Do đó trong thời gian qua Chính phủ đã ban hành một số chính sách về tín dụng đối với các Ngân hàng để cho các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác hoạt động ngày một tốt hơn.. - Ba là
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ- QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
Trang 2CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài :
- Sau hơn 10 thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, nước ta nói riêng và
An giang nói chung đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, lạm phát được kiểm soát và đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện một cách rỏ rệt Tuy nhiên trong những năm gần đây tình hình tài chính đã và đang xảy ra những biến động làm ảnh hường không nhỏ đến nền kinh tế của nước ta Là một trong những ngiệp vụ quan trọng nhất của Ngân hàng, không thể phủ nhận vai trò to lớn của hoạt động tín dụng trong việc phục hồi và thúc đẩy nền kinh tế, sau ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế và định hướng phát triển theo hướng CNH – HĐH Hoạt động tín dụng có hiệu quả hay không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi Ngân hàng mà còn là vấn đề quan trọng của cả nền kinh tế
- Hiện nay An giang đang là một trong những tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp tương đối phát triển, đứng đầu cả nước về sản lượng lương thực Trong những năm qua diện tích trồng lúa của tỉnh liên tục tăng, trong đó huyện Phú tân diện tích gieo trồng bình quân trong các năm qua có sự biến động do chuyển dổi
cơ cấu giữa vật nuôi với cây trồng, nhưng nhìn chung thì diện tích và sản lượng thu hoạch vẩn ở một con số khá cao
- Chủ trương phát triển nông nghiệp và nông thôn là một trong những vấn
đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt là trong gian đoạn hiện nay nhằm từng bước cải thiện bộ mặt của nông thôn Việt Nam trong tiến trình thực hiện CNH-HĐH đất nước Do đó trong thời gian qua Chính phủ đã ban hành một số chính sách về tín dụng đối với các Ngân hàng để cho các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác hoạt động ngày một tốt hơn
- Xuất phát từ tình hình thực tế của An giang nói chung và huyện Phú tân nói riêng cùng với chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước tôi quyết định thực
hiện đề tài: “Phân tích tình hình tín dụng và biện pháp giảm thiểu rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Chi Nhành Huyện Phú Tân”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu :
- Một là: Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về tín dụng và các yếu tố
ảnh hưởng đến rủi ro trong tín dụng
- Hai là: Hiểu rỏ các hoạt động của NHNo & PTNT chi nhánh huyện Phú
Tân nhất là hoạt động tín dụng
Trang 3- Ba là: Phân tích và xem xét hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Huyện Phú Tân, để tìm ra và phát huy những mặt mạnh,
khắc phục những tồn tại yếu kém trong hoạt động cho vay của Ngân hàng sau đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng
1.3 Phương pháp nghiên cứu :
Đề tài sử dụng 02 phương pháp nghiên cứu chính là:
- Thu thập số liệu thực tế từ phòng tín dụng và phòng kế toán tại NHNo&PTNT huyện Phú Tân qua các năm 2006, 2007 và năm 2008
- Sử dụng phương pháp phân tích diễn dịch, quy nạp và thay thế liên hoàn
số liệu thu thập từ phòng tín dụng và phòng kế toán tại NHNo&PTNT huyện Phú Tân qua các năm 2006, 2007 và năm 2008
1.4 Giới hạn của đề tài:
-Không gian :
+ Đề tài được nghiên cứu tại NHNN0 & PTNT huyện Phú Tân
+ NHNo & PTNT chi nhà Huyện Phú Tân hoạt động khá đa dạng với nhiều hình thức và sản phẩm khác nhau, chuyên đề chỉ tập trung chủ yếu vào lĩnh vực tín dụng
-Thời gian :
Đề tài nghiên cứu hoạt động của NHNNo & PTNT PT qua 3 năm:
2006-2008
Trang 4toán
Căn cứ theo khoản 01 điều 03 của quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối với khách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước) thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức Tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Căn cứ Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX đã được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
10 năm 1998 thì “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng”
Căn cứ theo điều 49 của Luật này về “Cấp tín dụng” thì tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
2.1.2 Phân loại tín dụng :
- Dựa vào mục đích của cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công, thương nghiệp
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân
+ Cho vay sản xuất nông nghiệp
+ Cho vay kinh doanh xuất, nhập khẩu …
- Dựa vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
Trang 5+ Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động
+ Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 đến 5 năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định
+ Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư
- Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
