “Sáng tạo trong tiếp nhận văn học ở bạn đọc học sinh”,
giáo sư nhấn mạnh: “Đọc văn gắn liền hữu cơ với việc tiếp nhận” vì muốn lĩnh hội
trọn vẹn tác phẩm không có con đường nào khác là đọc và sử dụng các hình thức đọc khác nhau dưới những bình diện khác nhau, mục đích khác nhau để đạt tới sự hiểu biết và xúc cảm thực sự nhằm khám phá bản thân và hướng thiện
Trong tham luận “Dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hóa cho người đọc” tại
hội thảo bàn về chương trình và SGK THCS tác giả đã đặt vấn đề đọc hiểu trong sự tiếp cận với các khoa học liên ngành:
+ Đọc được coi là hoạt động tư duy ngôn ngữ- một loại tư duy chủ đạo nhất của con người
+ Đọc là một hoạt động cơ bản có tầm quan trọng hết sức to lớn cần được giải quyết một cách thấu đáo Dạy học đọc hiểu phải xuất phát từ văn bản, lưu ý đến đặc trưng của ngôn ngữ
+ Đọc được xem như năng lực văn hóa có ý nghĩa cơ bản đối với sự phát triển nhân cách
Giáo sư đã xem xét tìm hiểu hoạt động đọc hiểu dưới nhiều bình diện như: văn hóa, sư phạm, xã hội học, phương pháp…
Trong cuốn “Hiểu văn-dạy văn” và cuốn “Đọc và tiếp cận tác phẩm văn
chương” đã nhấn mạnh: “đọc văn là quá trình tiếp nhận”, và những luận điểm cơ
bản về lí thuyết đọc hiểu:
Trang 9Đọc văn là hoạt động khoa học
Đọc văn chương là một thể cách phát huy trực cảm
Đọc văn chương là hoạt động ngôn ngữ trong môi trường văn hóa thẩm mĩ Đọc văn chương là quá trình sáng tạo, quá trình tiếp nhận nội sinh và ngoại sinh từ tác phẩm
Đó là một hệ thống các luận điểm mới mẻ, sáng tạo trong công trình nghiên cứu của tác giả, giúp người đọc hiểu tiếp cận tác phẩm văn chương, giải mã tác phẩm văn chương
- GS.Phan Trọng Luận trong cuốn “Phương pháp dạy học văn”cũng cho
rằng: đọc diễn cảm “là một trong những phương pháp thường dụng trong quá trình
đi vào tác phẩm văn chương”
Giáo sư khẳng định: “Hiểu bài văn rồi mới đọc tốt nhưng đọc tốt càng thêm
hiểu bài văn” Đọc diễn cảm là một hình thức lao động phù hợp với bản chất của
hình tượng và quy luật sáng tác Con đường đi vào tác phẩm văn chương phải đi từ đọc và gắn liền với việc đọc
- TS.Nguyễn Viết Chữ trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương theo loại thể” coi đọc sáng tạo là “phương pháp đặc biệt sinh ra do chính
đặc trưng của bộ môn” và “mục đích của phương pháp này là phát triển được cảm thụ sâu sắc và thêm được cảm thụ trực tiếp của trò với tác phẩm văn học nghệ thuật”, tác giả cũng đưa ra 8 yêu cầu của đọc sáng tạo:
1 Giản dị và tự nhiên
2 Thâm nhập vào nội dung tư tưởng nghệ thuật ở mức dễ hiểu với học sinh ở các lứa tuổi
3 Truyền đạt rõ ràng tư tưởng của tác giả
4 Thể hiện trình độ của mình với tác phẩm văn học
5 Thái độ tiếp xúc nhiệt tình với người nghe
6 Phát âm rõ ràng và chính xác
7 Truyền đạt được đặc điểm loại thể và phong cách tác phẩm
8 Kĩ năng sử dụng đúng giọng của mình
- GS.TS Trần Đình Sử trong cuốn “Đọc văn học văn” cho rằng: “Học văn
trước hết phải đọc hiểu văn, mà đọc hiểu văn thì không giản đơn là đọc chữ” Bất
cứ ai thoát nạn mù chữ đều có thể đọc được các văn bản, nhưng không nhất thiết đọc hiểu văn Thoát nạn “mù chữ” không có nghĩa là thoát nạn “mù văn” Tác giả khẳng
Trang 10định: “Có đọc hiểu văn rồi thì mới biết thế nào là văn hay, thế nào là thị hiếu lành
mạnh và viết thế nào là hay” Giảng văn chỉ là giảng cách hiểu của người đọc văn,
cơ sở của nó là sự đọc hiểu Đọc văn học là thông qua văn bản văn học mà đọc hiểu một văn bản lớn hơn là thế giới và cuộc đời, là tìm ý nghĩa cuộc đời qua văn bản văn
học Đọc văn là “cuộc đi tìm ý nghĩa nhân sinh qua các văn bản thẩm mĩ bằng chính
tâm hồn người đọc.”
- TS.Nguyễn Trọng Hoàn trong bài viết “Đọc hiểu văn bản Ngữ văn
THCS” cho rằng: “Đọc hiểu văn bản không chỉ là hoạt động chiếm lĩnh kiến thức
cho phân môn văn học mà còn là đầu mối cho việc vận dụng và liên thông kiến thức đối với các phân môn Tiếng Việt và Làm văn…”
Bài viết đề cập đến 3 vấn đề:
Thứ nhất là vấn đề đọc và người đọc: tác giả nhận thấy vấn đề đọc ngỡ như
“cũ như trái đất” mà lại không hề cũ và gần đây đang dành được nhiều quan tâm
của nhiều người Để đọc được, người đọc phải có “năng lực cảm thụ ngôn ngữ mà
suy rộng ra là năng lực cảm thụ văn hóa, có trình độ đọc, vốn văn hóa nhất định để vượt qua những “khoảng cách”…”
Thứ hai là luận điểm “Đọc, một phương thức tiếp nhận văn học” Đọc là một
quá trình xác định một kiểu quan hệ giao tiếp, là một phương thức tiếp nhận nghệ thuật ngôn từ, qua đó người đọc biểu hiện nhu cầu giao cảm, hưởng thụ văn hóa và phát triển nhân cách đồng thời bộc lộ chính mình…
Luận điểm thứ ba: bàn về vấn đề đọc hiểu văn bản trong day học tích hợp Ngữ văn bậc THCS Văn học là phân môn được xếp ở vị trí mở đầu của một môn học thuộc kiến thức công cụ, nó được thể hiện trong sách giáo khoa dưới dạng đọc hiểu
Theo tác giả, một yêu cầu có tính nguyên lí của đọc hiểu văn bản là đọc tác phẩm theo đặc trưng thể loại Để đọc hiểu không đi chệch quỹ đạo người đọc có thể tham khảo hệ thống câu hỏi hướng dẫn, câu hỏi luyện tập và phần đọc thêm
Đọc hiểu văn bản đòi hỏi nhiều năng lực sáng tạo để đáp ứng yêu cầu kết nối
hệ thống tri thức trong một thế giới học tập của bộ môn, góp phần rút dần khoảng cách, hạn chế hiện tượng cô lập và tách rời kiến thức giữa Văn-Tiếng Việt-Làm văn, giữa lí thuyết với thực hành, góp phần khẳng định bản chất xã hội cũng như ý nghĩa sáng tạo thực tiễn của hoạt động tiếp nhận văn học
- Sách giáo viên Ngữ văn lớp 6 đề cập đến một số vấn đề chung về chương
trình và SGK môn Ngữ văn THCS có viết: vấn đề “đọc hiểu văn bản” là “quan
Trang 11trọng và trực tiếp” nhằm giúp học sinh đạt kết quả học văn trong mục tiêu nhiệm vụ
tích hợp nói chung khi học văn bản tác phẩm
Cách làm chủ yếu vẫn là bằng hình thức nêu câu hỏi hướng dẫn nhưng nhấn mạnh phương châm đề cao công việc hoạt động của học sinh nhằm tìm hiểu văn bản theo ba hướng đọc hiểu: suy nghĩ-vận dụng, liên tưởng-tích lũy của phương pháp dạy học hiện đại Các tác giả nhấn mạnh một số điểm: coi trọng yêu cầu học sinh đọc kĩ văn bản và chú thích để nhớ nội dung văn bản và nghĩa của các từ khó
- Tác giả Nguyễn Văn Bính ở bài viết “Học sinh đọc tác phẩm văn học như
thế nào?” trên Tạp chí VH-TT tháng 9/2002 viết: “Đọc tác phẩm là một việc quan
trọng bởi vì không thể hiểu tác phẩm nếu không đọc, không thể hiểu đúng, hiểu sâu nếu không đọc kĩ lưỡng và không có sự đồng cảm nếu người đọc không thể sống với tác phẩm với tất cả tâm hồn mình”
- Thạc sĩ Trần Đình Chung trong bài viết “Tiến tới một quy trình đọc hiểu
trong bài học Ngữ văn mới” đã viết : “Đọc hiểu là hoạt động trung tâm của hoạt
động dạy học văn đổi mới”, người viết đưa ra khái niệm đọc hiểu không diễn tả hai
hành động tách rời là đọc và hiểu mà “đọc hiểu là hoạt động đọc văn một cách
nghiêm túc, có nghiền ngẫm, cảm xúc, tưởng tượng và liên tưởng” Tác giả cho
rằng: “Bản chất đọc hiểu là tìm hiểu phân tích để chiếm lĩnh văn bản bằng nhiều
biện pháp và hình thức dạy học văn, trong đó biện pháp dạy văn bằng hệ thống câu hỏi cảm thụ văn bản được thực hiện dưới hình thức đối thoại là quan trọng nhất”
- Tiến sĩ Trần Thanh Bình trong bài viết “Mấy ý kiến về đọc hiểu văn bản
văn học Việt Nam lớp 10” trên báo Dạy và học ngày nay số 11-2007 đã viết: “Đọc
hiểu văn bản văn học thực chất là phương pháp tiếp nhận nghệ thuật ngôn từ bằng
sự cảm thụ trực tiếp, là sự hiểu thấu ngôn ngữ và là sự phân tích, phát hiện ý nghĩa sâu xa trong văn bản Mục đích của đọc hiểu là hình thành và duy trì những ấn tượng nghệ thuật để học sinh tiếp tục đi sâu vào nội dung tư tưởng và hình thức ngôn ngữ tác phẩm”
Trên đây chúng tôi đã trình bày một cách sơ bộ những công trình nghiên cứu
