TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔI ĐỐI VỚI NĂNG SUẤT CÂY ỚT VÀ SỰ TH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔI ĐỐI VỚI NĂNG SUẤT CÂY ỚT VÀ SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ TÍNH CHẤT HÓA HỌC TRÊN ĐẤT PHÙ SA BỒI Ở MỸ HÒA HƯNG,
TỈNH AN GIANG
LƯƠNG BẢO TOÀN
AN GIANG, THÁNG 03 NĂM 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔI ĐỐI VỚI NĂNG SUẤT CÂY ỚT VÀ SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ TÍNH CHẤT HÓA HỌC TRÊN ĐẤT PHÙ SA BỒI Ở MỸ HÒA HƯNG,
TỈNH AN GIANG
LƯƠNG BẢO TOÀN MSSV: CH165824
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
TS NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
AN GIANG, THÁNG 03 NĂM 2019
Trang 3i
CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Ảnh hưởng của phân hữu cơ và vôi đối với
năng suất cây ớt và sự thay đổi một số tính chất hóa học trên đất phù sa bồi ở
mỹ hòa hưng, tỉnh an giang”, do học viên Lương Bảo Toàn mã số học viên:
CH165824 lớp Cao học Khoa học cây trồng - Khóa 3 thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Chương Tác giả đã báo cáo và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo thông qua ngày tháng năm 2019
Trang 4Quý thầy cô Trường Đại học An Giang, Đại học Cần Thơ và nhất là thầy
cô trong Khoa Nông Nghiệp và Tài Nguyên Thiên Nhiên đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập ở trường
Xin chân thành cảm ơn:
Các bạn tập thể lớp Cao học Khoa học cây trồng Khóa III đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin nhận lời cảm ơn sâu sắc nhất!
Lương Bảo Toàn
Trang 5iii
TÓM TẮT
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, nông dân chỉ áp dụng phân bón vô cơ cho trồng
ớt và không chú ý nhiều đến việc sử dụng vôi, phân hữu cơ Với lượng phân đạm (N) và lân (P) cao được bón, việc trồng ớt thâm canh đã dẫn đến suy thoái đất và năng suất ớt thấp Đề tài “Ảnh hưởng của phân hữu cơ và vôi đối với năng suất cây ớt và sự thay đổi một số tính chất hóa học trên đất phù sa bồi ở
mỹ hòa hưng, tỉnh an giang” được thực hiện với các mục tiêu: (i) điều tra hiện
trạng sản xuất ớt của xã Mỹ Hòa Hưng trong năm 2017 (ii) đánh giá hiệu quả phân hữu cơ và vôi lên tính chất hóa học đất và sự sinh trưởng, năng suất của
ớt Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại, gồm 5 nghiệm thức tương ứng với các tổ hợp phân khác nhau: NT1: Đối chứng – phân hóa học; NT2: 3,5 tấn/ha vôi và 10 tấn/ha phân hữu cơ; NT3: 10 tấn/ha phân hữu cơ; NT4: 10 tấn/ha phân hữu cơ và phân hóa học; NT5: 3,5 tấn/ha vôi, 10 tấn/ha phân hữu cơ và phân hóa học Qua kết quả điều tra cho thấy: 100% nông hộ sử dụng phân hóa học, chỉ có 6,7% nông hộ sử dụng phân hữu cơ và 8,3% nông hộ sử dụng vôi Kết quả nghiệm thức cho thấy bón vôi, phân hữu cơ và hóa học cân đối giúp gia tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất, hàm lượng Carbon dễ phân hủy và hàm lượng lân hữu dụng trong đất, khác biệt
có ý nghĩa so với đối chứng Đối với năng suất ớt của các nghiệm thức có bón phân hữu cơ, phân hóa học và vôi, phân hữu cơ, phân hóa học có sự khác biệt ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (NT1) Kết quả thí nghiệm cho thấy khi bón kết hợp 3,5 tấn/ha vôi, 10 tấn/ha phân hữu cơ và phân hóa học thì cây sinh trưởng, cho năng suất (1.480 kg/1.000 m2)và hiệu quả kinh tế cao nhất
(tỷ suất lợi nhận 1,83 ÷3,6)
Từ khóa: Cây ớt, phân hữu cơ, vôi, năng suất, độ phì nhiêu đất
Trang 6iv
ABSTRACT
In the Mekong delta, famers have applied only inorganic fertilizers for chili cultivation and have not paid much attention on using lime, organic manure With high dose of inorganic N and P applied, intesive chili cultivation has led
to soil degradation and low chili yield Theme “Effects of organic manure and
lime on the yield of chili and changes some chemical properties on alluvial soils
in My Hoa Hung, An Giang” The objectives of this research were to: (i)
investigate the current status of chili cultivation in My Hoa Hung in 2017 (ii) envaluate the effectiveness of organic manure and lime on soil chemistry and growth and yield of chili The experiment was carried out a Randomized Complete Block Design with four replications, consisting of five treatments: NT1: Control – chemical fertilizers; NT2: 3,5 tons/ha lime and 10 tons/ha of organic manure; NT3: 10 tons/ha of organic manure; NT4: 10 tons/ha of organic manure and chemical fertilizers; NT5: 3,5 tons/ha lime and 10 tons/ha of organic manure and chemical fertilizers The survey results show that: 100% of farming use chemical fertilizers, only 6,7% of farming use organic manure and 8,3% of farming use lime.The reslts indicated that lime, organic manure in combinination with lower dose of blanced inorganic fertilizers led to increase
of soil organic matter, labile soil organic C and available phosphorus in soil, significant difference compared to control For chili yield of treatments with organic manure, chemical fertilizers; lime, organic manure, chemical fertilizers, there was a significant difference compared to control treatments (NT1).The results of showed that plant growth, yield (1.480 kg/1.000 m2 ) and economic efficiency (profit margin 1,83 ÷3,6) of chili in 3,5 tons/ha lime, 10 tons/ha of organic manure and chemical fertilizers
Keywords: Chili, organic manure, lime, yield, soil fertility
Trang 7v
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đề tài “Ảnh hưởng của phân hữu cơ và vôi đối với năng suất
cây ớt và sự thay đổi một số tính chất hóa học trên đất phù sa bồi ở mỹ hòa hưng, tỉnh an giang” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Lương Bảo Toàn
Trang 8vi
MỤC LỤC
CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG……… i
LỜI CẢM TẠ………… ii
TÓM TẮT …… iii
LỜI CAM KẾT ………v
MỤC LỤC … vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ……viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ………ix
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT ………x
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan về cây trồng 3
2.1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại ớt 3
2.1.2 Đặc điểm thực vật của cây ớt 5
2.1.3 Giá trị dinh dưỡng, tình hình sản xuất, tiêu thụ ớt trên thế giới và ở Việt Nam 9
2.1.4 Kỹ thuật canh tác ớt 16
2.2 Hiệu quả của bón vôi và phân hữu cơ đối với độ phì nhiêu của đất và năng suất cây trồng 24
2.2.1 Bón vôi 24
2.2.2 Bón phân hữu cơ 27
2.3Trichoderma spp 40
2.4 Đặc điểm vùng nghiên cứu xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố long xuyên, tỉnh An Giang 41
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 43
3.1 Phương tiện nghiên cứu 43
3.1.1 Thời gian và địa điểm 43