+ Cho vay không có bảo đảm (Tín chấp): là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn đến quyết định cho vay
+ Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác
- Dựa vào phương thức cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
+ Cho vay theo món vay: là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà tổ chức tín dụng và khác hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng
- Dựa vào xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau
+ Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng
+ Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như là: Chiết khấu thương mại; bao thanh toán
Trang 62.2 Rủi ro tín dụng :
2.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng :
- Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng
- Căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ( Ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ) thì “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
- Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng
- Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng
2.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng:
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau:
- Rủi ro giao dịch ( Transaction rish ): là một hình thức của rủi ro tín dụng
mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi
ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và
kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục ( Portfolio rish ): là một hình thức của rủi ro tín dụng
mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay
Trang 7của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại (Intrinsic rish) và rủi ro tập trung (Concentration rish)
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh
tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý
nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
2.2.3 Phân loại các nhóm nợ :
Tiếp theo quyết định 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03 tháng 02 năm 2005
về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành một loạt quyết định và chỉ thị nhằm năng cao mục đích chất lượng tín dụng và kiểm soát rủi ro, trong đó có quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2005 ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
- Quyết định 493 phân loại nợ thành 05 nhóm bao gồm:
+ Nhóm 01: nợ đủ tiêu chuẩn là các khoản nợ trong hạn được đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn
+ Nhóm 02: Nợ cần chú ý là các khoản nợ đã quá hạn dưới 90 ngày
+ Nhóm 03: nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm :
* Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
* Các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhưng bị quá hạn dưới
90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
+ Nhóm 04: nợ nghi ngờ bao gồm:
* Các khoản nợ đã quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày
* Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhưng bị quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
+ Nhóm 05: nợ có khả năng mất vốn bao gồm:
* Các khoản nợ đã quá hạn trên 360 ngày
Trang 8* Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
- Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ như sau :
2.3 Một số phương pháp quản lý rủi ro tín dụng:
Tín dụng là hoạt động chính yếu của ngân hàng Nếu quản lý tốt, tín dụng
sẽ góp phần đáng kể trong việc tạo ra lợi nhuận và làm tăng giá trị ngân hàng Ngược lại nếu quản lý kém, tín dụng có thể gây ra tổn thất lớn và làm giảm giá trị ngân hàng Một trong những mục tiêu quan trọng của quản lý tín dụng là làm giảm tối đa rủi ro tín dụng Muốn vậy, ngân hàng cần phải lượng hoá và đánh giá được rủi ro tín dụng để từ đó có các biện pháp quản lý hiệu quả
*Lượng hoá rủi ro tín dụng
Lượng hoá rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hoá mức độ rủi ro của khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi
ro Sau đây là các mô hình được áp dụng tương đối phổ biến
*Mô hình chất lượng 6C
1.Tư cách người vay (Character)
Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích xin vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàng bạn, từ các cơ quan thông tin đại chúng, …
2.Năng lực của người vay (Capacity)
Tuỳ thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia Đòi hỏi người đi vay phải
có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
3.Thu nhập của người đi vay (Cash)
Trang 9Trước hết, phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền
từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán, …
4.Bảo đảm tiền vay (Collateral)
Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng
5.Các điều kiện (Conditions)
Ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theo chính sách tín dụng từng thời
kỳ như cho vay xuất khẩu với điều kiện thâu ngân phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương theo từng thời kỳ
6.Kiểm soát (Control)
Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của pháp luật có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không ?
*Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor
Rủi ro tín dụng trong cho vay đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay Việc xếp hạng này được thực hiện bợi một số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó có Moody và Standard & Poor là những dịch
*Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model)
Đây là mô hình do E.I Alman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp phân loại rủi ro tín dụng đối với người đi vay và phụ thuộc vào:
- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay
Trang 10Từ đó Alman đã xây dựng mô hình điểm như sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Trong đó :
X1 = Hệ số vốn lưu động/tổng tài sản
X2 = Hệ số lãi chưa phân phối/tổng tài sản
X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản
X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu/giá tri hạch toán của nợ X5 = Hệ số doanh thu/tổng tài sản
Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngược lại, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
Theo mô hình cho điểm Z của Alman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao
*Mô hình điểm tín dụng tiêu dùng :
Các yếm tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng mô hình cho điểm tín dụng bao gồm : Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác
Khách hàng có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 mục tiêu trên là 43 điểm, thấp nhất là 9 điểm Giả sử ngân hàng biết mức 28 điểm là ranh giới giữa khách hàng có tín dụng tốt và khách hàng có tín dụng xấu, từ đó ngân hàng hình thành khung chính sách tín dụng theo mô hình điểm số như sau:
BẢNG 01 : ĐIỂM THEO MÔ HÌNH TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
Tổng số điểm của khách hàng Quyết định tín dụng
Từ 28 điểm trở xuống Từ chối tín dụng
Trang 112.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng :
2.4.1 Tỷ lệ thu nợ :
Tỷ lệ nợThu nợ:
Đánh giá hiệu quả trong hoạt động thu nợ của ngân hàng, phản ánh trong thời kỳ nhất định với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽ thu về bao nhiêu đồng vốn, tỷ lệ này càng cao càng tốt
2.4.2 Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dƣ nợ :
Nợ quá hạn (NHQ) trên tổng dư nợ là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp hiệu quả hoạt động tín dụng Ngân hàng không thể đưa dư nợ quá hạn về con số không bởi NQH có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra mà chỉ có thể hạn chế tối đa sao cho tỷ lệ NQH trên tổng dư nợ nằm trong khung quy dịnh của Ngân Hàng Nhà Nước là 5% và riêng hệ thống NHNo&PTNT là 1,5%
Tỷ lệ thu nợ = Doanh số thu nợ x 100%
Doanh số cho vay
Tỷ lệ xóa nợ = Các khoản xóa nợ ròng x 100%
Tổng tài sản có
Trang 12CHƯƠNG III GIỚI THIỆU VỀ NHNNo & PTNT CHI NHÁNH PHÚ TÂN
Chi nhánh NHNo&PTNT An Giang là đơn vị thành viên ủy quyền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hạch toán phụ thuộc có con dấu riêng tại ngân hàng phù hợp với phương thức riêng của mình, có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp quản lý, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ, quyền lợi đối với NHNo&PTNT Việt Nam
Tính đến ngày 31/12/2008 NHNo&PTNT tỉnh An Giang đã mở toàn bộ
25 điểm giao dịch, bao gồm: Hội sở tỉnh; 14 chi nhánh loại 3 và 10 phòng giao dịch
- NHNo&PTNT tỉnh An Giang được thành lập theo Quyết định số
53/NH-TCCB ngày 14 tháng 07 năm 1988 gồm 8 huyện, thị trong đó có NHNo&PTNT huyện Phú Tân
Tên giao dịch: Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh
An Giang – Chi Nhánh Huyện Phú Tân
Tên viết tắt: NHNo&PTNT Chi Nhánh Huyện Phú Tân
Địa chỉ: ấp Trung Thạnh, thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
Số điện thoại: 076.3827319 – Fax: 076.3827734
Trang 13Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức NHNo&PTNT huyện Phú Tân
3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh 2006 - 2007 và 2008 chi nhánh huyện Phú Tân :
Ngay từ khi ra đời NHNo&PTNT huyện Phú Tân đã xác định nhiệm vụ