và những bài viết xung quanh vấn đề đọc hiểu văn bản Nhìn chung, những bài viết được trình bày trên mới chỉ đề cập đến một số vấn đề chung hoặc đi vào một khía cạnh cụ thể của vấn đề, chưa có cái nhìn hệ thống hay có hướng vận dụng cụ thể vào quá trình dạy học hiện nay
Trang 12
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong khuôn khổ một luận văn, chúng tôi không thể bao quát tất cả lý thuyết
về hoạt động đọc hiểu văn bản mà chỉ tập trung nghiên cứu một kiểu bài mới xuất hiện trong chương trình Ngữ văn THPT, kiểu bài đọc hiểu văn bản nhằm nâng cao hiệu quả, nâng cao chất lượng dạy và học cho HS THPT Tuy nhiên, chúng tôi không có tham vọng đề cập hết mọi vấn đề liên quan tới chương trình và SGK toàn cấp THPT mà chỉ bước đầu đưa ra một số ý kiến và phương pháp tiếp cận, để lí giải kiểu bài đọc hiểu trong SGK Ngữ văn 10
Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học kiểu bài đọc hiểu theo hướng giao tiếp, phát huy năng lực sáng tạo, tích cực chủ động của HS-chủ thể học tập
IV MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.Nghiên cứu nắm vững lý thuyết đọc hiểu, bài đọc hiểu văn bản trong SGK Ngữ văn lớp10
2.Từ đó đề ra hướng dạy kiểu bài đọc hiểu văn bản văn học trong SGK Ngữ văn lớp10
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Kiểu bài đọc hiểu văn bản hình thành trên cơ sở của môn giảng văn cũ, nên giữa hai loại bài này có những điều giống và khác nhau Bằng việc đối chiếu, so sánh, chúng tôi muốn tìm ra tính kế thừa và cách tân của kiểu bài đọc hiểu Phương pháp đối chiếu, so sánh sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan về vấn đề đang nghiên cứu, từ đó có thể đưa ra những giải pháp hợp lí trong việc xây dựng phương pháp cho việc dạy kiểu bài đọc hiểu trong SGK Ngữ văn 10
2 Phương pháp điều tra, quan sát
Phương pháp này chúng tôi nhằm điều tra tình trạng dạy và học của GV và
HS khi tiến hành dạy học kiểu bài đọc hiểu ở lớp 10, nắm được sự thay đổi của môn học này trong SGK THPT trước đây và hiện nay Qua đó để đánh giá phương pháp dạy học của GV cũng như kết quả học tập của HS qua thực tế dạy và học môn đọc hiểu văn bản
Trang 13Quá trình điều tra thực trạng giúp chúng tôi rút ra được những kết luận cần thiết để tìm ra phương pháp phù hợp với nội dung dạy học kiểu bài đọc hiểu
3 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu Phương pháp này chúng tôi sử dụng sau khi đã tìm ra được quy trình và các biện pháp dạy kiểu bài đọc hiểu, xây dựng được phương pháp phù hợp với kiểu bài này, đồng thời thiết kế được những giáo án mẫu nhằm thể hiện những kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy học của GV và HS Thông qua phương pháp này, chúng tôi hiện thực hoá nội dung nghiên cứu trong thực tế giảng dạy ở phổ thông,đánh giá kết quả nghiên cứu qua quá trình kiểm tra kiến thức của HS sau bài giảng Cuối cùng, chúng tôi tiến hành thống kê, đánh giá kết quả
Việc sử dụng các phương pháp trên trong quá trình nghiên cứu sẽ giúp chúng tôi có được những kết quả khoa học, khách quan về công trình nghiên cứu của mình
Từ đó, chúng tôi có thể đánh giá được điểm thành công và hạn chế của đề tài Những hạn chế khó tránh khỏi trong quá trình nghiên cứu sẽ được người nghiên cứu tìm ra nguyên nhân và đề xuất hướng giải quyết
VI ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về lý thuyết đọc hiểu văn bản, kiểu bài đọc hiểu văn bản nói chung và văn bản văn học nói riêng Từ đó đề
ra hướng dạy kiểu bài đọc hiểu văn bản văn học trong nhà trường phổ thông Chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ cho việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT một vấn đề đang được đề cập đến trong nhiều công trình nhưng chưa đi vào hệ thống và thiếu tính khả thi
VII CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn gồm ba phần với các nội dung chính như sau:
I Lý do chọn đề tài
II Lịch sử vấn đề
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
IV Mục đích nghiên cứu
V Phương pháp nghiên cứu
VI Đóng góp của luận văn
Trang 14PHẦN NỘI DUNG
Chương I: BÀI ĐỌC HIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN NGỮ VĂN
MỚI BAN HÀNH
I Quan niệm về đọc hiểu văn bản
II Quan niệm về kiểu bài đọc hiểu:
III Bài đọc hiểu văn bản trong chương trình môn Ngữ văn và trong SGK Ngữ văn 10
Chương II: DẠY BÀI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC TRONG SGK NGỮ VĂN 10
I Các căn cứ đề xuất cách dạy bài đọc hiểu
II Quy trình dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
I Yêu cầu chung khi tiến hành thực nghiệm
II Nội dung và cách thức thực hành thực nghiệm
III Kết quả thực nghiệm
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 15PHẦN NỘI DUNG
±±
Chương I: BÀI ĐỌC HIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN NGỮ
VĂN MỚI BAN HÀNH
I QUAN NIỆM VỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Vấn đề đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông trong thực tế từ trước đến nay chưa được chú ý đúng mức Cấp Tiểu học, đọc hiểu văn bản là một bộ phận của nội dung dạy học Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 với mục tiêu rèn cho HS kĩ năng đọc lưu loát, diễn cảm đồng thời bước đầu hiểu được nôi dung, cảm nhận vẻ đẹp mà văn bản
đề cập đến Lên THCS và THPT đọc hiểu văn bản không còn là bộ môn nữa, học sinh được học phân môn Giảng văn, học kĩ năng phân tích tác phẩm văn học, còn đọc hiểu trở thành một bộ phận nhỏ trong kĩ năng phân tích tác phẩm văn học và rất
it khi giáo viên chú ý rèn luyện Trong khi đó, trong suốt 12 năm học tập ở trường phổ thông, lên bậc đại học hoặc ra nghề học sinh sử dụng hoạt động đọc hiểu nhiều nhất Các em đọc bài học, bài ghi, đọc SGK, truyện… Rõ ràng kĩ năng đọc hiểu văn bản có một vị trí quan trọng trong quá trình hoạt động học tập của học sinh Chương trình mới ở các cấp học ra đời đã đặt kĩ năng đọc hiểu vào đúng vị trí mà nó vốn có
+ Ở Tiểu học, chương trình mới yêu cầu học sinh phải được luyện đọc đúng, lưu loát, diễn cảm và đọc hiểu
+ Ở THCS, bộ môn giảng văn được thay thế bằng phân môn đọc hiểu văn bản, trong đó chú trọng rèn luyện cho học sinh khả năng đọc hiểu văn bản, yêu cầu học sinh phải tự mình cảm nhận nội dung, nghệ thuật văn bản là chính
+ Chương trình Ngữ văn THPT (gồm ba phần: Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn) tập trung rèn luyện toàn diện các kĩ năng: đọc văn, thực hành tiếng Việt và Làm văn Phần Đọc văn, chương trình chú trọng việc đọc sáng tạo nhằm đào tạo năng lực đọc hiểu các loại văn bản, năng lực tóm tắt, khái quát, đánh giá các phương diện nội dung và nghệ thuật của văn bản đã đọc, rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh, tạo cho học sinh kĩ năng nắm bắt thông tin nhanh, nhạy, chuẩn xác, đáp ứng yêu cầu của đời sống hiện đại
Khái niệm đọc hiểu là một khái niệm có lịch sử lâu đời ở nhiều nước trên thế giới nhưng còn khá mới mẻ đối với Việt Nam Khái niệm này bắt đầu xuất hiện và được các nhà nghiên cứu luận bàn nhiều từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành
Trang 16thay đổi chương trình và SGK ở bậc THCS và THPT Tuy nhiên, xuất phát từ những nhu cầu và mục đích khác nhau, người ta có thể đề xuất những cách lý giải khác nhau về khái niệm
- Giáo sư Phan Trọng Luận trong cuốn “Phương pháp dạy học văn” cho
rằng: “Đọc văn có nghĩa là đọc cho sáng rõ từng nghĩa, tình cảm thái độ, tâm trạng
nhà văn gửi gắm cho người nghe, người đọc…” [17, 149]
Giáo sư còn cho rằng “Đọc văn học không phải chỉ là thu nhận cái hiện thực
được phản ánh và trong tác phẩm mà quan trọng hơn là đọc được cái phần chủ quan của người đọc” [17, 148]
- Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong công trình nghiên cứu “Đọc và tiếp
nhận tác phẩm văn chương” đã đưa ra nhận định “Đọc văn chương là giải mã văn
