1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thực trạng đầu tư tại tỉnh an giang và đề xuất một số giải pháp thu hồi đầu tư cho tỉnh an giang giai đoạn 2010 2015

97 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 821,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào thời kỳ đổi mới, nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển để tăng tốc nền kinh tế càng trở thành vần đề quan tâm hàng đầu của các địa

Trang 1

KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

LÊ KIM DUYÊN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƢ TẠI TỈNH

AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÖT ĐẦU TƢ CHO TỈNH AN GIANG

GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

Chuyên ngành : TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Long Xuyên, tháng 5/2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TẠI TỈNH

AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÖT ĐẦU TƯ CHO TỈNH AN GIANG

Trang 3

Trang i

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

 Giảng viên hướng dẫn khoa học: Thạc sĩ Trần Minh Hải

(Họ tên, học hàm, học vị, chữ ký)

………

………

………

………

………

………

………

 Người chấm, nhận xét 1: (Họ tên, học hàm, học vị, chữ ký) ………

………

………

………

………

………

………

 Người chấm, nhận xét 2 (Họ tên, học hàm, học vị, chữ ký) ………

………

………

………

………

………

……… Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ luận văn Khoa Kinh tế - Quản Trị Kinh Doanh ngày……tháng……năm 2010

Trang 4

LỜI CẢM ƠN



Đến với giảng đường Đại học, em thật sự nhận thấy mình may mắn vì được học tập và rèn luyện trong một môi trường tốt Qua 4 năm học tập tại trường, em đã được trang bị những kiến thức, những kỹ năng thật sự hữu ích Nó

sẽ là những hành trang cần thiết và giúp em tự tin hơn rất nhiều khi bước vào môi trường lớn khác

Em xin được phép gửi đến quý thầy cô trường Đại học An Giang lòng biết

ơn chân thành và lời cảm ơn sâu sắc, nhất là các thầy cô khoa Kinh Tế - Quản Trị Kinh Doanh đã tận tình quan tâm dạy bảo và truyền đạt cho em những kiến thức hữu ích trong suốt thời gian em học tập tại trường

Lời cảm ơn lớn nhất em xin được gửi đến thầy Trần Minh Hải, Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện báo cáo khoá luận này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh An Giang, các anh chị ở Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành báo cáo khóa luận

Cảm ơn những người bạn đã cùng nhau vượt qua những khó khăn và thử thách trong khoảng thời gian quan trọng này

Trước khi kết thúc, em xin gửi đến các thầy cô, các bạn lời chúc sức khỏe

và thành đạt

Sinh viên thực hiện

Lê Kim Duyên

Trang 5

Trang iii

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa nghiên cứu 2

B PHẦN NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

I.Tổng quan về vốn đầu tư 3

1 Khái niệm về đầu tư 3

2 Phân loại đầu tư 4

2.1 Đầu tư trực tiếp 4

2.2 Đầu tư gián tiếp 4

II Các nguồn vốn đầu tư 5

1 Nguồn vốn đầu tư trong nước 5

2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài 6

III Khu công nghiệp và điều kiện thúc đẩy vào khu công nghiệp 8

1/ Khái niệm về KCN 8

2/ Vai trò của KCN 8

IV Khu kinh tế cửa khẩu 10

1 Khái niệm Khu KTCK 10

2 Vai trò Khu KTCK 10

V Những nhân tố ảnh hưởng thu hút đầu tư 10

1 Sự ổn định về kinh tế, chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư 10

2 Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch của địa phương 11

3 Chính sách thu hút vốn đầu tư ở địa phương 11

4 Sự phát triển của cơ sở hạ tầng 12

5 Sự phát triển của đội ngũ lao động, của trình độ khoa học – công nghệ và hệ thống doanh nghiệp trong nước và trên địa bàn 12

6 Sự phát triển của nền hành chính quốc gia 12

VI Kinh nghiệm thu hút đầu tư vốn đầu tư 13

Trang 6

1 Kinh nghiệm huy động vốn cho đầu tư phát triển ở một số nước Châu Á

13

2 Kinh nghiệm thu hút vốn ĐTTTNN của một số tỉnh trong nước 15

3 Đúc kết bài học sau khi nghiên cứu kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của một số nước Châu Á và một số tỉnh ở Việt Nam 17

CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HIỆN TRẠNG THU HÖT ĐẦU TƯ TỈNH AN GIANG GIAI ĐOẠN 2007 – 2009 19

I Thực trạng phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang năm 2009 19

1 Đánh giá tổng quát việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế năm 2009 19

2 Phát triển các ngành và lĩnh vực 20

II Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển tại tỉnh An Giang 23

1 Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển tại tỉnh An Giang giai đoạn 2007-2009 23

2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển tại tỉnh An Giang năm 2009 26 3 Thực trạng thu hút đầu tư vào các Khu công nghiệp tỉnh An Giang 28

4 Thực trạng thu hút đầu tư vào các khu kinh tế cửa khẩu tỉnh An Giang 30

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ TỈNH AN GIANG GIAI ĐOẠN 2007- 2009 32

I Phân tích thực trạng đầu tư tỉnh An Giang 32

1 Phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân 32

2 Phân tích thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài 34

3 Phân tích thực trạng thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp tỉnh An Giang 35

4 Phân tích thực trạng thu hút đầu tư vào các khu kinh tế cửa khẩu tỉnh An Giang 36

5 Một số vấn đề khác 37

5 1.Đánh giá môi trường đầu tư tại tỉnh An Giang 37

5.2 Đánh giá chung các mặt thuận lợi, khó khăn 39

5.3 Đánh giá tác động của các hoạt động thu hút đầu tư đến việc phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang 41

5.4 Phân tích cơ hội và nguy cơ thách thức thu hút đầu tư tỉnh An Giang

43

II Những yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư tỉnh An Giang 47

Trang 7

Trang v

1 Sự ổn định về kinh tế, chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư 47

2 Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch của địa phương

48

3 Chính sách thu hút vốn đầu tư ở địa phương 50

4 Sự phát triển của cơ sở hạ tầng 52

5 Sự phát triển của đội ngũ lao động, của trình độ khoa học – công nghệ và hệ thống doanh nghiệp trên địa bàn 52

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP THU HÖT VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHO TỈNH AN GIANG 54

I Định hướng phát triển Kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đến năm 2010 54

1 Quan điểm phát triển 54

2 Mục tiêu phát triển 55

II Chính sách huy động vốn đầu tư 63

1 Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư 63

2 Các giải pháp huy động vốn 64

III Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực 67

1 Đẩy mạnh phát triển kinh tế cửa khẩu 67

2 Khu công nghiệp 68

IV Giải pháp góp phần đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư của tỉnh An Giang 68

1 Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính để thu hút đầu tư 68

2 Hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư 70

3 Cải thiện môi trường đầu tư 71

4 Đầu tư nguồn nhân lực của tỉnh thông qua đầu tư mới và mở rộng, nâng cấp các cơ sở dạy nghề của tỉnh, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư các cơ sở đào tạo, dạy nghề cho người lao động

74

5 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư trên cơ sở đã có Trung tâm xúc tiến đầu tư của tỉnh 75

C KẾT LUẬN 78

Trang 8

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Biểu đồ 1: Thu hút vốn đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân 32

Biểu đồ 2: Thu hút vốn đầu tư nước ngoài 34

Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế tỉnh An Giang năm 2009 19

Bảng 2: Số lượng doanh nghiệp tỉnh An Giang giai đoạn 2007 – 2009 23

Bảng 3: Tỷ lệ hộ nghèo tỉnh An Giang giai đoạn 2007 – 2009 24

Bảng 4: Tổng vốn đăng kí đầu tư và lao động tỉnh An Giang giai đoạn 2007 – 2009 24

Bảng 5: Thu hút vốn đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân 32

Bảng 6:Thu hút vốn đầu tư nước ngoài 34

Bảng 7: Tốc độ tăng trưởng kinh tế An Giang giai đoạn 2007- 2009 41

Bảng 8: Kim ngạch Xuất khẩu tỉnh An Giang giai đoạn 2007 – 2009 42

Bảng 9: Tổng thu Ngân sách nhà nước từ kinh tế trên địa bàn 42

Bảng 10: Khoảng cách và thời gian đến các thị trường trọng điểm 44

Bảng 11: Các phương án tăng trưởng của tỉnh thời kỳ kế hoạch 5 năm 2006-2010 57

Bảng 12: Các phương án tăng trưởng của tỉnh thời kỳ 10 năm 2011-2020 58

Bảng 13: Cơ cấu kinh tế của tỉnh đến năm 2020 59

Bảng 14: Dự báo nhu cầu vốn đầu tư xã hội thời kỳ 2006- 2020 (Giá hiện hành) 63

Trang 9

KD Kinh doanh

DN Doanh nghiệp

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

VCCI Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam

GTZ Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức

ĐTTTNN Đầu tư trực tiếp nước ngoài

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 10

TÓM TẮT

Mục đích của nghiên cứu này là phân tích hiện trạng thu hút đầu tư tỉnh

An Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút đầu tư tỉnh An Giang

Nghiên cứu được tiến hành thông qua 2 bước: Bước 1 là thu thập số liệu

từ những sách báo, tạp chí kinh tế vá các báo cáo của tỉnh An Giang về thu hút đầu tư Bước 2 tiến hành phân tích số liệu đã được thu thập, đồng thời vận dụng các kết quả đã được nghiên cứu có liên quan đến chính sách thu hút đầu tư để đưa ra những nhận xét phù hợp

Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng, hoạt động thu hút đầu tư của tỉnh

An Giang trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số khó khăn yếu kém trong công tác thu hút đầu tư Lần đầu nghiên cứu về lĩnh vực mới như thu hút đầu tư và thực hiện trên phạm vi hẹp nghiên cứu sẽ có những thiếu sót Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu vẫn có thể góp

phần thúc đẩy vào công tác thu hút đầu tư vào tỉnh trong thời gian sắp tới

Trang 11

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 1 SVTH: Lê Kim Duyên

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng nhằm góp phần tăng trưởng kinh tế và

có ý nghĩa sâu sắc đến việc phát triển kinh tế xã hội Trong thời kỳ tới, chúng ta có

nhu cầu rất lớn về vốn cho đầu tư phát triển, một trong những thách thức hiện nay là

nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngày càng tăng lên, trong khi khả năng đáp ứng của

ngân sách nhà nước thì có giới hạn Do đó, việc thu hút các nguồn lực đầu tư từ các

thành phần kinh tế là một nhu cầu vô cùng quan trọng và cấp bách để phát triển kinh

tế xã hội

Bước vào thời kỳ đổi mới, nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay,

nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển để tăng tốc nền kinh tế càng trở thành vần đề quan

tâm hàng đầu của các địa phương, nhất là đối với các tỉnh có nguồn lực phát triển

chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, điều kiện cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn như

tỉnh An Giang

Tỉnh An Giang là địa bàn ở xa các trung tâm kinh tế lớn, dân số đông, nguồn

lực phát triển chủ yếu từ lĩnh vực nông nghiệp nên không đảm bảo nhu cầu vốn đầu

tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật và phúc lợi mà cần phải huy động nguồn lực tài chính

cho đầu tư phát triển bằng các giải pháp thu hút đầu tư, nhất là lĩnh vực đầu tư tư

nhân để huy động các nguồn lực đầu tư đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng và phát

triển kinh tế xã hội của tỉnh

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc lựa chọn “Phân tích thực trang đầu tư

tại tỉnh An Giang và đề xuất một số giải pháp thu hút vốn đầu tư cho tỉnh An Giang