“hàng đầu” của mình là “đi vay để cho vay” nó là tiền đề để đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại quốc doanh Do đó NHNo&PTNT Phú Tân xem công việc này là nhiệm vụ chính của mình và tạo ra những chuyển biến rõ nét về “chất” qua 03 năm được thể hiện ở số liệu dưới đây
BAN GIÁM ĐỐC
Phòng KT
& NQ
Phòng KHKD
Phòng HC
& NS
Phòng GDH Lạc
Trang 14Bảng 02: KẾT QUẢ KINH DOANH GIAI ĐOẠN 2006-2008
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm
Chênh lệch 2007/2006
Chênh lệch 2008/2007
2006 2007 2008 Số tiền % Số tiền % Tổng
doanh
thu 37.646 52.243 68.568 14.597 38,77 16.325 31,24
1/ Thu lãi
tiền vay 37.266 51.833 68.219 14.567 39,08 16.386 31,61 2/ Thu từ
vị là “tăng trưởng tín dụng gắn liền với chất lượng tín dụng” Mặt khác, những năm gần đây thu từ dịch vụ cũng góp phần vào hoạt động của ngân hàng, nó làm cho các sản phẩm của ngân hàng thêm đa dạng, là sợ dây liên kết giữa ngân hàng với các gia đình có thân nhân nước ngoài hoặc có con em đi xuất khẩu lao động,
do đó thu từ dịch vụ trong năm 2007 tăng với tỷ lệ tăng 7,89% so với năm 2006, tuy nhiên trong khi năm 2008 tỷ lệ này lại giảm đi 14,87% so với năm 2007, do
Trang 15có nhiều bất lợi từ nền kinh tế bị ảnh hưởng của thế giới và sản phẩm dịch vụ ngân hàng con hạn chế Điều này chứng tỏ tiềm năng của ngân hàng trong việc tạo ra các nguồn thu khác ngoài lãi cho vay là rất đáng quan tâm mà ban lãnh đạo ngân hàng cần xem xét và đưa ra nhiều chiến lược, sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hơn nửa để tạo nguồn thu cho hoạt động ngân hàng
- Tổng chi: Do nguồn vốn chủ yếu của đơn vị là vốn điều hòa của ngân hàng cấp trên và vốn huy động tại địa bàn nên chi phí phải trả cho việc sử dụng nguồn vốn này chiếm đại bộ phận trong chi phí hoạt động, cụ thể trong 2 năm (2006, 2007) tăng khá cao do vốn huy động và vốn điều hòa của đơn vị tăng nhanh, đặt biệt là năm 2007 số tăng tuyệt đối là 12.547 triệu đồng, tỷ lệ tăng 47,58% so với năm 2006 Song với quyết tâm khai thác triệt để nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư để xây dựng nguồn vốn ổn định, một mặt làm hạn chế chi phí đầu vào, mặt khác tạo sự an toàn trong công tác thanh toán và việc sử dụng vốn đạt hiệu quả cao
- Lợi nhuận (quỹ thu nhập): Lợi nhuận có giảm qua các năm do chi phí về vốn huy động và điều chuyển quá lớn, đạt tỷ lệ tăng 25,45% năm 2007 và 22,47% năm 2008 so với tổng thu nhập Tính đến cuối năm tài chính 2007 quỹ thu nhập của đơn vị là 13.300 triệu đồng, tăng tương đối là 2.023 triệu đồng so với năm 2006, nguyên nhân là do đơn vị đẩy mạnh các khoản thu, đặt biệt thu từ công tác tín dụng là chủ yếu trên cơ sở khai thác thêm tiềm năng của khoản thu dịch vụ Ngoài ra, tăng trưởng dư nợ để giữ thị phần và tích cực trong công tác huy động vốn để giảm chi phí sử dụng vốn từ ngân hàng cấp trên cũng là yếu tố quan trọng tạo ra lợi nhuận, từ đó khả năng sinh lợi của việc sử dụng vốn đạt kết quả khả quan, góp phần làm tăng thu nhập và tạo ra lợi nhuận nhiều hơn
Trang 163.3 Phương hướng hoạt động năm 2009 :
Dựa vào những điểm mạnh và điểm yếu của NHNo&PTNT huyện Phú Tân cũng như tình hình thực tế của huyện vào năm 2009, ngân hàng đã đề ra phương hướng hoạt động như sau
Một số mục tiêu và chỉ tiêu chủ yếu:
- Tổng nguồn vốn huy động: 180.000 triệu đồng, tăng tối thiểu là 22% (tăng thêm 33.000 triệu đồng) so với năm 2008 Tiền gửi dân cư chiếm tối thiểu
là 95% trên tổng nguồn vốn huy động
- Tổng dư nợ: 320.000 triệu đồng, tăng 17% (tăng thêm 48.000 triệu đồng)
so với cuối năm 2008 Trong đó tỷ lệ cho vay nông nghiệp – nông thôn chiếm tối thiểu 60% trên tổng dư nợ
- Tỷ lệ dư nợ trung hạn tối đa là 21% trên tổng dư nợ
- Tỷ lệ dư nợ dài hạn tối đa là 1% trên tổng dư nợ
- Nợ xấu dưới 1% trên tổng dư nợ Nợ quá hạn phải nhỏ hơn 2% trên tổng
- Trích lập dự phòng rủi ro theo đúng chỉ tiêu do NHNo tỉnh giao
- Thu hồi nợ xử lý rủi ro đạt chỉ tiêu no NHNo tỉnh giao
*Từ những thuận lợi và khó khăn trên được Ban giám đốc và toàn thể nhân viên NHNo&PTNT huyện Phú Tân tập trung phát huy những mặt mạnh và khắc phục những yếu kém, hạn chế để mục tiêu kinh doanh cho năm 2009 đạt hiệu quả cao nhất