bản bằng cách đọc được thao tác hóa phù hợp, có cơ sở khoa học chắc chắn Đọc văn nói chung là tự lực đọc thầm và đọc cho mình, đó là quá trình tri âm, chiêm nghiệm đi với tri giác ngôn ngữ và phản ảnh”[12, 70] Giáo sư khẳng định: “Đọc văn là thứ lao động tích cực, năng động vừa nhập cuộc vừa hóa thân vào thế giới cảm xúc riêng của chính mình”[12, 72] và vì thế “Đọc văn chương luôn đòi hỏi con người được sống chứ không phải con người bị cột chặt vào tác phẩm”[12,90]
Đọc hiểu tác phẩm văn chương là quá trình người đọc dần dần phát hiện ra các tầng lớp ý nghĩa do kết cấu, tổ chức nghệ thuật đem lại, cụ thể là do lớp ngôn từ tạo nên Hiểu được ý tưởng của nhà văn gửi gắm trong tác phẩm, hiểu ý nghĩa, giá trị riêng của tác phẩm từ đó thấy được ý đồ sáng tạo của nhà văn
- PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương cho rằng: “Đọc tác phẩm là hoạt động
đặc thù của nhận thức văn học nhằm tạo nên sự hòa đồng giữa tác giả và bạn đọc, làm cho khoảng cách giữa tác phẩm và bạn đọc, giữa tác giả và học sinh được rút ngắn lại Đọc tác phẩm là biến chữ viết thành lời nói sinh động, biến dòng chữ vô tình thành dòng chữ hữu tình Từ đó giúp học sinh đi sâu vào thế giới hình tượng, thế giới cảm xúc làm cho chúng hiện lên trong tâm tưởng của học sinh làm các em
có cảm giác được với sự vật, hình ảnh, con người”[13,196]
- Giáo sư Trần Đình Sử quan niệm rằng: “Đọc là một hoạt động cơ bản của
con người để chiếm lĩnh văn hóa Đọc văn là để cảm, để sống, để thưởng thức, để dùng, để tự phát triển bản thân…đọc là tìm ra ý nghĩa cho một thông điệp được tổ chức bằng một hệ thống tín hiệu…” (Báo văn nghệ số 31.2/8/2003)
Trang 17Tác giả còn cho rằng “Đọc là một tổng hòa của nhiều quá trình, nhiều hành
vi nhằm đạt mục đích là nắm bắt ý nghĩa của văn bản Mọi quá trình đọc và hành vi đọc đều nhằm một mục đích là nắm bắt ý nghĩa văn bản được đọc, tức là hiểu văn bản để sống trong thế giới nghệ thuật, thưởng ngoạn, giải trí, làm giàu tâm hồn mình” (VH-TT tháng 11/2007)
- TS Nguyễn Viết Chữ đề cập “Đây là phương pháp đặc biệt được sinh ra do
chính đặc trưng bộ môn Nó là hệ thống của từng phương pháp khác nhau hỗ trợ nhưng chung vẫn là đọc Nó không chỉ quy về việc “tập đọc” hiểu theo nghĩa đơn giản mà nó thể hiện biện pháp có tính phương pháp khác nhau của thầy giáo và hoạt động khác nhau của học sinh Mục đích của phương pháp này phát triển được
sự cảm thụ sâu sắc và thêm được sự cảm thụ trực tiếp của trò đối với tác phẩm văn học nghệ thuật” [5, 29]
- TS Nguyễn Trọng Hoàn thì cho rằng: “Đọc là phương pháp tiếp nhận nghệ
thuật ngôn từ qua đó người đọc biểu hiện nhu cầu giao cảm hưởng thụ văn hóa và phát triển nhân cách đồng thời bộc lộ chính mình Đọc hiểu văn bản là hoạt động có tính chất đầu nối của một quy trình”[9, 196]
- Trên “Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ” số 1/2004, với bài “Tiến tới một quy trình đọc hiểu văn bản” Thạc sĩ Trần Đình Chung cho rằng: “Đọc hiểu văn bản là hoạt động đọc một cách nghiêm túc, có nghiền ngẫm, cảm xúc tưởng tượng và liên tưởng”
Có nhiều quan điểm khác nhau về đọc hiểu nhưng đều thống nhất một mục đích chung: đọc văn là để hiểu văn, cảm nhận và làm sống dậy âm vang tiếng nói mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm Việc hiểu văn bản là đích cuối cùng của hoạt động đọc, nắm được các thông tin trình bày trong bài và biết đánh giá chúng Tức là để hiểu được nội dung văn bản đọc, người đọc phải thực hiện hàng loạt các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa,…xem xét quan hệ giữa các sự kiện (hoặc chi tiết, tình tiết nếu là văn bản nghệ thuật) nói đến trong văn bản Hiểu văn bản là biết về văn bản, thông cảm với cuộc sống trong văn bản, lý giải biểu đạt được
cái hay của văn bản GS.TS Trần Đình Sử cho rằng: “Hiểu văn bản không chỉ đóng
khung trong việc hiểu văn bản mà phải biết vươn ra cuộc sống Chỉ biết chữ nghĩa
mà không biết ngoài đời chỉ là con mọt sách”
Bản chất của việc đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp, ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm
Trang 18hoặc hành vi của chính mình Đọc hiểu trước tiên, là một hoạt động đọc cho bản thân người đọc Do vậy, quan niệm về đọc hiểu còn nhấn mạnh về yêu cầu: người đọc phải hiểu để làm chủ việc đọc của bản thân, bên cạnh việc hình thành và hoàn thiện năng lực đọc: đọc thầm, đọc thông thạo, lưu loát, diễn cảm,…còn phải biết cách đọc nhiều loại văn bản khác nhau có trong chương trình:văn bản nghệ thuật, văn bản hành chính, văn bản khoa học, văn bản nhật dụng, văn bản thuyết minh,…quá trình đọc hiểu các loại văn bản này là quá trình người đọc phân tích để lĩnh hội được nội dung và đích của các văn bản, nhận ra đặc điểm và cách thức tiếp cận các loại văn bản đó Đọc hiểu văn bản do vậy khác với đọc diễn cảm ở chỗ, người đọc diễn cảm truyền cảm xúc, sự hiểu biết về văn bản của mình cho người khác, còn đọc hiểu không chỉ đơn thuần là hoạt động lĩnh hội văn bản của chính bản thân người đọc qua quá trình phân tích văn bản ở nhiều bình diện khác nhau: về cú pháp, về phát ngôn,…việc đọc hiểu văn bản phụ thuộc vào vốn hiểu biết, năng lực, trình độ của người đọc
Với quan niệm coi đọc hiểu văn bản là một hoạt động giao tiếp trước tiên cho chính bản thân người đọc, dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường THPT đã chú trọng rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc hiểu để các em tự mình tiếp cận, khám phá nội dung, nghệ thuật, đặc điểm các loại văn bản có trong SGK Việc tìm hiểu các quan niệm về đọc hiểu văn bản ở mục I này sẽ là cơ sở giúp chúng tôi tiến hành đối chiếu tìm ra đặc điểm của kiểu bài đọc hiểu so với kiểu bài giảng văn, phân tích tác phẩm văn học của môn văn trước đó
II QUAN NIỆM VỀ KIỂU BÀI ĐỌC HIỂU
1 Kiểu bài giảng văn, phân tích tác phẩm văn học của chương trình cũ
Kiểu bài giảng văn-còn gọi là phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường hoặc bài dạy học tác phẩm văn chương trong chương trình cũ là kiểu bài lấy tác phẩm văn học để làm đối tượng hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh
Kiểu bài giảng văn là một hình thức cảm thụ và tiếp nhận văn học đặc biệt, diễn ra trong hoạt động sư phạm của nhà trường phổ thông với những tác phẩm văn học được lựa chọn giảng dạy phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của học sinh Mục đích của bài giảng văn là tổ chức, hướng dẫn cho học sinh hiểu, rung cảm trước cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương để từ đó thay đổi bản thân, thay đổi quan niệm về cách sống theo hướng tốt đẹp, vươn tới chân-thiện-mỹ của một cuộc sống hữu ích
Trang 19Thuật ngữ giảng văn được dùng chính thức trong nhà trường với tư cách là một phân môn khoa học khoảng 50 năm nay Giáo sư Đặng Thai Mai quan niệm:
“Giảng văn trước hết là theo dõi trong nếp áng văn, tất cả các tinh vi về tư tưởng, cái độc đáo về nghệ thuật của một tác giả Hiểu như vậy, giảng văn trước hết là chỉ
rõ sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, giữa kỹ thuật và tư tưởng trong một tác phẩm văn chương”
Từ quan niệm trên của giáo sư về môn giảng văn, nhiều nhà chuyên môn đã nghiên cứu trên nhiều bình diện phong phú của giảng văn Giáo sư Phan Trọng Luận
cho rằng: “Việc tiếp nhận một tác phẩm văn chương trong nhà trường lại mang tính
tập thể và có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên,…lao động của người giáo viên văn vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính sư phạm”
