ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THAC SĨ NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ VÀ FLUTRIAFOL, TRICYCLAZOLE ĐẾN BỆNH ĐẠO ÔN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THAC SĨ NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ VÀ
FLUTRIAFOL, TRICYCLAZOLE ĐẾN BỆNH ĐẠO ÔN, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT GẠO CỦA GIỐNG OM 5451 VỤ HÈ THU 2018 TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
LÊ THANH HÀ
AN GIANG, THÁNG 8 NĂM 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THAC SĨ NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ VÀ
FLUTRIAFOL, TRICYCLAZOLE ĐẾN BỆNH ĐẠO ÔN, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT GẠO CỦA GIỐNG OM 5451 VỤ HÈ THU 2018 TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
LÊ THANH HÀ MSSV : CH165809
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
TS NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
AN GIANG, THÁNG 8 NĂM 2020
Trang 3CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Ảnh hưởng của mật độ sạ và Flutriafol,
Tricyclazole đến bệnh đạo ôn, năng suất và phẩm chất gạo của giống OM 5451
vụ Hè thu 2018 tại huyện Châu Thành- tỉnh An Giang” do học viên Lê Thanh
Hà thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thanh Xuân Tác giả đã báo cáo luận văn nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo thông qua ngày tháng … năm 2020
Trang 4LÝ LỊCH KHOA HỌC
1 LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Lê Thanh Hà Giới tính: Nam
Ngày sinh: 15/10/1981 Nơi sinh: An Hòa, Châu Thành, An Giang Quê quán: An Hòa, Châu Thành, An Giang Dân tộc: Kinh
Địa chỉ liên lạc: ấp An Phú, xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Số điện thoại: 0913.954.251
E-mail: thanhha.agpps@gmail.com
2 QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO
Từ năm 1987 – 1992: Học sinh – Trường tiểu học “B” An Hòa
Từ năm 1993 – 1997: Học sinh – Trường Trung Học Cơ sở Quản Cơ Thành
Từ năm 1997 – 2000: Học sinh – Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm
Từ năm 2001 – 2006: Sinh viên – Ngành Trồng trọt khóa 27, Trường Đại học Cần Thơ
Từ năm 2016 – 2018: Học viên Cao học – Ngành Khoa học cây trồng, Trường Đại học An Giang
3 QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC
Từ năm 2006 đến nay: làm việc ở Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời
An Giang, ngày tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
LÊ THANH HÀ
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Chân thành cảm tạ
TS Nguyễn Thị Thanh Xuân đã tận tình hướng dẫn, cung cấp kiến thức và
kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tập thể học viên lớp Cao học Khoa học cây trồng khóa 3 đã nhiệt tình hỗ trợ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian thực hiện luận văn Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tất cả mọi người đã giúp đỡ và chia sẻ khó khăn để tôi hoàn thành luận văn này Trong quá trình viết luận văn không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và toàn thể các bạn
An Giang, ngày … tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
LÊ THANH HÀ
Trang 6An Giang, ngày … tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
LÊ THANH HÀ
Trang 7
Lê Thanh Hà, 2020 “Ảnh hưởng của mật độ sạ và Flutriafol, Tricyclazole đến
bệnh đạo ôn, năng suất và phẩm chất, gạo của giống OM 5451 vụ Hè thu 2018 tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang” Khoa Nông Nghiệp & Tài Nguyên Thiên
Nhiên – Đại Học An Giang Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Xuân
TÓM LƯỢC
Hiện nay, sản xuất lúa của nông dân còn mang tính truyền thống là sạ dày, bón nhiều phân đạm nên tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của bệnh đạo ôn
làm giảm rất đáng kể đến năng suất Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của mật độ sạ
và Flutriafol, Tricyclazole đến bệnh đạo ôn, năng suất và phẩm chất gạo của giống OM 5451 vụ Hè thu 2018 tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang” được
thực hiện với mục tiêu: (i) Xác định mật độ gieo sạ ảnh hưởng đến bệnh đạo ôn;(ii) Đánh giá hiệu quả thời điểm phun của hai hoạt chất flutriafol và tricyclazole với bệnh đạo ôn; (iii) Đánh giá mức dư lượng tricyclazole và flutriafol lên phẩm chất gạo và (iv) Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Hè thu 2018 tại xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 6 nghiệm thức và ba lần lặp lại, bao gồm sạ ở mật độ 120 kg.ha-
1 và 180 kg.ha-1 Kết quả cho thấy sạ ở mật độ 180 kg.ha-1 có chiều cao cây và
số chồi cao hơn so với các mật độ sạ 120 kg.ha-1 Tuy nhiên, Nghiệm thức sạ ở mật độ 120 kg.ha-1 có số hạt chắc/bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng 1000 hạt cao hơn, nghiệm thức sạ 180 kg.ha-1 Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy hiệu quả khi phun thuốc Tricyclazole kết hợp với Flutriafol có hiệu quả giảm bệnh đạo ôn lá
và cổ bông khác biệt so với đối chứng Phun thuốc Tricyclazole kết hợp với Flutriafol không ảnh hưởng đến chiều cao cây, số bông /m2 nhưng tăng số hạt chắc /bông, trọng lượng 1000 hạt, từ đó giúp tăng năng suất Phun Tricyclazole kết hợp với Flutriafol có hiệu quả cao đối với bệnh đạo ôn lá và cổ bông và năng suất tăng 1đến 2 tấn/ha so với đối chứng Sạ với mật độ 120 kg ha-1 giúp cây lúa hạn chế được sự gây hại của bệnh đạo ôn lá và cổ bông đồng thời tăng hiệu quả của thuốc Flutriafol và Tricyclazole Thêm vào đó, tiết kiệm được lượng giống đáng kể (60 kg.ha-1) so với sạ dày (180 kg.ha-1) và tăng chất lượng
hạt gạo OM 5451
Từ khóa: lúa OM 5451, Flutriafol, Tricyclazole, bệnh đạo ôn
Trang 8Lê Thanh Hà, 2020 Effect of seed density and Flutriafol, Tricyclazole on blast
disease, yield and quality of rice OM 5451 Summer-autumn season of 2018 in Chau Thanh district, An Giang province" Thesis Master of Crop
Science Faculty of Agriculture and Natural Resources - An Giang University Science instructor: Prof Nguyen Thi Thanh Xuan
ABSTRACT
Today, the rice cultivation of farmers are also traditionally made by seeding and applying a lot of nitrogenous fertilizer due to create advantage conditions for the development of blast to greatly reduce yields Therefore, thesis “Effect of seed density and Flutriafol, Tricyclazole on blast disease, yield and quality of rice OM 5451 Summer-autumn season of 2018 in Chau Thanh district, An Giang province” was conducted with the following objectives: (i) Determine the seeding density that affects blast disease; (ii) Assess the effectiveness of spraying time of two active ingredients Flutriafol and Tricyclazole with blast; (iii) Assess the levels of Tricyclazole and Flutriafol residues on rice quality and (iv) Assess yield and economic efficiency The experiment was conducted in