3.3.1 Thuận lợi :
- Ngân hàng nông nghiệp là tổ chức tín dụng lâu đời trên địa bàn, được sự
quan tâm của địa phương trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, là người bạn đồng hành của nông dân trong các chính sách phát triển kinh tế do đó tạo được mối liên hệ thân thiết với nông dân và các thành phần kinh tế khác
- Đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tương đối tốt, mỗi thành viên đơn vị luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm trong công tác vì mục tiêu chung của ngân hàng
Trang 17
3.3.2 Khó khăn:
- Phú Tân là một huyện cù lao, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu trong đó cây lúa đóng vai trò chủ lực vì thế sản phẩm của người dân làm ra phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến thu nhập như: thời tiết, chi phí đầu vào, giá cả đầu ra, thị trường tiêu thụ,… bình quân mỗi hộ chỉ có 0,6 ha đất nông nghiệp để canh tác, thu nhập bình quân đầu người còn thấp (14.267.000đ/người/năm tính đến cuối năm 2007) so với mặt bằng chung của tỉnh Do đó nguồn vốn huy động chủ yếu
là các cơ sở kinh doanh và các doanh nghiệp nhưng thành phần kinh tế này không nhiều và nguồn vốn này cũng không ổn định, buộc đơn vị phải sử dụng nguồn vốn điều hòa nhiều làm cho chi phí sử dụng vốn lớn
- Phong tục, tập quán và thói quen xưa nay của người dân cũng phần nào hạn chế công tác huy động vốn của ngân hàng, họ luôn cẩn thận về tiền bạc và ít khi thể hiện mình có tiền dư thừa, họ quan niệm “đồng tiền phải đi liền khút ruột” nên ít khi họ quan hệ giao dịch gửi tiền vào các tổ chức tín dụng Mặt khác, trình độ hiểu biết và thông tin về lĩnh vực này còn rất hạn chế với phần lớn người dân nông thôn do đó cần phải tốn nhiều thời gian để tiếp cận, giới thiệu sản phẩm cho họ biết
- Ngoài ra trên địa bàn huyện cũng xuất hiện khá nhiều tổ chức tín dụng như: Ngân hàng Đô Thị Mỹ Xuyên, Ngân hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long, Quỹ Tín Dụng Nhân Dân,… đa phần sản phẩm huy động vốn của các
tổ chức này luôn có lãi suất huy động cao hơn NHNo Phú Tân nên tạo ra sự cạnh tranh gay gắt, gây không ít khó khăn trong công tác huy động vốn của đơn vị
- Trong công tác cho vay cũng gặp không ít khó khăn, do ngân hàng là một công ty nhà nước, chức năng của ngân hàng là đi vay để cho vay nên đôi khi đơn vị không chủ động được vấn đề nguồn vốn Có giai đoạn thừa vốn nhưng không tăng trưởng được do phụ thuộc chính sách điều tiết của ngân hàng cấp trên, khi thiếu vốn thì không đủ cung ứng cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của người dân điều này làm mất đi cơ hội kinh doanh cũng như tạo ra lợi nhuận cho đơn vị
- Như trên đã nói, do các tổ chức tín dụng khác mở rộng địa bàn hoạt động và đa phần là các ngân hàng thương mại cổ phần, nguồn vốn của họ dồi dào với lãi suất thấp và thủ tục đơn giản, nhanh gọn rất hấp dẫn khách hàng,… đẩy NHNo Phú Tân vào thế cạnh tranh hơn
- Công tác tín dụng còn gặp khó khăn nhất định khác là việc quản lý nợ vay, do đội ngũ cán bộ chuyên trách ít (07 CBTD) phải phụ trách 10 xã, 01 thị trấn với rất nhiều món vay điều này đôi lúc gây nên sự quá tải, không kịp thời nắm bắt tình hình dễ dẫn đến nợ xấu ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Trang 18tác quản lý điều hành, công tác hạch toán kế toán, công tác tín dụng, công tác huy động vốn,… buộc đơn vị phải đầu tư thêm máy móc, trang thiết bị để phục
vụ nhu cầu công tác và việc đào tạo cán bộ nâng cao trình độ tác nghiệp, việc áp dụng maketting vào quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng cần được quan tâm hơn nữa do đó chi phí luôn tăng qua các năm Thu nhập từ hoạt động tín dụng là yếu tố rất quan trọng, là điều kiện tiên quyết đem lại lợi nhuận cho ngân hàng vì vậy chất lượng tín dụng luôn được quan tâm dù những năm gần đây kinh tế nông thôn có phát triển nhưng phần lớn đều sản xuất nông nghiệp nên thường nợ gốc và lãi đến vụ ngân hàng mới thu được, làm ảnh hưởng đến quá trình chu chuyển vốn và quỹ thu nhập của đơn vị