Ở đây, sự hướng dẫn của giáo viên nhằm tác động, định hướng vào quá trình phân tích, tiếp nhận của học sinh chứ không hàm nghĩa giáo viên mặc nhiên quyết định hoàn toàn, áp đặt cách tiếp nhận tác phẩm văn học cho học sinh Những quan niệm như trên về bộ môn giảng văn trong nhà trường phổ thông của các nhà nghiên cứu chuyên môn đã định hướng cho cách dạy học tác phẩm giảng văn trong nhà trường Tuy nhiên, trong một thời gian dài cách phân tích tác phẩm văn học diễn ra theo một chiều thụ động: giáo viên giảng, học sinh nghe và tái tạo lại kiến thức của thầy Kiểu phân tích tác phẩm văn học này diễn ra mọi cấp học
Ở các trường sư phạm, trong giờ dạy văn học, yếu tố chủ quan của giáo viên rất đậm nét Người dạy chỉ cố gắng trình bày thật hay, hấp dẫn, dễ hiểu cái mình cảm nhận, mình quan tâm còn việc hình thành những kỹ năng phân tích tác phẩm văn học được coi là nhiệm vụ của ngành phương pháp Cho đến khi kiểm tra, lại chỉ đánh giá năng lực của người học ở việc biết tái hiện tri thức của thầy và của tài liệu tham khảo Giữa môn văn học và phương pháp chưa có được sự liên thông thực sự Điều này dẫn đến tình trạng sinh viên lười đọc tác phẩm văn học, quen ỷ lại các loại tài liệu tham khảo mà không có thói quen tiếp cận tác phẩm một cách độc lập Để rồi khi trở thành giáo viên phổ thông cách dạy học thụ động đã trở thành một phương pháp dạy học Giáo viên dựa vào sách hướng dẫn của Bộ, các loại tài liệu tham khảo
để lấy cảm xúc giảng dạy và truyền đạt cho học sinh giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật,… theo sách Nhiều khi giáo viên đắm chìm trong bài giảng, cảm xúc của chính mình mà không hề chú ý tới vẻ thờ ơ, lãnh đạm của học sinh đối với số phận nhân vật với tình cảm của tác giả,…cách dạy học văn chương đã mặc nhiên biến học sinh thành người ngoài cuộc, một khách thể chịu sự tác động một chiều của giáo viên Mối quan hệ giữa học sinh và tác phẩm văn học bị giãn cách, lâu dần cách
Trang 20phân tích tác phẩm thụ động đã khiến học sinh trở nên chán ghét môn văn, sợ học văn
Những năm gần đây, nhiều hội thảo, hội nghị hô hào sự đổi mới cách dạy, cách học môn giảng văn, đề cao mối quan hệ chính:quan hệ giữa tác phẩm văn chương và học sinh Trong đó tác phẩm là đối tượng, học sinh là chủ thể trước đối tượng đó Giảng văn theo phương pháp mới là chuyển hóa năng lực của người học văn trong tác phẩm thành năng lực văn cho từng học sinh, coi trọng khả năng tiếp nhận văn bản của học sinh, coi trọng việc phân tích chi tiết tác phẩm song song với việc đảm bảo không phá vỡ tính chính thể của một tác phẩm văn học, chú trọng việc giảng dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, coi học sinh là chủ thể của hoạt động học
Những cách đánh giá mới về phương pháp dạy học văn sự đổi mới tích cực cho môn giảng văn của giới nghiên cứu chuyên môn nhằm mục đích nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục tình trạng yếu kém môn văn của học sinh phổ thông
Tuy nhiên các phương pháp mới áp dụng trên chương trình SGK cũ chỉ như: “bình
mới rượu cũ”, chất lượng dạy và học không được nâng cao như mong đợi của ngành
giáo dục và toàn xã hội Sự đổi mới cục bộ, rời rạc từng phần, tách nội dung và phương pháp sẽ không được hiệu quả như ý Hơn nữa ngày nay xã hội đang phát triển về mọi mặt, xu hướng hội nhập thế giới và khu vực đang chiếm ưu thế Vì thế, giáo dục phổ thông đứng trước đòi hỏi cấp bách: phải đào tạo những con người phát triển về mọi mặt, đặc biệt là năng lực sáng tạo, nhạy bén trong mọi hoạt động,…trong khi chương trình SGK cũ đã lạc hậu, không còn đáp ứng nhu cầu của
xã hội đòi hỏi, bộ môn giảng văn cũng không còn phù hợp với sự phát triển tâm sinh
lý của học sinh
Chương trình giảng văn cũ chỉ chuyên về một thể loại văn bản: văn bản nghệ thuật với những tác phẩm văn học kinh điển, đã qua thẩm định nghiêm ngặt của thời gian và nhiều thế hệ độc giả
Và dù có dạy học, giảng văn theo phương pháp cũ (thầy giảng trò nghe) hay phương pháp mới (học sinh là chủ thể của hoạt động học, thầy chỉ là người hướng dẫn) với nội dung vẫn là một loại văn bản duy nhất thì học sinh chỉ được học kỹ năng tiếp nhận và phản hồi đối với tác phẩm văn chương mà thôi Đây là thế mạnh của môn giảng văn nhưng đồng thời cũng trở thành điểm yếu, kiểu bài giảng văn trong chương trình SGK cũ chỉ cho học sinh làm quen tiếp cận với tác phẩm văn chương nên học sinh chỉ được học và rèn luyện cách phân tích tác phẩm văn học Khi xét về tính thực tiễn không phải mọi văn bản mà học sinh sẽ tiếp xúc trong suốt
Trang 21một đời người đều thuần túy chỉ là các tác phẩm văn chương, trên thực tế khối lượng văn bản phi nghệ thuật mà học sinh được đọc lớn hơn rất nhiều lần so với khối lượng văn bản là tác phẩm văn chương Do vậy, sự hạn chế của bộ môn giảng văn cũ nằm ở tính chất hàn lâm về mặt tri thức, xét theo mối quan hệ với đời sống nó không phục vụ cho cuộc sống người đọc ngoài đời Vì hạn chế này, một số giáo viên văn
đã nảy sinh khuynh hướng là: quá coi trọng vấn đề phân tích tác phẩm văn học, trong giờ giảng văn tác phẩm văn học được giáo viên mổ xẻ, phân tích kĩ lưỡng từng chi tiết, từng yếu tố và coi như vậy là đã dạy cho học sinh cách phân tích tác phẩm văn học
Với cách dạy như vậy, giáo viên phải dựa vào sách giáo viên, tài liệu tham khảo, có giáo viên soạn giáo án rất chi tiết, cụ thể và năm học này qua năm học khác chỉ sử dụng một giáo án đã soạn sẵn đó Cảm xúc và sự sáng tạo cứ bị bào mòn dần khiến cho học sinh không còn hứng thú đối với tác phẩm mình phải học Khi phương pháp mới được áp dụng theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh thì
trong một vài giờ dạy, có giáo viên hiểu “tích cực hóa hoạt động của học sinh” là
phải có thật nhiều câu hỏi, càng hỏi nhiều học sinh trong một giờ dạy là tiết học đã thành công.Lại có khuynh hướng yêu cầu học sinh trong giờ giảng văn quá cao, biến các em thành các nhà nghiên cứu văn học trong khi phần lớn học sinh không phải sử dụng văn học để lập nghiệp sau này
Kiểu học chuyên sâu của môn giảng văn trong xã hội hiện đại đã không còn phù hợp nữa Học sinh ngoài việc cần làm quen với kỹ năng phân tích tác phẩm văn học còn phải được dạy kỹ năng phân tích, tiếp nhận các loại văn bản khác để các em
có được những kỹ năng cần thiết, mọi mặt để sau này khi ra đời hoặc tiếp tục học lên cao, các em có thể sử dụng các kỹ năng nói một cách hữu ích
2 Quan niệm về kiểu bài đọc hiểu
2.1 Về mục đích
Khi kiểu bài phân tích tác phẩm văn học đã không còn thích hợp do phạm vi quá hẹp, chỉ chuyên về thể loại văn bản nghệ thuật, kiểu bài đọc hiểu được thay thế trên cơ sở kế thừa những ưu việt của môn giảng văn cũ và khắc phục hạn chế của môn học này Đối với kiểu bài đọc hiểu văn bản văn học, mục đích dạy học cũng giống như kiểu bài giảng văn cũ, tức là tổ chức, hướng dẫn cho học sinh hiểu, biết rung cảm trước cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương để từ đó hoàn thiện bản thân, thay đổi quan niệm sống theo chiều hướng tốt đẹp hơn Còn đối với những văn bản không phải là tác phẩm văn chương, bộ môn đọc hiểu giúp người đọc nắm được
Trang 22nội dung văn bản, nắm vững các thủ pháp diễn đạt nội dung để có thể hiểu đúng nội dung văn bản
Một điều đáng lưu ý ở đây là thủ pháp diễn đạt nội dung của một văn bản văn học hoàn toàn khác với một văn bản quảng cáo, khác với văn bản hành chính…Nếu như giảng văn chỉ chú trọng rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân tích tác phẩm văn học, học sinh chỉ làm quen với loại văn bản nghệ thuật thì đến kiểu bài đọc hiểu, chương trình mới mở rộng ra nhiều, thể loại văn bản khác nhau: văn bản nghệ thuật với những tác phẩm thuộc thể loại văn học dân gian, văn học trung đại và văn học Việt Nam hiện đại, văn bản phi nghệ thuật: gồm văn bản nhật dụng, văn bản thuyết minh,… Với những thể loại phong phú như trên, học sinh được làm quen và học cách phân tích, tiếp nhận nhiều thể loại văn bản khác nhau, nhận ra những điểm giống và khác nhau giữa các văn bản đó