3.1.2 Đối tượng nghiên cứu 43
3.1.3 Phương tiện thu mẫu 43
3.1.4 Phương tiện phân tích 43
3.1.5 Phương pháp phân tích 44
3.2 Phương pháp thí nghiệm 44
3.2.1 Phần 1: Điều tra hiện trạng sản xuất ớt của xã Mỹ Hòa Hưng năm 2017……… 44
3.2.2 Phần 2: Bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng 44
3.3 Phương pháp thu mẫu và phân tích số liệu 46
3.3.1 Thu mẫu 46
3.3.2 Thu thập số liệu 46
3.3.3 Xử lý số liệu 46
3.4 Dự kiến kết quả 47
Trang 9vii
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
4.1.Tình hình canh tác tại vùng nghiên cứu 48
4.1.1 Diện tích 48
4.1.2 Giống 48
4.1.3 Tình hình sử dụng phân bón 49
4.1.4 Chi phí sản xuất – hiệu quả kinh tế 50
4.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến thành phần tính chất hóa học đất 51
4.2.1 Đặc tính đất phù sa bồi tại Mỹ Hòa Hưng, An Giang 51
4.2.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến thành phần tính chất hóa học đất 52
4.3 Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên sự sinh trưởng và năng suất của cây ớt 56 4.3.1 Chiều cao cây 56
4.3.2 Số lá trên cây 57
4.3.3 Số chồi trên cây 58
4.3.4 Năng suất 59
4.3.5 Hiệu quả kinh tế 59
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
5.1 Kết quả 61
5.2 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU KHAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 66
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng Tựa bảng Trang
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất ớt trên thế giới trong giai đoạn 2009-2012 11
Bảng 2.5 Sản lượng ớt ở một số nước trên thế giới trong giai đoạn 2009-2012 13
Bảng 4.4 Quy trình sử dụng phân bón đối với ớt chỉ thiên trên 1.000 m2/vụ 50 Bảng 4.5 Hiệu quả kinh tế các loại ớt điều tra trên diện tích 1.000 m2 51
Bảng 4.12 Chiều cao cây (cm) của cây ớt Sừng Vàng ở các lần lấy chỉ tiêu trên các
Bảng 4.13 Số lá trên cây (lá) của cây ớt Sừng Vàng ở các lần lấy chỉ tiêu trên các
Bảng 4.14 Số chồi trên cây (Chồi) của cây ớt Sừng Vàng ở các lần lấy chỉ tiêu trên
Bảng 4.15 Năng suất (kg/1.000 m2) của cây ớt Sừng Vàng ở các nghiệm thức bón
Bảng 4.16 Hiệu quả kinh tế của cây ớt Sừng Vàng ở các nghiệm thức bón phân khác
Trang 11ix
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình Tựa hình Trang
Trang 131
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ớt cay (Capsicum annuum Spp ) là loại rau gia vị có lịch sử trồng trọt
lâu đời ở nước ta được ưa chuộng nhất trong nhóm các cây gia vị, tiềm năng phát triển ớt ở nước ta rất lớn Trong quả ớt có chứa nhiều vitamin A, B, C đặc biệt là vitamin C (163mg/100g) cao nhất là so với các loại rau Bên cạnh đó ớt cay còn chứa lượng Capsicin là một loại Alcaloid không màu dạng tinh thể có
vị cay Gần đây người ta còn chứng minh được vai trò của quả ớt trong việc ngăn ngừa các chất gây ung thư Quả ớt có thể sử dụng ở nhiều dạng như: ăn tươi, ăn khô, hoặc chế biến thành tinh bột ớt (Viện Nghiên Cứu Rau Quả, 2009)
Ở Việt Nam, sản phẩm từ cây ớt (Capsicum frutescens L.) là nông sản có
giá trị kinh tế cao vì không chỉ là gia vị tươi mà còn được sử dụng trong công nghệ chế biến thực phẩm và làm dược liệu để bào chế thuốc Do nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu tăng, diện tích trồng ớt gần đây có gia tăng (Lê Thị Thanh Thủy, 2014) Theo số liệu của FAO (2015), sản lượng ớt năm
2013 trên thế giới là 472.526 nghìn tấn và ở Việt Nam là 163.000 nghìn tấn Tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vùng chuyên canh ớt huyện Thanh Bình, Đồng Tháp có khoảng 1.500 ha, chủ yếu xuất khẩu Tại An Giang ớt được trồng tập trung ở huyện Chợ Mới, An Phú và Tri Tôn (Trần Thị Ba, 2016) Hiện trạng canh tác ớt và tính chất hóa học đất trồng ớt ở An Giang (Chợ Mới) cho thấy chất hữu cơ đầu vụ 1,96%C cuối vụ đạt 2,02%C được
đánh giá từ rất thấp đến thấp (Trương Thị Nga và cs., 2016)
Tại xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, ớt được bà con nông dân
áp dụng vào trồng trọt chưa lâu, nhưng thấy rõ được hiệu quả kinh tế đem lại
từ ớt, nghề trồng ớt vì thế mà ngày càng được nhân rộng nhưng có một hiện trạng là nguồn phân chuồng tại địa phương rất nhiều, đa phần họ dùng phân vô
cơ để bón trong quá trình trồng ớt làm cho tính chất hóa học của đất ngày một xấu đi, năng suất và độ phì nhiêu của đất ngày một giảm
Trước thực trạng đó, đề tài “Ảnh hưởng của phân hữu cơ và vôi đối với
năng suất cây ớt và sự thay đổi một số tính chất hóa học trên đất phù sa bồi ở
mỹ hòa hưng, tỉnh an giang” được thực hiện góp phần giải quyết vấn đề thực
tiễn đặt ra trong sản xuất nông nghiệp ở Mỹ Hòa Hưng nhằm nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế và cải tạo độ phì nhiêu của đất trên cơ sở phát triển nông nghiệp bền vững
Trang 142
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Điều tra hiện trạng sản xuất ớt của xã Mỹ Hòa Hưng năm 2017
- Nghiên cứu ảnh hưởng của bón vôi và phân hữu cơ đến năng suất ớt
- Đánh giá ảnh hưởng của bón vôi và phân hữu cơ trên một số đặc tính hóa học của đất
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tiến hành bố trí thí nghiệm bón vôi kết hợp phân hữu cơ trên đất trồng ở xã
Mỹ Hòa Hưng và đo chỉ tiêu về chiều cao, điếm số lá, số chồi vào các giai đoạn 20, 45, 65 NSKT và lúc thu hoạch
- Tiến hành lấy mẫu đất và phân tích các chỉ tiêu về dinh dưỡng: N, P, K, pH, chất hữu cơ (CHC) và tỷ lệ C/N trước và sau thí nghiệm
- Từ kết quả tiến hành tính toán hiệu quả kinh tế
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Về khoa học:
+ Vôi cung cấp dưỡng chất cho cây trồng giúp cứng cây, cố định một số kim loại nặng (As, Cd,…) gây hại cho cây trồng, con người đồng thời cũng giúp tăng pH đất và qua đó, cải thiện hoạt động của vi sinh vật (VSV) đất (Andersson et al., 1994, Invarson, 1997)
+ Phân hữu cơ giúp cung cấp Cacbon hữu dụng cho VSV đất, thúc đẩy tốc độ phân hủy chất hữu cơ trong đất, chẳng những làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, tăng độ phì nhiêu mà còn tăng năng suất cho cây trồng
Trang 153
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUAN VỀ CÂY TRỒNG
2.1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại ớt
2.1.1.1 Nguồn gốc
Cây ớt (Capsicum annuum L.; Capsicum frutescens L.) có nguồn gốc nhiệt đới
và cận nhiệt đới Châu Mỹ, bằng chứng của sự trồng trọt sớm nhất tìm thấy ở nơi an táng của người Peru và dấu vết hạt giống khoảng 5000 năm trước Công
nguyên được tìm thấy trong các hang động ớt Tehuacan, Mexico (Vincent và
cs, 1986)
“Theo các nhà nghiên cứu phân loại thực vật thì trung tâm khởi nguồn của ớt
là Mexico và trung tâm thứ hai là Guatemala, còn theo Valilop thì trung tâm