2017 and 2018 in Vinh Hanh commune, Chau Thanh district, An Giang province carried out in randomized complete block design of 6 treatments and three replicates, including sowing at density of 120 kg.ha-1 and 180 kg.ha-1 Results showed that seeding density of 180 kg.ha-1 had a higher plant height and number of shoots compared to seeding density of 120 kg.ha-1 However, it increased number of filled grains, ratio of filled grains, higher weight of 1000 seeds, sowing of 180 kg ha-1 The experimental results also showed that the effect of Tricyclazole combinated with Flutriafol was effective to reduce blast disease of leaf and neck blast different from the control Tricyclazole spray in combination with flutriafol has a high efficacy for leaf and neck blast and yield increased of 1 to 2 tons ha-1 compared to control Sowing with a density of 120
kg ha-1 helps rice to limit the damage of leaf and neck blast disease and increase the effectiveness of Flutriafol and Tricyclazole In addition, significant seed savings (60 kg.ha-1) compared to thick seeded rice (180 kg.ha-1) and an increase
in quality of rice OM 5451
Keyword: rice OM 5451, Flutriafol, Tricyclazole, blast disease
Trang 91.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Trang 102.4 Đặc điểm tác nhân gây bệnh 6
Chương 3 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 22
3.2.3 Phương pháp đánh giá chỉ tiêu nông học 29
3.2.7 Đánh giá chất lượng hình dạng: Đánh giá chiều dài hạt 32
4.1 Đánh giá mật độ gieo sạ lên cây lúa OM 5451 35
Trang 114.2 Đánh giá hiệu lực quản lý bệnh đạo ôn 37 4.2.1 Ảnh hưởng của mật độ sạ và thuốc Tricyclazole và 37 4.2.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ và thuốc Tricyclazole và Flutriazole lên chỉ
số bệnh đạo ôn lá và cổ bông lúa
40
4.2.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ và thuốc Tricyclazole và Flutriazole đến
4.3 Đánh giá hiệu luwjcj quản lý đạo ôn bằng mật độ và thuốc Tricyclazole,
4.3.2 Ảnh hưởng thuốc tricyclazole và flutriazole lên sự tích lũy 51
Trang 12Bảng 6 Phân cấp bệnh cháy lá (QCVN 01-166 2014/BNNPTNT) 27 Bảng 7 Phân cấp bệnh đạo ôn cổ bông (QCVN 01-166 2014/BNNPTNT) 29
Bảng 11 Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến chiều cao cây lúa 35 Bảng 12 Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến số chồi cây lúa 36 Bảng 13 Ảnh hưởng của mật độ sạ và thuốc Tricyclazole và Flutriazole đến hiệu
quả bệnh đạo ôn lá lúa OM 5451 thời điểm 40 ngày sau sạ
38
Bảng 14 Ảnh hưởng của mật độ sạ và thuốc Tricyclazole và Flutriazole đạo ôn lá
lúa OM 5451 thời điểm 57 ngày sau sạ
39
Bảng 15 Ảnh hưởng của mật độ sạ và thuốc Tricyclazole và Flutriazole đến hiệu
quả bệnh đạo ôn cổ bông lúa OM 5451 thời điểm 67 ngày sau sạ
41
Bảng 16 Ảnh hưởng của mật độ sạ và thuốc Tricyclazole và Flutriazole đến hiệu
quả bệnh đạo ôn cổ bông lúa OM 5451 thời điểm 74 ngày sau sạ
43
Bảng 17 Ảnh hưởng của mật độ sạ và thuốc tricyclazole và flutriazole lên thành
phần năng suất và năng lúa OM 5451
46
Trang 13Bảng 18 Ảnh hưởng của mật độ sạ và thuốc tricyclazole và flutriazole lên Chất
TT Nội dung Trang
Trang 14HPL Phương pháp sắc ký xác định chất hữu cơ
LD 50 Liều gây chết 50 % cá thể vật thí nghiệm
Trang 15MRL
(Maximum residue limit) Giới hạn tối đa cho phép (mg/kg; mg/l)
PHI Pre-harvest interval: Thời gian cách ly (ngày)
SC (Suspension Concentrate) Dạng huyền phù đặm đặc
Trang 16CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây lúa là một trong các cây lương thực chính ở Việt Nam cũng như trên thế giới Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất, trong đó An Giang có diện tích nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa Bệnh đạo ôn là bệnh gây hại quan trọng nhất trên cây lúa, còn được gọi là bệnh cháy lá lúa Khi dịch đạo
ôn xảy ra thiệt hại đến năng suất và sản lượng làm ảnh hưởng đến kinh tế Tác
nhân gây bệnh là nấm Pyricularia oryzae Cav Bệnh có thể tấn công các giai
đoạn của cây lúa, bắt đầu từ giai đoạn sau khi gieo sạ cho đến trước trổ gọi là bệnh cháy lá, gây hại trên cổ lá gọi là thối cổ lá, gây hại trên cổ bông gọi là thối
cổ bông làm lép hạt, đôi khi bệnh có thể gây lem vỏ hạt lúa Bệnh nặng sẽ làm mất trắng năng suất nếu không phát hiện sớm và phòng trị kịp thời (Khưu Phương Yến Ngọc, 2015)
Hiện nay, việc gieo sạ dày ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây lúa Sự cạnh tranh quần thể cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa, khi cây lúa phải sống trong điều kiện chật hẹp, thiếu ánh sáng làm cây lúa trở nên yếu ớt sâu bệnh dễ bị nấm đạo ôn tấn công (Nguyễn Kim Chung và Nguyễn Ngọc Đệ, 2005)
Để phòng và quản lý bệnh hại, biện pháp hóa học được sử dụng phổ biến hiện nay Tuy nhiên, phun thuốc hóa học rất có hại đối với môi trường và để lại dư lượng trên thực phẩm, thêm vào đó là các vấn đề xã hội và kinh tế Các mối quan tâm về an toàn thực phẩm và môi trường đã dẫn đến việc giảm sử dụng hoá chất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp bền vững
Hiện nay, do lạm dụng thuốc BVTV trong phòng trừ dịch hại, không tuân thủ các quy trình kỹ thuật, không bảo đảm thời gian cách ly của từng loại thuốc nên dẫn đến tình trạng tồn dư lượng lớn thuốc BVTV trong đất, hậu quả nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm, mất an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng ruộng bị ô nhiễm (Lê Đức, 2015)
Việt Nam là nước có sản lượng gạo xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới Tuy nhiên, hiệu quả xuất khẩu không cao do chất lượng gạo không cao Chất lượng gạo luôn gắn liền với hiệu quả xuất khẩu và cũng là công cụ cạnh tranh hàng đầu hiện nay, đặc biệt khi xuất khẩu sang các nước phát triển đòi hỏi chất lượng phải đạt tiêu chuẩn như: Hình dáng và kích cỡ hạt gạo, dinh dưỡng cao, tỷ lệ hạt bạc bụng… (Nguyễn Thành Tâm và Nguyễn Diệu Tánh, 2012)
Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển cũng dẫn thông tin từ Hiệp hội các nhà xay xát gạo châu Âu và Hiệp hội Kinh doanh ngũ cốc châu Âu cho biết Ủy ban châu
Trang 17Âu (EC) đang đề xuất việc hạn chế sử dụng chất tricyclazole làm thuốc trừ bệnh trong tất cả các nước thành viên EU, đồng thời muốn hạ mức dư lượng chất tricyclazole tối đa cho phép trong gạo nhập khẩu từ ngưỡng hiện hành 1 mg/kg xuống ngưỡng 0,01mg/kg Thời gian đề nghị áp dụng từ tháng 1-2018 (Báo điện
tử Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [CPNCHXHCNVN]) Hóa chất của thuốc BVTV được sử dụng nhiều trong chăm sóc và bảo vệ lúa để lại dư lượng lớn thuốc BVTV, vượt ngưỡng cho phép ảnh hưởng tới chất lượng cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính mà gạo xuất khẩu của nước ta trong những năm gần đây liên tục bị trả về Tuy vậy, đến nay các nghiên cứu về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật [BVTV] nói chung và hoạt chất trị đạo ôn và đạo ôn cổ bông trên lúa vẫn còn rất nhiều hạn chế
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Ảnh hưởng của mật độ sạ và Flutriafol, Tricyclazole đến bệnh đạo ôn, năng suất, phẩm chất gạo của giống OM 5452 vụ
Hè thu 2018 tại huyện Châu Thanh, tỉnh An Giang” cần được thực hiện
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định mật độ sạ và thời điểm phun họat chất flutriafol và tricyclazole để quản lý bệnh đạo ôn và dư lượng trên gạo để phù hợp giới hạn cho phép
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định mật độ gieo sạ ảnh hưởng đến bệnh đạo ôn