đến năm 2010” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp nhằm cải thiện môi trường đầu tư

và thu hút vốn đầu tư cho tỉnh An Giang trong thời gian tới đạt kết quả tốt hơn

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mô tả hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh An Giang và hiện trạng đầu tư tỉnh An

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thu hút đầu tư của tỉnh An

Giang, có xem xét hoạt động thu hút đầu tư của các tỉnh lân cận

- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề thu hút vốn đầu tư và ảnh hưởng đầu

tư của tỉnh An Giang, các vấn đề về kinh tế - xã hội chỉ được sử dụng để so sánh và

tham chiếu

Trang 12

- Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về không gian trên đại bàn tỉnh An Giang

Về thời gian, đề tài sử dụng số liệu thống kê của tỉnh từ năm 2007, 2008 và một số

kết quả trong 11 tháng đầu năm 2009

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu:

Đề tài được nghiên cứu trước hết bằng phương pháp thu thập số liệu, tài liệu có

liên quan Số liệu được thu thập từ những sách, báo, tạp chí kinh tế, và các báo cáo

của tỉnh An Giang về thu hút đầu tư, cụ thể như sau:

+ Chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư tỉnh An Giang

+ Báo cáo kinh tế xã hội tỉnh An Giang năm 2007, 2008, 11 tháng đầu năm

2009

+ Tóm tắt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang đến

năm 2020

- Phương pháp phân tích số liệu:

Sau khi tính toán, so sánh các số liệu theo chỉ tiêu đánh giá, phương pháp phân

tích số liệu được tiến hành để đưa ra những nhận xét phù hợp

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích kinh tế trên phương pháp

phân tích vĩ mô – vi mô, phân tích lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh thông qua ma

trận SWOT, đồng thời vận dụng các kết quả đã được nghiên cứu có liên quan đến

chính sách thu hút vốn đầu tư để làm sâu sắc hơn thêm nội dung của đề tài

5 Ý nghĩa nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và phân tích thực trạng thu hút đầu tư tại

tỉnh An Giang, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị và giải pháp để cải thiện

những khó khăn trong việc thu hút đầu tư của tỉnh Vì vậy, kết quả nghiên cứu này

có thể là tài liệu tham khảo cho các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu

hút đầu tư về tỉnh An Giang

Trang 13

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 3 SVTH: Lê Kim Duyên

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

I Tổng quan về đầu tư

1 Khái niệm về đầu tư

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về đầu tư Tuy nhiên, đứng trên các góc độ

nghiên cứu khác nhau mà các nhà kinh tế học đưa đến các khái niệm về đầu tư cũng

khác nhau như sau:

Theo nhà kinh tế học P.A Samuelson thì cho rằng: “Đầu tư là hoạt động tạo ra

vốn tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh

nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho Đầu tư cũng

có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nghiên

cứu, phát minh…” Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu

là việc từ bỏ tiêu dùng hôm nay để tăng sản lượng cho tương lai, với niềm tin, kỳ

vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư

Nhà kinh tế học John M.Keynes cho rằng: “Đầu tư là hoạt động mua sắm tài

sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi

nhuận” Do đó, đầu tư theo cách dùng thông thường là việc cá nhân hoặc công ty

mua sắm một tài sản nói chung hay mua một tài sản tài chính nói riêng Tuy nhiên,

khái niệm này tập trung chủ yếu vào đầu tư tạo thêm tài sản vật chất mới (như máy

móc, thiết bị, nhà xưởng…) và để thu về một khoản lợi nhuận trong tương lai “Khi

một người mua hay đầu tư một tài sản, người đó mua quyền để được hưởng các

khoản lợi ích trong tương lai mà người đó hy vọng có được qua việc bán sản phẩm

mà tài sản đó tạo ra” Quan niệm của ông đã nói lên kết quả của đầu tư về hình thái

vật chất là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị, kết quả thu

được lớn hơn chi phí bỏ ra

Còn theo Luật đầu tư (2005), “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại

tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”

Khái niệm này cho thấy đầu tư chỉ là việc bỏ vốn để hình thành tài sản mà không

cho thấy được kết quả đầu tư sẽ thu được lợi ích kinh tế như thế nào nhằm thu hút

đầu tư

Một khái niệm chung nhất về đầu tư, đó là: “Đầu tư được hiểu là việc sử dụng

một lượng giá trị vào việc tạo ra hoặc tăng cường cơ sở vật chất cho nền kinh tế

nhằm thu được các kết quả trong tương lai lớn hơn lượng giá trị đã bỏ ra để đạt được

các kết quả đó”

Khái niệm này về cơ bản đã thể hiện được bản chất của hoạt động đầu tư trong

nền kinh tế, có thể áp dụng cho đầu tư của cá nhân, tổ chức và đầu tư của một quốc

gia, vùng, miền Đồng thời dựa vào khái niệm này để nhận diện hoạt động đầu tư,

Trang 14

tức là căn cứ vào đó để thấy hoạt động nào là đầu tư, hoạt động nào không phải đầu

tư theo những phạm vi xem xét cụ thể

Từ khái niệm đầu tư ta có thể rút ra một số đặc điểm của đầu tư như sau:

Một là, hoạt động đầu tư thường sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau và thường

sử dụng đơn vị tiền tệ để biểu hiện Các nguồn lực để đầu tư có thể bằng tiền, bằng

các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác

thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, tư nhân, nước ngoài

Hai là, đầu tư cần phải xác định trong một khoảng thời gian nhất định(có thể

nhiều năm, tháng ) Tuy nhiên thời gian càng dài thì mức độ rủi ro cũng càng cao

bởi vì nền kinh tế luôn thay đổi, lạm phát có thể xảy ra cũng như các nguyên nhân

chủ quan khác có ảnh hưởng đến đầu tư

Ba là, mục đích của đầu tư là sinh lời trên cả 2 mặt: Lợi ích về mặt tài chính -

thông qua lợi nhuận gắn liền với quyền lợi của chủ đầu tư, và lợi ích về mặt xã hội –

thông qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội hay cộng

đồng

2 Phân loại đầu tƣ

Căn cứ vào tính chất đầu tư mà người ta chia đầu tư ra làm 2 loại, đó là đầu tư

trực tiếp và đầu tư gián tiếp

2.1 Đầu tƣ trực tiếp

Theo Luật đầu tư (2005), đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ

vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư

Nhà đầu tư có thể là Chính phủ thông qua các kênh khác nhau để đầu tư cho xã

hội, điều này thể hiện chi tiêu của Chính phủ thông qua đầu tư các công trình, chính

sách xã hội Ngoài ra, người đầu tư có thể là tư nhân, tập thể kể cả các nhà đầu tư

nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà các

chủ thể tham gia thể hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong quá trình

đầu tư

2.2 Đầu tƣ gián tiếp

Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái

phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài

chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu

tư - Luật đầu tư (2005)

Như vậy, đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà trong đó người bỏ vốn ra và

người sử dụng vốn không cùng một chủ thể Đầu tư gián tiếp thông thường thông

qua kênh tín dụng hay kênh đầu tư trên thị trường chứng khoán

Giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp có quan hệ chặt chẽ trong quá trình

thực hiện đầu tư Đầu tư trực tiếp là tiền đề để phát triển đầu tư gián tiếp, điều này

Trang 15

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 5 SVTH: Lê Kim Duyên

thể hiện thông qua nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp từ các tổ chức tín dụng

hay các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường sơ cấp để huy động vốn

Mặt khác, môi trường đầu tư gián tiếp được mở rộng sẽ thúc đẩy việc đầu tư trực

tiếp với mong đợi tiếp cận với các nguồn vốn được dễ dàng Bởi vì một khi thị

trường tài chính phát triển thì nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn các nguồn vốn có

chi phí sử dụng vốn thấp, và cũng có thể sử dụng lợi thế này làm gia tăng đòn bẩy

tài chính để thực hiện ý đồ kinh doanh của mình

II Các nguồn vốn đầu tư

Muốn thực hiện công cuộc đầu tư cần có các nguồn lực đầu vào như sức lao

động, tư liệu lao động, đối tượng lao động Khoản tiền cần có để trang trải cho các

nguồn lực đầu vào này gọi là vốn đầu tư Rõ ràng, vốn đầu tư phải lấy từ trong số

của cải mà cá nhân và tổ chức trong xã hội đã làm ra, sau khi trừ đi phần tiêu dùng

của họ

Để có chính sách thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế bền vững, cần phân

loại nguồn vốn đầu tư và đánh giá đúng tầm quan trọng của từng nguồn vốn Ở góc

độ chung nhất trong phạm vi một quốc gia, nguồn vốn đầu tư được chia thành 2

nguồn: nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài

1 Nguồn vốn đầu tư trong nước

Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia Nguồn vốn

này có ưu điểm là bền vững, ổn định, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và tránh

được hậu quả từ bên ngoài Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn Nhà nước, vốn tín

dụng, vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân và dân cư chủ yếu được hình thành từ

các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế

Mặc dù trong thời đại ngày nay, các đồng vốn nước ngoài ngày càng trở nên

đặc biệt không thể thiếu được đối với các nước đang phát triển, nhưng nguồn vốn

tiết kiệm từ trong nước vẫn giữ vai trò quyết định Tiết kiệm trong nước được hình

thành từ các khu vực sau:

- Tiết kiệm của ngân sách nhà nước: là số chênh lệch dương giữa tổng các

khoản thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu thường

xuyên của ngân sách Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn

đầu tư của nhà nước Nghĩa là số thu nhập tài chính mà ngân sách tập trung được

không thể xem ngay đó là nguồn vốn đầu tư của nhà nước, điều này còn tùy thuộc

vào chính sách chi tiêu của ngân sách Nếu quy mô chi tiêu dùng vượt quá số thu

nhập tập trung thì nhà nước không có nguồn để tạo vốn cho đầu tư

Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế bị hạn chế bởi

yếu tố thu nhập bình quân đầu người, cho nên, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và

mở rộng đầu tư đòi hỏi nhà nước phải gia tăng tiết kiệm ngân sách nhà nước, trên cơ

sở kết hợp xem xét chính sách đó có chèn ép tiết kiệm của doanh nghiệp và dân cư

không Như vậy, để gia tăng tiết kiệm của ngân sách nhà nước thì nền kinh tế cũng

Trang 16

phải trả giá nhất định do sự giảm sút tiết kiệm của khu vực tư nhân Tuy nhiên sự sụt

giảm sẽ không hoàn toàn tương ứng với mức tăng tiết kiệm của ngân sách nhà nước

nếu như tiết kiệm của ngân sách chủ yếu là thực hiện bằng cách cắt giảm chi tiêu

dùng ngân sách

- Tiết kiệm của doanh nghiệp: Là số lãi ròng có được từ kết quả kinh doanh

Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển

theo chiều rộng và chiều sâu Quy mô tiết kiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào các

yếu tố trực tiếp như hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ

mô…

- Tiết kiệm của các hộ gia đình và tổ chức đoàn thể xã hội (sau đây gọi tắt là

khu vực dân cư): Là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã phân phối và sử dụng

cho mục đích tiêu dùng Quy mô tiết kiệm khu vực dân cư chịu ảnh hưởng bởi các

nhân tố trực tiếp như trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người,

chính sách lãi suất, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô…

Trong nền kinh tế thị trường, số tiền tiết kiệm của khu vực dân cư có thể

chuyển hoá thành nguồn vốn cho đầu tư thông qua các hình thức như gởi tiết kiệm

vào các tổ chức tín dụng, mua chứng khoán trên thị trường tài chính, trực tiếp đầu tư

kinh doanh… Có thể nói, tiết kiệm khu vực dân cư giữ vị trí rất quan trọng đối với

đầu tư thông qua hệ thống tài chính trung gian Chẳng hạn, nếu tiết kiệm ngân sách

nhà nước không đáp ứng đủ nhu cầu chi đầu tư thì buộc Nhà nước phải tìm đến

nguồn vốn tiết kiệm của khu vực này để thỏa mãn bằng cách phát hành trái phiếu

Chính phủ Tương tự, đối với khu vực tài chính doanh nghiệp cũng vậy, khi phát

sinh nhu cầu vốn để mở rộng đầu tư kinh doanh, thông qua thị trường tài chính các

doanh nghiệp có thể huy động vốn tiết kiệm khu vực dân cư bằng nhiều hình thức

rất phong phú, như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn từ các tổ chức tín dụng…

Tóm lại, tiết kiệm là quá trình nền kinh tế dành ra một phần thu nhập hiện tại

để tạo ra nguồn vốn cung ứng cho đầu tư phát triển, qua đó nâng cao hơn nữa mức

sống ngày càng cao của người dân trong tương lai Tuy vậy, đối với nền kinh tế

đang chuyển đổi trong giai đoạn thực hiện công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa

đất nước, do nguồn vốn tiết kiệm trong nước còn thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu

vốn đầu tư phát triển nên cần phải thu hút nguồn vốn nước ngoài để tạo ra cú hích

cho sự đầu tư phát triển nền kinh tế

2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là bổ sung

nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, từ đó thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu

kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là cầu nối quan

trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, thúc đẩy các doanh nghiệp

nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp cũng như

phương thức kinh doanh; nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, lợi thế

địa kinh tế, tài nguyên được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn Tuy vậy, trong

Trang 17

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 7 SVTH: Lê Kim Duyên

nó lại luôn chứa ẩn những nhân tố tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ

thuộc, nguy cơ khủng hoảng nợ, sự tháo chạy đầu tư, sự gia tăng tiêu dùng và giảm

tiết kiệm trong nước… Như vậy, vấn đề thu hút vốn nước ngoài đặt ra những thử

thách không nhỏ trong chính sách thu hút đầu tư của nền kinh tế đang chuyển đổi,

đó là, một mặt phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn

cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, mặt khác, phải kiểm soát

chặt chẽ sự di chuyển của dòng vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng hoảng tài chính

Để vượt qua những thử thách đó, đòi hỏi nhà nước phải tạo lập môi trường đầu tư

thuận lợi cho sự vận động của dòng vốn này, điều chỉnh và lựa chọn các hình thức

thu hút đầu tư sao cho dòng vốn này đầu tư dài hạn trong nước một cách bền vững

để có lợi cho nền kinh tế

Về bản chất, vốn nước ngoài cũng được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể

kinh tế nước ngoài và được huy động thông qua các hình thức cơ bản:

- Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance –ODA):

Đây là tất cả các khoản viện trợ của các đối tác viện trợ nước ngoài dành cho

Chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ

ODA một mặt nó là nguồn vốn bổ sung cho nguồn vốn trong nước để phát triển

kinh tế, bên cạnh đó nó giúp các quốc gia nhận viện trợ tiếp cận nhanh chóng các

thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại Ngoài ra, nó tạo điều kiện phát

triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và đào tạo phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên,

các nước tiếp nhận viện trợ thường xuyên phải đối mặt những thử thách rất lớn đó là

gánh nặng nợ quốc gia trong tương lai, chấp nhận những điều kiện và ràng buộc

khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn, đôi khi còn gắn cả những điều kiện về chính

trị

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment – FDI):

Đây là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn vào một nước để đầu

tư trực tiếp bằng việc tạo lập những doanh nghiệp FDI đã và đang trở thành hình

thức huy động vốn nước ngoài phổ biến của nhiều nước đang phát triển khi mà các

luồng dịch chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để

gia tăng thu nhập trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh giữa các quốc gia

Các hình thức chủ yếu của FDI ở nước ta như doanh nghiệp liên doanh, doanh

nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới các hình thức

BOT, BTO, BT

Khác với ODA, FDI không chỉ đơn thuần đưa ngoại tệ vào nước sở tại, mà còn

kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thị

trường thế giới, giải quyết việc làm, sử dụng tài nguyên trong nước… Song, điều

quan trong đặt ra cho các nước tiếp nhận là phải khai thác triệt để các lợi thế có

được của nguồn vốn này nhằm đạt được sự phát triển tổng thể cao về kinh tế Tuy

nhiên, FDI cũng có những mặt trái của nó Đó là nguồn vốn FDI về thực chất cũng

Trang 18

là một khoản nợ, trước sau nó vẫn không thuộc quyền sỡ hữu và chi phối của nước

sở tại Bên cạnh đó, các nước nhận đầu tư còn phải gánh chịu nhiều thiệt thòi do

phải áp dụng một số ưu đãi (như ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, giá thuê đất,

vị trí doanh nghiệp, quyền khai thác tài nguyên…) cho các nhà đầu tư hay bị các nhà

đầu tư nước ngoài tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào, cũng

như vẫn có thể bị chuyển giao những công nghệ và kỹ thuật lạc hậu…

III Khu công nghiệp và điều kiện thúc đẩy đầu tƣ vào khu công nghiệp

1 Khái niệm về KCN

Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các

dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo

điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định số: 29/2008/NĐ-CP

2 Vai trò của KCN

2.1 Vai trò của KCN, KCX trong việc nâng cao trình độ công nghệ,

hiện đại hóa cách thức quản lý sản xuất

KCN, KCX là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng với

nhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng Đây chính là điểm đến lý tưởng của

các nhà đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài Một số công nghệ tiên tiến, hiện đại

trên thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp, trình độ tay

nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã được áp dụng tại Việt Nam Đây

cũng là những nhân tố quan trọng góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế

KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp

phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Cùng với dòng vốn đầu tư

nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư

còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại,

trong đó có cả những dự án công nghiệp kỹ thuật cao, những lĩnh vực mà chúng ta

còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển như cơ khí, điện tử…

Các dự án đầu tư vào KCN tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp nhẹ

như dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến thực phẩm (chiếm trên 50% tổng số dự

án), đây là các dự án thu hút nhiều lao động, có tỷ lệ xuất khẩu cao và đã góp phần

nâng cấp các ngành này về dây chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm… Tuy

nhiên, các KCN cũng đã thu hút được các dự án có quy mô và yêu cầu vốn lớn, công

nghệ cao như dầu khí, sản xuất ô tô, xe máy, dụng cụ văn phòng, cơ khí chính xác,

vật liệu xây dựng… Mặc dù số lượng các dự án này trong KCN mới chiếm khoảng

5 – 10% số dự án, nhưng cũng đã góp phần phát triển và đa dạng hóa cơ cấu ngành

nghề công nghiệp

Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng và vận hành

Trang 19

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 9 SVTH: Lê Kim Duyên

thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắm vững công nghệ, có

tác động lan tỏa và nâng trình độ tay nghề của đội ngũ lao động Việt Nam lên một

bước Một lượng đáng kể người lao động Việt Nam được đảm nhận các vị trí quản

lý doanh nghiệp, được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến,

hiện đại, kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự… Việc được trực

tiếp làm việc trong môi trường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, dã rèn luyện

được những kỹ năng và bản lĩnh làm việc giúp người lao động Việt Nam thích ứng

với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại

2.2 Vai trò của KCN, KCX trong việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ

tầng

Qua 15 năm hình thành và phát triển KCN ở Việt Nam, nhiều KCN đã và đang

đóng vai trò quan trọng và tạo ra một khí thế phát triển mới cho nền kinh tế cả nước

Tại các vùng hay địa phương có các KCN hoạt động mạnh thì mức độ tăng trưởng

kinh tế ở đó cao hơn những nơi KCN chưa phát triển

Việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành

dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh

tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng

trong và ngoài KCN Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:

- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát

triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn

và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của

nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng

bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư

Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc doanh,

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) tham gia

đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các

doanh nghiệp trong KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần

doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút

doanh nghiệp công nghiệp vào KCN

- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút các

dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô để

tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân cư,

tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường

đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng

trong khu vực

- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm

bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân

cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ…

Trang 20

các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu

vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí…

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành như

điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch

vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa ốc… đáp

ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các KCN

IV Khu kinh tế cửa khẩu

1 Khái niệm Khu KTCK

Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền có

cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính và được thành lập theo các điều kiện, trình tự

và thủ tục quy định tại Nghị định số: 29/2008/NĐ-CP

2 Vai trò Khu KTCK

Các khu kinh tế cửa khẩu có thể có những đóng góp rất lớn đối với nền kinh tế

Việt Nam Nó tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đất nước nói chung và

các tỉnh biên giới nói riêng Nhưng nhìn chung, có các vai trò chủ yếu sau đây :

- Tạo điều kiện phát huy tiềm năng, ưu thế các địa phương biên giới

- Góp phần mở rộng giao lưu, buôn bán

- Xây dựng các hệ thống phân phối, cung cấp trên các lĩnh vực

- Góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống người dân địa phương và các

khu vực lân cận

- Cải thiện cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương

V Những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư

1 Sự ổn định về kinh tế, chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư

Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro của vốn đầu tư vượt

khỏi sự kiểm soát của chủ đầu tư Những bất ổn kinh tế - chính trị không chỉ làm

cho dòng vốn đầu tư bị chững lại, thu hẹp mà còn làm cho dòng vốn đầu tư từ trong

nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến nơi trú ẩn mới an toàn và hấp dẫn hơn

Hệ thống pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn và

cuộc sống cá nhân cho nhà đầu tư khi hoạt động đầu tư đó của họ không làm phương

hại đến an ninh quốc gia, đảm bảo pháp lý đối với tài sản tư nhân và môi trường

cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo việc di chuyển lợi nhuận cho các nhà đầu tư Nội

dung của hệ thống pháp luật càng đồng bộ, chặt chẽ, tiên tiến, nhưng cởi mở, phù

hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả năng hấp dẫn vốn đầu tư càng cao

Trang 21

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 11 SVTH: Lê Kim Duyên

2 Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch của địa phương

Sự phát triển của ngành du lịch gắn liền với việc khai thác sử dụng các nguồn

tài nguyên thiên nhiên, các di tích lịch sử và nhân văn, do đó tài nguyên thiên nhiên

như núi, rừng, biển, đảo, sông ngòi, ghềnh thác, ao hồ, cảnh quan thiên nhiên, di tích

lịch sử, con người… là những nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu hút đầu tư

vào ngành du lịch Những địa phương có nhiều điều kiện về tài nguyên du lịch thì sẽ

có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch Tài nguyên du

lịch là tất cả các nhân tố có thể kích thích động cơ của khách du lịch được ngành du

lịch vận dụng để tạo ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều được gọi là tài nguyên du

lịch Tài nguyên du lịch được phân làm 3 loại:

- Tài nguyên thiên nhiên du lịch là những tài nguyên mà thiên nhiên đã ban

tặng để con người tiến hành các hoạt động du lịch như nghỉ ngơi điều dưỡng, du

ngoạn tham quan và khảo sát khoa học bao gồm sông núi nổi tiếng, biển đảo mênh

mông, suối thác kỳ vĩ, hoa thơm cỏ lạ…

- Tài nguyên du lịch nhân văn là những của cải vật chất và của cải tinh thần do

con người sáng tạo ra từ xưa cho đến nay, có thể thu hút mọi người tiến hành du lịch

như các truyền thuyết, huyền thoại, di tích lịch sử, kiến trúc cổ điển, di tích văn hóa,

văn hóa nghệ thuật…

- Tài nguyên du lịch xã hội là tài nguyên mang tính văn hóa Du khách đi du

lịch là muốn được hưởng thụ văn hóa nơi đến Con người được hun đúc trong bối

cảnh văn hóa khác nhau sẽ có giá trị, phương thức tư duy và phương thức sống khác

nhau, vì vậy con người cũng là tài nguyên du lịch xã hội

3 Chính sách thu hút vốn đầu tư ở địa phương

Chính sách thương mại được thông thoáng theo hướng tự do hóa sẽ bảo đảm

khả năng xuất – nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất, cũng như sản

phẩm, tức là bảo đảm sự thuận lợi, kết nối liên tục các công đoạn hoạt động đầu tư

của các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Các mức ưu đãi tài chính - tiền tệ dành cho vốn đầu tư trước hết phải bảo đảm

cho các chủ đầu tư tìm kiếm được lợi nhuận cao nhất trong điều kiện kinh doanh

chung của khu vực, của mỗi nước; đồng thời nó còn khuyến khích họ đầu tư vào

những nơi mà Chính phủ muốn khuyến khích đầu tư Trong đó, những ưu đãi về

thuế chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong số các ưu đãi tài chính dành cho đầu tư

Mức ưu đãi thuế cao hơn luôn được giành cho các dự án đầu tư có tỷ lệ vốn đầu tư

cao, quy mô lớn, dài hạn, sử dụng nhiều nguyên vật liệu và lao động, tái đầu tư lợi

nhuận và có mức độ “nội địa hóa” sản phẩm và công nghệ cao hơn

Sự hỗ trợ tín dụng cùng với các dịch vụ tài chính, bảo lãnh của Chính phủ, của

các cơ quan tín dụng xuất khẩu và của các tổ chức tài chính đa phương như WB,

ADB đã, đang và sẽ đóng vai trò to lớn làm tăng dòng vốn đầu tư, nhất là vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài vào các nước và địa phương

Trang 22

Như vậy, một khi các rủi ro giảm xuống, tỷ lệ lợi nhuận tăng lên, thì các luồng

vốn đầu tư sẽ đổ vào nhiều và ổn định, ngay cả khi tốc độ tăng trưởng chung của

nước đó chậm lại Ngược lại, các nhà đầu tư sẽ thận trọng hơn, thậm chí bỏ đi nếu

nơi tiếp nhận đầu tư có “độ tin cậy thấp về tín dụng” – một chỉ số tổng hợp của các

yếu tố như rủi ro chính trị cao, phát triển kinh tế chậm, xuất khẩu kém, nợ cao và bất

ổn định kinh tế vĩ mô… Khi đó, dù những ưu đãi tài chính rất cao được đưa ra cũng

khó hấp dẫn được các nhà đầu tư vốn năng động, thận trọng, luôn mong muốn và

thường có nhiều cơ hội lựa chọn thị trường đầu tư như ý trên toàn thế giới

4 Sự phát triển của cơ sở hạ tầng

Sự phát triển của cơ sở hạ tầng kinh tế của một quốc gia và một địa phương

tiếp nhận đầu tư luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh

chóng thông qua các quyết định và triển khai thực tế các dự án đầu tư đã cam kết

Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ

thống giao thông vận tải đồng bộ và hiện đại với các cầu cảng, đường sá, kho

bãi và các phương tiện vận tải đủ sức bao phủ quốc gia và đủ tầm hoạt động quốc tế;

một hệ thống bưu điện thông tin liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe – nhìn

hiện đại, có thể nối mạng thống nhất toàn quốc và liên thông với toàn cầu; hệ thống

điện, nước đầy đủ và phân bổ tiện lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng

như đời sống xã hội; một hệ thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ khác ( y tế,

giáo dục, giải trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại, quảng cáo, kỹ

thuật…) phát triển rộng khắp, đa dạng và có chất lượng cao

5 Sự phát triển của đội ngũ lao động, của trình độ khoa học – công nghệ

và hệ thống doanh nghiệp trong nước và trên địa bàn

Đội ngũ nhân lực có tay nghề cao là điều kiện rất quan trọng để một nước và

địa phương vượt qua được những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên và trở nên hấp

dẫn các nhà đầu tư Việc thiếu các nhân lực kỹ thuật lành nghề, các nhà lãnh đạo,

các nhà quản lý cao cấp, các nhà doanh nghiệp tài ba và sự lạc hậu về trình độ khoa

học – công nghệ sẽ khó lòng đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư để triển khai

các dự án của họ, làm chậm và thu hẹp lại dòng vốn đầu tư chảy vào một lãnh thổ và

địa phương

Một hệ thống doanh nghiệp trong lãnh thổ và địa phương phát triển, đủ sức hấp

thu công nghệ chuyển giao, và là đối tác ngày càng bình đẳng với các nhà đầu tư là

điều kiện cần thiết để lãnh thổ và địa phương tiếp nhận đầu tư có thể thu hút được

nhiều hơn và hiệu quả hơn luồng vốn đầu tư

6 Sự phát triển của nền hành chính quốc gia

Lực cản lớn làm nản lòng các nhà đầu tư là thủ tục hành chính rườm ra, phiền

phức gây tốn kém về thời gian và chi phí, làm mất cơ hội đầu tư Bộ máy hành chính

hiệu quả quyết định sự thành công không chỉ thu hút vốn đầu tư mà còn của toàn bộ

quá trình huy động, sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của mỗi quốc gia cũng như

Trang 23

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 13 SVTH: Lê Kim Duyên

mỗi địa phương Bộ máy đó phải thống nhất, gọn nhẹ, sáng suốt và nhạy bén Đối

với những thủ tục hành chính, những quy định pháp luật cần phải được đơn giản,

công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những con người có trình độ chuyên

môn cao, được giáo dục tốt và có kỷ luật, tôn trọng pháp luật

Tóm lại, vốn đầu tư đã, đang và sẽ tìm đến quốc gia và địa phương nào có nền

kinh tế - chính trị - xã hội ổn định; hệ thống pháp luật đầu tư đầy đủ, thông thoáng

nhưng đáng tin cậy và mang tính chuẩn mực quốc tế cao; chính sách ưu đãi đầu tư

linh hoạt và hấp dẫn; có cơ sở hạ tầng du lịch được chuẩn bị tốt; lao động trong lĩnh

vực du lịch có trình độ cao và rẻ; kinh doanh đạt hiệu quả; đặc biệt, việc quốc gia

hoặc địa phương đó tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, cũng như

tuân thủ nghiêm các qui định của các tổ chức… sẽ là những yếu tố đảm bảo lòng tin

và hấp dẫn các dòng vốn đầu tư, thậm chí còn mạnh hơn việc đưa ra các ưu đãi tài

chính cao… Nghĩa là dòng vốn đầu tư chỉ ưa tìm đến những nơi đầu tư an toàn,

đồng vốn được sử dụng có hiệu quả, quay vòng nhanh và ít rủi ro

VI Kinh nghiệm thu hút đầu tư vốn đầu tư

1 Kinh nghiệm huy động vốn cho đầu tư phát triển ở một số nước Châu Á

1.1.Hàn Quốc

Chính sách đầu tư của Hàn Quốc tập trung vào những mặt sau :

- Tích cực thu hút đầu tư vào khu chế xuất

- Thu hút kỹ thuật nước ngoài

- Thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư, cụ thể :

+ Chế độ tự phê chuẩn, cho phép đầu tư nước ngoài : trong 10 ngày tự động

phê chuẩn đối với các dự án có mức đầu tư dưới 1 triệu USD, không có nhu cầu

miễn giảm thuế và tỷ trọng góp vốn dưới 50% vốn đầu tư

+ Miễn giảm thuế đối với các hạng mục đầu tư có khả năng cải thiện cán cân

thanh toán quốc tế, có khoa học kỹ thuật tiên tiến và những hạng mục đầu tư có vốn

lớn

- Thay đổi các lĩnh vực ưu tiên thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo yêu cầu phát

triển kinh tế mỗi thời kì, đầu tiên là những ngành sản xuất những sản phẩm lắp ráp

Dần dần hướng vào các ngành chế biến, công nghiệp năng và những ngành có hàm

lượng kỹ thuật cao

- Tập trung thu hút vốn thông qua các tập đoàn kinh tế lớn và hùng mạnh

1.2 Đài Loan

- Ban hành luật đầu tư với những ưu đãi về thuế

Trang 24

- Thu hút đầu tư nước ngoài tập trung vào việc xây dựng và hình thành các khu

công nghiệp và khu chế xuất với lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tương đương

80% vốn đầu tư

1.3 Singapore

- Tùy theo từng giai đoạn phát triển khác nhau mà chính phủ xác định những

ngành kinh tế mũi nhọn, cần ưu tiên phát triển mà có chính sách khuyến khích đầu

tư thích hợp:

+ Trong thập niên 60, dùng những biện pháp thuế ưu đãi để khuyến khích đầu

tư vào ngành chế biến, lắp ráp, sử dụng nhiều lao động

+ Trong thập niên 70, khuyến khích đầu tư vào ngành chế tạo, sử dụng nhiều

kỹ thuật và vốn

+ Từ thập niên 80 đến nay tập trung vào những ngành mang tính thời đại,

những ngành kỹ thuật cao sử dụng công nghệ hiện đại, điện tử, máy tính, cơ khí…

+ Từ thập niên 90 đến nay tập trung vào ngành công nghệ thông tin, kỹ thuật

hiện đại

- Chính phủ đưa ra qui chế “Những ngành công nghiệp tiên phong” dành cho

những xí nghiệp hoạt động trong các khu vực mũi nhọn, nên được miễn thuế từ 5

đến 10 năm, chủ yếu lĩnh vực luyện kim, chế tạo máy, hàng không vũ trụ, đóng tàu,

thiết bị vận tải, thiết bị quang học, điện – điện tử, hóa chất và hóa dầu

+ Cho phép các xí nghiệp nước ngoài được tự do chuyển vốn, lãi cổ phần về

nước, có sự đảm bảo cho công cuộc đầu tư của chính phủ Singapore

+ Tận dụng ưu thế sẵn có, Singapore tự biến mình thành một cảng biển quan

trọng, nơi trung chuyển hàng hóa lý tưởng từ Tây sang Đông, do đó trở thành một

khu thương mại tổng hợp hấp dẫn được nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm

1.4 HongKong

Chính sách đầu tư của HongKong tập trung vào những điểm sau:

- Chủ trương biến HongKong trở thành khu vực tự do thương mại và đầu tư

- Việc đầu tư được nhà cầm quyền trao cho người muốn đầu tư theo triết lý

Laissez – faire ( để mặc họ làm ) và tự do kinh doanh Việc lập ra một công ty hết

sức đơn giản

- HongKong không vay nợ như những nước khác mà tập trung vào 2 nguồn

vốn nước ngoài đáng lưu ý: một là của những nhà kinh doanh người Hoa, hai là

những công ty đa quốc gia Mỹ

- Sức hấp dẫn của HongKong là giá lao động rẻ và mức thuế tương đối thấp

Trang 25

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 15 SVTH: Lê Kim Duyên

2 Kinh nghiệm thu hút vốn ĐTTTNN của một số tỉnh trong nước

2.1 Đà Nẵng

Nhằm kêu gọi đầu tư vào thành phố Đà Nẵng, Đà Nẵng đã quy định và ban

hành một số chính sách khuyến khích đối với các nhà đầu tư để đẩy nhanh tốc độ

phát triển kinh tế Đà Nẵng

- Đối với các dự án thuộc diện đăng ký cấp giấy phép đầu tư, nhà đầu tư nước

ngoài có thể nộp hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư thông qua mạng Internet