Trang 19CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN PHÚ TÂN
4.1 Phân tích tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Phú Tân :
4.1.1 Phân tích chung hoặt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn huyện Phú Tân :
Trong những năm qua hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT huyện Phú Tân có nhiều chuyển biến đáng kể Đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư hộ sản xuất, kinh doanh và các ngành nghề khác, hoạt động này khá nhịp nhàng và có hiệu quả Từ đó, phản ánh được vai trò tín dụng của đơn vị trong việc phát triển kinh
tế địa phương
Hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT huyện Phú Tân chủ yếu là cho vay phát triển kinh tế địa phương, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội Mục tiêu chủ yếu là đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất hàng hóa,…
Bảng 03: TÌNH HÌNH TÍN DỤNG GIAI ĐOẠN 2006-2008
Đơn vị tính:triệu đồng
(Nguồn: Phòng tín dụng NHNo&PTNT huyện Phú Tân)
Các số liệu trên cho chúng ta thấy được vai trò tín dụng của ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế địa phương Doanh
số cho vay tăng qua các năm và đạt tỷ lệ tăng tương đối cao, năm 2007 tăng 194.711 triệu đồng so với năm 2006, tỷ lệ tăng 43,24% Năm 2008 tỷ lệ tăng
Chênh lệch 2007/2006
Chênh lệch 2008/2007
Trang 20chứng minh rằng hoạt động tín dụng được mở rộng trong điều kiện kinh tế nông thôn phát triển
Cùng với doanh số cho vay, doanh số thu nợ là một vấn đề mà chi nhánh đặt biệt quan tâm vì nó quyết định chất lượng tín dụng và sự sống còn của đơn
vị Thể hiện khả năng đánh giá của cán bộ tín dụng có chính xác, hiệu quả hay không? Đồng thời cũng phản ánh rõ nét hiệu quả hoạt động tín dụng Do đó, thu
nợ được xem như là công việc quan trọng trong nghiệp vụ tín dụng, là nguồn vốn tái đầu tư tín dụng nhằm đảm bảo tính ổn định và đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn trong lưu thông
Tóm lại: qua các số liệu về hoạt động cho vay của NHNo&PTNT huyện
Phú Tân ta nhận thấy được sự hiệu quả, chất lượng, an toàn và ổn định trong việc sử dụng vốn nhằm thực hiện các chỉ tiêu kinh tế mà đơn vị đề ra Dư nợ cho vay tăng trưởng ở mức cao, quản lý rủi ro tốt và kinh doanh hiệu quả, trong đó
ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng Mặc dù chịu nhiều áp lực cạnh tranh khá lớn trên thị trường nhưng với thế mạnh và thương hiệu lâu đời NHNo&PTNT vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá cao về huy động vốn và cấp tín dụng Phát huy những thành tựu đạt được trong công tác cho vay và thu nợ làm tiền đề cho việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế của năm tài chính mới Qua đó góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế chiến lược của địa phương đó cũng là mục tiêu chính mà ngân
hàng đề ra
4.1.2 Doanh số cho vay:
Hoạt động cho vay là hoạt động chính yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một NHTM nào Sự chuyển hoá từ vốn tiền gửi sang vốn tín dụng để bổ sung cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế không chỉ có ý nghĩa đối với nền kinh tế mà cả đối với bản thân ngân hàng Bởi vì, nhờ cho vay mà tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng để từ đó bồi hoàn lại tiền gửi của khách hàng, bù đắp các chi phí kinh doanh và tạo ra được lợi nhuận cho ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động cho vay là hoạt động mang tính rủi ro lớn vì vậy cần phải quản lý các khoản cho vay một cách chặt chẽ thì mới có thể ngăn ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro
Doanh số cho vay theo thời hạn:
Hoạt động cấp tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Phú Tân đều tăng trưởng qua các năm Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng được đầu tư hầu hết vào các thành phần kinh tế nhằm hỗ trợ vốn cho các đơn vị bổ sung vào vốn kinh doanh để phát triển sản xuất NHNo&PTNT huyện Phú Tân đầu tư tín dụng ngắn hạn, trung dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động và vốn cố định của các
đơn vị Trong 3 năm qua đạt được kết quả như sau: