tài liệu văn dành cho học sinh THCS ôn thi vào 10.........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Trang 1BẢNG THỐNG KÊ HCST VÀ XUẤT XỨ CỦA CÁC TÁC PHẨM VĂN 9
PHẨM
1 Chuyện
người
con gái
Nam
Xương
(Nguyễn
Dữ)
“Chuyện người con gái Nam Xương” có nguồn gốc từ truyện cổ dân
gian “Vợ chàng Trương”, là truyện thứ
16/20 trong tập
“Truyền kì mạn lục”
2 Truyện
Kiều
(Nguyễn
Du)
Dựa theo cốt truyện
”Kim Vân Kiều truyện” của Thanh
Tâm Tài Nhân (Trung Quốc)
Được tác giả sáng tác vào khoảng TK XIX (1805-1809)
chí
(Chính
Hữu)
In trong tập "Đầu súng trăng treo" (1966)
Được viết đầu năm 1948 (sau khi tác giả tham gia chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947)
Thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ
Bộ đội và nhân dân ta lúc này đang sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn ⇒ Được đánh giá là tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến giai đoạn 1946 – 1954, bài thơ đã đi qua hành trình hơn nửa thế kỉ, làm sang trọng một hồn thơ chiến sĩ của Chính Hữu
HCST giúp ta hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống chiến đấu gian khổ của những người lính, đặc biệt là tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng cao cả
4 Bài thơ
về tiểu
đội xe
Tác phẩm được đưa
vào tập thơ "Vầng trăng
Viết năm 1969 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang
HCST giúp ta hiểu thêm về cuộc kháng chiến gian khổ,
Trang 2không
kính
(Phạm
TIến
Duật)
quầng lửa" trong giai đoạn vô cùng ác
liệt
Tác giả lúc này trực tiếp tham gia chiến đấu ở Binh đoàn vận tải trên tuyến đường Trường Sơn
ác liệt của dân tộc và tinh thần dũng cảm, lạc quan của những người lính trên tuyến đường Trường Sơn
thuyền
đánh cá
(Huy
Cận)
In trong tập "Trời mỗi ngày lại sáng" (1958). T10/1958,khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc
thắng lợi, Miền Bắc được giải phóng đang trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới :nhân dân vui mừng phấn khởi, là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn nhà thơ lúc bấy giờ
Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ HC mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước,
về lao động và niềm vui của con người trước cuộc sống mới
HCST này giúp ta hiểu thêm
về hình ảnh con người lao động mới, niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ đối với đất nước và cuộc sống mới
lửa
(Bằng
Việt)
Bài thơ được đưa vào
tập "Hương cây-Bếp lửa"
(1968) tập thơ đầu tay của Bằng Việt - Lưu Quang Vũ
Được viết năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành luật ở nước ngoài (Liên
Xô cũ)
Nhìn thấy bếp lửa, thấy khói bếp, tác giả nhớ về bà, về quê hương, về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, trong niềm xúc động dạt dào tác giả đã viết bài thơ này
HCST cho ta thấy tình yêu quê hương đất nước và gia đình của tác giả qua những kỉ niệm cụ thể về người bà và bếp lửa
Trang 37 Ánh
trăng
(Nguyễn
Duy)
In trong tập thơ “Ánh trăng” của tác giả.
được giải A của hội nhà văn Việt Nam
Được viết năm 1978, ba năm sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Bài thơ được sáng tác khi tác giả đang sống tại thành phố HCM là đô thị hiện đại tiện nghi nhất cả nước
HCST giúp ta hiểu được cuộc sống trong hòa bình với đầy đủ các tiện nghi hiện đại khiến con người dễ quên đi quá khứ gian khổ khó khăn, hiểu được cái "giật mình" tự vấn lương tâm đáng trân trọng của tác giả
xuân
nho
nhỏ
(Thanh
Hải)
Tác phẩm được in trong tập thơ “Thơ Việt Nam”
(1945-1985) NXB Giáo dục Hà Nội
Được viết vào tháng 11/1980,
5 năm sau khi đất nước được thống nhất, đang xây dựng cuộc sống mới với vô vàn khó khăn gian khổ, thử thách
Lúc này, tác giả đang ốm nặng và đang nằm điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế, khoảng một tháng sau khi viết bài thơ thì tác giả qua đời
HCST giúp người đọc hiểu được tiếng lòng tri ân, thiết tha yêu mến và gắn bó với đất nước, với cuộc đời; thể hiện ước nguyện chân thành được cống hiến cho đất nước, góp một màu xuân nho nhỏ của mình vào mùa xuân chung của đất nước
lăng
Bác
(Viễn
Phương)
In trong tập thơ "Như mây mùa xuân" (1978)
T4/1976, một năm sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất cũng là lúc lăng chủ tịch HCM vừa khánh thành
Cũng như đồng bào và chiến sĩ miền Nam, nhà thơ mong mỏi được một lần ra thăm Bác
Năm 1976, Viễn Phương vinh
dự có mặt trong đoàn đại biểu các chiến sĩ, đồng bào miền Nam được ra thăm lăng Bác, trong sự nghẹn ngào và xúc động, ông đã viết bài thơ này
HCST giúp ta hiểu được tấm lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ, của đồng bào miền Nam, của dân tộc Việt Nam đối với Bác Hồ kính yêu
thu
Bài thơ được in lần đầu trên báo Văn Nghệ, sau được in trong tập thơ
Cuối 1977, hai năm sau khi đất nước thống nhất, trong một cuộc thi sáng tác thơ ca
HCST giúp ta hiểu được niềm bâng khuâng của tác giả
Trang 4( Hữu
Thỉnh )
"Từ chiến hào đến thành phố" (1984) có tư
liệu ghi xuất bản năm 1991
tại trại hè
khi đất trời vào thu, đây không chỉ là sự chuyển giao của mùa thu mà còn là sự chuyển giao của cuộc đời sau bao biến động, đất nước cũng vững vàng hơn trước mọi thử thách
với
con
(Y
Phương)
In trong tập “Thơ Việt Nam” 1945-1985"
Năm 1980-khi đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
cả nước nói chung cũng như đồng bào dân tộc thiểu số miền núi nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn
Tác giả viết bài thơ này để vừa tâm sự lại vừa động viên mình và nhắc nhở con cái
HCST giúp ta hiểu được tâm
sự của người cha đối với con Đây vừa là lời động viên tinh thần con vượt qua mọi gian khổ, vừa là sự tôn vinh phẩm chất kiên cường, giàu tình yêu thương của người đồng mình
(Kim
Lân)
In lần đầu trên tạp chí
“Văn nghệ” năm 1948 Năm 1948, thời kì đầu của
cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, ác liệt (Giai đoạn này người dân nghe theo chính sách của Chính phủ đi tản cư)
Nhà văn xuất phát từ thực tế khi ông cùng gia đình đi sơ tán, lúc này ông nghe tin làng mình Việt gian theo giặc Pháp nên ông viết truyện ngắn này như một lời khẳng định về niềm tin, tình yêu với làng quê và minh oan cho làng mình
HCST giúp ta hiểu được cuộc sống và tinh thần kháng chiến đặc biệt là nét chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân đó là tình yêu làng gắn bó thống nhất với tình yêu đất nước
13 Lặng lẽ
Sa Pa
(Nguyễn
Thành
Rút từ tập “Giữa trong xanh“ (1972)
-Năm 1970-miền Bắc đi lên xây dựng XHCN, miền Nam tiếp tục chống Mĩ
- Tác giả có chuyến đi thực tế
HCST giúp ta hiểu được cuộc sống, vẻ đẹp của những con người lao động thầm lặng, có cách sống đẹp, cống
Trang 5tại Lào Cai
- Là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về chủ đề xây dựng XHCN ở miền Bắc
hiến sức mình cho đất nước
14 Chiếc
lược ngà
( Nguyễn
Quang
Sáng )
Đoạn trích trong truyện ngắn
“Chiếc lược ngà”
-Năm 1966, khi tác giả quay trở lại hoạt động tại chiến trường Nam Bộ kháng chiến chống Mĩ
- Tác giả được nghe câu chuyện có thật của một cô gái
có chiếc lược ngà trắng, trong niềm xúc động ông đã ngồi viết một ngày, một đêm và hoàn thành tác phẩm này”
Giúp ta hiêu thêm về tình cha con cảm động và sâu nặng trong hoàn cảnh éo le, khắc nghiệt của chiến tranh.
ngôi sao
xa xôi
(Lê
Minh
Khuê)
Được đưa vào tuyển
tập “NT truyện ngắn thế giới”, xuất bản tại
Mỹ
-Là một trong số những tác phẩm đầu tay của nhà văn Lê Minh Khuê viết năm 1971
-Truyện ngắn được tác giả sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ diễn ra vô cùng khốc liệt
-Tác giả từng là chiến sĩ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn
Cho thấy hiện thực chiến tranh khốc liệt cùng tinh thần lạc quan dũng cảm giàu nghị lực của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước
16 Mây và
sóng
(R.Ta-go)
Được Ta-go dịch ra tiếng Anh in trong tập Trăng non xuất bản năm 1915.
- “Mây và sóng” được viết bằng tiếng Ben-gan, in trong tập thơ Si-su (Trẻ thơ), xuất bản năm
1909