- Về tiền thuê đất:

+ Các dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp: đối với các dự án có vốn thực hiện

đầu tư 15 triệu USD trở lên được miễn 10 năm tiền thuê đất, 10-15 triệu USD được

miễn 7 năm tiền thuê đất, dưới 10 triệu được miễn 5 năm tiền thuê đất

+ Các dự án đầu tư trong khu công nghiệp: đối với các dự án có vốn thực hiện

đầu tư từ 15 triệu USD trở lên được miễn 13 năm tiền thuê đất, 10-15 triệu USD

được miễn 10 năm tiền thuê đất, dưới 10 triệu USD được miễn 7 năm tiền thuê đất

- Thuế thu nhập doanh nghiệp

+ Các dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp: giảm 50% thuế TNDN trong thời

hạn:

 10 năm đối với các dự án có vốn thực hiện đầu tư từ 15 triệu USD trở

lên

 7 năm đối với các dự án có vốn thực hiện đầu tư từ 10-15 triệu USD

 5 năm đối với các dự án có vốn thực hiện đầu tư từ dưới 10 triệu

 10 năm đối với các dự án có vốn thực hiện đầu tư từ 10-15 triệu USD

 7 năm đối với các dự án có vốn thực hiện đầu tư từ dưới 10triệu USD

Với cú huýt thu hút đầu tư, Đà Nẵng đã thu hút được nhiều nhà đầu tư mà đặc

biệt là một dự án đầu tư của Nhật có quy mô 35 triệu USD, có ý nghĩa rất lớn đối

với Đà Nẵng

Đà Nẵng xem nhà đầu tư là những người cùng lo nghĩ, cần minh bạch thông tin

với họ

Trang 26

2.2 Bình Dương

Bình Dương là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, những năm

gần đây luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

(FDI) tăng đột biến, với chiến lược “ Trải thảm đỏ đón đầu tư, trải chiếu hoa đón

nhân tài”, Bình Dương đã gặt hái được nhiều thành công Những chính sách ưu đãi

đó là:

- Tiếp thị đầu tư: Tỉnh đã ban hành danh mục kêu gọi vốn đầu tư trong và ngoài

nước, phát hành ấn phẩm “Bình Dương cơ hội đầu tư” nhằm giới thiệu những tiềm

năng của tỉnh cùng với một số biện pháp hỗ trợ đầu tư để tham khảo Nhưng thành

công nhất là chiến lược “ Trải chiếu hoa” đế đón các nhà đầu tư

- Cải tiến thủ tục:

+ Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, Tỉnh ban hành qui chế về thủ tục, trình tự

và thời gian xét duyệt các thủ tục hành chính để triển khai nhanh dự án Đây là cơ sở

pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đến kinh doanh tại

Bình Dương

+ Thủ tục một cửa nhanh chóng: Ban quản lý khu công nghiệp đối với các dự

án đầu tư vào các khu công nghiệp, Sở kế hoạch và đầu tư đối với dự án ngoài khu

công nghiệp Riêng Ban quản lý khu công nghiệp Việt Nam – Singapore được Bộ kế

hoạch và đầu tư ủy quyền cấp giấy phép đầu tư các dự án đầu tư từ 40 triệu USD trở

xuống, Sở kế hoạch đầu tư Bình Dương là thường trực hội đồng đầu tư tỉnh, có trách

nhiệm nhận và tham mưu cho UBND tỉnh quyết định tất cả các dự án đầu tư, từ việc

cung cấp thông tin cần thiết ban đầu, danh mục các dự án kêu gọi đầu tư để trả lời

các câu hỏi có liên quan đến các thủ tục của dự án trước và sau khi cấp giấy phép

- Tích cực đầu tư cơ sở hạ tầng: Các mạng lưới truyền tải điện, đường giao

thông, bưu chính viễn thông đã được đầu tư hoàn thiện dần Đầu tư xây dựng hoàn

thiện hệ thống trường dạy nghề để đào tạo và cung ứng cho các đơn vị mà đặc biệt là

các khu công nghiệp, đảm bảo về số lượng và chất lượng lao động Việc đầu tư được

thực hiện đồng bộ, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương trước

mắt và lâu dài

- Đổi mới cơ chế quản lý: UBND tỉnh đã ban hành quy định cụ thể về phân cấp

quản lý nhà nước đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động bình đẳng Hàng tháng, Tỉnh

tổ chức gặp gỡ các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh để lắng nghe giải quyết

kịp thời các ách tắc, giúp nhà đầu tư yên tâm sản xuất kinh doanh Ngày 31/12 hàng

năm, lãnh đạo tỉnh gặp mặt tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để tổng kết một

năm hoạt động

Với chính sách thu hút vốn đầu tư hấp dẫn phù hợp với điều kiện của riêng

mình Bình Dương đã đạt được những thành quả hết sức to lớn về mặt kinh tế đáng

được khích lệ và biểu dương, góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hóa của

đất nước, làm giàu cho kinh tế địa phương và kinh tế quốc dân

Trang 27

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 17 SVTH: Lê Kim Duyên

2.3 Đánh giá chính sách thu hút đầu tư của các tỉnh trong nước

Trong những năm gần đây việc thu hút đầu tư vào các tỉnh diễn ra rất sôi nổi,

mỗi tỉnh đều có những chính sách riêng để thu hút đầu tư nhằm phát triển kinh tế,

nhưng nhìn chung không phải tỉnh nào cũng đạt được những thành công nhờ những

chính sách của mình Thông qua việc nghiên cứu một số tỉnh đã thành công trong

việc thu hút đầu tư, chúng ta có thể nhận thấy những chính sách này đã tập trung vào

giải quyết các vấn đề:

- Thực hiện cơ chế một cửa trong xét cấp phép đầu tư, thực hiện cấp phép

nhanh,

không gây phiền hà cho nhà đầu tư

- Có chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, trong miễn giảm có

phân biệt vùng đầu tư ( thuận lợi hay khó khăn), ngành nghề đầu tư ( ngành nghề

cần khuyến khích hay không khuyến khích đầu tư )

- Có chính sách miễn, giảm tiền thuê đất; việc miễn, giảm cần có sự phân biệt

tổng vốn đầu tư của dự án cao hay thấp, vùng đầu tư ( thuận lợi hay khó khăn ),

ngành nghề đầu tư ( ngành nghề cần khuyến khích đầu tư hay không khuyến khích

đầu tư)

- Hỗ trợ đào tạo tay nghề cho người lao động

3 Đúc kết bài học sau khi nghiên cứu kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của

một số nước Châu Á và một số tỉnh ở Việt Nam

Từ phân tích trên ta có thể thấy chính sách huy động vốn của mỗi nền kinh tế là

khác nhau, tùy theo tình hình kinh tế - xã hội mà các nền kinh tế sử dụng các chính

sách huy động vốn sao cho có hiệu quả nhất Tuy vậy, ta có thể rút ra những bài học

kinh nghiệm thiết thực trong việc kêu gọi thu hút đầu tư:

- Hiện nay, nhằn cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư các tỉnh đều có những

chính sách miễn, giảm thuế và tiền thuê đất hấp dẫn Điều này gây ra những thiệt hại

lẫn nhau cho các tỉnh Vì vậy, nên ưu tiên tập trung vào việc hoàn thiện chính sách

bằng các quy định rõ ràng hơn; luôn sửa đổi về chính sách thu hút đầu tư cho phù

hợp với chính sách phát triển kinh tế; nhất là nâng cao khả năng thực hiện đồng bộ

và nhất quán của chính sách hơn là tiếp tục tăng cường các ưu đãi

- Cải tiến thủ tục: thực hiện cơ chế “ một cửa, tại chỗ ” trong cấp phép đầu tư,

đơn giản hóa và rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư, giải quyết các thủ tục có liên

quan nhanh chóng kịp thời, không gây phiền hà cho nhà đầu tư, tránh tình trạng lợi

dụng và trục lợi riêng đối với các cán bộ Tăng cường công tác phân cấp ủy quyền

cho ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu một cách đồng bộ để có thể

thực hiện tốt chức năng quản lý của mình Ngoài ra ban quản lý cần được ủy quyền

về quản lý vốn, lao động, môi trường đối với các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa

khẩu trên địa bàn Như vậy sẽ tạo ra bước ngoặc trong công tác cải cách hành chính

Trang 28

tạo điều kiện cho ban quản lý giải quyết tháo gỡ vướng mắc, khó khăn của doanh

nghiệp một cách thuận lợi, nhanh chóng Đây là cơ sở pháp lý tạo điều kiện thuận

lợi cho các nhà đầu tư và tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng

- Tăng cường đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng để tạo ra môi trường thu

hút vốn đầu tư, phát triển giao thông mà đặc biệt là giao thông ở các tuyến quan

trọng tạo sự kết nối liên thông giữa các vùng lân cận, phát triển nhân lực và khoa

học công nghệ, chú trọng sử dụng các quỹ hỗ trợ tài chính nhà nước trong việc tài

trợ vốn cho các hoạt động cần ưu tiên phát triển, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và

nhỏ, khai thác có hiệu quả các ngành mũi nhọn của tỉnh tạo lợi thế so sánh cho tỉnh

Cần cụ thể hóa về chính sách giải phóng mặt bằng, vay vốn tín dụng, hỗ trợ xây

dựng kết cấu hạ tầng, chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại

- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính để tạo ra uy tín và nâng cao khả

năng thu hút vốn ngày càng nhiều hơn Số tư bản nước ngoài cần quản lý chặt chẽ

và sử dụng vào hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, mở rộng đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo

nguồn ngoại tệ đảm bảo khả năng trả nợ

- Ngoài ra, cần có một số ưu đãi khác hỗ trợ các nhà đầu tư như: mạng lưới

truyền tải điện, bưu chính viễn thông, chi phí hỗ trợ đền bù giải phóng mặt bằng, hệ

thống cấp thoát nước…tạo được sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, tạo điều kiện để

phát triển kinh tế cho địa phương

Trang 29

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 19 SVTH: Lê Kim Duyên

CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HIỆN TRẠNG

THU HÚT ĐẦU TƯ TỈNH AN GIANG GIAI ĐOẠN 2007 - 2009

I Thực trạng phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang năm 2009

1 Đánh giá tổng quát việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế năm 2009

Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế tỉnh An Giang năm 2009

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Thực hiện năm

2008

Năm 2009 So NQ

HĐND vượt (+)/

thấp hơn (_)

NQ HĐND tỉnh

Ước thực hiện

Kim ngạch xuất khẩu

Triệu USD 750 850 600 -250

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội Tỷ đồng 20.486 20.500 19.020 -1.480

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội so

Số lao động được tạo việc làm

mới Người 36.800 35.000 35.250 250.000

Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề % 25,90 27,80 29,35 1,55

( Nguồn: Báo cáo phát triển kinh tế xã hội năm 2009 )

Trang 30

Năm 2009, tình hình kinh tế - xã hội ở tỉnh gặp nhiều khó khăn do những biến

động của nền kinh tế thế giới, lạm phát, giá cả trong nước tăng cao, giá nông sản hàng

hóa (lúa, cá) biến động bất lợi trong thời gian dài ảnh hưởng đến sản xuất, kinh

doanh của doanh nghiệp, nông dân và đời sống của người dân, ảnh hưởng đến việc

thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

2 Phát triển các ngành và lĩnh vực 1

2.1 Khu vực nông – lâm – ngƣ

- Tuy chịu nhiều yếu tố bất lợi do thời tiết, giá cả, thị trường nhưng nhờ triển khai

thực hiện tốt những giải pháp kích cầu của Chính phủ, các chủ trương, chính sách về

nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nên nhìn chung lĩnh vực nông nghiệp, nông

dân và nông thôn vẫn đạt được một số kết quả nhất định

- Chương trình đầu tư cơ giới hóa trước và sau thu hoạch được tiếp tục hỗ trợ, đặc

biệt là thông qua gói kích cầu của Chính phủ đã góp phần giải quyết về lao động,

giảm bớt thất thoát, nâng cao hiệu quả sản xuất

- Cơ sở hạ tầng nông thôn tiếp tục được đầu tư, đời sống người nông dân vẫn được

đảm bảo, các thiệt hại do thiên tai, bão lũ đều được hỗ trợ kịp thời, đặc biệt là thông

qua đầu tư, hỗ trợ nông dân kinh phí bơm rút nước xuống giống, hỗ trợ thiệt hại về

giống do ảnh hưởng mưa bão, hỗ trợ đầu tư đê bao, trạm bơm điện sản xuất vụ 3…

- Lĩnh vực hợp tác, hợp tác xã tiếp tục được củng cố, phát triển Trong năm có 2 hợp

tác xã được thành lập mới ( HTX Khô cá Khánh An – An Phú và HTX.NN Vĩnh

Trạch – Thoại Sơn), không có trường hợp giải thể, nâng tổng số HTX ở tỉnh là 101

HTX, trong đó có 94 HTX đang hoạt động( có 9.084 xã viên) và 7 HTX không hoạt

động Toàn tỉnh có 479 tổ hợp tác (giảm 235 tổ so với năm 2008) với 15.970 tổ viên

và 254 Câu lạc bộ nông dân

2.2 Khu vực công nghiệp – xây dựng

- Sản xuất công nghiệp vẫn tiêp tục phát triển, giá trị sản xuất ( theo giá cố định )

ước cả năm đạt 5.542 tỷ đồng, tăng 5,81% so cùng kỳ

Các mặt hàng có mức tăng trưởng khá qua 11 tháng là đá xây dựng (tăng trên 47%),

xi măng (tăng 32%), cột bê tông (tăng trên 39%), đá granit tự nhiên (tăng 2,3 lần),

máy gặt xếp dãy (tăng 17%), điện, nước (tăng gần 15%) Bên cạnh đó, do ảnh hưởng

suy giảm kinh tế, một số mặt hàng chủ lực của tỉnh sản xuất giảm sút như chế biến

thủy sản đông lạnh (giảm 12%), thức ăn gia súc, thủy sản (giảm gần 22%), gạo xay

xát và đánh bóng (giảm 5%)…

- Công tác đầu tư xây dựng được đẩy mạnh, nhiều công trình, dự án được đẩy nhanh

tiến độ, đưa vào hoạt động và khởi công mới… có tác động tích cực đến phát triển

kinh tế xã hội của tỉnh như: đưa vào hoạt động nhà máy chế biến thủy sản và nhà

1

Báo cáo phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang 11 tháng đầu năm 2009

Trang 31

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 21 SVTH: Lê Kim Duyên

máy xay xát lúa gạo tại Khu công nghiệp Phú Hòa, nhà máy nước Khu công nghiệp

Bình Long, cầu Thầy Phó, Khu Thương mại Tịnh Biên, trạm bơm điện phục vụ tưới

tiêu, khởi công mới tuyến đường Quốc lộ 91 đoạn Châu Đốc – Tịnh Biên… Nhiều

dự án đang khẩn trưởng chuẩn bị khởi công hoặc khánh thành đưa vào sử dụng chào

mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn và chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp trong năm

2010

2.3 Thương mại – Dịch vụ và Xuất Nhập khẩu

- Hoạt động thương mại nội địa vẫn tiếp tục phát triển, nhất là thông qua các hoạt

động hội chợ, lễ hội trong năm như: Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao, lễ hội

quốc gia Vía bà Chúa Xứ Núi Sam, Hội chợ Thương mại – đầu tư và du lịch cửa

khẩu quốc tế Tịnh Biên, khai trương khu Thương mại Tịnh Biên, lễ hội đua bò, lễ

hội mùa nước nổi tại An Phú, Tân Châu… đã thu hút nhiều khách tham quan, du

lịch và mua sắm Tổng lượng khách đến các khu điểm du lịch qua 10 tháng đạt trên

4,7 triệu người, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2008 và đã vượt 8% so kế hoạch năm,

doanh thu ngành du lịch đạt trên 140 tỷ đồng, tăng 17% so cùng kỳ Tổng mức bán

lẻ hàng hóa cả năm ước đạt gần 35.000 tỷ đồng, tăng trên 14% so cùng kỳ

- Kinh tế cửa khẩu tiếp tục phát triển, nhất là ở cửa khẩu Quốc tế Tịnh Biên (đến nay

đã có 30 doanh nghiệp mua bán hàng tại siêu thị miễn thuế với trên 3.000 nhóm

ngành hàng được bày bán, số lượt khách đến mua hàng trên 484 ngàn lượt, trong đó

có trên 4 ngàn cư dân Campuchia sang mua hàng, doanh thu của các doanh nghiệp

trên 331 tỷ đồng, tạo việc làm cho gần 600 lao động) Tổng giá trị xuất nhập khẩu

qua các cửa khẩu biên giới trên địa bàn tỉnh qua 9 tháng đạt 722 triệu USD, bằng

94% so cùng kỳ

- Xuất khẩu gặp nhiều khó khăn về thị trường, giá cả, do ảnh hưởng chung của suy

giảm kinh tế toàn cầu, do sự bảo hộ hàng hóa của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt

là đối với mặt hàng cá tra, cá ba sa Ước cả năm kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng

600 triệu USD, bằng 80% so năm 2008 và chỉ bằng 71% kế hoạch

- Nhập khẩu cả năm ước đạt 100 triệu USD, bằng 83% so kế hoạch và tăng 7% so

cùng kỳ Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên vật liệu may mặc, nguyên liệu

thức ăn gia súc, hóa chất, gỗ…

2.4 Tài chính – ngân hàng

- Công tác thu, chi và điều hành quản lý ngân sách nhà nước năm 2009 tiếp tục được

đảm bảo Mặc dù tình hình chung có nhiều khó khăn do suy giảm kinh tế, phải thực

hiện nhiều chính sách miễn, giảm, giãn thuế, nhưng nhờ sự nỗ lực và quyết tâm cao

của cán bộ, nhân viên ngành thuế cùng các ngành, địa phương liên quan thực hiện

tốt công tác tổ chức và phối hợp, tích cực tuyên truyền, vận động người dân, doanh

nghiệp làm tròn nghĩa vụ thuế với nhà nước, thực hiện nhiều biện pháp thu thuế và

thu hồi nợ đọng… nên các khoản thu chính trên địa bàn tỉnh đều đạt và tăng so với

Trang 32

cùng kì, phục vụ tốt các nhu cầu chi đột xuất, bức xúc, nhất là chi lương, hỗ trợ

phòng chống thiên tai dịch bệnh…

Tổng thu ngân sách từ kinh tế trên địa bàn đạt 3.012 tỷ đồng, vượt gần 8% dự toán

năm và tăng 4,4% so cùng kỳ (trong đó thu nội địa tăng 4%, thu thuế xuất nhập khẩu

giảm trên 2,4%)

Tổng chi ngân sách địa phương 4.436 tỷ đồng, vượt dự toán trên 12% và tăng trên

15% so cùng kỳ, trong đó chi đầu tư xây dựng chiếm gần 35% (tăng 8% so cùng

kỳ), chi thường xuyên chiếm 60% (tăng gần 2%)

- Trong năm, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định, có

nhiều đóng góp vào quá trình đầu tư, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đặc biệt là

những nỗ lực vượt khó để triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách kích cầu

của Chính phủ nhằm đối phó suy giảm kinh tế Tính đến cuối tháng 10/20098, toàn

tỉnh có 51 tổ chức tín dụng và chi nhánh tín dụng đang hoạt động (tăng 4 tổ chức so

cùng kỳ), trong đó có 25 tổ chức quỹ tín dụng Số vốn huy động tại chỗ của các tổ

chức tín dụng ước thực hiện cả năm đạt 12.768 tỷ đồng (tăng 45% so với 2008),

tổng doanh số cho vay là 57.500 tỷ đồng ( tăng gần 50%), tổng doanh số thu nợ đến

31/12/2009 là 49.210 tỷ đồng (tăng 38%), tổng dư nợ 25.420 tỷ đồng (tăng 50%)

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục được thực hiện có hiệu quả, tính

đến cuối tháng 10/2009, số thanh toán không dùng tiền mặt đạt gần 60.250 tỷ đồng,

trong đó thanh toán bằng điện tử chiếm 48% và thanh toán bù trừ chiếm 52% Đến

nay, đã có 946 đơn vị trả lương qua tài khoản với 40.217 người, trong đó có 854 đơn

vị thuộc ngân sách nhà nước chuyển lương qua tài khoản có phát hành thẻ ATM (

tăng 544 đơn vị so cùng kỳ năm 2008) với 27.100 người tham gia (tăng 14.832

người)

2.5 Quốc phòng – an ninh

- Công tác quân sự địa phương được đảm bảo, công tác tuyển quân năm 2009 tiếp

tục thắng lợi, các chỉ tiêu trên giao đều được hoàn thành 100% và ngày càng đi vào

nề nếp, chất lượng, chuẩn bị và tổ chức thành công các cuộc diễn tập khu vực phòng

thủ Quan hệ đối ngoại, hợp tác với các tỉnh giáp biên giới tiếp tục phát triển tốt, an

ninh chính trị, trật tự an toàn – xã hội trong nội địa và khu vực biên giới được đảm

bảo, đặc biệt là trong các ngày diễn ra lễ, hội, góp phần ổn định xã hội trên địa bàn

tỉnh

- Công tác đảm bảo an toàn giao thông có chuyển biến tốt, công tác kiểm tra, kiểm

soát được thực hiện thường xuyên và đẩy mạnh ở các địa bàn nông thôn, các vụ việc

vi phạm đều được xử lý nghiêm minh Các tiêu chí về tai nạn giao thông có chiều

hướng giảm mạnh, số vụ xảy ra trong 9 tháng là 98 vụ (giảm 9,2% so cùng kỳ

- Công tác hòa giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được các ngành, các

cấp tập trung giải quyết, được xem xét thấu tình, đạt lý, hiện vẫn còn nhiều hộ cố

Trang 33

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 23 SVTH: Lê Kim Duyên

tình kéo dài, dây dưa, khiếu nại vượt cấp, không chấp hành tốt pháp luật vẫn chưa

được xử lý nghiêm minh Đến nay, công tác này đã đạt được những kết quả tích cực

II Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ phát triển tại tỉnh An Giang

1 Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ phát triển tại tỉnh An Giang giai đoạn

2007-2009

1.1 Thu hút vốn đầu tƣ từ khu vực kinh tế tƣ nhân

Bảng 2: Số lƣợng doanh nghiệp tỉnh An Giang giai đoạn 2007 - 2009

Năm

Số doanh nghiệp

Chi nhánh VPĐD

Công ty

cổ phần

1 thành viên

2 thành viên

( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2007, 2008; Báo cáo phát triển kinh tế xã

hội tỉnh An Giang 11 tháng đầu năm 2009 )

- Đến cuối năm 2009, có 3.973 doanh nghiệp đăng kí kinh doanh với tổng số vốn là

17.411 tỷ đồng Hộ kinh doanh cá thể có 67.834 hộ với vốn đăng kí kinh doanh là

3.424 tỷ đồng

- Thực hiện trong 2 năm từ 2008-2009, toàn tỉnh có 1.171 doanh nghiệp mới thành

lập, với tổng vốn đăng kí là 9.964 tỷ đồng, gồm 297 doanh nghiệp tư nhân, 800 công

ty trách nhiệm hữu hạn, 74 công ty cổ phần và 323 chi nhánh Văn phòng đại diện

Trang 34

- Phát triển doanh nghiệp là một nguồn lực đáng kể để thúc đẩy phát triển kinh tế -

xã hội, nhất là góp phần vào giải quyết việc làm, tham gia tích cực vào việc tạo công

ăn việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống người lao động

Bảng 3: Tỷ lệ hộ nghèo tỉnh An Giang giai đoạn 2007 - 2009

Tỷ lệ hộ nghèo 8,93% 6,96% 5,85%

( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2007, 2008; Báo cáo phát triển kinh tế xã

hội tỉnh An Giang năm 2009 )

Trong 3 năm, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm qua các năm, lần lượt như sau, năm 2007 tỷ lệ

hộ nghèo là 8,93%, năm 2008 là 6,96% ( giảm 1,97%), đến năm 2009 tỷ lệ này là

5,85% (giảm 1,11%)

- Nhìn chung, các DNNVV trên địa bàn tỉnh An Giang năng động và thích ứng

nhanh với những thay đổi của môi trường, sức cạnh tranh của loại hình doanh

nghiệp này ngày càng một nâng cao, DNNVV đã góp phần vào việc giữ gìn và phát

huy các ngành nghề truyền thống như: dệt thổ cẩm, tranh trên kiếng, dệt lụa…; biết

phát triển các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và phân phối các sản phẩm hàng hóa, dịch

vụ này đến thị trường ở những huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa mà các doanh

nghiệp lớn không tham gia, góp phần cải thiện điều kiện kinh tế- xã hội ở những

vùng này

- Tổng vốn đăng kí đầu tư trên địa bàn tỉnh theo từng năm cụ thể như sau:

Bảng 4: Tổng vốn đăng kí đầu tƣ và lao động tỉnh An Giang giai đoạn 2007 - 2009

( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2007, 2008; Báo cáo phát triển kinh tế xã

hội tỉnh An Giang năm 2009 )

Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển cả về số lượng và chất lượng,

đóng góp vào việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, tạo công ăn việc làm và góp

Trang 35

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 25 SVTH: Lê Kim Duyên

phần tăng thu nhập cho xã hội Trong 3 năm qua đã tạo công ăn việc làm cho trên

105.850 lao động Các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động thuộc ngành nông, lâm

thủy sản Thu nhập bình quân một lao động khoảng 800.000 đồng/ tháng

1.2 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài

1.2.1 Năm 20072

- Đến cuối năm 2006, có 04 dự án đầu tư đã được cấp phép (Angimex –

Kitoku, Vitoria Hàng Châu, Latina An Giang, Thủy sản Biển Đông) đang tiếp tục

triển khai thực hiện dự án Vốn đầu tư đã triển khai thực hiện: 9,2 triệu USD (vốn

đăng ký đầu tư ban đầu 16,5 triệu USD)

- Riêng năm 2007, đã có 05 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có Văn bản

đăng ký chính thức về việc triển khai dự án tại An Giang Tổng vốn đăng ký của 05

dự án này khoảng 91,2 triệu USD Cụ thể như sau:

+ Công ty TNHH Chăn nuôi C.P Việt Nam (Thái Lan): thực hiện dự án nhà

máy chế biến thức ăn thủy sản tại Phú Tân, vốn đăng ký: 20 triệu USD Dự án này

đã được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận về mặt chủ trương Sở Kế hoạch và Đầu

tư đang phối hợp với UBND huyện Phú Tân rà soát các thủ tục tiếp theo để xem xét

cấp Giấy chứng nhận đầu tư

+ Liên doanh giữa Doanh nghiệp tư nhân Như Ý và Công ty cổ phần

MANBRIDGE – Malaysia để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán và Khu

phức hợp khách sạn 5 sao tại thị xã Châu Đốc, vốn dự kiến: 46 triệu USD Hiện nay,

dự án xây dựng nhà ở đề bán đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và

đang triển khai thực hiện

+ Công ty TNHH Kỹ thuật Thủy sản Hoàn Cầu (Lãnh thổ Đài Loan): có Văn

bản gửi Ban quản lý Khu công nghiệp tỉnh đăng ký thực hiện dự án đầu tư nhà máy

chế biến thức ăn thủy sản tại Khu công nghiệp Bình Long với tổng vốn đăng ký 5,2

triệu USD Dự án đã được Ban Quản lý các Khu công nghiệp cấp Giấy chứng nhận

đầu tư

+ Tập đoàn Grobest (Lãnh thổ Đài Loan): đã có Văn bản chính thức gửi đến

UBND huyện Chợ Mới đăng ký thực hiện dự án đầu tư vùng nuôi thủy sản qui mô

200 ha và nhà máy chế biến thủy sản, thức ăn thủy sản tại Chợ Mới với vốn đầu tư

dự kiến khoảng 20 triệu USD Dự án đã được UBND tỉnh chấp thuận về mặt chủ

trương, UBND huyện đang phối hợp các Sở, ngành liên quan thỏa thuận địa điểm

đầu tư để có thể trình UBND tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong Quý II năm

2008

+ Công ty TNHH Greefeed (Việt Nam): đã có Văn bản chính thức đến Sở Kế

hoạch và Đầu tư đăng ký thực hiện dự án đầu tư nhà máy sấy và kho trung chuyển

nguyên liệu qui mô 20.000 m2 với tổng vốn đầu tư 3.000.000 USD

2

Bao cáo phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang năm 2007

Trang 36

1.2.2 Năm 20083

- Dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký: 06 dự án so với cùng kỳ năm

2007, tăng 01 dự án, vốn đăng ký 91,250 triệu USD, bằng so cùng kỳ 2007

- Dự án có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Chứng nhận đầu tư là 05 dự án,

vốn đăng ký cấp Chứng nhận đầu tư là 1.330 tỷ đồng (tương đương 85,250 triệu

USD) tăng gấp hơn 11,84 lần so cùng kỳ

- 05 dự án có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Chứng nhận đầu tư có 03 dự án

đang triển khai, vốn 70,250 triệu USD dự án, 02 dự án chưa triển khai với vốn 15

triệu USD

- Dự án có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đầu tư từ khi

triển khai Luật Đầu tư là 09 dự án (trong đó có 4 dự án đăng ký lại), cao hơn giai

đoạn 1995 – 2006 là 01 dự án, với vốn cấp Chứng nhận đầu tư là 1.553 tỷ đồng

(tương đương 85,250 triệu USD), tăng gấp 5,62 lần so với giai đoạn 1995 – 2006

1.2.3 Năm 20094

- Dự án có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đầu tư từ khi

triển khai Luật Đầu tư là 10 dự án (trong đó có 4 dự án đăng ký lại), cao hơn giai

đoạn 1995 - 2005: 02 dự án đầu tư Tổng vốn đăng ký đầu tư của 10 dự án là

100.611.879 USD, trong đó vốn đăng ký của 04 dự án giai đoạn 1995 - 2005 là

15.161.895 USD, vốn đã thực hiện là 14.184.118 USD; vốn đăng ký của 06 dự án

giai đoạn 2006 - đến nay là 85.450.000 USD, đã thực hiện 1.955.000 USD

2 Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ phát triển tại tỉnh An Giang năm 2009 5

2.1 Về phát triển doanh nghiệp

Trong năm 2009, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 929

doanh nghiệp, tăng 247 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trước, tổng vốn đăng ký

kinh doanh 5.026 tỷ đồng, tăng 88 tỷ đồng (tăng 1,78%); cấp thay đổi, bổ sung 910

doanh nghiệp và 117 chi nhánh, văn phòng đại diện; số doanh nghiệp thông báo giải

thể là 108, tăng 42,68% so cùng kỳ (35 doanh nghiệp); bình quân vốn đăng ký kinh

doanh của một doanh nghiệp hơn 6,88 tỷ đồng

Tính chung tổng số doanh nghiệp có trên địa bàn đến thời điểm cuối năm

2009 là 5.054 doanh nghiệp, bao gồm 2.220 doanh nghiệp tư nhân, 1.154 công ty

TNHH có hai thành viên trở lên, 444 công ty TNHH một thành viên, 155 công ty cổ

phần và 1.081 chi nhánh, văn phòng đại diện Tổng vốn đăng ký kinh doanh của

3.993 doanh nghiệp là 17.411 tỷ đồng

3 Báo cáo phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang năm 2008

4 Báo cáo phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang 11 tháng đầu năm 2009

5

Báo cáo thu hút đầu tư tỉnh An Giang năm 2009

Trang 37

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 27 SVTH: Lê Kim Duyên

Đối với hộ kinh doanh cá thể, tại các huyện, thị, thành từ đầu năm đến nay số

lượng đăng ký là 7.795 hộ với tổng vốn trên 810 tỷ đồng, thu hút 13.690 lao động

Tính chung trên địa bàn huyện, thị, thành hiện có 67.834 hộ kinh doanh cá thể đăng

ký hoạt động với tổng vốn 3.424 tỷ đồng, thu hút khoảng 169.570 lao động

2.2 Tình hình đăng ký đầu tƣ và cấp Giấy chứng nhận đầu tƣ

Trong năm 2009 đã tiếp nhận tổng cộng 132 dự án đăng ký đầu tư, so cùng

kỳ giảm 29 dự án (bằng 82%), với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 28.250 tỷ đồng,

so cùng kỳ tăng 8.637 tỷ đồng

Cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 99 dự án (87 dự án cấp mới, 12 dự án đăng

ký điều chỉnh), với số vốn đầu tư khoảng 3.013 tỷ đồng, so cùng kỳ số dự án được

cấp mới Giấy chứng nhận đầu tư tăng 15 dự án (tăng 20%), nhưng tổng số đăng ký

giảm 1.984 tỷ đồng (bằng khỏang 60%) so cùng kỳ

Tính từ khi triển khai Luật đầu tư đã tiếp nhận tổng cộng 413 dự án đăng ký

chủ trương đầu tư, với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 52.740 tỷ đồng Sở Kế

hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các khu công nghiệp và Ban Quản lý khu kinh tế cửa

khẩu đã phối hợp với các sở, ngành liên quan và UBND huyện, thị, thành tham mưu

Ủy ban nhân dân tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 296 dự án với tổng vốn đăng

ký là 15.489 tỷ đồng

Dự án có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đầu tư từ khi

triển khai Luật đầu tư là 10 dự án ( trong đó có 04 dự án đăng ký lại), cao hơn giai

đoạn 1995- 2005 là 02 dự án đầu tư Tổng vốn đăng ký đầu tư của 10 dự án là

100.611.879 USD, trong đó vốn đăng ký đầu tư của 04 dự án giai đọan 1995-2005 là

15.161.895 USD, kết quả đã triển khai thực hiện là 14.184.118 USD Vốn đăng ký

của 06 dự án giai đoạn từ năm 2006 đến nay là 85.450.000 USD, đã thực hiện

1.955.000 USD

2.3 Dự án kêu gọi đầu tƣ của tỉnh

- Chế biến nông thuỷ sản xuất khẩu, công nghiệp kỹ thuật cao, những ngành

có giá trị cao;

- Các dự án đầu tư vào khu công nghiệp:

+ KCN Vàm Cống ( đa ngành công nghiệp): 200 ha

+ KCN Bình Hoà(công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng, may mặc):132ha

+ KCN Xuân Tô (thực phẩm, hàng tiêu dùng): 57 ha

+ Các cụm công nghiệp: Tây Huề -55 ha, Tân Trung -20 ha, Long An-30 ha

- Các dự án đầu tư vào khu kinh tế cửa khẩu:

+ Cửa khẩu Quốc tế Tịnh Biên:

▫ Khu thương mại – dịch vụ giải trí: 150 ha

Trang 38

▫ Trung tâm hội chợ triển lãm thương mại quốc tế: 10 ha

▫ Khu dân cư và trung tâm thương mại Tịnh Biên: 60 ha

+ Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương:

▫ Khu thương mại – Dịch vụ Vĩnh Xương: 101ha

▫ Khu đô thị Vĩnh Xương: 44 ha

- Các dự án đầu tư vào thương mại và du lịch như: du lịch sinh thái, nghỉ

dưỡng và vui chơi giải trí ở TP Long Xuyên, Châu Đốc và Núi Cấm;

- Trung tâm hội chợ triển lãm và Trung tâm phân phối bán buôn cấp vùng,

phát triển các khu đô thị mới Long Xuyên – Châu Đốc và biên giới

- Các dự án đầu tư vào lĩnh vực y tế, giáo dục, thể thao

3 Thực trạng thu hút đầu tƣ vào các Khu công nghiệp tỉnh An Giang

3.1 Đối với Khu công nghiệp Bình Long

Đến nay tại Khu công nghiệp Bình Long, Ban Quản lý các Khu công nghiệp

đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 05 nhà đầu tư với diện tích 16 ha, tổng vốn đăng

ký đầu tư là 756 tỷ đồng và 31 triệu USD để thực hiện 05 Dự án đầu tư, trong đó có

01 nhà đầu tư Đài Loan

Thực tế hiện nay, tại KCN Bình Long có 04 nhà đầu tư triển khai xây dựng

nhà máy, bao gồm 02 nhà máy chế biến thủy sản, 01 nhà máy chế biến thức ăn thủy

sản và 01 nhà máy cấp nước; riêng nhà đầu tư Đài Loan vừa bồi hoàn 1,8 tỷ đồng

giá trị hàng rào cho Công ty cổ phần Cửu Long - Thái Sơn (Ban Quản lý các Khu

công nghiệp đã thu hồi giấy phép cấp cho Công ty cổ phần Cửu Long - Thái Sơn do

Công ty không có khả năng tài chính, đồng thời cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho

Công ty TNHH Một thành viên Greenbank Việt Nam - Đài Loan để thực hiện Dự án

đầu tư xây dựng Nhà máy chế biến đông lạnh thủy hải sản xuất khẩu với tổng vốn

đầu tư 31 triệu USD) Hiện nay, tại Khu công nghiệp Bình Long còn một lô đất

trống có diện tích 3 ha trong tổng diện tích 19 ha dành cho doanh nghiệp thuê, đã có

nhiều nhà đầu tư đăng ký thuê đất, tỉnh đang xem xét lựa chọn Dự án đầu tư có hiệu

quả nhất

Đến nay, nhà máy cấp nước đã xây dựng xong; nhà máy chế biến thủy sản

của Công ty TNHH Bình Long vừa mới chạy thử băng chuyền IQF vào ngày

04/12/2009, số lượng lao động đang làm việc tại nhà máy khoảng 240 người, dự

kiến đến cuối quý I/2010 sẽ đưa vào hoạt động chính thức; nhà máy chế biến thủy

sản của Công ty Cổ phần Chế biến và xuất nhập khẩu thủy sản Hòa Phát dự kiến vào

quý II/2010 mới có khả năng đưa vào hoạt động; về nhà máy chế biến thức ăn thủy

sản của Công ty TNHH Một thành viên chế biến thức ăn thủy sản Cửu Long An

Giang, Công ty có ý định chuyển thành nhà máy chế biến thủy sản

Theo tiến độ xây dựng nhà máy của các nhà đầu tư, đến năm 2010 tại KCN

Bình Long sẽ có 02 nhà máy chế biến thủy sản đưa vào hoạt động với tổng công

Trang 39

GVHD: Ths.Trần Minh Hải Trang 29 SVTH: Lê Kim Duyên

suất khoảng 25.000 tấn thành phẩm/ năm, năm 2010 nhà máy chế biến thủy sản của

Công ty TNHH Một thành viên Greenbank Việt Nam - Đài Loan bắt đầu xây dựng,

dự kiến đến năm 2011 Khu công nghiệp Bình Long được lấp đầy hoàn toàn với 06

nhà máy đưa vào hoạt động, thu hút khoảng 6.200 lao động

Danh sách các nhà đầu tư được cấp giấy chứng nhận đầu tư ( xem Phụ lục 1 )

Danh sách các nhà đầu tư đã triển khai thực hiện dự án ( xem Phụ lục 2 )

3.2 Đối với Khu công nghiệp Bình Hòa

Tại Khu công nghiệp Bình Hòa, Ban Quản lý các Khu công nghiệp đã cấp

giấy chứng nhận đầu tư cho 08 nhà đầu tư với diện tích 17 ha, tổng vốn đăng ký đầu

tư là 302 tỷ đồng và 20 triệu USD để thực hiện 08 Dự án đầu tư, trong đó có 02 nhà

đầu tư Đài Loan và một nhà đầu tư là Việt kiều Canada

Do tình hình khó khăn về nguồn vốn đầu tư nên hiện nay các Dự án đầu tư có

yếu tố vốn nước ngoài đều chưa có khả năng thực hiện, hiện tại chỉ có 04 nhà đầu tư

tiến hành xây dựng nhà máy với diện tích 07 ha tại Khu công nghiệp Bình Hòa,

trong đó đã có 03 nhà đầu tư đưa nhà máy vào hoạt động, tổng vốn các nhà đầu tư

đã thực hiện Dự án đến nay khoảng 108 tỷ đồng, hiện giải quyết việc làm cho 318

lao động; các nhà máy đã đưa vào hoạt động bao gồm:

- Nhà máy đúc cán thép của Công ty TNHH Tiến Bộ

- Nhà máy sản xuất cống bê tông ly tâm, cọc bê tông dự ứng lực, Trạm trộn

bê tông nhựa nóng của Công ty TNHH Phước Thạnh

- Trạm trộn bê tông nhựa nóng của Công ty Xây lắp An Giang

Riêng Nhà máy cấp nước của Công ty Điện Nước An Giang đến nay chưa

xây dựng xong

Đến nay, tại Khu công nghiệp Bình Hòa có khoảng 65 ha sẵn sàng cho nhà

đầu tư thuê xây dựng nhà máy, Ban Quản lý các Khu công nghiệp cố gắng thúc đẩy

xây dựng hoàn thành Khu công nghiệp Bình Hòa vào năm 2010 để có diện tích 100

ha đất sẵn sàng cho nhà đầu tư thuê

Về việc khai thác quỹ đất Khu công nghiệp Bình Hòa, trong thời gian vừa

qua đã có nhiều nhà đầu tư đăng ký nhưng trong điều kiện kinh tế thế giới còn suy

thoái, kinh tế nước ta mới bắt đầu hồi phục, giá cả các mặt hàng xuất khẩu ở các thị

trường quốc tế đang bị cạnh tranh quyết liệt nên việc thực hiện các Dự án đầu tư còn

chậm

Danh sách các nhà đầu tư được cấp giấy chứng nhận đầu tư ( xem Phụ lục 3 )

Danh sách các nhà đầu tư đã triển khai thực hiện dự án ( xem Phụ lục 4 )

3.3 Chính sách ƣu đãi đầu tƣ vào các khu công nghiệp

- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Áp dụng thuế suất 20% trong thời gian 10

năm đối với doanh nghiệp thành lập mới, được miễn thuế thu nhập 2 năm kể từ khi

có thu nhập chịu thuế, được giảm 50% trong 04 năm tiếp theo

- Tiền thuê đất: miễn từ 7- 11 năm

- Đơn giá thuê đất:

Trang 40

+ KCN Bình Long: 0,30 – 0,45 USD/m2/năm

+ KCN Bình Hòa: 0,30 – 0,35 USD/m2/năm

4 Thực trạng thu hút đầu tƣ vào các khu kinh tế cửa khẩu tỉnh An Giang

4.1 Danh sách thu hút đầu tƣ vào các khu Kinh tế cửa khẩu (KTCK)

cho đến hết ngày 11/12/2009 ( xem Phụ lục 5 )

4.2 Tổng vốn đầu tƣ vào Khu vực kinh tế cửa khẩu Tịnh Biên

4.2.1 Đầu tư của nhà nước Tính đến nay, tổng vốn đầu tư của nhà nước vào khu vực cửa khẩu Tịnh Biên

khoảng 150 tỷ đồng (chủ yếu là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu chức năng

quan trọng như: khu thương mại công nghiệp Tịnh Biên – khu phi thuế quan; nạo

vét, khơi thông luồng kênh Vĩnh Tế phục vụ cho vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu

Tịnh Biên; Xây dựng bãi tập kết, trung chuyển hàng hóa phục vụ cho bốc dỡ, vận

chuyển hàng hóa của khu kinh tế cửa khẩu; xây dựng cơ sở hạ tầng khu bãi xe và

các dịch vụ,…), trong đó: đầu tư cơ sở hạ tầng khu Thương mại Tịnh Biên (10 ha)

khoảng 50 tỷ đồng, đầu tư cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Xuân Tô khoảng (57 ha)

60 tỷ đồng, nạo vét Kênh Vĩnh tế khoảng 20 tỷ,… Hiện nay, các khu chức năng này

đã và đang hoàn thành, đưa vào sử dụng và tỉnh cũng đang tiếp tục kêu gọi đầu tư

Ngoài ra, UBND tỉnh đang chỉ đạo quy hoạch mở rộng, xây dựng thêm các

khu chức năng phục vụ cho phát triển kinh tế cửa khẩu: mở rộng khu thương mại,

xây dựng các khu vui chơi giải trí, dịch vụ du lịch, dân cư đô thị,… khoảng 150 ha

Vốn đầu tư trên đây chưa bao gồm vốn đầu tư của Trung ương vào việc xây

dựng hệ thống đường giao thông Quốc lộ (cầu và đường Bộ Giao thông vận tải đang

thực hiện từ Châu Đốc đến cửa khẩu Tịnh Biên) trong khu vực cửa khẩu Tịnh Biên

4.2.2 Đầu tư của các doanh nghiệp Tính từ ngày có chính sách phát triển kinh tế cửa khẩu tại Quyết định số

65/2007/QĐ-TTg ngày 11/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ đến nay, có khoảng 50

nhà đầu tư đăng ký đầu tư sản xuất kinh doanh tại Khu vực cửa khẩu Tịnh Biên, với

vốn đăng ký đầu tư khoảng 1.100 tỷ đồng, và đã triển khai thực hiện đầu tư xây

dựng với số vốn khoảng 469 tỷ đồng, trong các lĩnh vực

- Xây dựng các siêu thị, gian hàng thương mại, kho hàng hóa để kinh doanh

hàng miễn thuế tại Khu thương mại Tịnh Biên: khoảng 38 doanh nghiệp, vốn đăng

ký khoảng 500 tỷ đồng Các doanh nghiệp đã bỏ tiền đầu tư đầu tư xây dựng các

siêu thị, gian hàng thương mại, kho hàng hóa khoảng 250 tỷ đồng

- Xây dựng các nhà máy sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực: nước tinh

khiết, sản xuất hàng gia dụng, sản xuất thực phẩm, chế biến mây tre, lá, cói xuất

khẩu,… trong Khu công nghiệp Xuân Tô: 5 doanh nghiệp đăng ký đầu tư, vốn đăng

Ngày đăng: 28/02/2021, 19:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w