khởi nguồn thứ hai là Evari” (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996) Cây ớt được
phân bố rộng rãi khắp châu Mỹ kể cả dạng hoang dại và dạng trồng trọt
(Muthukrishman C.R và cs., 1986)
Ở châu Âu, đến thế kỷ thứ 16 mới được biết đến nhờ nhà thám hiểm Colombus Từ Tây Ban Nha ớt được phát tán rộng rãi đến Địa Trung Hải, nước Anh và trung tâm Châu Âu trong những năm cuối thế kỷ 16 Người Bồ
Đồ Nha mang ớt từ Brazil đến Ấn Độ trước năm 1885 (Bouell, V.R, 1986) Khu vực châu Á, cuối thế kỷ 14 cây ớt đã được trồng ở Trung Quốc và lan rộng ra Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên đầu thế kỷ 15 Các giống ớt trồng ở khu vực này đều thuộc nhóm cay và không cay Các nước Đông Nam Á như Indonesia, cây ớt được trồng sớm hơn Châu Âu và hiện nay cây ớt được trồng hầu hết ở các nước trong khu vực với dạng ớt cay là chủ yếu (S.Hinohara, 1993)
Theo tổ chức nông lương thế giới (Food and Agriculture [FAO], 2012) cây ớt được xem là một trong những cây trồng quan trọng của vùng nhiệt đới, diện tích trồng ớt thế giới vào khoảng 1.914.685 ha cho mục đích lấy quả tươi với sản lượng 31.171.567 tấn
Các nước nhập khuẩu và xuất khuẩn quan trọng nhất bao gồm: Ấn Độ, Mexico, Trung Quốc, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ (Zhejiang Univ Sci B, 2008) Cây ớt có mặt ở nước ta được du nhập từ Trung Quốc, Ấn Độ Diện tích phân
bố khá rộng rãi, tập trung ở miền Bắc và miền Trung, ở miền Nam diện tích
Trang 164
trồng ớt còn phân tán Ở Việt Nam cây ớt ngọt do người Pháp đưa sang (Trung tâm khuyến nông Tiền Giang, 2001)
2.1.1.2 Phân loại cây ớt
Theo Bosland P.W and Votava (2000) cây ớt thuộc họ cà (Solanaceae), chi Capsicum Hiện nay có ít nhất 25 loài hoang dại được biết đến và 5 loài được thuần hóa bao gồm:
- Capsicum frutescens, bao gồm cả ớt Tabasco
- Capsicum chinense, bao gồm cả loài ớt cay nhất như naga, habanero và Scotch bonnet
- Capsicum pubescens, bao gồm cả ớt rocoto Nam Mỹ
- Capsicum baccatum, bao gồm cả ớt cay Nam Mỹ
- Capsicum annuum, bao gồm nhiều loại khác nhau như Bell pepper, Paprika, Cayenne, Jalapexnos và Chiltepin
Bảng 2.1 Phân loại khoa học cây ớt
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
Bộ (ordo) Solanales
Họ (familia) Solanaceae
Phân họ (subfamilia) Solanoideae
Tông (tribus) Capsiceae
Chi (genus) Capsicum L
Loài (species) Khoảng 20 – 27 loài
Danh pháp hai phần
Capsicum frutescens L
Năm loài trồng trọt trên được xuất phát từ ba trung tâm khởi nguồn khác nhau: Mexico là trung tâm khởi nguồn của Capsicum annuum và Guatemala là trung tâm thứ 2, vùng rừng Amaron là trung tâm khởi nguồn của Capsicum frutescens và Capsicum chinense, Peru và Bolivia là trung tâm khởi nguồn của
Capsicum baccatum và Capsicum pubescens (Lipert và cs., 1996)
Trang 175
Trong năm loài trồng trọt thì loài Capsicum annuum là loài được trồng rộng khắp và thông dụng nhất, hầu hết các giống trồng trọt đều thuộc chi này (FAO ALG, 2002) Độ cay là một đặc điểm tiêu biểu của loài Capsicum annuum, hầu hết các giống thuộc loài này đều cay Tuy nhiên, một số giống cay không thuộc loài này (Bosland P.W and Votava, 2000) Capsicum frutescens được biết đến với dạng quả nhỏ và rất cay, nó được trồng phổ biến rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Các loài còn lại chỉ hạn chế ở Nam và Trung
Mỹ (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996)
2.1.2 Đặc điểm thực vật của cây ớt
Hình 2.1 Hình thái cây ớt
(Nguồn: https://www.syngenta.com.vn/cay-ot)
Trang 186
- Hoa: Lưỡng phái, mọc đơn hoặc thành chùm 2-3 hoa Hoa nhỏ, dài, hoa màu xanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn Tràng hoa có 6-7 cánh màu trắng hoặc tím Số nhị đực bằng số cánh hoa và mọc quanh nhụy cái Phần trong cánh hoa có lổ tiết mật
Hoa ớt có thể tự thụ phấn hay thụ phấn chéo do côn trùng vì ớt thuộc loại tiền thư, thụ phấn chéo có ý nghĩa lớn ở ớt cay, tỷ lệ thụ phấn chéo từ 10-40% tùy giống, do đó cần chú ý trong việc để giống và giữ giống thuần
Chiều dài và dạng trái đóng vai trò quan trọng trong việc chọn giống ớt xuất khẩu dưới dạng quả khô Ớt quả khô nguyên trái phải dài hơn 9 cm và khi khô không rời cuống Việc chế biến ớt bột không đòi hỏi tiêu chuẩn cao về kích thước và dạng trái nhưng yêu cầu về màu sắc, độ cay và tỷ lệ tươi/khô khi phơi; ớt trái to ở nước ta có tỷ lệ tươi/khô là 6,5:1 trong khi ớt trái nhỏ có tỷ lệ này là 8:1 Trái chứa nhiều hạt tròn dẹp, nhỏ có màu nâu sáng
- Hạt: Hạt có dạng thận và màu vàng rơm, chỉ có hạt của C.pubescens có màu đen Hạt có chiều dài khoảng 3-5 mm Một gam hạt ớt cay có khoảng 220 hạt (Mai Thị Phương Anh, 1999; Bosland P.W and Votava, 2000)
Trang 19Theo tác giả Rylsky (1972) nhiệt độ ảnh hưởng tới số hoa và tỷ lệ đậu trái Nhiệt độ đất 100C làm sinh trưởng chậm lại, còn nhiệt độ 170C cây sinh trưởng bình thường, ở nhiệt độ > 300C phần trên sinh trưởng bình thường nhưng rễ ngừng sinh trưởng Nhiệt độ không khí thích hợp là 20 – 250C Nhiệt
độ này thay đổi đáng kể đặc tính thực vật học của ớt Khi nhiệt độ đất và nhiệt
độ không khí xuống thấp làm kéo dài thời gian sinh trưởng Hạt bắt đầu mọc ở nhiệt độ > 130C Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm có ý nghĩa rất quan trọng để tăng chiều dài trái, đường kính trái, trọng lượng trái Ban đêm nhiệt độ xuống thấp 8 – 100C sẽ làm tăng số lượng trái không hạt (Pasthenocaspic) giảm sức sống hạt phấn (Nguyễn Xuân Điệp, 2010)
Theo V.E Rubatzky, M Yamaguchi (1986) nhiệt độ trung bình ngày là 20 –
250C, cây sinh trưởng tốt khi nhiệt độ ban đêm không vượt quá là 200C, nhiệt
độ có khuynh hướng làm giảm mùi vị và sự phát triển của màu sắc trái
Nhìn chung, ớt có thể chịu được nhiệt độ cao hơn so với khoai tây hoặc cà chua Tuy nhiên, hoa không thụ tinh ở nhiệt độ dưới 160C hoặc trên 320C do
số lượng hạt phấn ít Nhiệt độ tối cao cho hoa đậu là nhiệt độ ban ngày và ban đêm trong khoảng 16- 210C, nhiệt độ ban đêm trên 240C dẫn đến hiện tượng rụng hoa, nhưng trái đậu có thể rụng nếu nhiệt độ trên 320C (Bosland P.W and Votava, 2000; V.E Rubatzky, M.Yamaguchi, 1986)
* Ánh sáng
Theo Egovora (1975) ảnh hưởng của ánh sáng đến cây trồng bao gồm thời điểm chiếu sáng và cường độ ánh sáng Ớt là cây trồng không mẫn cảm với quang chu kỳ (ở nước ta cây ớt có thể trồng được quanh năm) Tuy nhiên, trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn (thời gian chiếu sáng 9 – 10 giờ/ngày) sẽ
kích cây sinh trưởng tăng năng suất 21 – 24% (Mai Thị Phương Anh và cs.,
1996)
Bigotti (1974) nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến cây ớt nhận thấy giảm bức xạ xuống 50% sẽ làm tăng lượng trái, nhưng không ảnh hưởng tới hàm lượng Capsicum và Vitamin C Nếu trái tiếp xúc với cường độ ánh sáng mạnh thì phần thịt trái sẽ mỏng và bề mặt thịt trái không mịn tạo điều
Trang 20tỷ lệ đậu trái thấp Trong điều kiện khô hạn sẽ kích thích quá trình chín của trái, còn thời kỳ chín lượng mưa lớn sẽ làm trái thối và hỏng (Mai Thị Phương Anh, 1999)
Trong điều kiện khô hạn sẽ kích thích quá trình chín của trái Ở thời kỳ ra hoa, đậu trái thì ẩm độ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng trái và chất lượng trái Ớt có bộ rễ ăn nông tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt (0 – 30cm) nên rất mẫn cảm với đất quá ẩm Nhưng nếu độ ẩm khoảng 10% tăng
tỷ lệ rụng hoa, trái 71,2%, trong khi đó ẩm độ 35,6 – 57,4% thì tỷ lệ rụng trái chỉ còn 20 – 30% Do vậy, duy trì ẩm độ từ 70 – 80% là thích hợp cho quá trình sinh trưởng, phát triển, nhất là thời kỳ cây non, ra hoa và hình thành trái
Ẩm độ cao sẽ làm rễ sinh trưởng kém và chết hoặc cây còi cọc làm giảm tỷ lệ nảy mầm Ngược lại, ẩm độ thấp ở giai đoạn ra hoa, hình thành trái sẽ hạn chế
vận chuyển chất dinh dưỡng (Nguyễn Thị Minh Phương và cs., 2010)
* Đất và dinh dưỡng
Với cây ớt, đất tương đối phù hợp là đất nhẹ, giàu vôi Ớt có thể sinh trưởng trên đất cát nhưng phải đảm bảo tưới tiêu và bón phân Đất chua và kiềm đều không thích hợp cho ớt phát triển Ớt có thể sinh trưởng ở đất màu nhưng tỷ lệ nẩy mầm và tính chín sớm bị ảnh hưởng Theo nghiên cứu của Kaliappan và Rajagopal (1970) thì ớt có thể nẩy mầm trong điều kiện độ muối 4.000 ppm và pH=7,6 (Mai Thị Phương Anh, 1993)
Về độ pH đất, cây có thể sinh trưởng ở độ pH từ 6 – 7 nhưng lý tưởng nhất là
6 – 6,5 (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996)
Nhu cầu dinh dưỡng của cây ớt tương đối lớn do cây sinh trưởng và phát triển mạnh, cây vừa sinh trưởng sinh dưỡng vừa ra hoa kết trái, thời gian sinh trưởng và thu hái kéo dài
Ớt là cây rất mẫn cảm với phân bón, trước hết là phân hữu cơ, nó cần lượng phân bón cao, bón sớm và cân đối lượng N:P:K Trong quá trình sinh
Trang 212.1.3.1 Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng của cây ớt
Ớt được chia thành hai nhóm ớt cay và ớt ngọt dựa vào hàm lượng capsicin chứa trong trái Trong ớt cay hàm lượng capsicin rất cao còn trong ớt ngọt hàm lượng capsicin có thể không có hoặc rất ít Ớt cay được trồng nhiều ở Ấn
Độ, Châu Phi và một số nước nhiệt đới khác, ớt ngọt được trồng nhiều tại châu
Âu, châu Mỹ và một số nước châu Á trái được dùng một loại rau xanh để ăn hoặc chế biến (Trần Khắc Thi, 2003)
Ớt là loại cây trồng vừa được sử dụng như rau tươi, vừa được dùng làm gia vị
vì có giá trị vitamin cao trong các loại rau nhất là vitamin C và provitamin A (Caroten), theo một số tài liệu thì hàm lượng vitamin C ở một số giống ớt là 340mg/100g trái tươi, ngoài ra còn chứa một số vitamin như B1, B2, P,
E và khoáng chất (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996; Trần Thị Tú Ngà, Trần Thế Tục và cs., 1995)
Trái ớt được sử dụng dưới dạng ăn tươi, muối chua, nước ép, nước sốt, tương, chế xuất dầu, sấy khô hoặc làm bột
Trong ớt cay còn có chất capsicin là một loại alcaloid có vị cay, gây cảm giác ngon miệng khi ăn, kích thích quá trình tiêu hóa Chất này có nhiều trong thành giá noãn và biểu bì của hạt (trong 1kg có chứa tới 1,2g) Hoạt chất capsicin giúp cơ thể phòng được sự hình thành của các cục máu đông, gần đây người ta còn chứng minh được vai trò của ớt trong ngăn cản các chất gây ung thư (Mai Thị Phương Anh, 1999)
Trong thịt trái có chứa khoảng 25% chất dầu có tên là capsicin màu đỏ, không cay, năng suất chiết suất 20-25% dịch chiết alcoholic gây đỏ da và nóng (Mai
Thị Phương Anh và c.s, 1996)
Theo Vũ Văn Chuyên (1995) ớt dùng dưới dạng cồn chống khản cổ, chữa đau
do trĩ, chữa đầy hơi, chữa lị, còn capsicin dùng chế bông đắp cho nóng Ớt được dùng để trị phong thấp, đau lưng, đau khớp, sát khuẩn Lá ớt còn được kết hợp với các loại thuốc nam khác trong các bài thuốc dân gian có giá trị
Trang 2210
Bảng 2.2 Thành phần các chất trong 100g ớt cay (Cơ sỡ dữ liệu dinh dưỡng Quốc gia
Mỹ USDA)
Trang 2311
Theo Bajajj và CS (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996) cho rằng thành phần
của ớt đỏ như sau:
- Chất khô 22,01%
- Axit acorbic 131,06mg/100g tươi
- Chất khô có màu 67,38 đơn vị ASTA
- Capsicin 0,34% trọng lượng khô
- Chất sơ thô 26,75% và tro tổng số 6,69%
Ngày nay các sản phẩm từ ớt đỏ (cay hoặc không cay) là một loại gia vị quan
trọng Ớt cay được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, ngoài tạo màu sắc và
hương vị cho món ăn còn cung cấp thêm các vitamin và các khoáng chất cần
thiết cho cơ thể Dịch chiết từ ớt được sử dụng trong các loại nước giải khát,
thậm chí C.futescecs được sử dụng trong y học Quả ớt xanh chứa nhiều rutin
là một chất sử dụng rộng rãi trong chế biến thuốc-y học (Mai Thị Phương Anh
và cs, 1996; Bosland P.W and Votava, 2000)
Nhìn chung, vai trò của ớt ngày nay đã được khẳng định, ngoài sử dụng như
một loại thực phẩm, gia vị, y học Ớt còn được sử dụng như một loại cây cảnh
dùng để trang trí trong gia đình
2.1.3.2 Tình hình sản xuất ớt trên thế giới
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất ớt trên thế giới trong giai đoạn 2009 – 2012
Trang 24(Nguồn: FAO STAT Database, 2014)
Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng, hiệu quả kinh tế, cây ớt đã giữ một vị trí quan
trọng trong nền nông nghiệp hàng hóa, đặc biệt là các nước có điều kiện khí
hậu, đất trồng thích hợp Cây ớt được xem là một trong những cây trồng quan
trọng ở các vùng nhiệt đới Diện tích và sản lượng ớt trên thế giới ngày càng
tăng
Theo FAO, diện tích trồng ớt năm 1994 trên thế giới là 1,25 triệu ha thì tới
năm 2001 diện tích này tăng lên 1,45 triệu ha, tăng lên 1,656 triệu ha vào năm
2004, với sản lượng ớt tươi là 24,027 triệu tấn (Zhejiang Univ Sci B, 2008)
Tới năm 2009, diện tích ớt đã tăng lên trên 1,8 triệu ha Lên đến 1,91 triệu ha
vào năm 2012, trong đó Châu Á dẫn đầu cả về sản lượng và diện tích với
63,6% diện tích và 68,5% sản lượng của toàn thế giới Tuy nhiên, về năng suất
có thể nhận thấy Châu Á chỉ có năng suất đạt loại trung bình với trên 17,5
tấn/ha, Châu Phi có năng suất rất thấp 7,9 tấn/ha vào năm 2012 Châu Âu với
việc áp dụng các công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong canh tác ớt cho năng suất
cao gấp 1,5 năng suất trung bình của thế giới và gấp 3 lần so với Châu Phi
năm 2012 Ngoài ra, Châu Đại Dương cũng có năng suất trung bình ở mức khá
cao trên 20 tấn/ha
Một số nước có sản lượng ớt cao như: Trung Quốc, Mexico, Indonesia, Thổ
Nhĩ Kỳ Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng ớt cao nhất thế giới, sản
lượng ớt hàng năm của nước này chiếm khoảng 30% sản lượng ớt của thế giới
Hàn Quốc với món ăn truyền thống là ”Kim chi”, ớt là thành phần không thể
thiếu được Ớt là loại rau chủ lực của nước này chiếm 60% diện tích trồng rau
và 40% tổng sản lượng Hàng năm Hàn Quốc nhập khẩu từ 12,000 – 15,000
tấn ớt, lượng ớt nhập khẩu của nước này không lớn, cao nhất là 53,000 tấn vào
năm 2003 (Nguyễn Thị Giang, 2005)
Trang 25(Nguồn: FAO STAT Database, 2014)
Một số nước có sản lượng ớt cao như: Trung Quốc, Mexico, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng ớt cao nhất thế giới, sản lượng ớt hàng năm của nước này chiếm khoảng 30% sản lượng ớt của thế giới Hàn Quốc với món ăn truyền thống là ”Kim chi”, ớt là thành phần không thể thiếu được Ớt là loại rau chủ lực của nước này chiếm 60% diện tích trồng rau
và 40% tổng sản lượng Hàng năm Hàn Quốc nhập khẩu từ 12,000 – 15,000 tấn ớt, lượng ớt nhập khẩu của nước này không lớn, cao nhất là 53,000 tấn vào năm 2003 (Nguyễn Thị Giang, 2005)
Khu vực Đông Nam Á, Indonesia và Thái Lan là hai nước xuất khẩu lớn nhất, Indonesia có diện tích trồng ớt lớn, sản lượng ổn định cao nhất vào năm 2011 đạt 1,9 triệu tấn Singapo là nước nhập khẩu lớn nhất Đông Nam Á với mức nhập khẩu hàng năm trên dưới 10.000 tấn, chiếm 96% (năm 2007) lượng nhập của cả Đông Nam Á (Trần Khắc Thi, 2008)
Trang 2614
Hiện nay, Ấn Độ là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới chiếm 25% tổng sản lượng toàn cầu, tiếp theo là Trung Quốc 24%, Tây Ban Nha 17%, Mexico 8% Các nước nhập khẩu lớn nhất thế giới là các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE), liên minh Châu Âu (EU), Sri Lanca, Nhật Bản, Hàn Quốc Trao đổi thương mại về ớt chiếm gần 16% tổng sản phẩm gia vị, đứng vị trí thứ hai sau hồ tiêu (Bùi Thị Oanh, 2010)
Nhìn chung, ớt được thương mại hóa trên toàn thế giới, đối với các nước đang phát triển thì mặc dù ớt chiếm tỷ trọng nhỏ trong sản xuất hàng hóa nhưng là nguồn thu nhập đáng kể (Bosland P.W and Votava, 2000)
2.1.3.3 Tình hình sản xuất ớt ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực có vĩ tuyến 8-23oB, chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thích hợp cho cây ớt phát triển quanh năm Tuy nhiên, để đảm bảo năng suất, tăng hệ số sử dụng đất, cây ớt được gieo trồng vào hai thời
Theo số liệu thống kê năm 1998 (Trần Ngọc Hùng, 1999) diện tích sản xuất ớt của cả nước là 2.114ha, năng suất trung bình 5,6 tấn/ha, trồng tập trung chủ yếu tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, ĐBSCL, Tây Nam Bộ và các tỉnh Miền Trung
Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt ở nước ta có thể chia ra các giai đoạn sau: Giai đoạn trước năm 1990
Theo Trần Thế Tục (Trần Thế Tục, 1997) diện tích trồng ớt cay ở các vùng tập trung vào khảng 3000ha, năng suất khoảng 10 – 12 tấn quả tươi, sản lượng trung bình 30.000 tấn quả tươi/năm Năm 1996, diện tích trồng ớt cao nhất lên tới 5.700ha/329.000ha diện tích trồng rau
Trang 2715
Trong 5 năm 1986 – 1990, Tổng Công ty rau quả đã xuất sang thị trường Liên
Xô cũ 22.290 tấn ớt bột, trung bình mỗi năm 4.500 tấn (Mai Thị Phương Anh, 1999)
Giai đoạn sau năm 1990
Sự đổ vỡ của thị trường Đông Âu, đã làm xáo trộn tình hình sản xuất tại các vùng chuyên canh, diện tích ớt thu hẹp lại
Tại ĐBSCL có 6 tỉnh trồng ớt với diện tích lớn đó là Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long và Trà Vinh Tổng diện tích trồng ớt của 6 tỉnh này năm 2015 khoảng 7.079 ha, sản lượng đại 97.951 tấn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, 2105) Những giống ớt được trồng của vùng là ớt chỉ thiên, sừng trâu, ớt búng, ớt hiểm, trong đó ớt chỉ thiên được trồng rất phổ biến và được xuất khẩu Ớt là cây trồng được đánh giá mang lại hiệu quả kinh tế cao và được nhiều tỉnh chọn làm cây trồng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm nghèo
Tại An Giang tuy thời tiết khắc nghiệt, nắng gay gắt, khó khăn cho sản xuất, nhất là cây màu, nhưng trong vụ ớt đầu tiên của tỉnh An Giang năm 2015, được xuống từ tháng giêng năm 2015 đã thu hoạch gần cuối vụ, cho doanh thu
từ 300 triệu – trên 400 triệu đồng/ha, trừ chi phí nông dân còn lợi nhuận khoảng 150 triệu – 200 triệu đồng/ha và còn giải quyết cho nhiều lao động tại địa phương có việc làm thu nhập từ 100.000 đồng – 150.000 đồng/ngày/lao động hái ớt
So với nhiều vụ trồng ớt trước đây, vụ đầu tiên của năm 2015 cây ớt ở tỉnh An Giang được năng suất lẫn giá bán, hiện bình quân năng suất đạt 15 tấn/ha, giá bán 21.000 đồng – 40.000 đồng/kg tùy thời điểm thu hoạch, cao gần 5.000 đồng/kg so vụ ớt vụ ớt năm 2014 Cây ớt được trồng 2 vụ/năm, sau khi trồng 1 tháng là do thu hoạch kéo dài đến 4 tháng sau đó Nông dân ngoài trồng trên đồng ruộng, còn tận dụng cả đất bờ đê, cặp lộ giao thông dẫn vào đồng ruộng, hoặc trồng xen với cây lâu năm như mít, dừa, xoài
Nông dân Nguyễn Văn Bé Tư, ở xã cù lao Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên phấn khởi cho biết, gia đình ông có 0,4 ha trồng lúa, vừng nhưng từ năm 2015 được địa phương khuyến cáo, nên ông chuyển sang trồng ớt 2 vụ/năm, thu hoạch năng suất 1,5 tấn/0,1 ha, ông bán được giá 21.000 đồng/kg Hiện đã thu hoạch được 75% diện tích, trừ chi phí còn lợi nhuận trên 45 triệu đồng, vị chi 0,4 ha trồng ớt mỗi năm lợi nhuận gần 120 triệu, cao gấp 25 lần trồng lúa, thương lái đến tận nhà thu mua Ông Bé Tư phấn khởi, với hy vọng gia đình sẽ khấm khá nhờ chuyển dịch sang trồng cây ớt hiệu quả kinh tế cao trên đất cù lao chuyên canh màu này
Trang 2816
Vụ 1 năm 2015, nông dân tỉnh An Giang đã xuống giống trồng được gần 2.000 ha ớt, chiếm 10% tổng diện tích cây rau màu, trong đó nhiều nhất là huyện Chợ Mới, An Phú, Phú Tân, Tân Châu, thành phố Long Xuyên nhưng sản lượng vẫn không đủ cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu mạnh sang Campuchia (Nguồn: http://www.angiang.gov.vn)
2.1.4 Kỹ thuật canh tác ớt
2.1.4.1 Giống ớt
Hiện nay nhiều nơi vẫn canh tác giống địa phương là chính Giống trồng phổ biến ở ĐBSCL có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miền Trung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi Ngoài ra Viện Nghiên Cứu Nông nghiệp Hà Nội công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa (1987), điều này chứng minh nguồn giống ớt phong phú, đa dạng chưa được biết đến ở nước
ta Tuy nhiên, giống địa phương bị lai tạp nên thoái hóa, quần thể không đồng đều và cho năng suất kém, trong khi các giống F1 có khả năng cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao nên bắt đầu được ưa chuộng và đang thay thế dần các giống địa phương
Giống lai F1:
- Giống Jet 18 (Công ty Syngenta sản xuất): Cây sinh trưởng khỏe, phân cành và ra hoa sớm, đậu quả tập trung, thu hoạch từ 75-80 ngày sau khi trồng; năng suất cao, ở điều kiện chăm sóc tốt có thể đạt 15-20 tấn/ha Dạng
trái dài 6-7cm, đẹp, đều, thẳng, cứng, bóng láng, màu sắc đỏ tươi được thị trường ưa chuộng Jet18 chống chịu tốt với nhiều sâu bệnh hại quan trọng
- Giống Chili (Công ty Trang Nông phân phối): Trái to, dài 12-13 cm, đường kính trái 1,2-1,4cm; trọng lượng trung bình trái 15-16 gram, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, cứng, cay trung bình, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng Cây cao trung bình 75-85 cm, sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt và cho năng suất cao
- Giống số 20 (Công ty Giống Miền Nam phân phối): sinh trưởng mạnh, phân tán lớn, ra nhiều hoa, dễ đậu trái, bắt đầu cho thu hoạch 85-90 ngày sau khi cấy, cho thu hoạch dài ngày và chống chịu tốt bệnh virus Trái ớt chỉ địa dài 14-16 cm, thẳng, ít cay, trái cứng nên giữ được lâu sau thu hoạch, năng suất 2-3 tấn/1.000m
- Giống TN 16 (Công ty Trang Nông phân phối): Cho thu hoạch 70-75 ngày sau khi gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4-5 cm, đường kính 0,5-0,6cm, trọng lượng trung bình 3-4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh trưởng tốt quanh năm
Trang 2917
- Giống Hiểm lai 207 (Công ty Hai Mũi Tên Đỏ phân phối): Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-3 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/cây, chống chịu khá bệnh thán thư
Giống địa phương:
- Giống Sừng Trâu: Bắt đầu cho thu hoạch 60-80 ngày sau khi cấy Trái màu đỏ khi chín, dài 12-15 cm, hơi cong ở đầu, hướng xuống Năng suất 8-
10 tấn/ha, dễ nhiễm bệnh virus và thán thư trên trái
- Giống Chỉ Thiên: Bắt đầu cho trái 85-90 ngày sau khi cấy Trái thẳng, bóng láng, dài 7-10 cm, hướng lên, năng suất tương đương với ớt Sừng nhưng trái cay hơn nên được ưa chuộng hơn
- Giống Ớt Hiểm: Cây cao, trổ hoa và cho trái chậm hơn 2 giống trên nhưng cho thu hoạch dài ngày hơn nhờ chống chịu bệnh tốt Trái nhỏ 3-4 cm nên thu hoạch tốn công, trái cay và kháng bệnh đén trái nên trồng được trong mùa mưa
Hình 2.3 Các giống ớt phổ biến ở Việt Nam
(Nguồn: https://www.syngenta.com.vn/cay-ot)
2.1.4.2 Thời vụ
Ở tỉnh An Giang ớt có thể trồng quanh năm, tuy nhiên trong sản xuất thường canh tác ớt vào các vụ sau:
- Vụ sớm: Gieo tháng 8-9 dl, trồng tháng 9-10 dl, bắt đầu thu hoạch tháng
12-1 dl và kéo dài đến tháng 4-5 dl năm sau Vụ này ớt trồng trên đất bờ liếp cao không ngập nước vào mùa mưa Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới nhưng đất phải thoát nước tốt, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài
Trang 3018
- Vụ Đông xuân (vụ chính): Gieo tháng 10-11 dl, trồng tháng 11-12 dl, bắt đầu
thu hoạch tháng 2-3 dl năm sau Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao,
ít sâu bệnh
- Vụ Hè thu: Gieo tháng 4-5 dl, trồng tháng 5-6 dl, thu hoạch 8-9 dl là thời
điểm mùa lũ, bán được giá Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt, có đê
bao chống lũ triệt để để tránh úng ngập
Hình 2.4 Các vụ ớt chính trong năm
(Nguồn: https://www.syngenta.com.vn/cay-ot)
2.1.4.3 Chuẩn bị cây con
Lượng hạt giống gieo đủ cấy cho 1.000m2 từ 15-25 gram (150-160 hạt/g)
Diện tích gieo ươm cây con là 250 m2 Giá thể ươm hạt ớt gồm Xơ dừa +
phân chuồng hoai (phân trùn quế) + tro trấu (mụn dừa) trộn theo tỉ lệ 1:1:1, bổ
sung 0,5 kg Super lân và 5 g nấm Trichoderma cho 10 kg giá thể, trộn đều và
sau đó cho nước vào đủ ẩm Giá thể sau khi trộn cho vào khay ươm chuyên
dùng nén vừa chặt rồi gieo hạt Sau khi gieo hạt 5-7 ngày, tưới thêm phân DAP
liều lượng 20-30g/10 lít nước (ngâm trước 5 giờ), định kỳ 5-6 ngày/lần
* Lưu ý:
- Tưới nước: Đảm bảo cây con đủ ẩm
- Thường xuyên thăm vườn, kịp thời phát hiện sự xuất hiện của sâu bệnh để có
biện pháp phòng trị hiệu quả Nên lưu ý một số đối tượng sâu bệnh như rầy
phấn trắng, bù lạch, rầy mềm và bệnh héo cây con
Hình 2.5 Gieo cây con ớt: Khay ươm chuyên dùng (Nguồn: Trần Thị Ba).
Trang 3119
2.1.4.4 Chuẩn bị đất trồng
- Đất trồng ớt: yêu cầu phải thoát nước tốt, có bờ bao chống lũ
- Đất được làm sạch cỏ, bón vôi (khi bón vôi không nên bón chung với các loại phân hóa học), cày ải phơi đất 10-15 ngày
- Lên liếp: Chiều rộng liếp từ 1,0-1,2 m, cao 20-30 cm, khoảng cách 2 liếp 0,5 m Trong mùa mưa liếp cao ở giữa, hai bên thấp dần (dạng mui ghe)
* Bón phân thúc:
Bảng 2.6 Lượng phân bón trung bình (ha)
Công thức phân bón (1 ha): 222,7 kg N - 222,7 kg P2O5 - 230,5 kg K2O
Chú ý: phun vôi sữa (Cavita) qua lá (30 cc/16 lít x 30 bình/ha) định kỳ 10
ngày/lần từ khi tượng trái (60 ngày sau khi trồng) nhằm hạn chế hiện tượng thối chóp đuôi trái
Trang 3220
b) Tưới nước
Giai đoạn đầu tưới nước đủ ẩm, ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và
phát triển trái mạnh Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít Nếu trồng trên chân đất lúa tưới thấm là phương pháp hiệu quả nhất, tùy theo độ ẩm đất có thể 3-5 ngày tưới/lần, mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để nước ứ đọng lâu cây dễ bị bệnh và chết Tưới đủ nước, đất vừa ẩm, không lưu giữ nước dưới rãnh đi lại dễ bệnh héo rũ (tưới thấm buổi chiều, khoảng 60 phút sau rút cạn nước, tưới 2-4 ngày/lần)
c) Tỉa nhánh
Các cành nhánh dưới điểm phân cành (chán ba) đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng và các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng
Hình 2.6 Tỉa nhánh cho cây ớt: (a) trước khi tỉa nhánh và (b) sau khi tỉa nhánh
(Nguồn: Trần Thị Ba)
d) Làm giàn
Giàn giữ cho cây đứng vững, dễ thu hái trái, kéo dài thời gian thu hoạch, cành
lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất Giai đoạn cây ớt khoảng 40-45 ngày tuổi dùng cọc cắm dọc theo hàng ớt khoảng 2,5 - 3 m/cọc, sau đó dùng dây gân căng dọc theo hàng
ớt
e) Quản lý sâu bệnh hại
Áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp trên nguyên tắc hạn chế thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra để đạt hiệu quả kinh tế cao, ít độc hại cho con người và môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho cây ớt phát triển Các biện
pháp quản lý sâu bệnh áp dụng như sau:
- Biện pháp canh tác:
Trang 3321
+ Giống: Cây giống phải sạch sâu bệnh hại trước khi xuất ra khỏi nhà lưới chuyên sản xuất cây con
+ Thời vụ: Bố trí hợp lý giúp cây phát triển tốt, hạn chế sâu bệnh hại
+ Chuẩn bị đất: Đất tơi xốp, lên liếp cao 20-30 cm, thoát nước tốt, diệt sạch cỏ dại và mầm bệnh
+ Mật độ trồng: 3.000 - 3.500 cây/1.000 m2
+ Bón phân: Cân đối đạm, lân và kali, tăng cường phân hữu cơ
+ Vệ sinh đồng ruộng, thu gom và diệt ổ trứng sâu
- Biện pháp sinh học
+ Đặt bẫy màu vàng (có tráng keo) rất hiệu quả đối với rầy phấn trắng, bù lạch
và bướm sâu ăn tạp,
+ Sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học
- Biện pháp hóa học:
+ Dùng thuốc BVTV khi thật cần thiết, sử dụng thuốc BVTV trong danh mục sử dụng cho rau Nên sử dụng các loại thuốc gốc sinh học, thảo mộc, có độ độc thấp, phân hủy nhanh, ít ảnh hưởng các loài sinh vật có ích trên ruộng
+ Khi sử dụng thuốc BVTV nên luân phiên các loại thuốc để tránh sâu kháng thuốc, bảo đảm thời gian cách ly trước khi thu hoạch không xử lý trái đã thu hoạch bằng các hoá chất BVTV
+ Khi dùng thuốc BVTV phải tuân thủ theo nguyên tắc “4 đúng”
*Sâu hại
Rầy phấn trắng, bù lạch và rầy mềm gây hại ở cả giai đoạn cây con và cây trưởng thành là môi giới lan truyền bệnh virus Các loại này rất nhanh quen thuốc khi phun ở nồng độ cao, hoặc phun thường xuyên định kỳ Phòng trừ phun luân phiên 7-10 ngày/lần thuốc: Voliam Targo 063SC, Radiant 60SC, Actara 25WG, Chess 50WG, Configent 55SC (mỗi lần một loại)
Ruồi đục trái: Bột tỏi WELL xua đuổi
Trang 3422
(a) Bù lạch (b) Rầy mềm (c) Rầy phấn trắng
Hình 2.7 Sâu hại cây ớt (a) Bù lạch, (b) Rầy mềm và (c) rầy phấn trắng
(Nguồn: Trần Thị Ba)
* Bệnh hại
Bệnh héo cây con do nấm Rhizoctonia solani
- Triệu chứng: Bệnh thường gây hại cây con trong vườn ươm hoặc sau khi trồng khoảng một tháng tuổi Cổ thân bị úng và teo tóp lại, rễ vàng và thối thường có màu nâu đỏ, cây bị gãy gục
- Điều kiện phát sinh: Bệnh phát triển mạnh khi ẩm độ cao, sử dụng rơm rạ bị nhiễm bệnh đốm vằn
Bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum
- Triệu chứng: Đặc điểm của bệnh là cây héo đột ngột nhưng lá vẫn còn xanh (héo vào buổi trưa và tươi lại vào buổi chiều mát) sau vài ngày cây bệnh chết hẳn Hệ thống mạch dẫn hoá nâu cắt ngang thân cây bệnh dịch nhớt có thể tiết
ra từ bó mạch Nếu cắt đoạn thân cây bệnh để vào trong ly nước, chúng ta dễ dàng thấy những giọt dịch vi khuẩn màu trắng sữa tuôn chảy ra từ mặt cắt
- Điều kiện phát sinh: Bệnh phát triển nhanh ở ẩm độ đất cao, nhiệt độ từ
24-380C
Bệnh thán thư do nấm Collectotrichum sp
- Triệu chứng: Vết bệnh lúc đầu là những đốm tròn có màu xanh đậm, sau đó vết bệnh lớn dần có hình tròn hoặc bầu dục, vết bệnh lõm xuống có màu vàng nhạt đến trắng xám hoặc nâu đen Trên vết bệnh có nhiều vòng đồng tâm Bệnh gây hại cả trên lá, thân, trái non và trái già đến chín
- Điều kiện phát sinh: Bệnh xuất hiện khi nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, mưa nắng bất thường Bệnh phát triển và lây lan mạnh vào mùa mưa (tháng 7, 8, 9 dl) Nấm bệnh tồn tại rất lâu trong đất, trên cây và trong hạt cây bệnh
Đốm vi khuẩn do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv mangiferaeindicae
Trang 3523
- Triệu chứng:
+ Trên lá, vết bệnh thường có màu nâu và có góc cạnh, vết bệnh thường bị
giới hạn bởi các gân phụ trên lá, đôi khi xung quanh vết bệnh có quầng màu
vàng, nhiều vết bệnh có thể liên kết lại tạo thành mảng cháy lớn
+ Trên trái, vết bệnh nhỏ có màu đen hoặc không màu, khi ẩm độ cao vỏ trái
bị nứt nhựa chảy ra lúc đầu vết nứt không màu hoặc màu đen, nhựa màu nâu,
vết bệnh cũ có màu đen, nếu thời tiết có ẩm độ cao vết bệnh có thể bị nhũn ra,
trái non bị rụng, trái già nứt ra
Phòng ngừa: Thăm đồng thường xuyên để sớm phát hiện bệnh Phun Starner
20WP, Physan 20SL, Coc 85WP luân phiên 7-10 ngày/lần, mỗi lần một
loại thuốc và kết hợp chất bám dính
Bệnh khảm: do virus gây ra và do côn trùng chích hút là môi giới truyền
bệnh
- Triệu chứng: Bệnh thường gây hại ở giai đoạn cây ra hoa kết trái trở về sau,
bệnh gây hại nặng trong mùa nắng nóng và nhẹ trong mùa mưa Bệnh thường
làm lá đọt nhỏ, xoắn lại, lá không phát triển, lóng ngắn, cây trở nên giòn dễ
gãy Bệnh nặng cây còi cọc, hoa bị vàng nhỏ, rụng, cây rất ít trái, trái nhỏ và
vặn vẹo, cây có thể bị chết
- Phòng trị: Không sử dụng nguồn giống ở những ruộng bị bệnh, bón phân cân
đối và tăng cường thêm phân hữu cơ để tăng khả năng chống chịu bệnh của
cây, thường xuyên thăm đồng theo dõi sự xuất hiện của côn trùng gây hại để
phòng trị, nhổ bỏ cây bệnh và tiêu hủy Phun thuốc trừ nhóm côn trùng chích
Trang 3624
2.1.4.6 Thu hoạch
Khi trái ớt bắt đầu chuyển màu Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh Ớt cay cho thu hoạch khoảng 35-40 ngày sau khi trổ hoa, ở các lứa rộ thu hoạch thường cách 3-5 ngày thu hoạch 1 lần
2.2 HIỆU QUẢ CỦA BÓN VÔI VÀ PHÂN HỮU CƠ ĐỐI VỚI ĐỘ PHÌ NHIÊU CỦA ĐẤT VÀ NĂNG SUẤT CÂY TRỒNG
2.2.1 Bón vôi
Vôi không chỉ đơn thuần là phân bón cung cấp dưỡng chất canxi (Ca) cho cây trồng mà còn nhiều tác dụng nữa mà phân hóa học khác không có được, đó là: (a) Vôi ngăn chận sự suy thoái của đất; (b) Vôi khử được tác hại của mặn; (c) Vôi ức chế sự phát triển của nấm bệnh trong đất; và (d) Vôi phát huy hiệu lực của phân hữu cơ, phân vô cơ và thuốc diệt cỏ
Cần hiểu rõ tác dụng của từng dạng vôi trước khi sử dụng: (1) Bột đá vôi (CaCO 3 ): được làm ra bằng cách nghiền mịn đá vôi Loại nầy tác dụng chậm, thường từ 2-6 tháng sau khi bón tùy theo độ mịn của bột đá; (2) Vôi nung” (CaO): được tạo ra bằng cách nung đá vôi trong lò nung như làm gạch ở nhiệt
độ khoảng 900-1.000oC Loại nầy tác dụng mạnh và nhanh nhất nhưng dễ gây bỏng khi gặp nước; (3) Vôi tôi (Ca(OH) 2 ): được tạo ra bằng cách tưới lên vôi nung một lượng nước gần bằng trọng lượng của nó, lúc đó vôi tả ra thành bột, sinh nhiệt (khoảng 150oC) và bốc hơi Dạng vôi nầy tác dụng cũng khá nhanh; (4) Vôi thạch cao (CaSO 4 ): Đây là dạng vôi đặc biệt có chứa lưu huỳnh, tác dụng nhanh nhưng không nên sử dụng ở đất có phèn
Vôi cung cấp dưỡng chất Canxi cho cây trồng
Canxi là dưỡng chất trung lượng nên cây trồng cần nhiều Canxi để làm vững chắc vách tế bào Do đó, thiếu Canxi cây yếu ớt dễ đổ ngã, dễ bị sâu bệnh tấn công, trái hay bị nứt; khi thiếu trầm trọng đọt lá non biến dạng, quăn queo rồi chết khô Ngoài ra, Canxi còn giúp cây trồng giải độc, tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của nắng nóng, mặn và phèn Hầu hết đất canh tác ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đều thiếu Canxi, do đó cần phải bón vôi (bột đá vôi hay vôi tôi) mỗi năm một lần để cung cấp Ca cho cây Đối với lúa, nên bón lúc làm đất vụ Hè Thu, còn vườn cây ăn trái nên bón vào đầu mùa
Trang 3725
mưa với liều lượng từ 30-50 kg/công Lưu ý, Ca được cây hấp thụ qua tiến trình hút nước, đồng thời Ca không chuyển vị trong cây nên cây cần Ca trong suốt quá trình sinh trưởng
Vôi ngăn chận sự suy thoái của đất
Ở đất có phèn, đất thâm canh, đất canh tác bón nhiều phân đạm (urê) và kali lâu năm, và nhất là điều kiện nóng, ẩm mưa nhiều như ở ĐBSCL thì sự suy thoái của đất diễn ra khá nhanh chóng Khi đất bị suy thoái, năng suất cây trồng giảm dần theo thời gian canh tác, khoáng sét trong đất bị phá hủy, đất mất dần cấu trúc, trở nên rời rạc, mềm nhão khi gặp nước và kết dính đóng váng khi khô, đất trở nên bí chặt kém thông thoáng Nếu để tình trạng suy thoái kéo dài, đất trở nên già cổi, bạc màu, sức sản xuất kém, năng suất và chất lượng của cây trồng giảm, lúc đó không thể khôi phục lại sức sống của đất được Bón vôi (bột đá vôi) vào đấu mùa mưa là một trong những biện pháp hữu hiệu ngăn chận tiến trình suy thoái nầy, giảm ngộ độc sắt (Fe), nhôm (Al)
và măngan (Mn) cho cây trồng, phục hồi cấu trúc đất làm đất thông thoáng, thấm nước tốt
Vôi khử được tác hại của mặn
Mực nước biển dâng lên do tác động của biến đổi khí hậu, cùng với lưu lượng nước sông Cửu Long ngày càng ít đi trong mùa nắng, làm cho nước biển xâm nhập sâu vào đất liền gây nhiễm mặn nhiều vùng đất ven biển ở ĐBSCL Đất nhiễm mặn bị mất dần cấu trúc, rời rạc; Còn cây trồng thì không hút được nước và dưỡng chất Để hạn chế tác hại của mặn, những vùng đất mặn có phèn nên bón vôi nung (CaO) để rửa mặn, còn đất mặn không phèn nên bón vôi thạch cao (CaSO4) với liều lượng khoảng 30-50 kg/công Bón bằng cách rải đều trên đất ruộng đã được cày xới và ngập nước, đối với đất liếp phải được cuốc lên trước khi bón vôi Sau khi rải vôi cần bừa hoặc trục cho vôi trộn đều trong đất, ngâm nước từ 1-2 ngày rồi rút bỏ nước nầy đi Còn đất liếp vườn cây ăn trái thì phải tưới một lượng nước ngọt dư thừa để rửa mặn ra khỏi liếp
Vôi ức chế sự phát triển của nấm bệnh trong đất
Đất trở nên chua khi bị suy thoái là điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh trong đất phát triển Trên đất ruộng, nấm bệnh làm dưa bị chạy dây, cà bị héo rủ Bệnh
Trang 3826
vàng lá, thối rễ, chảy mủ thân ở cây ăn trái trồng trên đất liếp lâu năm ngày càng trở nên nghiêm trọng ở ĐBSCL Một trong những biện pháp ức chế sự phát triển của những loại nấm gây hại nầy là bón vôi cải tạo đất Thông thường có thể bón hàng năm vào thời điểm sửa soạn đất hoặc bón liều cao từ 100-200 kg/công nhưng vài năm mới bón lại một lần Bón vôi sẽ giúp cho những vi khuẩn có lợi trong đất phát triển như vi khuẩn cố định đạm ở cây họ đậu Câu “không lân, không vôi thôi trồng đậu” cũng đã nói lên vai trò của vôi trong canh tác
Vôi phát huy hiệu lực của chất hữu cơ, phân vô cơ và thuốc diệt cỏ
Bón vôi giúp chất hữu cơ phân hủy nhanh hơn, làm giảm ngộ độc hữu cơ ở đất lúa; Vôi giúp giữ chất mùn (từ sự phân hủy chất hữu cơ) không bị rửa trôi ở đất liếp vườn cây ăn trái và ở đất có nhiều cát, nên đã phát huy vai trò của chất hữu khi được cung cấp vào đất
Ở đất phèn, phân lân bón vào đất chỉ hữu dụng khoảng 30%, bón vôi trước khi bón phân lân, nhất là lân supe sẽ làm gia tăng sự hữu dụng của phân lân Bón vôi còn làm gia tăng hữu dụng dưỡng chất Môlipđen (Mo) và gia tăng sự hấp thu Kali (K) của cây trồng
Các loại thuốc diệt cỏ thuộc nhóm hoá học Triazine (Ametryn, Atrazine) và nhóm Sulfonylurea (Bensulfuron Methyl, Cinosulfuron, Ethoxysulfuron) phát huy tác dụng diệt cỏ hữu hiệu hơn ở đất có bón vôi
Tóm lại, vôi có nhiều tác dụng tốt làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng và giúp môi trường canh tác bền vững Nguyên liệu làm vôi (đá vôi) ở nước ta có rất nhiều từ Bắc chí Nam và ngay cả ở ĐBSCL Lâu nay nông dân có phần ngán ngại trong việc sử dụng do bột vôi gây khó khăn cho người rải phân Do
đó, cần có những nghiên cứu kỹ thuật sản xuất vôi giúp cho nông dân sử dụng được tiện lợi hơn (Nguyễn Bảo Vệ, 2014)
Trang 3927
2.2.2 Bón phân hữu cơ
2.2.2.1 Khái niệm phân hữu cơ và sự khoáng hoá chất hữu cơ
Phân hữu cơ là tên gọi chung cho các loại phân được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ như dư thừa thực vật, phân chuồng, phân xanh, chất thải thực vật, các phế phẩm nông nghiệp vùi trực tiếp vào đất hay ủ thành phân Sau khi phân giải có khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây Quan trọng hơn nữa là có khả năng tái tạo lớn Đây là nguồn phân quý, không những tăng năng suất cây trồng mà còn có khả năng làm tăng hiệu lực của phân hóa học, cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất (Ngô Ngọc Hưng, 2004)
Kinh nghiệm trong quá trình sử dụng, nghiên cứu phân bón cho thấy để đảm bảo năng suất cao và ổn định, việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng chỉ dựa vào phân vô cơ là không đủ, mà phải có phân hữu cơ ít nhất 25% trong tổng số dinh dưỡng (Vũ Hữu Yêm, 2005)
Michel Vilain (1989) đề nghị phân loại theo mức độ khoáng hóa chất hữu cơ hay khả năng tạo mùn của chất hữu cơ Chất hữu cơ có tỷ lệ C/N cao được vùi trực tiếp vào đất không qua chế biến, chức năng chủ yếu là cải tạo đất thì được gọi là chất hữu cơ cải tạo đất Chất hữu cơ thông qua chế biến hay không thông qua chế biến có tỷ lệ C/N thấp thì gọi là phân hữu cơ (Vũ Hữu Yêm, 2005)
Chất hữu cơ là một thành phần cơ bản kết hợp với các sản phẩm phong phú từ
đá mẹ để tạo thành đất Chất hữu cơ là một đặc trưng để phân biệt đất với đá
mẹ và là nguồn nguyên liệu để tạo nên độ phì của đất Số lượng và tính chất của chất hữu cơ quyết định đến nhiều tính chất hóa lý và sinh học của đất (Nguyễn Thế Đặng, 1999)
Chất hữu cơ là bộ phận của đất có thành phần phức tạp và có thể chia làm hai phần: Chất hữu cơ chưa bị phân giải và những tàn tích hữu cơ như: thân, rễ, lá thực vật, xác động vật, xác vi sinh vật Phần thứ hai là những chất hữu cơ đã phân giải Trong phần chất hữu cơ đã phân giải này chia làm hai nhóm:
+ Nhóm những hợp chất hữu cơ ngoài mùn
+ Nhóm những hợp chất mùn
Nhóm những hợp chất trong đất ngoài mùn chiếm tỷ lệ thấp trong toàn bộ chất hữu cơ thường không vượt quá 10-15% (trừ than bùn hoặc đất dưới rừng có tầng thảm mục dày) Nhóm chất hữu cơ này gồm các chất hữu cơ thông thường có trong động vật, thực vật và vi sinh vật như: Hydrat, cacbon, Protein, Linhin, Lipit, andehyt,…
Trang 40Bảng 2.7 Thang đánh giá chất hữu cơ trong đất (%CHC), (theo I.V Chiurin,
H2S…(Lê Huy Bá, 2000)
Xác hữu cơ
Khoáng hóa từ từ Các hợp chất mùn Các hợp chất khoáng
Hình 2.9 Sự chuyển hóa chất hữu cơ trong đất (Dương Minh Viễn, 2003)
* Nguồn gốc chất hữu cơ
Nguồn gốc nguyên thủy của chất hữu cơ trong đất là mô thực vật: thân, rễ, lá cây sau khi chết đi sẽ bị mục nát, hoa màu sau khi thu hoạch thì phần còn lại như: Lá hay rễ cũng bị phân hủy để cung cấp chất hữu cơ cho đất Ngoài ra động vật cũng là nguồn cung cấp chất hữu cơ cho đất Chất hữu cơ được bổ sung vào đất từ các nguồn sau đây:
Xác sinh vật (còn gọi là tàn tích sinh vật): Đây là nguồn hữu cơ chủ yếu Sinh vật đã lấy thức ăn từ đất để tạo nên cơ thể chúng và khi chết đi để lại những tàn tích hữu cơ cho đất Trong xác sinh vật có đến 4/5 là từ thực vật Tính