Đánh giá hiệu quả thời điểm phun của hai hoạt chất flutriafol và tricyclazole với bệnh đạo ôn
Đánh giá mức dư lượng tricyclazole và flutriafol lên gạo và phẩm chất gạo Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế
Trang 181.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đất tiến hành nghiên cứu trong đề tài là loại đất chuyên trồng lúa 2-3 vụ/năm
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Là cơ sở khoa học cho việc đề xuất biện pháp sử dụng Tricyclazole và Flutriafol, mật độ gieo sạo trong quản lý bệnh đạo ôn đảm bảo được năng suất, mức dư lượng cho phép trong sản xuất lúa tại huyện Châu Thành,An Giang
1.5 Ý NGHĨA THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Làm cơ sở để bổ sung vào quá trình canh tác giống lúa OM5451; mật độ sạ, thời điểm xử lý Flutriafol, Tricyclazole Để quản lý đạo ôn, không để lại dư lượng thuốc BVTV vượt quá giới hạn tối đa cho phép, gây ảnh hưởng chất lượng lúa gạo trong vụ Hè Thu 2018 tại huyện Châu Thành tỉnh An Giang
Trang 19CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUAN VỀ CÂY LÚA
Theo công bố của Chang và cs (1972), Oryza sativa L xuất hiện đầu tiên ở dãy
Himalaya, Miến Điện, Lào, Việt Nam và Trung Quốc Từ các trung tâm trên lúa
Indica phát tán đến lưu vực sông Hoàng Hà và sông Dương Tử rồi sang Nhật
Bản, Triều Tiên và từ đó biến thành chủng Japonica Lúa được hình thành ở Indonesia là sản phẩm của quá trình chọn lọc từ Indica (Nguyễn Xuân Kỳ,
2017)
Theo Nguyễn Ngọc Đệ, 2008: chỉ có 2 loài là lúa trồng, còn lại là lúa hoang hằng niên và đa niên Loài lúa trồng quan trọng nhất, thích nghi rộng rãi và
chiếm đại bộ phận diện tích lúa thế giới là Oryza sativa L Loài nầy hầu như có
mặt ở khắp nơi từ đầm lầy đến sườn núi, từ vùng xích đạo, nhiệt đới đến ôn đới,
từ khắp vùng phù sa nước ngọt đến vùng đất cát sỏi ven biển nhiễm mặn phèn
… Một loài lúa trồng nữa là Oryza glaberrima Steud, chỉ được trồng giới hạn ở một số quốc gia Tây Phi Châu và hiện đang bị thay thế dần bởi Oryza sativa L
Theo Nguyễn Ngọc Đệ, 2008: nhóm Indica (“ Hsien” lúa tiên) bao gồm các giống lúa từ Sri Lanka, Nam và Trung Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Indinesia, Philippines, Đài Loan và nhiều nước khác ở vùng nhiệt đới Trong khi nhóm Japonica (Keng = lúa cánh) bao gồm các giống lúa từ miền Bắc và Đông Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên, nói chung là tập trung ở các vùng á nhiệt đới và
ôn đới Các nhà nghiên cứu Nhật Bản sau đó đã thêm một nhóm thứ 3 “javanica”
để đặt tên cho giống lúa cổ truyền của Indonesia là “bulu” và “gundil” Từ
“Janvanica” có gốc từ chữ Java là tên của một đảo của Indonesia Từ “Japonica”
có lẽ xuất xứ từ chữ Japan là tên nước Nhật Bản Còn “Indica” có lẽ có nguồn gốc từ India (Ấn Độ) Như vậy, tên gọi của 3 nhóm thể hiện nguồn gốc xuất phát của các giống lúa từ 3 vùng địa lý khác nhau
2.2 BỆNH ĐẠO ÔN
2.2.1 Tác hại của cháy lá lúa
Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae Cav là một trong những bệnh phổ biến,
xuất hiện gây hại ở hầu hết các vùng trồng lúa của cả nước, bệnh gây hại nghiêm trọng trên cả lá và cổ bông Mức độ tác hại của bệnh liên quan đến nhiều yếu tố như giống lúa, thời kỳ sinh trưởng của cây lúa, chế độ canh tác, mùa vụ, phân bón, thời tiết bệnh gây hại trên lá làm cho bộ lá bị lụi, khô cháy, trổ kém, nấm xâm nhập vào cổ bông, cổ gié gây bông gẫy, hạt bị lép, lửng, làm giảm nghiêm trọng đến năng suất, thậm chí không cho thu hoạch
Trang 202.2.2 Triệu chứng bệnh
Bệnh đạo ôn có thể phát sinh từ thời kỳ mạ đến lúa chín và có thể gây hại ở bẹ
lá, lá, lóng thân, cổ bông, gié và hạt (Vũ Triệu Mân, 2007)
Triệu chứng trên mạ
Vết bệnh trên mạ lúc đầu hình bầu dục sau tạo thành hình thoi nhỏ hoặc dạng tương tự hình thoi, màu nâu hồng hoặc nâu vàng Khi bệnh nặng, từng đám vết bệnh kế tiếp nhau làm cây mạ có thể héo khô hoặc chết (Vũ Triệu Mân, 2007)
Triệu chứng trên lá
Trên lá vết bệnh ban đầu là những chấm nhỏ màu xanh xám, dạng thấm nước Vết bệnh điển hình có dạng hình thoi, trung tâm vết bệnh có mầu trắng xám, xung quanh vết bệnh có viền nâu đỏ Kích thước vết bệnh trên lá của giống nhiễm thường lớn hơn giống kháng; các vết bệnh có thể liên kết với nhau làm
lá bị khô cháy (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)
Vết bệnh lúc đầu nhỏ màu nâu, sau phát triển thành vết bệnh điển hình có dạng hình mắt én, hai đầu hẹp, giữa phình ra có màu xám tro Chung quanh vết bệnh
có viền nâu rõ rệt, ngoài viền nâu thường có một quầng vàng Nhiều vết bệnh liên kết lại làm cả lá lúa bị cháy khô Nếu bệnh gây hại nặng sẽ làm chết cả bụi lúa, khảo sát thực tế trên ruộng ta thấy có những lõm lúa cháy nâu và chết lụn
mà nông dân thường gọi là lúa “sụp mặt” (Phạm Văn Kim, 2015)
Trên các giống lúa mẫn cảm các vết bệnh to, hình thoi, dày, màu nâu nhạt, có khi có quầng màu vàng nhạt, phần giữa vết bệnh có màu nâu xám Trên các giống chống chịu, vết bệnh là các vết chấm rất nhỏ hình dạng không đặc trưng
Ở các giống có phản ứng trung gian, vết bệnh hình tròn hoặc hình bầu dục nhỏ, xung quanh vết bệnh có viền màu nâu (Vũ Triệu Mân, 2001)
Triệu chứng trên cổ lá
Vết bệnh trên cổ lá màu nâu, phát triển làm lá gãy gục, lá lúa bị gãy cháy khô sau vài ngày, gây hại nặng trên các giống lúa nhiễm bệnh Bệnh phát triển gây hại nặng trên cổ lá khi trên lá có vết bệnh đang sinh bào tử và có giọt nước lăn qua vết bệnh xuống đọng lại trên cổ lá (Phạm Văn Kim, 2015)
Bệnh ở đốt thân
Trên đốt thân, triệu chứng bệnh ban đầu là những vết lõm mầu xám xanh Vết bệnh lớn dần, đốt có thể bị thắt lại, thân gãy (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 2001)
Trang 21Triệu chứng trên bông
Bào tử nấm Pyricularia oryzae Cav Có thể tấn công tồn tại trên bề mặc của hạt
lúa, sợi nấm ở dạng tiềm sinh có thể tồn tại ở mô của phôi, ở nội nhũ, ở lớp võ trấu và mài hạt (Abumia & Kobayashi, 1953)
Nấm tồn tại trên hạt là môt trong những nguyên nhân làm cho hạt biến màu và làm giảm sức sống của hạt (CABI, 2000)
Triệu chứng trên hạt
Vết bệnh ở hạt không định hình, có màu nâu xám hoặc nâu đen Nấm ký sinh ở
vỏ trấu và có thể ở bên trong hạt Hạt giống bị bệnh là nguồn truyền bệnh từ vụ này qua vụ khác (Vũ Triệu Mân, 2001)
Bệnh xảy ra vào giai đoạn trổ, vết bệnh trên hạt cũng có dạng mắt én, viền nâu, tâm xám trắng Nếu bệnh tấn công sớm sẽ làm hạt bị lép, lửng Nếu ẩm độ không khí cao, chỗ vết bệnh sẽ mọc một lớp nấm mốc màu xám xanh, dễ bị gãy, làm ruộng lúa trở nên xơ xác Lúa sẽ bị cháy rụi hoàn toàn nếu bị nhiễm bệnh sớm
ở giai đoạn đẻ nhánh, nhất là khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi cho bệnh và bón phân không hợp lý (Nguyễn Phú Dũng, 2005)
2.3 THIỆT HẠI VÀ SỰ PHÂN BỐ
Theo Vũ Triệu Mân (2007), khi lúa bị đạo ôn cổ bông 1% thì năng suất có thể
bị giảm từ 0,7% - 17,4% tuỳ thuộc vào các yếu tố có liên quan khác
Bệnh đạo ôn có mặt ở tất cả các quốc gia trồng lúa, lúa nước cũng như lúa nương Bệnh thường có mặt ở Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, Nepal, Pháp, Mỹ, … Ở Việt Nam bệnh xuất hiện khắp các vùng trồng lúa và gây nhiều thiệt hại cũng như tốn kém cho nông dân (Phạm Văn Kim, 2015)
2.4 ĐẶC ĐIỂM TÁC NHÂN GÂY BỆNH
2.4.1 Đặc điểm hình thái và phân loại
Nấm (Cooke) Saccardo thuộc họ Moniliales, lớp Nấm Bất toàn, thuộc họ Monilaceae, bộ Monilales, lớp nấm bất toàn (Vũ Triệu Mân và ctv 2007) Giai
đoạn sinh sản hữu tính có tên là Magnaporthe grisea, thuộc lớp nấm nang (Phạm
Văn Kim, 2015)
Nấm có cành bào tử phân sinh hình trụ, đa bào không phân nhánh, đầu cành thon và hơi gấp khúc Bào tử đính trên cành bào đài từ 3 -5 chiếc, hình quả lê hoặc hình nụ sen, thường có từ 2 - 3 ngăn ngang, bào tử không màu, kích thước trung bình của bào tử nấm 19 - 23 x 10 -12 µm (Vũ Triệu Mân và cs, 2007)
Trang 22Sinh ra bào tử đính có hình quả lê với hai vách ngăn ngang thành ba tế bào (Phạm Văn Kim, 2015)
Bào tử phân sinh hình nụ sen hoặc hình quả lê phía dưới phình to, phía trên hơi nhọn thường có 2-3 vách ngăn ngang, không màu, kích thước trung bình của bào tử là (19 - 23 x 10 - 12µm) Nhưng nhìn chung kích thước của bào tử nấm biến đổi tùy thuộc vào mẫu phân lập, điều kiện ngoại cảnh cũng như các giống lúa khác nhau (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 2001)
2.4.2 Ảnh hưởng của thời tiết khí hậu tới bệnh:
Theo Ou (1985) thì nguồn bệnh có thể là nấm ở cỏ dại ở vùng nhiệt đới do điều kiện khí hậu nóng ẩm và chế độ canh tác không theo vụ rõ rệt nên nguồn bệnh
có trên đồng ruộng quanh năm Có thể bắt được 4.000 bào tử/1 lít không khí ngay trong nương mạ đạo ôn (Võ Thị Canh, 2012) Nguồn bệnh của nấm đạo
ôn tồn tại ở dạng sợi nấm và bào tử trong rơm rạ, hạt bị bệnh, ngoài ra nấm còn tồn tại trên một số cây cỏ dại khác Ở điều kiện khô ráo trong phòng bào tử có thể sống được hơn một năm và sợi nấm sống được gần 3 năm, nhưng trong điều kiện ẩm ướt chúng không sống sót được sang vụ sau Phương thức phát tán bằng bào tử trong không khí là chính Có thể bắt được bào tử trên độ cao 2000 m, nấm có thể phát tán nhờ mưa, qua hạt giống, tàn dư rơm rạ (Ou, 1985) Nấm tồn tại trên tàn dư cây bệnh, trên hạt giống và một số loài cỏ là nguồn lan truyền cho vụ sau (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008) Tuy chuyển ký chủ từ cây lúa bị bệnh sang các cây ký chủ phụ sinh trưởng phát triển quanh năm (Lê Lương Tề, 2007) Theo Vũ Triệu Mâm, 2007 thì nấm đạo ôn sinh trưởng thích hợp ở nhiệt độ 25 – 280C và ẩm độ không khí là 93% trở lên Phạm vi nhiệt độ nấm sinh sản bào
tử từ 100C – 300C Ở 280C cường độ sinh bào tử nhanh và mạnh nhưng sức sinh sản giảm dần sau 9 ngày, trong khi đó ở 160C, 200C và 240C sự sinh sản bào tử tăng và kéo dài tới 15 ngày sau đó mới giảm xuống Điều kiện ánh sáng âm u
có tác động thúc đẩy quá trình sinh sản bào tử của nấm Bào tử nảy mầm tốt nhất ở nhiệt độ 240C – 280C và có giọt nước Theo Ou (1985) thì nhiệt độ tối
ưu cho quá trình sinh sản bào tử là 28 0C Một vết bệnh điển hình có thể sản sinh bào tử từ 2.000 – 6.000 bào tử/ngày, nhiều nhất là ngày thứ 3 – 8 từ khi có vết bệnh
Trang 232.4.3 Sự xâm nhiễm của nấm bệnh
Quá trình xâm nhập của nấm vào cây phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ, ẩm độ không khí và ánh sáng Ở điều kiện bóng tối, nhiệt độ 240C và ẩm độ bão hoà
là thuận lợi nhất cho nấm xâm nhập vào cây (Vũ Triệu Mân, 2007) Bào tử xâm nhập vào trong lá nhanh hay chậm tùy thuộc vào nhiệt độ Nhiệt độ 240C thì chỉ cần 6 giờ bào tử đã có thể xâm nhập vào trong lá, còn ở nhiệt nóng hơn 280C hoặc 300C thì nấm cần đến 8 giờ hoặc 10 giờ để xâm nhập vào lá lúa Bệnh sẽ nghiêm trọng khi biên độ nhiệt ngày đêm cao, khả năng chống chịu của cây lúa cao nhất khi nhiệt độ không khí ở 320C và thấp nhất khi nhiệt độ không khí 20-
230C (Phạm Văn Kim & Lê Thị Sen, 1993)
Bào tử nấm bệnh tiếp xúc và bám chặt vào biểu lá, bào tử nẩy mầm cho ra sợi nấm ngắn khi gặp điều thuận lợi, tiếp theo hình thành đĩa áp để xâm nhập vào
lá lúa, toàn bộ chất dinh dưỡng của bòa tử và sợi nấm đều tập trung vào đĩa áp, giúp đĩa áp có đủ năng lượng để xâm nhiễm (Phạm Văn Kim, 2015) Đĩa áp của
oryzae tiết ra các enzym để phá hủy vách tế bào biểu bì của lá lúa như cutinase,
cellulose hay xylanase, sau đó đâm ra vòi xâm nhiễm để đâm xuyên qua vách
tế bào biểu bì của lá (Phạm Văn Kim, 2015) Thời gian bào tử nẩy mầm khoảng
30 phút, đĩa áp hình thành trong khoảng 4 -8 giờ và vòi xâm nhiễm hình thành khoảng 24 giờ sau khi tiếp xúc với bề mặt ký chủ Sau khi xâm nhiễm khuẩn ty nhanh chóng phát triển trong mô tế bào, vết bệnh xuất hiện khoảng 76 – 92 giờ sau khi xâm nhiễm (Ou, 1985)
Nguồn bệnh của nấm đạo ôn tồn tại ở dạng sợi nấm và bào tử trong rơm rạ và hạt bị bệnh, ngoài ra nấm còn tồn tại trên một số cây cỏ dại khác Ở điều kiện khô ráo trong phòng bào tử có thể sống được hơn một năm và sợi nấm sống được gần ba năm, nhưng trong điều kiện ẩm ướt chúng không sống sót được sang vụ sau (Vũ Triệu Mân, 2007) Hai độc tố này được tiết ra bên ngoài, hòa tan trong nước, lan ra chung quanh làm chết tế bào lá lúa; độc tố pyricularin khi tích tụ với nồng độ cao ở những cây bị bệnh nặng sẽ làm cho cây lúa bị bệnh lùn (Phạm Văn Kim, 2015) Ngoài ra, nấm còn tiết ra 2 độc tố khác là Pyriculrol
và Tenuazonic acid
Ở giai đoạn hoại sinh: Vào cuối vào tiến trình xâm nhiễm tạo ra nhiều hợp chất độc Kích thước đính bào tử thay đổi tùy theo chủng nấm và điều kiện môi trường, kích thước trung bình biến động 19-27 x 8-10 µm Khi bào tử trưởng thành, trên đầu được hình thành chất bám dính Theo Ngô Thành Trí và cs (2004) cho rằng chất này giúp bào tử dính trên bề mặt lá
Trang 242.4.4 Sự lưu tồn và phát tán của mầm bệnh
Nấm đạo ôn có khả năng biến dị cao, tạo ra nhiều chủng, nhóm nòi sinh học Các vùng trồng lúa trên thế giới đã có tới 256 loài xuất hiện Nguồn bệnh của nấm đạo ôn tồn tại ở dạng sợi nấm và bào tử trong rơm rạ và hạt bị bệnh, nấm
ký sinh trên ba loài cỏ trên đồng ruộng là Digitaria sanguinalis, Echinochloa
cruss-gali và Leersia oryzoides (Vũ Triệu Mân và cs., 2007; Phạm Văn Kim,
2015) Ở điều kiện khô ráo trong phòng bào tử có thể sống được hơn một năm
và sợi nấm sống được gần ba năm, nhưng trong điều kiện ẩm ướt chúng không sống sót được sang vụ sau (Vũ Triệu Mân, 2007)
Bệnh đạo ôn chủ yếu lây nhiễm qua không khí Bào tử nấm bệnh sau khi được phóng thích khỏi vết bệnh được mang đi bởi gió Bào tử nấm bệnh có thể theo luồng không khí đứng được mang lên rất cao, cao đến 7000m Gió ngang sẽ mang bào tử nấm bệnh đi sang các ruộng lân cận hoặc đi rất xa tùy theo tốc độ gió Trong trường hợp đứng gió, như vào những đêm có sương mù dày, bào tử nấm bệnh được lan ra cho các bụi lúa chung quanh cũng như ơi xuống các lá lúa bên dưới tán của bụi lúa Những đêm có mưa to, nước mưa sẽ lôi bào tử nấm bệnh xuống nước ruộng và không gây lây lan bệnh (Phạm Văn Kim, 2015)
Sự phát sinh và phát triển của bệnh đạo ôn
Theo (Vũ Triệu Mân, 2007) thì sự phát sinh phát triển của bệnh phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố ngoại cảnh và mức độ nhiễm bệnh của giống Sương mù,
ẩm độ không khí, lượng phân đạm cao và ẩm độ đất thấp có ảnh hưởng rõ rệt
nhất trên sự phát sinh phát triển của bệnh đạo ôn lúa (Ou, 1985)
Nấm P oryzae sinh ra bào tử trên vết bệnh khi gặp nhiệt độ thích hợp 280C và
ẩm độ không khí cao trên 93% Số lượng bào tử được sinh ra từ 1 vết bệnh điển hình biến thiên từ 1000 đến 2500 bào tử/ đêm, tùy thuộc vào kích thước vết bệnh, giống lúa, lượng phân đạm bón cho cây lúa, nhiệt độ và ẩm độ của không khí Một vết bệnh có thể sinh ra bào tử liên tục 15 ngày nếu không can thiệp bằng thuốc đặc trị Mỗi ngày có từ một đến hai đợt sinh và phát tán bào tử từ một vết bệnh, nấm bệnh sinh và phát tán bào tử về đêm khi nhiệt độ mát dần và
ẩm độ không khí dưới tán lá lúa tăng cao (Phạm Văn Kim, 2015)
Bào tử nấm nảy mầm khi gặp lớp nước tự do trên lá hay không khí bão hòa nước, ở 240C bào tử cần 6 giờ, vượt quá 280C bào tử phát triển kém Bào tử xâm nhập vào tế bào lá bằng cách mọc thành đĩa áp, chọc thủng vách tế bào lá lúa Ngoài ra, bào tử còn tiết ra độc tố pyricularin gây độc cho cây Cây lúa là ký chủ chính, bệnh có thể lưu tồn trên các cây ký chủ phụ mọc quanh ruộng như các loài cỏ lồng vực, đuôi phụng, cỏ chỉ, lúa ma, lúa chét (Lương Đức Phẩm, 2011)
Trang 25Theo Ou (1985), ẩm độ không khí và ẩm độ đất có tác động lớn đến tính mẫn cảm của cây lúa đối với sự lây lan và phát triển bệnh, độ ẩm đất thấp làm cho cây dễ nhiễm bệnh, ẩm độ không khí cao lại thích hợp cho vết bệnh phát triển Nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất từ 18-200C thì bệnh sẽ nặng do tính nhiễm của cây tăng Riêng nhiệt độ đất khoảng 200C làm bệnh rất nghiêm trọng, bệnh
sẽ giảm dần nếu nhiệt độ đất gia tăng (Võ Thanh Hoàng & Nguyễn Thị nghiêm, 1993)
Khi che bớt ánh sáng mặt trời khi bệnh mới phát triển có tác động thúc đẩy vết bệnh lan rộng Sự phát triển tiếp tục về sau của vết bệnh tỷ lệ thuận với cường
độ ánh sang và bị kìm hãm nếu che tối Hàm Lượng asparagine, glutamine và nhiều amino acid khác trong lá tăng làm giảm tính kháng của cây Sự phát triển của vết bệnh sau đó lại cần ánh sáng (Ou, 1985)
Điều kiện canh tác ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh đạo ôn
Những chân ruộng nhiều mùn, trùng ẩm, khó thoát nước, những vùng đất mới
vỡ hoang, đất nhẹ, giữ nước kém, kho hạn và những chân ruộng có lớp sét nông rất phù hợp cho nấm bệnh đạo ôn phát triển và gây hại (Vũ Triệu Mân, 2007) Bên cạnh đó, kỹ thuật canh tác gây ra các yếu tố môi trường bất lợi cũng ảnh
hưởng đến sự phát sinh bệnh: điều kiện khô hạn làm cây lúa thiếu nước, trao đổi
chất kém, khả năng hấp thu dinh dưỡng yếu nên khả năng chống chịu với bệnh của cây lúa kém (Trần Văn Hai, 2009) Ở những vùng cao nguyên, điều kiện khô hạn thiếu nước kết hợp với đêm sương mù nhiều, biên độ nhiệt lớn sẽ làm cho bệnh ngày càng phát sinh Bệnh thường nặng ở vùng đất trũng khó thoát nước, có nhiều mùn ở lớp đất mặt, vùng khí hậu ấm áp bệnh xuất hiện nhiều ở chân ruộng đất cát pha (Phạm Văn Kim & Lê Thị Sen, 1993) Đất ruộng lúa bị ngộ độc vì axit hữu cơ gây thối rễ lúa sẽ làm cây lúa nhiễm bệnh đạo ôn rất nặng (Phạm Văn Kim, 2015)
Ảnh hưởng mật độ sạ đến sự phát triển bệnh đạo ôn
Theo Hoàng Kim (2016) thì trong quần thể ruộng lúa, mật độ gieo, cấy và số dảnh cấy có liên quan đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất Nếu gieo cấy quá dày hoặc nhiều dảnh trên khóm thì bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và cuối cùng năng suất sẽ giảm Vì vậy, muốn đạt được năng suất cao thì người sản xuất phải biết điều khiển cho quần thể ruộng lúa có số bông tối ưu mà vẫn không làm bông nhỏ đi, số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông không thay đổi Căn cứ vào tiềm năng năng suất của giống, tiềm năng đất đai, khả năng thâm canh của người sản xuất và vụ gieo trồng để định ra số bông cần đạt một cách hợp lý
Trang 26Theo Phạm Văn Kim (2015) thì khi sạ quá dày, mật độ sạ trên 200kg/ha, mạ mọc dày đặc nên lúa giáp tán sớm và bệnh đạo ôn xuất hiện sớm vào giai đoạn
15 ngày sau sạ Theo Trần Văn Hai (1999) thì gieo sạ càng dày, tán lá càng nhiều, khả năng che khuất càng lớn, ẩm độ dưới tán lá càng cao, điều kiện vi khí hậu càng thuận lợi cho nấm cháy lá và khô cổ bông phát triển
Theo Nguyễn Trường Giang và Phạm Văn Phượng (2011) Tập quán sạ dày của nông dân tạo điều kiện thích hợp cho bệnh đạo ôn phát sinh gây hại nặn, số hạt chắc trên bông và trọng lượng 1000 hạt ở nghiệm thức sạ hàng mật độ 50 kg/ha
và 100 kg/ha đều lớn hơn mật độ 200 kg/ha
Tập quán sạ lan truyền thống của nông dân với mật độ cao khoảng 200 kg/ha, tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển và làm giảm năng suất từ 38,2%-64,6%, giảm tỷ lệ gạo nguyên từ 3,1-11,3% và giảm trọng lượng 1000 hạt từ 3,7%-5,1% (Lê Hữu Hải và cs, 2006)
Năng suất thực tế vụ Hè thu 2015 ở 3 mật độ sạ (80, 100, 120kg/ha) không có
sự khác biệt về mặt thống kê (Bùi Thị Thanh Tâm, 2015) Trong khi mật độ sạ 200kg/ha mật độ sạ thấp hơn 120 kg/ha đều giảm năng suất, mật độ 120 kg/ha rất có tiềm năng đạt năng suất cao và ổn định cho giống AG-Nếp ở huyện Phú Tân, An Giang (Bùi Lan Anh, 2017)
Mật độ gieo sạ vừa phải sẽ rất có ý nghĩa trong việc làm giảm sự phát triển của dịch hại khuyến cáo lượng giống gieo sạ 80 đến 120kg/ha (Mai Thành Phụng, 2009) Trong điều kiện ảnh hưởng ốc bươu vàng mật độ sạ 120-150 kg/ha (Nguyễn Ngọc Sơn, 2013)
Phân bón đến sự phát triển bệnh đạo ôn
Phân bón đóng vai trò quan trọng trong sự phát sinh phát triển của bệnh Bệnh đạo ôn phát triển rất nhanh, gây hại rất nặng và rất khó trị bệnh khi ruộng lúa được bón phân đạm cao (Phạm Văn Kim, 2015) Những giống nhiễm bệnh nặng (giống mẫn cảm) không những là điểm phát sinh ban đầu mà còn là điều kiện cho bệnh dễ dàng lây lan thành dịch bệnh trên đồng ruộng (Vũ Triệu Mân & Lê Lương Tề, 1998)
Nguyên tắc bón phân cho lúa: bón theo nhu cầu của cây vào các thời điểm xung yếu (mạ, đẻ nhánh, tượng đòng); bón đúng liều lượng; không bón thừa phân đạm (sở NNPTNT An Giang, 2012)
Đợt 1: Lúc lúa được 2 - 3 lá (sau sạ 7 ngày) hoặc sau cấy 5 ngày để mạ nhanh phát triển, đẻ nhánh sớm, với 30% lượng đạm, 100% lượng lân nếu sử dụng phân lân đơn, 50% nếu sử dụng DAP và 50 % lượng kali
Trang 27Đợt 2: Bón thúc lần 2 lúc lúa được 18 ngày Lượng phân bón khoảng 40% tổng lượng đạm và 50% lượng lân còn lại nếu sử dụng DAP
Đợt 3: Bón thúc lần 3 thực chất là bón đón đòng, trước trổ khoảng 42 ngày Lượng bón số đạm và kali còn lại Ở giai đoạn này cần quan sát đòng lúa (tim đèn dài 0,5 cm – 1 cm) để xác định thời điểm bón và màu sắc lá để quyết định lượng bón
Hình 1: giai đoạn sinh trưởng và bón phân cho lúa 2.5 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BỆNH
Bệnh đạo ôn là loại bệnh gây hại nghiêm trọng, dễ phát triển nhanh trên diện rộng Vì vậy, muốn phòng trừ đạt hiệu quả cao cần làm tốt công tác dự tính dự báo bệnh, điều tra theo dõi và phân tích các điều kiện liên quan tới sự phát sinh của bệnh như: vị trí tồn tại của nguồn bệnh, diễn biến yếu tố khí hậu thời tiết, tình hình sinh trưởng của cây và điều kiện đất đai, phân bón, cơ cấu giống lúa (Vũ Triệu Mân, 2007)
Trồng giống kháng bênh, sử dụng hạt giống ở cấp xác nhận trở lên để có hạt giống khỏe, giúp cây lúa khỏe sẽ góp phần giúp ruộng lúa ít nhiễm với bệnh đạo
ôn hơn, nếu có nhiễm bệnh thì cũng nhẹ hơn và dễ trị hơn (Phạm Văn Kim, 2015)
Bón phân cân đối, nhất là phân N, tăng cường sử dụng phân hữu cơ, không thúc
N khi bệnh đang phát triển trên ruộng Luôn giữ cho ruộng ngập nước, vì nếu ruộng khô bệnh sẽ nặng hơn Vệ sinh đồng ruộng sau khi thu hoạch, dọn sạch rơm rạ, cỏ là nơi bệnh lưu tồn cho vụ sau (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Thường xuyên thăm ruộng để phát hiện sớm phát hiện bệnh và phun thuốc khi bệnh mới xuất hiện Để trị bệnh đạo ôn có hiệu quả cần áp dụng biện pháp bốn đúng là: đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng cách Một số hoạt chất
Trang 28có thể trị bệnh cháy lá như Tricyclazole, Isoprothiolane, Fthalide, Azoxystrobine (Phạm Văn Kim, 2015)
2.6 MỘT SỐ CHỈ TIÊU NÔNG HỌC
2.6.1 Chiều cao cây lúa
Chiều cao cây lúa: là một trong những tính trạng quan trọng liên quan đến khả năng chống đổ, khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời và chịu phân bón của giống Thân cây lúa dày hơn thì khả năng tích lũy chất khô tốt hơn Thân cứng
và dày có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chống đổ ngã và dẫn tới chỉ số thu hoạch cao hơn Nếu thân không cứng khoẻ, không dày, thì dễ đổ ngã, tán lá che khuất lẫn nhau làm gia tăng một số bệnh hại dẫn đến năng suất giảm (Nguyễn Xuân kỳ, 2017)
2.6.2 Khả năng đẻ nhánh cây lúa
Trong quá trình sinh trưởng, nhánh lúa là những cành mọc lên từ nách lá của mỗi đốt trên thân chính hoặc trên các nhánh khác trong thời gian sinh trưởng dinh dưỡng, cây lúa đẻ nhánh theo quy luật chung Tuy nhiên, các giống lúa khác nhau thì thời gian đẻ nhánh khác nhau Khả năng đẻ nhánh sớm là một đặc tính tốt của cây lúa Số nhánh mang là đặc tính di truyền số lượng, khả năng đẻ nhánh sớm liên quan với khả năng sinh trưởng mạnh và sớm của các giống lúa lùn cải tiến, nhưng nó lại di truyền độc lập với nhiều đặc tính quan trọng khác
Ở giống lúa cải tiến, người ta thường chọn cá thể đẻ nhánh sớm (Nguyễn Xuân
Kỳ, 2017)
Đặc điểm di truyền của kiểu đẻ nhánh chụm và đứng thẳng là lặn, kiểu đẻ nhánh xòe là trội Các kết quả nghiên cứu cho rằng tính đẻ nhánh khỏe là tính trạng di truyền số lượng, có hệ số di truyền từ thấp đến trung bình và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các điều kiện ngoại cảnh (Nguyễn Văn Hiển, 2000)
Nhánh lúa không bao giờ phát triển khi lá tương đương với nó vẫn chưa phát triển xong, nhánh không bao giờ phát triển nữa khi lá bị khô (Bùi Huy Đáp, 1980)
2.6.3 Chất Lượng Gạo
2.6.3.1 Tỷ lệ xay xát gạo
Chất lượng xay xát của lúa gạo thể hiện qua ba chỉ tiêu chính: và tỷ lệ gạo lật nguyên, tỷ lệ gạo nguyên và tỷ lệ gạo xát Trong đó, tỷ lệ gạo nguyên là chỉ tiêu quan trọng nhất và cũng là yếu tố chịu ảnh hưởng của môi trường nhiều nhất; tỷ
lệ gạo lật và gạo xát chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi bản chất của giống
Trang 29Gạo Nguyên là khối lượng hạt nguyên trong một lô gạo Gạo nguyên thường bao gồm cả hạt gãy vỡ còn giữ lại 75% – 80% toàn bộ hạt, Tỷ lệ gạo nguyên cao là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đo lường chất lượng gạo xát Gạo tấm thường chỉ có giá trị bằng ½ gạo nguyên Tỷ lệ gạo nguyên thực sự của một lô gạo xát sẽ phụ thuộc vào cả đặc tính giống (nói cách khác là năng suất gạo nguyên tiềm năng), yếu tố sản xuất, thu hoạch, làm khô và quá trình xay xát Việc thu hoạch, làm khô và xát có thể gây ra một số mất mát và hư hại hạt
gạo
Theo Khush và cs (1979), tỷ lệ gạo nguyên tính theo % khối lượng gạo xát Lúa
có chất lượng xay xát tốt là sau khi xát cho tỷ lệ gạo tổng số và gạo nguyên cao
Tỷ lệ gạo nguyên biến động rất lớn Đây là tính trạng di truyền và chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường, đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm trong thời gian chín và sau thu hoạch Nắng nóng, sự thay đổi đột ngột của ẩm độ không khí, những điều kiện không thuận lợi của môi trường trong suốt thời gian chín đều là những nguyên nhân làm xuất hiện những vết rạn trong hạt và làm tăng tỷ lệ gẫy của hạt gạo khi xát Tỷ lệ gạo nguyên thường đạt cao nhất khi lúa chín từ 28 ngày -
30 ngày sau trỗ, thu hoạch sớm quá (20 ngày sau trỗ) hay muộn quá (35 ngày sau trỗ trở đi) đều làm giảm tỷ lệ gạo nguyên (Nguyễn Xuân Kỳ, 2017)
2.6.3.2 Tỷ lệ gạo bạc bụng
Độ bạc bụng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng gạo của một giống, nó không ảnh hưởng đến chất lượng cơm, nhưng ảnh hưởng lớn đến thị hiếu của người tiêu dùng Vết bạc thường xuất hiện ở bụng, trên lưng hoặc ở trung tâm hạt gạo và các vết gãy của hạt gạo cũng xuất phát từ những điểm bạc này Chính vì thế mà tỷ lệ bạc bụng có tỷ lệ nghịch với tỷ lệ gạo nguyên (Ngô Thế Dân, 2002)
Theo Yoshida (1981), độ bạc bụng chịu ảnh hưởng của môi trường nhiều hơn
là do bản chất giống Nhiệt độ thấp dần vào thời kỳ sau trỗ đến chín làm giảm
tỷ lệ hạt bạc, sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm có tác dụng giúp các hạt tinh bột trong hạt gạo sắp xếp chặt hơn, giảm tỷ lệ hạt bạc; trái lại khi hạt vào chắc gặp nhiệt độ cao làm các hạt tinh bột sắp xếp lỏng lẻo hơn dẫn tới tỷ lệ hạt bạc cao Nhiệt độ ảnh hưởng tới độ bạc của hạt lúa rõ nhất là trong thời kỳ trỗ Lúa cấy
ở ruộng có mực nước quá cao hay bị hạn cũng làm tăng độ bạc của hạt gạo (Nguyễn Xuân Kỳ, 2017)
Độ bạc bụng có tần xuất liên kết với tính trạng hạt tròn hơn hạt thon dài Độ bạc bụng của hạt gạo một mặt do yếu tố di truyền, mặt khác điều kiện môi trường cũng tác động đến đặc điểm này, đó là nhiệt độ giai đoạn sau trỗ, nhiệt độ cao
Trang 30làm tăng độ bạc bụng, ngược lại nhiệt độ thấp làm giảm độ bạc bụng (Bùi Chí Bửu và cs, 2005)
Giai đoạn sau thu hoạch ít tác động tới độ bạc bụng của hạt gạo Tuy nhiên, một
số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phơi thóc trong nắng nhẹ để làm giảm độ ẩm từ từ, hạt gạo sẽ trong hơn khi bị làm giảm ẩm độ đột ngột (IRRI, 2013)
2.6.4 Dư lượng tồn dư trên gạo
2.6.4.1 Mức giới hạn thuốc BVTV trên lúa gạo: theo thông tư Bộ Y tế số
50/2016/TT-BYT Thuốc bvtv
Theo báo nông nghiệp Việt Nam: Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển dẫn thông tin từ Hiệp hội các nhà xay xát gạo châu Âu và Hiệp hội Kinh doanh ngũ cốc châu Âu cho biết, Ủy ban châu Âu (EC) đang đề xuất việc cấm sử dụng chất Tricyclazole làm thuốc BVTV trong tất cả các nước thành viên EU, đồng thời muốn hạ mức dư lượng chất Tricyclazole tối đa cho phép trong gạo nhập khẩu
từ ngưỡng hiện hành 1 ppm xuống ngưỡng 0,01ppm Thời gian đề nghị áp dụng
từ tháng 1/2018
Tricyclazole là một hoạt chất được sử dụng rộng rãi làm thuốc BVTV trong ngành trồng lúa Việc cấm sử dụng Tricyclazole có thể ảnh hưởng đáng kể tới sản xuất và xuất nhập khẩu gạo không chỉ của các nước thành viên EU mà còn của cả các nước có giao dịch xuất nhập khẩu gạo với EU
Các công ty sản xuất thuốc BVTV sẽ phải nghiên cứu sản phẩm thay thế trước khi quy định nêu trên của EU được ban hành và chính thức có hiệu lực
EC đã gửi thông báo về đề xuất cấm sử dụng chất Tricyclazole làm thuốc BVTV tới Tổ chức Thương mại thế giới đồng thời mời các bên quan tâm có ý kiến trước ngày 15/1/2017
2.6.4.2 Thời gian cách ly (PHI)
Bảo đảm thời gian cách ly Pre-harvest interval (PHI) Là khoảng thời gian tính bằng ngày từ lần xử lý thuốc cuối cùng đến khi thu hoạch Thời gian cách ly lý thuyết là khoảng thời gian từ lần xử lý thuốc cuối cùng đến khi thu hoạch mà tại thời điểm đó dư lượng của thuốc trên cây chỉ bằng hay thấp hơn dư lượng tối đa cho phép Trong thực tế, để đảm bảo an toàn cho người và gia súc, người
ta thường kéo dài thời gian này thêm một số ngày nữa (thường là gấp đôi) và có tên thời gian cách ly thực tế
Về quản lý thời gian cách ly của mỗi loại thuốc mỗi nước cần có thử nghiệm để xác định cách sử dụng, liều dùng cho phù hợp, cũng như nhằm đảm bảo dư lượng trong nông sản thấp hơn MRL (Cheah ,2001)
Trang 31Mỗi loại thuốc mới cần giám sát và kiểm tra trước và cả sau khi sản phẩm đã đăng ký về tác động của chế phẩm này đến môi trường để có các điều chỉnh cần thiết (Zeneca, 1999)
2.6.4.3 Dư lượng Thuốc BVTV
Dư lượng là phần còn lại của hoạt chất, các sản phẩm chuyển hóa và các thành phần khác có trong thuốc, tồn tại trên cây trồng, nông sản, đất, nước sau một thời gian dưới tác động của hệ sống và điều kiện ngoại cảnh (Nguyễn Mạnh Chinh & Nguyễn Mạnh Hùng & Nguyễn Mạnh Cường, 2016)
2.6.4.4 Giới hạn xác định (LOD)
LOD là nồng độ thấp nhất của một dư lượng thuốc trừ sâu hay chất gây ô nhiễm
có trong một thực phẩm, hàng hóa nông nghiệp hoặc thức ăn chăn nuôi mà có thể xác định và đo lường với độ chính xác chấp nhận được theo một phương pháp phân tích của cơ quan quản lý LOD từng được sử dụng là từ viết tắt của
"giới hạn phát hiện" (Diễn đàn Hợp tác An toàn Thực phẩm APEC Tiểu ban Tiêu chuẩn và Hợp chuẩn, 2016 [APEC])
2.6.4.5 Giới hạn định lượng (LOQ)
LOQ là nồng độ tối thiểu của chất cần phân tích trong mẫu thử mà ta có thể định lượng bằng phương pháp khảo sát và cho kết quả có độ chụm mong muốn LOQ là nồng độ nhỏ nhất chất phân tích mà có thể lượng hóa được Nó thường được gọi là nồng độ tối thiểu chất phân tích trong mẫu kiểm nghiệm và có thể xác định được với mức độ rõ ràng (lặp lại) và chính xác chấp nhận được theo các điều kiện đã nêu của kiểm nghiệm Tài liệu Tham khảo: Tư vấn Chuyên gia FAO/IAEA về "Quy trình thực tiễn phê duyệt hiệu quả phương pháp phân tích
dư lượng thuốc trừ sâu và thuốc thú y, và theo dõi chất gây nhiễm hữu cơ trong thực phẩm' (Hungary, từ ngày 08 đến ngày 11 tháng 11 năm 1999)
"Giới hạn định lượng" và "giới hạn số lượng' được sử dụng thay thế cho nhau
và đều viết tắt là LOQ Ủy ban FAO ước tính LOQ của một phương pháp phân tích dư lượng trong các chất nền chính là mức thấp nhất nếu đạt được tần suất phục hồi thỏa đáng Trước đây JMPR sử dụng LOD (giới hạn xác định) có nghĩa như là LOQ (APEC, 2016)
2.6.4.6 Giới hạn dư lượng tối đa (MRL)
Hoá chất bảo vệ thực vật [HCBVTV] (biểu thị bằng mg/kg), là nồng độ cao nhất của dư lượng thuốc có trong một đơn vị sản phẩm nông sản hay thực phẩm mà
ở đó có thể được chấp nhận mà không gây hại cho người sử dụng Dư lượng HCBVTV được tính bằng miligam thuốc có trong 1 kilogam nông sản Ủy ban Codex (tổ chức tiêu chuẩn thuộc FAO và WHO) đã lập ra danh mục giới hạn
Trang 32tối đa của HCBVTV trong thức ăn cho người và gia súc Mỗi nước đều có các quy định về MRL của các HCBVTV trong các đối tượng khác nhau (FAO, 2005)
Theo thông tư 50 bộ y tế, 2016 Tồn dư thuốc bảo vệ thực vật (Pesticide Residue)
là các chất tồn dư trong thực phẩm do sử dụng một loại thuốc bảo vệ thực vật Tồn dư thuốc bảo vệ thực vật có thể từ các nguồn chưa biết, không thể tránh khỏi (như từ môi trường) hoặc từ việc sử dụng hóa chất
Tồn dư thuốc bảo vệ thực vật bao gồm các dẫn xuất của thuốc bảo vệ thực vật như các sản phẩm chuyển đổi, chuyển hóa, sản phẩm phản ứng và các tạp chất được coi là có ý nghĩa về độc tính
Giới hạn dư lượng tối đa (MRL): (Maximum residue limit [MRL]) là mức dư
lượng thuốc BVTV tối đa cho phép (biểu thị bằng mg/kg), là nồng độ cao nhất của dư lượng thuốc có trong một đơn vị sản phẩm quả mà ở đó có thể được chấp nhận, cho phép bởi bộ luật của một nước cho một loại rau quả nào đó
Giới hạn dư lượng tối đa (MRL) là nồng độ tối đa một dư lượng thuốc trừ sâu được pháp luật cho phép có trong hàng hóa thực phẩm Những MRL dựa trên
dữ liệu về thực hành nông nghiệp tốt (GAP) và thực phẩm được sản xuất từ những hàng hóa tuân thủ MRL tương ứng được coi là chấp nhận được về mặt độc tố Thuật ngữ ‘Giới hạn dư lượng Tối đa’ đối với nông sản chính là thuật ngữ ‘Mức dư lượng tối đa’ được sử dụng tại Châu Âu hoặc ‘Độ chấp nhận’ được
sử dụng tại Mỹ (APEC, 2016)
Các hệ thống thiết lập MRL ở nhiều nền kinh tế APEC áp dụng phương pháp
‘danh mục cứng’, trong đó pháp luật quy định rằng nếu không có MRL trong nước (hoặc không có MRL Codex ở một số nền kinh tế khác) cho một tổ hợp thuốc trừ sâu-thực phẩm, thì dư lượng phải ‘bằng không’ (không phát hiện được hoặc không đo lường được), hoặc dưới một giới hạn mặc định nào đó (thường
là 0,01mg/kg) hoặc dưới nồng độ gây rủi ro phơi nhiễm do chế độ ăn uống Ở những nền kinh tế không sử dụng phương pháp danh mục cứng, MRL Codex (và trong một số trường hợp là MRL của nền kinh tế xuất khẩu) thường được dùng làm tiêu chuẩn tham chiếu khi xem xét chấp thuận thực phẩm nhập khẩu được kiểm nghiệm và phát hiện có chứa những dư lượng không được pháp luật trong nước quy định (APEC, 2016)
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều HCBVTV chưa có quy định về giới hạn Để giải quyết vấn đề này, một số quốc gia phát triển và tổ chức trên thế giới như Nhật Bản, Châu Âu… sử dụng giá trị MRL mặc định (default value) đối với các HCBVTV chưa thiết lập được MRL Giá trị MRL mặc định này
Trang 33không dựa trên các nghiên cứu về đánh giá nguy cơ mà dựa trên mức được coi
là an toàn đối với người sử dụng (Trần Cao Sơn, 2015)
2.6.4.7 Mức giới hạn tối đa dư lượng Tricyclazole, Flutriafol (MRL) trong gạo:
Theo thông tin từ Hiệp hội các nhà xay xát gạo châu Âu, Ủy ban châu Âu (EC) được các nước thành viên EU ủng hộ đang chuẩn bị ban hành một Quyết định
về hạ thấp giới hạn cho phép (MRL) đối với chất tricyclazole trong gạo từ mức hiện hành 1mg/kg xuống 0,01mg/kg
Đối với các loại gạo không phải là gạo basmati : MRL Tricyclazole hiện hành 1mg/kg áp dụng đối với tất cả gạo được nhập khẩu hoặc đưa ra thị trường trước ngày Quyết định nêu trên có hiệu lực (dự kiến trong tháng 7/2017); Gạo được bán hay xuất hiện trên thị trường bán lẻ sau tháng 7/2017 có chứa dư lượng chất Tricyclazole vượt quá 0,01 mg/kg được coi là phù hợp về mặt pháp
lý với điều kiện toàn bộ số gạo đó được thu hoạch từ vụ mùa 2016 tại châu Âu hoặc nhập khẩu vào châu Âu trước tháng 7/2017 (theo website Bộ Công Thương Việt Nam, 2017)
Bảng 1: Qui định cho phép (MRL) đối với chất Flutriafol và Tricyclazole trong gạo
STT Hoạt chất MRLs Việt Nam
(mg/kg)
MRLs Châu Âu (mg/kg)
Cây trồng
1 Tricyclazole - 0,01 -
2 Flutriafol 0,15-0,3 1,5 -
2.6.5 Đặc điểm của giống lúa OM 5451
Theo báo cáo sơ kết trồng trọt vụ đông xuân 2017-2018 cơ cấu nhóm giống chất lượng cao (OM5451, OM4900, OM7347, OM6976, ): chiếm tỷ lệ 32,1%, tương đương so cùng kỳ Đông Xuân 2016 – 2017 (32,1%); trong đó giống OM5451 chiếm khoảng 50% trong nhóm giống chất lượng cao được gieo trồng
vụ Đông xuân 2017-2018 Nhóm giống lúa chủ lực vụ Hè thu 2018: OM5451, OM6976, OM4900, OM7347, OM4218, IR50404 (Cục trồng trọt, 2018) Theo Trần Thị Cúc Hòa và cs (2009) cho là nguồn gốc: Giống lúa OM5451 được tạo chọn từ tổ hợp lai Jasmine 85/OM2490 thực hiện tại Viện Lúa ĐBSCL Jasmine 85 là giống lúa thơm, đặc sản phổ biến ở ĐBSCL, OM2490 là giống lúa giàu sắt Giống lúa OM5451 được đưa vào khảo nghiệm từ năm 2007 và công nhận là giống lúa mới theo Quyết định số 711/QĐ/TT/CLT ngày 07/12/2011 của Cục Trồng trọt Giống lúa OM5451 có tính thích nghi rộng, chịu mặn trung bình, là giống rất được ưa chuộng cho xuất khẩu Giống lúa OM5451
Trang 34được Bộ Nông nghiệp và PTNT cấp bằng bảo hộ giống cây trồng năm 2001 và năm 2011 Viện Lúa ĐBSCL chuyển nhượng bản quyền cho Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang
Bảng 2: Đặc tính cơ bản của giống lúa OM5451( Trần Thị Cúc Hòa và cs, 2013)
Thời gian sinh trưởng (ngày) 93-102 Tỷ lệ gạo nguyên (%) 12 46 - 50
Chiều cao cây (cm) 100-110 Độ bạc bụng (cấp 1 - 9) 1 13
Số bông/m 2 (bông) 320-350 Hàm lượng amylose (%) 18 16
- Tên hoá học: 5 - Methyl -1,2,4 - triazolo(3,4 - b) benzothiazole
Công thức cấu trúc hóa học:
Hình 2 Công thức cấu tạo của Tricyclazole
-Khối lượng phân tử: 189.12
Trang 35-Độ hòa tan 250 C
- Nhóm thuốc: triazol
Tricyclazole
Tính chất: Thuốc kỹ thuật ở dạng rắn, điểm nóng chảy 187 0C, áp suất hơi 2 x
10-7 mmHg (25 0C) Tan ít trong nước (700 mg/l ở 25 0C) Nhóm độc II, LD50
qua miệng 250 - 314 mg/kg Ít độc với cá, không độc với ong Thời gian cách lai (PHI) 14 ngày
Thuốc trừ nấm, tác động nội hấp Chủ yếu phòng trừ bệnh đạo ôn hại lúa, có hiệu quả cao đối với bệnh trên lá và bông Sử dụng: Chế phẩm 40% hoạt chất dùng liều lượng 0,5 lít/ha, pha nước với nồng độ 0.125% Khả năng hỗn hợp: Khi sử dụng có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác Phương thức tác động: Kìm hãm sinh tổng hợp ergosterol, làm suy yếu vách tế bào nấm và
kìm hãm phát triển của sợi nấm Pyricularia oryzae Cav Là thuốc trừ nấm tiếp
xúc và nội hấp có tác dụng bảo vệ và diệt trừ, hấp thụ mạnh qua lá và vận chuyển
hướng ngọn, tricyclazole, chặn sinh tổng hợp melanin của nấm Pyricularia
oryzae Cav
Tricyclazole được đăng ký phòng trừ đạo ôn hại lúa (Nguyễn Mạnh Chinh và
cs, 2016).Thuốc được dùng để phun lên cây và xử lý hạt giống Thuốc có thể hỗn hợp với nhiều thuốc trừ bệnh khác
2.6.6.2 Flutriafol:
Theo Nguyễn Trần Oánh (2007) Thuộc nhóm men khử nước kìm hãm sinh
tổng hợp ergosterol (phá huỷ vách tế bào nấm và kìm hãm sự phát triển sợi nấm) Công thức cấu tạo flutriafol:
- Hình 3: Công thức cấu tạo của Flutriafol
Nhóm thuốc: triazol
Tính chất: thuốc kỹ thuật dạng tinh thể rắn, không màu Điểm nóng chảy 1300c, tan ít trong nước (130 mg/l ở 200c), tan trong acetone, methanol, xylen, hexane
Trang 36Nhóm độc III, LD50 qua miệng 1140 mg/kg, qua da >1000 mg/kg ít độc với cá (LD50 cá chép 77mg/l trong 96 giờ) Thời gian cách ly PHI 7 ngày
Thuốc trừ nấm tiếp xúc và nội hấp có tác dụng phòng và diệt trừ bệnh Hấp thụ mạnh qua lá và vận chuyển hướng ngọn Có phổ tác động rộng, trừ được nhiều
loài nấm bệnh như Erysiphe graminis, Rhynchosporium secalis và Septoria,
Puccinia và Helminthosporium spp trên ngũ cốc ở liều 125 g a.i./ha
Đăng ký tại Việt Nam trừ bệnh đạo ôn hại lúa, vàng lá lúa, gỉ sắt cà phê, bệnh nứt thân chảy nhựa dưa hấu Thuốc được dùng để phun lên cây và xử lý hạt giống (Nguyễn Mạnh Chinh và cs, 2016) Sử dụng: Chế phẩm 25% hoạt chất dùng liều lượng 0,8 lít/ha, pha nước với nồng độ 0.16% Khả năng hỗn hợp: Khi
sử dụng có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác
Trang 37CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 PHƯƠNG TIỆN VÀ VẬT LIỆU
3.1.1 Thời gian thực hiện:
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 12 năm 2018
3.1.2 Địa điểm:
Địa điểm nghiên cứu: ruộng nông dân Lê Tấn Phước ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang
Tọa độ khu ruộng 10°26'15.0"N 105°14'13.3"E
Loại đất Plg đất phù sa gờ lay của hệ thống sông Cữu Long (Bộ Nông nghiệp Việt Nam, 2003)
Hình 4 vị trí khu ruộng thí nghiệm 3.1.3 Phương tiện và vật liệu thí nghiệm
Máy tính, máy đo ẩm độ Kett Riceter f511, phần mềm, cân điện tử
KD-TBED-600 (max KD-TBED-600g, min 0,2g, d= 0,01g), máy bóc vỏ thóc SATAKE model THU 35B-T, máy xay xát Bùi Văn Ngọ model WT-15A
Phân bón: Phân đạm (urea) [CO(NH2)2] 46% N (Đạm Phú Mỹ); phân DAP ammonium phosphate) 46% P2O5; Chlorua Kali (KCl) 60% K2O, thuốc trừ đạo
(di-ôn Filia 525SE (chứa hoạt chất Tricyclazole 400g/L + Propiconazole 125g/L),
Nơi thí nghiệm
Trang 38Blockan 25SC (thành phần chứa Flutriafol 25g/L), tủ sấy, cân điện tử, thước đo, bút, sổ ghi chép, máy xay chà lúa bằng máy Satake (THU 35B-T), máy xát trắng bằng máy Bùi Văn Ngọ model WT – 15A …
Giống lúa được thử nghiệm là giống OM 5451 có thời gian sinh trưởng khoảng 95-97 ngày, nguồn gốc giống sử dụng giống xác nhận 1 từ trung tâm giống Bình Đức của tập đoàn Lộc Trời
Dây nylon và cọc tre cắm khung để theo dõi chỉ tiêu nông học (chiều cao cây,
Bón phân: công thức phân bón sử dụng là 84.2N – 50.6 P2O5 – 30 K2O, được chia làm 3 lần bón:
Bảng 3: Công thức phân bón sử dụng
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, 2014
Thời gian bón Urea
(46%N)
Lân (18:46:0)
KCl (60% K2O)
Trang 39Bảng 4: Ngưỡng phòng trừ một số sâu hại
Tên sâu hại Giai đoạn sinh trưởng lúa Ngưỡng phòng trừ
Sâu cuốn lá Đẻ nhánh
Đòng – trổ
15% số lá 5% số lá Sâu đục thân Đẻ nhánh
Đòng – trổ
10% nõn héo 5% số chồi
Nguồn: Viện nghiên cứu lúa Quốc tế,1993
3.2.2 Mô tả thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 36 lô, diện tích mỗi lô là 92 m2, tổng diện tích là 3312 m2 Thí nghiệm được bố trí thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên hai nhân tố, nhân tố chính thời điểm xử lý thuốc đạo ôn, nhân tố phụ là mật độ sạ Nhân tố phụ là mật độ sạ bố trí vào lô chính (lô lớn) 552 m2 /lập lại, mật độ sạ (M1)120 kg giống/ ha và (M2) 180kg giống/ha, 3 lần lập lại Nhân tố chính là thời điểm và hóa chất xử lý đạo ôn, 6 nghiệm thức bố trí trong lô nhỏ 92m2(lô phụ) Nhân tố thuốc là nhân tố chính, được bố trí trong lô phụ gồm có 6 nghiệm thức
Nghiệm thức 1 (N1): (sử dụng thuốc theo tập quán nông dân):
- Giai đoạn làm đòng 40 NSS: sử dụng hoạt chất Tricyclazole với liều lượng 0.5 lít /ha Lượng nước phun 500 lít nước/ha
- Giai đoạn trước trổ 57 NSS: sử dụng hoạt chất Tricyclazole để phun vào thời điểm trước trổ 7 ngày với liều lượng 0.5 lít /ha Lượng nước phun 500 lít nước/ha
- Giai đoạn trổ đều 67 NSS: sử dụng hoạt chất Tricyclazole để phun vào thời điểm sau trổ 7 ngày với liều lượng 0.5 lít /ha Lượng nước phun 500 lít nước/ha
- Giai đoạn trổ đều 77 NSS: sử dụng hoạt chất Tricyclazole để phòng ngừa bệnh đạo ôn cổ bông với liều lượng 1 lít /ha Lượng nước phun 500 lít nước/ha
Trang 40Nghiệm thức 6 (N6): đối chứng phun nước lã ở các giai đoạn
Mật độ sạ là nhân tố phụ, được bố trí trong lô chính gồm hai mức:
- Mật độ sạ M1: 120kg/ha
- Mật độ sạ M2: 180kg/ha