2.2 Về phương pháp.
Kiểu bài đọc hiểu không chỉ dạy cho học sinh cách nhận biết và phân tích tác
phẩm như trên mà quan trọng hơn là rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự đọc để khám
phá văn bản thể hiện rõ tinh thần đề cao hoạt động chủ động sáng tạo của học sinh, chú trọng vào yêu cầu hiểu văn bản, hiểu các mối quan hệ giữa các chi tiết, các sự kiện trong văn bản Các em được giáo viên hướng dẫn và nêu nhận xét, cảm xúc của mình về văn bản đang học
Kiểu bài đọc hiểu ngoài việc hướng dẫn học sinh phân tích văn bản nghệ thuật về mọi mặt: nội dung ngôn từ, giá trị tư tưởng và nghệ thuật,…còn chú trọng việc rèn luyện kỹ năng tự khám phá văn bản của học sinh Người giáo viên phải tôn trọng cảm nhận chủ quan của học sinh trước văn bản và biết uốn nắn, định hướng những cảm xúc ấy không đi quá xa khỏi nội dung văn bản đang học Đối với những văn bản là tác phẩm văn học, phương pháp dạy học được bộ môn đọc hiểu văn bản
sử dụng trong việc phân tích nội dung văn bản chủ yếu vẫn là khai thác và khám phá nội dung ý nghĩa văn bản dựa trên sự rung động của bản thân người đọc, đồng thời giúp cho học sinh biết diễn đạt các cảm xúc sự rung động đó Đối với những văn bản không phải là văn bản văn học, bộ môn đọc hiểu tập trung chủ yếu vào phương pháp phân tích lý tính Đây là yêu cầu khách quan, khoa học để hướng dẫn học sinh nắm được nội dung văn bản, xác định chính xác mục đích văn bản, tìm ra các thủ pháp chính mà tác giả sử dụng để diễn đạt nội dung, mục đích văn bản
Kiểu bài đọc hiểu so với bài giảng văn còn có ưu điểm là mỗi bài đọc hiểu
đều được dạy theo tinh thần tích hợp Chúng ta đã biết chương trình SGK Ngữ Văn
Trang 23mới được soạn theo hướng tích hợp ba môn Đọc hiểu-Tiếng Việt-Tập làm văn đều lấy văn bản làm trục chính và sử dụng ngữ liệu từ văn bản để giảng dạy Dạy học đọc hiểu theo quan điểm tích hợp tạo điều kiện hỗ trợ học sinh tiếp cận văn bản sâu
và kỹ hơn
Ở kiểu bài phân tích tác phẩm văn học, học sinh chỉ được học kỹ năng tiếp nhận giá trị nội dung nghệ thuật của tác phẩm Còn cách diễn đạt lý giải kết quả cảm thụ của chính mình thì phần lớn trong giờ học các em không có cơ hội rèn luyện Đến bài đọc hiểu nhấn mạnh vấn đề rèn luyện cho học sinh cách lý giải về nội dung văn bản, cách xác định và tìm ý trong văn bản, mục đích của văn bản muốn đề cập đến Sau đó tổng hợp, đánh giá và nhận xét nội dung và đích của văn bản
Như vậy, trong giờ đọc hiểu văn bản học sinh được học cách diễn đạt cảm xúc chủ quan của mình thông qua kỹ năng tổng hợp Những kiến thức về ngôn ngữ trong môn tiếng Việt, cách thức phân tích, bình giá một văn bản theo thể loại nhất định trong môn tập làm văn, những tri thức và kỹ năng của văn học cùng các yếu tố khác như lịch sử địa lý,…được lồng ghép trong văn bản
2.3 Kết luận
Như vậy, kiểu bài đọc hiểu không phải là quá xa lạ, đột ngột đối với người dạy và người học Môn đọc hiểu được xây dựng trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của môn giảng văn cũ Đặc biệt là những cách thức, kỹ năng phân tích tác phẩm văn học vẫn được môn đọc hiểu sử dụng Giữa hai kiểu bài vẫn có những điểm chung nhất định: cùng lấy đối tượng là văn bản, cùng sử dụng chung các phương pháp tư duy: phân tích, tổng hợp, khái quát để đưa ra các nhận xét, phán đoán Ngoài ra, kiểu bài đọc hiểu được soạn thảo mới cho phù hợp với sự phát triển của giáo dục trong khu vực và trên thề giới, phù hợp với yêu cầu của xã hội đang ngày càng phát triển
Tóm lại, trong đọc hiểu đã bao hàm có giảng văn Đọc hiểu rộng hơn giảng văn, không loại trừ giảng văn Theo chương trình mới, trọng tâm của đọc hiểu vẫn là giảng văn Chính vì vậy, kiểu bài đọc hiểu tuy mới đi vào thực học chưa lâu nhưng
đã thu nhận được những kết quả rất khả quan Với việc coi trong khả năng sáng tạo, độc lập trong suy nghĩ khi tiếp nhận với văn bản của học sinh, đề cao việc rèn luyện
kỹ năng song song với quá trình hướng dẫn học sinh khám phá văn bản, kiểu bài đọc hiểu đã thật sự đáp ứng yêu cầu đổi mới về giáo dục, phù hợp với yêu cầu của xã hội
hiện đại
Trang 24III BÀI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH
MÔN NGỮ VĂN VÀ TRONG SGK NGỮ VĂN 10
Kiểu bài đọc hiểu trong chương trình môn Ngữ văn THPT được thiết kế với mục tiêu:
-Về kiến thức: Học sinh nắm được một số thể loại văn học ưu tú của dân tộc
và thế giới thông qua một số tác phẩm tiêu biểu, nắm được một số khái niệm và thao tác phân tích tác phẩm văn học, có được những tri thức sơ giản về thi pháp, về lịch
sử văn học Việt Nam…Tiếp xúc với những giá trị tinh thần phong phú và những đặc sắc về văn hóa, cảnh vật, cuộc sống, con người Việt Nam và thế giới thể hiện trong tác phẩm văn học và trong các văn bản được học
-Về kĩ năng: Làm cho học sinh có kĩ năng nghe, đọc một cách thận trọng,
bước đầu biết cách phân tích, nhận xét tư tưởng, tình cảm và một số giá trị nghệ thuật của các văn bản được học, bao gồm tác phẩm văn học và văn bản nhật dụng để
từ đó hình thành ý thức và kinh nghiệm ứng xử thích hợp đối với những vấn đề được nêu ra trong các văn bản đó Quan trọng đối với kĩ năng nghe, đọc, là nghe hiểu, đọc hiểu và cảm thụ được giá trị nghệ thuật của các văn bản
-Về thái độ, tình cảm: Làm cho học sinh biết yêu quý, trân trọng các thành
tựu của văn học Việt Nam và trên thế giới, có ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt
Mục tiêu của kiểu bài đọc hiểu trong chương trình môn Ngữ văn ở THPT được xác định rõ ràng và làm cơ sở vững chắc cho việc thiết kế chương trình của
kiểu bài đọc hiểu
10
Cơ bản
8-9 11-12
13-14 16-17 20-21
22
23 26-27
29
30
- Chiến thắng Mtao Mxây (Trích Sử thi Đăm San)
- Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy
- Uy-lít-xơ (Trích Ô-đi-xê-Sử thi Hi Lạp)
- Ramayana (Trích Ramayana-Sử thi Ấn Độ)
- Tấm Cám
- Tam đại con gà
- Nhưng nó phải bằng hai mày
- Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
- Ca dao hài hước
- Đọc thêm: Lời tiễn dặn (Trích Tiễn dặn người
Trang 2561
62
67
68 70-71
77
78 79-80
+Cáo bệnh,bảo mọi người-Mãn Giác Thiền Sư
+Nỗi oán của người phòng khuê-Vương Duy
+Khe chim kêu-Vương Xương Linh
- Đọc thêm:Thơ Hai-cư của Basô
- Phú sông Bạch Đằng-Trương Hán Siêu
- Đại cáo bình Ngô-Nguyễn Trãi (Tác phẩm)
- Tựa “Trích diễm thi tập”- Hoàng Đức Lương
- Đọc thêm: Hiền tài là nguyên khí của quốc Thân Nhân Trung
gia Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấngia Ngô Sĩ Liên
- Đọc thêm:Thái sư Trần Thủ Độ-Ngô sĩ Liên
- Phần 2:Các đoạn trích: Trao duyên, Nỗi thương mình (Truyện kiều-Nguyễn Du)
Trang 2613-14
15
17 18-19
21-22
23
24 37-38 41-42 45-46
50-51 57-58
61-62 65-66
- Vào phủ chúa Trịnh (Trích Thượng kinh kí sự-Lê Hữu Trác
- Tự tình (Bài II)-Hồ Xuân Hương
- Câu cá mùa thu-Nguyễn Khuyến
- Thương vợ-Tú Xương
- Đọc thêm:
+Khóc Dương Khuê-Nguyễn Khuyến +Vịnh khoa thi hương-Trần Tế Xương
- Bài ca ngất ngưởng-Nguyễn Công Trứ
- Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa đoản hành)-Cao
Bá Quát
- Lẽ Ghét thương(Trích Lục Vân Tiên-Nguyễn Đình Chiểu)
- Đọc thêm:
+Chạy giặc-Nguyễn Đình Chiểu
+Bài ca phong cảnh sơn-Chu Mạnh Trinh
- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc-Nguyễn Đình Chiểu
- Chiếu cầu hiền-Ngô Thì Nhậm
- Đọc thêm: Xin lập khoa luật-Nguyễn Trường Tộ
- Hai đứa trẻ-Thạch Lam
- Chữ người tử tù-Nguyễn Tuân
-.Hạnh phúc của một tang gia-(Trích Số đỏ-Vũ Trọng Phụng)
- Chí Phèo-Nam Cao
- Đọc thêm:
+Cha con nghĩa nặng-Hồ Biểu Chánh +Vi hành-Nguyễn Ái Quốc
+Tinh thần thể dục-Nguyễn Công Hoan
-Vĩnh biệt Cửu trùng đài(Trích Vũ Như Nguyễn Huy Tưởng)
Tô Tình yêu và thù hận (Trích U.Secpia)
Trang 27Romeo-Juliet-73
76 79-80 82-83 85-86
105
107-108 109-110
- Lưu biệt khi xuất dương-Phan Bội Châu
+Chiều xuân-Anh Thơ
- Tôi yêu em-Puskin
- Đọc thêm:
+Bài thơ số 28 (Trích Người làm vườn-Targo)
- Người trong bao-Sêkhốp
- Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Trích:
Những người khốn khổ-Victo Huygo)
- Về luân lí xã hội ở nước ta (Trích đạo đức và luân lí Đông Tây-Phan Chu Trinh)
- Đọc thêm:
+Tiếng mẹ đẻ-nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức-Nguyễn An Ninh
- Ba cống hiến vĩ đại của Các mác-Ăng ghen
- Một thời đại trong thi ca (Trích Thi nhân Việt nam-Hoài Thanh)
- Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi
- Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh châu
- Đọc thêm:
+Một người Hà Nội - Nguyễn Khải
+Mùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng
Trang 28Nhìn vào bảng thống kê, ta thấy bài đọc hiểu văn bản văn học chiếm số lượng khá lớn:
+ Lớp 10: 35 bài, chiếm 43 tiết /105 tiết trong phân phối chương trình
+ Lớp 11: 38 bài, chiếm 55 tiết /122 tiết trong phân phối chương trình
+ Lớp 12: 30 bài
+Bắt sấu rừng U Minh Hạ - Sơn Nam
- Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Đọc thêm: Những năm tháng không thể nào quên
- Võ Nguyên Giáp
- Số phận con người – M Sô-lô-khốp
- Thuốc - Lỗ Tấn
- Ông già và biển cả - Ê Hê-ming-way
- Tây tiến – Quang Dũng
+Dọn về làng – Nông Quốc Chấn +Đò Lèn - Nguyễn Duy
- Bài thơ tự do – P Ê-luy-a
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ
- Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh
- Nguyễn Đình Chiểu-ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc - Phạm Văn Đồng
- Đọc thêm:
+Bàn về thơ - Nguyễn Đình Thi
- Đốt-xtôi-ép- xki-Tiếng sấm của sự nổi dậy rền vang- S.Xvai-gơ
Trang 29Qua số liệu thống kê ta thấy, vấn đề đọc hiểu văn bản văn học rất được chú trọng trong chương trình giảng dạy ở phổ thông Điều này, chứng tỏ rằng vấn đề đọc hiểu văn bản đã và đang là vấn đề quan tâm của việc dạy và học Ngữ văn ở trường phổ thông
Trang 30Chương II DẠY BÀI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC TRONG
SGK NGỮ VĂN 10
I CÁC CĂN CỨ ĐỀ XUẤT CÁCH DẠY
1 Căn cứ ngôn ngữ học và văn học
1.1 Căn cứ ngôn ngữ học
Kiểu bài đọc hiểu ở lớp 10 cũng như bài học tiếng Việt và tập làm văn đều sử dụng chung nguồn ngữ liệu là các văn bản trong SGK Những văn bản này được lựa chọn không chỉ theo tiến trình các giai đoạn của lịch sử văn học như những chương trình trong các SGK cũ mà còn dựa vào thể loại tác phẩm sắp xếp theo trình tự nhất định, có mối liên thông giữa các phân môn Quan trọng hơn, sự sắp xếp này giúp cho ba phân môn có thể tiến hành giảng dạy theo quan điểm tích hợp
Ví dụ: Văn bản “Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn”-Trích Đại Việt sử
kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên ( SGK Ngữ văn 10)
- Phần đọc hiểu: Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Trần Quốc Tuấn qua ngòi bút tài tình của tác giả Ngô Sĩ Liên
- Phần Tiếng Việt: Học bài những yêu cầu sử dụng tiếng Việt
- Phần Tập làm văn: Học bài phương pháp thuyết minh
Việc lấy văn bản làm trục chính để tiến hành giảng dạy ba phân môn trong chương trình mới lần này dựa trên quan điểm lý thuyết về giao tiếp trong hệ lý thuyết ngữ dụng học Ngữ dụng học quan niệm văn bản là sản phẩm của lời nói, việc tạo lập và tiếp nhận văn bản là hai quá trình của một hoạt động tương tác-hoạt động giao tiếp Dạy học theo quá trình giao tiếp hiện nay là quan điểm dạy học hiện đại và
ưu việt nhất Từ quan điểm của lý thuyết giao tiếp trong ngôn ngữ học, chúng ta có thể tìm ra được bản chất của đọc hiểu văn bản qua việc phân tích quá trình của hoạt động giao tiếp
Ngữ dụng học đã chỉ ra rằng, giao tiếp là một hoạt động bao gồm hai hoạt động bộ phận: hoạt động tác động của người nói ( hoặc người viết ) thông qua việc tạo ra ngôn bản và hoạt động hồi đáp của người nghe (hoặc người đọc) thông qua việc tiếp nhận ngôn bản Trong giao tiếp ở hình thức hội thoại, sự hiện diện đầy đủ của cả người nói và người nghe giúp cho cuộc giao tiếp có nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn Bởi vì, người nói khi phát ngôn có thể dùng kèm các yếu tố phi ngôn
Trang 31ngữ (cử chỉ, ánh mắt, nét mặt…) giúp cho việc phát ngôn được đúng ý muốn chủ quan của mình, còn người nghe nếu chưa hiểu phát ngôn của người nói có thể hỏi, tranh luận tại chỗ nên hầu như có sự trùng nhau giữa ngôn bản của người nói và ngôn bản nằm trong sự tiếp nhận của người đối thoại Giao tiếp bằng văn bản khác với giao tiếp bằng hội thoại do sự vắng mặt của nhân vật giao tiếp (luôn luôn chỉ có một nhân vật giao tiếp, hoặc là người viết khi tạo văn bản, hoặc là người đọc khi tìm hiểu văn bản) Do vậy, văn bản của người viết và văn bản nằm trong sự tiếp nhận của người đọc không trùng nhau, giữa hai văn bản này có độ chênh lệch đáng kể
Từ sự phân tích trên ta thấy, bản chất của đọc hiểu là hoạt động lĩnh hội văn bản của người đọc Trước tiên, người đọc tiến hành hoạt động đọc cho chính mình sau đó là hoạt động nhằm cho người khác cũng tiếp nhận và lý giải văn bản giống như mình Điều mà người đọc lĩnh hội được bằng cách đọc hiểu là nội dung và đích của văn bản Ngôn ngữ học đã nêu rõ, để có thể hiểu được nội dung và đích của một văn bản, người đọc phải tìm hiểu văn bản trên nhiều bình diện khác nhau:
- Bình diện cú pháp: nhằm tìm ra các nghĩa kết hợp, các liên kết có trong văn bản
- Bình diện thông tin: để tìm hiểu nghĩa của từ, nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái…của câu, các lượng tin có trong văn bản và đặc biệt chú ý lượng tin quan trọng
- Bình diện phát ngôn: Là đích của văn bản mà người viết muốn đề cập đến
Như vậy, đọc hiểu là một quá trình phân tích để có cách hiểu, xử lí đúng văn bản Một mặt, để giúp cho độ lệch giữa văn bản của người viết và văn bản nằm trong
sự tiếp nhận của người đọc không quá nhiều Mặt khác, văn bản nằm trong sự tiếp nhận của người đọc tìm ra những hàm ẩn sâu xa mà người viết đôi khi không chủ ý
đề cập tới và biết cách lý giải hợp lý những hàm ẩn ẩn chứa trong văn bản Đây là sự
kỳ vọng mà người tạo lập văn bản nào cũng mong muốn người đọc khám phá ra trong quá trình đọc hiểu Việc phân tích văn bản trong quá trình đọc hiểu thường dựa trên vốn tri thức và kinh nghiệm sống của mỗi người đọc Để từ đó lựa chọn cách phân tích văn bản theo hướng nào: đi từ ý nghĩa chung của văn bản đến nghĩa của từng bộ phận trong văn bản rồi từ đó khái quát lên chủ đề, tư tưởng tác phẩm, hoặc chọn cách phân tích đi từ nghĩa của từ, câu, ý của đoạn đến nghĩa chung của văn bản (đại ý, chủ đề, đích của văn bản)…Và cho dù chọn cách phân tích nào thì để hiểu được văn bản người đọc vẫn phải biết nghĩa của các bộ phận nhỏ trong văn bản
để làm căn cứ xác định chính xác chủ đề, đích của văn bản
Trang 32Những kỹ năng đọc hiểu văn bản mà học sinh cần nắm được bao gồm nhiều hành động diễn ra theo một quá trình nhất định Quá trình này được xây dựng trên căn cứ cơ sở lý thuyết về lời nói, về ngữ dụng học và về văn bản
- Hành động đầu tiên khi tiến hành đọc hiểu một văn bản là hành động nhận
diện ngôn ngữ của văn bản Người đọc cần học được cách nhận ra các tín hiệu ngôn
ngữ mà các tác giả dùng để tạo ra văn bản Gọi là hành động nhận diện ngôn ngữ bởi
vì ngôn ngữ có thể chất và âm thanh, dù đọc hay viết thì con người vẫn giao tiếp bằng các dấu hiệu âm thanh mã hóa từ ngôn ngữ, chữ viết chỉ là một loại ký hiệu dùng để thay thế cho ký hiệu âm thanh và nó được tổ chức thống nhất với sự tổ chức của ký hiệu âm thanh Chính vì vậy, người đọc khi tiếp cận với văn bản, việc đầu tiên cần phải tiến hành là chuyển tất cả các mã chữ viết trên văn bản ra mã âm thanh
Sự chuyển đổi này dựa trên các quy tắc ngữ âm, chính tả, ngữ pháp và quy tắc của ngữ dụng học Các quy tắc về ngữ âm, chính tả giúp cho học sinh có thể nhận ra các
âm vị, âm tiết Các quy tắc về ngữ pháp giúp học sinh nhận ra từ, câu và hiểu được nghĩa miêu tả của các từ, câu đó Các quy tắc của ngữ dụng học sẽ giúp các em nhận
ra đoạn, ý ngay khi chuyển đổi chữ viết sang âm thanh Sự nhận diện ngôn ngữ trong đọc hiểu văn bản được thực hiện bởi các cơ quan thị giác, cơ quan phát âm và
sự vận động của trí tuệ Hoàn thành bước đầu tiên này đối với những văn bản nêu chủ đề rồi trình bày đối tượng, học sinh đã hiểu sơ bộ văn bản cần học nói về cái gì
và trình bày đối tượng theo hướng nào
- Hành động phân tích tìm ra nội dung văn bản trong quá trình đọc hiểu
Hành động này còn được gọi là hành động phân tích ý nghĩa của các tín hiệu ngôn ngữ mà người viết dùng để tạo ra văn bản
Ở bước thứ hai này, người đọc cần phải xác định rõ văn bản dùng để làm gì, tức là xem xét văn bản trong chức năng giao tiếp của nó Theo ngữ dụng học, hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ không nằm ngoài các mục đích:
+ Thông tin (chức năng thông báo): đó là qua giao tiếp, người giao tiếp kể cả người nói thu nhận thông tin tạo mục đích thông tin qua các lời thông báo, lời kể, lời miêu tả,…dạng nói hoặc viết (tức là các văn bản) Những nội dung thu nhận được từ chức năng thông tin đều có thể được đánh giá theo tiêu chuẩn đúng sai logíc
+ Tạo lập quan hệ: đó là khu hoạt động giao tiếp dùng để chào hỏi, để mời,
để tuyên bố thiết lập hoặc chấm dứt một mối quan hệ nào đó trong cuộc sống đời thường hoặc trong lĩnh vực ngoại giao
Trang 33+ Giải trí: đây là các hoạt động lời nói dùng để chuyện vãn mang tính chất giải tỏa những xúc cảm căng thẳng, phiền muộn của con người Chức năng giải trí của văn bản giúp người đọc có những khoảnh khắc thư giãn
+ Biểu hiện : là hoạt động giao tiếp giúp cho người viết, người đọc bộc lộ cảm xúc, tâm trạng,…của mình
+ Hành động: thông qua hoạt động giao tiếp, người nói, người viết, người nghe, người đọc phải có nhiệm vụ thực hiện một hành động nào đó
Như vậy, dù là mục đích thông tin, biểu hiện hay tạo lập quan hệ, giải trí,…xét cho cùng mục đích hành động là mục đích chung nhất của hoạt động giao tiếp Đó có thể là những hành động tác động vào lý trí nhằm mục đích thuyết phục,
có thể là những hành động tác động vào tình cảm nhằm mục đích truyền cảm, điều đáng lưu ý là mọi chức năng trên không tách rời mà chúng thường có mặt đồng thời trong một cuộc giao tiếp nhất định và sự chính yếu hoặc thứ yếu của mỗi chức năng tùy thuộc vào nội dung của mỗi cuộc giao tiếp cụ thể
Mục đích của bước thực hiện hành động làm rõ nội dung của văn bản chính là việc làm rõ đích của văn bản, tìm hiểu sự tác động của tác giả văn bản nhằm vào nhận thức, thái độ, hành vi của người đọc và ít nhiều làm thay đổi nhận thức, thái độ
và hành vi vốn có của người đọc Để đạt được mục đích này, khi tiến hành phân tích nội dung văn bản người đọc cần phải căn cứ vào lý thuyết ngữ dụng học để thấy được những điều cần phải làm sáng tỏ về nội dung của văn bản Theo các nhà ngữ dụng học, thì nội dung của một văn bản gồm có nội dung miêu tả và nội dung liên cá nhân Trong đó nội dung miêu tả của văn bản thì thực hiện chức năng thông tin, còn nội dung liên cá nhân thì thực hiện chức năng bộc lộ đích của văn bản Đại đa số các văn bản đều có nội dung liên cá nhân (đối với những văn bản được chọn trong việc dạy học đọc hiểu thì 100% các văn bản này đều có nội dung liên cá nhân) Số ít các văn bản không có nội dung liên cá nhân là những văn bản được tạo ra chỉ đơn thuần nhằm một mục đích là cung cấp thông tin cho người đọc như thông báo về thị trường cổ phiếu, giá cả,… Nội dung liên cá nhân có trong văn bản là những lời nhận xét, đánh giá hiện thực khách quan xen kẽ những lời thông báo, miêu tả,…nội dung liên cá nhân còn được thể hiện qua hướng lập luận, qua sự lập luận từ, câu, sự sắp xếp các đoạn, ý trong văn bản Có nắm được nội dung liên cá nhân người đọc mới làm rõ được nội dung miêu tả trình bày trong văn bản nhằm mục đích tác động gì đến người đọc Trình tự các bước thực hiện hành động làm rõ nội dung văn bản được tiến hành tuần tự như sau:
Trang 34• Làm rõ nội dung miêu tả
• Làm rõ nội dung liên cá nhân
• Làm rõ đích của văn bản (hoặc còn gọi là đích tác động của người viết)
Hoàn thành việc làm rõ nội dung văn bản sẽ tạo cơ sở cho bước hành động thứ ba-bước hồi đáp văn bản
- Hành động đánh giá và hồi đáp văn bản trong bài dạy học đọc hiểu
Để thực hiện được bước cuối cùng của cả một quá trình dạy học đọc hiểu, ngữ dụng học cho rằng học sinh phải phát huy toàn bộ kiến thức, năng lực tư duy, sự chủ động, sáng tạo của bản thân để đánh giá được văn bản Kết quả của việc đánh giá hồi đáp văn bản thường diễn ra dưới hai dạng cụ thể:
• Một là học sinh nhận ra tính xác thực của nội dung văn bản, tiếp thu
được đích của văn bản đề ra
• Hai là học sinh có khả năng đánh giá văn bản, xác định nội dung tư
tưởng của văn bản để tiếp nhận
Ở dạng thứ hai này, chính là học sinh đã tự bộc lộ cảm xúc chủ quan của chính mình trước nội dung, tư tưởng của văn bản và tiếp nhận đích của văn bản theo chủ kiến của riêng mình Điều này làm nên sự đa dạng, muôn màu muôn vẻ trong các cách đánh giá và tiếp nhận văn bản Hoàn thành được bước đánh giá và hồi đáp văn bản, vốn kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng phân tích và tiếp nhận văn bản của học sinh sẽ tăng lên rất nhiều Đối với hành động hồi đáp văn bản, học sinh có thể nêu cảm tưởng của mình sau khi học xong văn bản, hoặc liên hệ ý nghĩa, nội dung văn bản với cuộc sống hiện tại xung quanh, phát biểu vể những bài học rút ra từ những văn bản: có thể bài học về nội dung, về ý nghĩa văn bản hoặc học tập những đặc sắc
về nghệ thuật của văn bản…
Với việc xác định và làm rõ các hành động đã nêu trên, với ngữ dụng học là chúng ta đã xác định được trình tự các bước trong tiến hành dạy học kiểu bài đọc hiểu Các hành động này có quan hệ mật thiết với nhau Xét theo chức năng thì hành động nhận diện ngôn ngữ là bước đầu tiên tạo ra phương tiện để học sinh tiếp cận với văn bản ở dạng âm thanh-dạng vốn có của ngôn ngữ Hai hành động tiếp theo là các bước thực hiện mục đích của kiểu bài đọc hiểu Bước cuối cùng trong quá trình học kiểu bài đọc hiểu giúp học sinh trau dồi tính độc lập chủ động, sáng tạo trong suy nghĩ khi học sinh tiến hành đánh giá và biết cách tiếp nhận hồi đáp trước nội dung, tư tưởng của văn bản
Dựa trên cơ sở lý thuyết về giao tiếp, lý thuyết của ngữ dụng học, chúng ta xác định được vai trò của ngôn ngữ trong việc dạy học kiểu bài đọc hiểu Nhờ có các
Trang 35lý thuyết của ngôn ngữ học, việc xác định các quá trình tiến hành các bước cần có khi đọc hiểu trở nên thuận lợi và có tính chính xác cao Tuy nhiên, với các phong cách hành chính, báo chí, khoa học,…dựa váo các căn cứ ngôn ngữ học có thể vạch
ra các bước của quá trình đọc hiểu Còn đối với các văn bản nghệ thuật, cần phải thêm một căn cứ nữa: căn cứ lý thuyết về văn học Những kiến thức về ngôn ngữ có trước và trong quá trình đọc hiểu văn bản là những cơ sở kiến thức tiền đề vững chắc, giúp học sinh tự tin vào khả năng, vốn tri thức cũng như kinh nghiệm cần có của mình trong khi tiến hành đọc hiểu văn bản
1.2 Căn cứ văn học
Ở phần đầu chương I chúng tôi đã xác định rằng kiểu bài dạy học đọc hiểu không phải là kiểu bài được sáng tạo hoàn toàn mới Kiểu bài dạy học đọc hiểu được hình thành trên cơ sở của kiểu bài phân tích tác phẩm văn học trong chương trình và sách giáo khoa cũ, kế thừa và phát huy các ưu điểm vốn có của bài phân tích tác phẩm văn học ở chương trình và sách giáo khoa cũ trước đây Phần lớn các văn bản được lựa chọn để đưa vào chương trình và sách giáo khoa mới là các văn bản nghệ thuật (ở chương I chúng tôi đã tiến hành xây dựng một bảng thống kê chi tiết các văn bản văn học trong sách giáo khoa ) Tỷ lệ các văn bản nghệ thuật trong tổng số các văn bản trong sách giáo khoa lớp 10 là rất cao Chính vì vậy, quá trình tìm hiểu nội dung, hồi đáp lại nội dung văn bản chưa phải là tất cả các kĩ năng cần thiết trang
bị cho học sinh Các em cần được trang bị các kĩ năng khác ngoài các kĩ năng của phần ngôn ngữ, như dạy cho học sinh cách đọc hiểu các văn bản nghệ thuật Lí thuyết tiếp nhận văn học đã chỉ ra rằng, mỗi thế hệ độc giả lại có sự tiếp nhận các văn bản nghệ thuật khác so với thế hệ trước đó Đặc điểm này khiến các văn bản nghệ thuật có giá trị lâu bền sống mãi trong lòng các thế hệ người đọc yêu thích tác phẩm văn học
Với cách nhìn nhận nêu trên của lí thuyết tiếp nhận văn học, chúng ta thấy rằng, mỗi một văn bản nghệ thuật đều có thể tiếp nhận với một ý nghĩa khác với tư tưởng mà tác giả đề cập tới trong tác phẩm của mình Chính vì vậy, người giáo viên
có thể hướng dẫn, tổ chức cho học sinh hình dung lại con đường hình thành nghệ thuật của tác giả, lấy đó là căn cứ khám phá tư tưởng của tác giả và tác phẩm Trong quá trình tiếp nhận này, người dạy không nên gò ép sự cảm nhận của người đọc theo định hướng cho sẵn mà nên khuyến khích học sinh tự mình tìm ra những cách hiểu, cách lí giải khác nhau Nhưng người giáo viên cũng cần lưu ý, phải hướng dẫn học sinh trong sự tự khám phá văn bản, không nên tùy tiện suy diễn quá mức, tách xa
Trang 36khỏi nội dung thẩm mĩ của văn bản nghệ thuật Lí thuyết tiếp nhận văn bản đã chỉ ra các cấp độ trong con đường tiếp nhận văn học
- Trước hết người đọc phải nắm vững và hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để có thể cảm nhận hình tượng trong sự toàn vẹn các chi tiết, các liên hệ
- Tiếp theo, người đọc tiếp cận và cảm nhận nội dung, nghệ thuật văn bản-sản phẩm của sự kết tinh sâu sắc giữa tư tưởng và tình cảm của tác giả
- Cuối cùng, người đọc tìm hiểu giá trị, ý nghĩa của tác phẩm, hiểu tư tưởng của tác giả được lồng ghép qua hệ thống hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm
Các cấp độ trên của lý thuyết tiếp nhận có sự tương đồng với các bước tìm hiểu văn bản của cơ sở ngôn ngữ học Sự tương đồng này cho chúng ta thấy, quá trình tìm hiểu văn bản nghệ thuật cũng nằm trong một lĩnh vực chung là hiểu văn bản Nếu chúng ta tách rời việc hiểu văn bản nghệ thuật thành một lĩnh vực riêng, khác với hệ thống đọc hiểu văn bản chung đã sa vào sự cực đoan Dù là văn bản nghệ thuật hay văn bản phi nghệ thuật vẫn thuộc cùng hệ thống văn bản với những trật tự sắp xếp theo quy tắc chung Do vậy, quá trình dạy học đọc hiểu văn bản luôn bao hàm việc dạy học đọc hiểu các loại văn bản trong đó có văn bản nghệ thuật Tuy nhiên, chúng ta đã biết, văn bản nghệ thuật bên cạnh những điểm tương đồng với các kiểu loại văn bản khác nhưng vẫn mang cho mình những đặc thù riêng biệt Vì vậy, ngoài việc nắm được những đặc điểm chung, quá trình tiến hành đọc hiểu văn bản học sinh cần chú ý tới những đặc thù riêng của văn bản nghệ thuật như: tình tiết, cốt truyện, nhân vật…để có sự đồng cảm sâu sắc, tinh tế hơn đối với văn bản và tác giả Ngoài ra, lý thuyết về tiếp nhận văn học còn rất coi trọng sự chủ động, sáng tạo của người đọc trong quá trình tìm hiểu và cảm thụ văn bản Đối với các nhà lý luận văn học thì sự chủ động, sáng tạo của người đọc trong khi cảm thụ văn bản chính là
sự phát hiện lại tác phẩm, tìm ra sự đồng cảm đối với tư tưởng của tác giả và thậm chí phát hiện những hàm ẩn mới giữa các câu chữ mà chính tác giả cũng chưa cảm nhận hết
Việc khám phá những hàm nghĩa mới được người đọc thực hiện bằng con đường đặt văn bản nghệ thuật vào những mối quan hệ mới, những vị trí mới của thời đương đại để mở rộng các giới hạn nghĩa, phát hiện ra những ý mới Chẳng hạn như tác phẩm truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, trải qua mỗi thời đại lại có những khám phá mới mẻ khiến cho Truyện Kiều luôn là một văn bản được nhiều người đọc của mọi thời đại yêu thích
Cần chú ý là, người đọc dù có sáng tạo đến đâu thì việc tiếp nhận đúng, sát với tư tưởng, nội dung văn bản vẫn là điều quan trọng nhất Khi đã tiếp nhận theo