Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu về khía cạnh này người bán trong tín dụng nông nghiệp, do đó bài viết “Rủi ro tín dụng thương mại: trường hợp bán chịu vật tư nông nghiệp của các đại lý ở L
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QTKD
TỈNH AN GIANG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QTKD
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HỒ THỊ KHA MSSV: DNH142071
GVHD: Ths CAO VĂN HƠN
AN GIANG, THÁNG 04 NĂM 2018
PHÂN TÍCH RỦI RO TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
TRONG TRƯỜNG HỢP BÁN CHỊU VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP
CỦA CÁC ĐẠI LÝ
Ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG
Trang 3Luận văn “Phân tích rủi ro tín dụng thương mại trong trường hợp bán
chịu vật tư nông nghiệp của các đại lý ở thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang” do sinh viên Hồ Thị Kha thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Cao
Văn Hơn Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng khoa học
và đào tạo thông qua ngày …
Trang 4Để hoàn thành khóa luận này, em vô cùng biết ơn Quý Thầy, Cô ở Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, trường Đại học An Giang đã nhiệt tình dạy bảo em trong những năm vừa qua Ngoài việc truyền đạt cho em những kiến thức chuyên ngành về kinh tế, Quý Thầy, Cô còn tạo cơ hội để em tiếp cận những kiến thức từ xã hội Em tin chắc rằng những kiến thức này sẽ là hành trang vững chắc để em bước vào đời
Em xin chân thành cảm ơn thầy Cao Văn Hơn đã trực tiếp hướng dẫn với
sự nhiệt tình, tận tâm để giúp em hoàn thành đề tài này Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn các Đại lý vật tư nông nghiệp đã cho em những thông tin
và số liệu cần thiết để thực hiện đề tài của mình Tuy nhiên do kiến thức còn hạn chế cũng như chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự góp ý chỉ bảo thêm từ phía Quý thầy cô để đề tài này được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, em xin chúc toàn thể Qúy Thầy, Cô Trường Đại học An Giang, đặc biệt là thầy Cao Văn Hơn dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp giáo dục Cám ơn Thầy đã tận tình hướng dẫn, bổ sung thêm kiến thức cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và chúc cho Đại lý vật tư nông nghiệp nói chung và ở Long Xuyên nói riêng ngày càng phát đạt và phồn thịnh
chân thành cảm ơn
An Giang, ngày 16 tháng 04 năm 2018
Người thực hiện
Hồ Thị Kha
Trang 5Nội dung nghiên cứu của đề tài được trình bày như sau:
Chương 1: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, cũng như biện pháp và phạm vi nghiên cứu
Chương 2: Cở sở lý luận về hoạt động tín dụng thương mại, vật tư nông nghiệp, về rủi ro bán chịu vật tư nông nghiệp và lý thuyết về mô hình làm nền tảng cho đề tài nghiên cứu
Chương 3: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn nghiên cứu
Chương 4: Phân tích về rủi ro tín dụng thương mại trong trường hợp bán chịu vật tư nông nghiệp của các đại lý trên địa bàn thành phố Long Xuyên
Chương 5: Kết luận và đưa ra các giải pháp khắc phục
An Giang, ngày 16 tháng 04 năm 2018
Người thực hiện
Hồ Thị Kha
Trang 6An Giang, ngày 16 tháng 04 năm 2018
Người thực hiện
Hồ Thị Kha
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
LỜI CAM KẾT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 2
1.4.2 Phương pháp phân tích số liệu 3
1.5 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 3
1.6 DỰ KIẾN CẤU TRÚC ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ TÍN DỤNG, TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO 4
2.1.1 Khái niệm về tín dụng, tín dụng phi chính thức 4
2.1.2 Vai trò của tín dụng trong việc phát triển kinh tế nông thôn 4
2.1.3 Đặc điểm về thị trường tín dụng nông thôn 5
2.1.4 Khái niệm tín dụng thương mại 7
2.1.5 Mua chịu vật tư nông nghiệp 7
2.1.6 Khái niệm về rủi ro 7
2.2 CÁC VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ KINH DOANH VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP 8
Trang 82.2.1 Khái niệm về cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp 8
2.2.2 Các thành phần của vật tư nông nghiệp 8
2.2.3 Vai trò của vật tư nông nghiệp đối với sản xuất nông nghiệp 8
2.3 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN KINH DOANH VTNN 9
2.4 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN 9
2.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU11 2.6 LÝ THUYẾT VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH HỒI QUY 13
2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu 13
2.6.2 Phương Pháp phân tích số liệu 13
2.6.3 Giải thích các biến được sử dụng trong mô hình 14
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 18
3.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH AN GIANG 18
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 18
3.1.2 Dân cư 19
3.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang năm 2017 20
3.2 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG 25
3.2.1 Điều kiện tự nhiên và đơn vị hành chính của Thành phố Long Xuyên 25
3.2.1.1 Vị trí địa lý 25
3.2.1.2 Đơn vị hành chính 26
3.2.2 Sự nổ lực phát triển Tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Long Xuyên trong thời gian tới 26
3.3 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TÍN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG 28
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH RỦI RO BÁN CHỊU VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC ĐẠI LÝ Ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG 30
4.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ MẪU QUAN SÁT TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 30
Trang 94.2 TÌNH HÌNH VAY VỐN CỦA CÁC NÔNG HỘ Ở THÀNH PHỐ LONG
XUYÊN 33
4.3 THỰC TRẠNG BÁN CHỊU VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC ĐẠI LÝ 36
4.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO BÁN CHỊU VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC ĐẠI LÝ 37
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 41
5.1 KẾT LUẬN 41
5.2 GIẢI PHÁP 42
5.2.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 42
5.2.2 Đối với đại lý vật tư nông nghiệp 42
5.2.3 Đối với nông hộ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 47
Trang 10DANH MỤC BẢNG
1 Ý nghĩa của các biến độc lập và kỳ vọng về dấu của các 16
2 Một số chỉ tiêu kinh tế đạt được của tỉnh An Giang 22
3 Các tiêu chí cơ bản về các nông hộ trong bảng khảo sát 33
4 Nguồn vay vốn của các nông hộ trong bảng khảo sát 34
5 Tình hình bán chịu vật tư nông nghiệp của các đại lý 36
6 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro bán chịu của các đại lý ở Long
2 Cơ cấu Kinh tế tỉnh An Giang năm 2018 21
3 Tỷ lệ giới tính của nông hộ trong bảng khảo sát 30
4 Tỷ lệ địa vị xã hội của nông hộ trong bảng khảo sát 30
5 Trình độ học vấn của nông hộ trong bảng khảo sát 31
6 Nghề nghiệp khác của nông hộ trong bảng khảo sát 32
7 Tình hình vay vốn của các nông hộ trong bảng khảo sát 34
8 Nhu cầu vay vốn từ các tổ chức tín dụng chính thức của nông hộ
Trang 121
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam được hình thành với các đặc điểm nổi bật là tồn tại song song những tổ chức tín dụng chính thức và tín dụng không chính thức Tuy nhiên nguồn tín dụng chính thức chưa thật sự phân phối đến nhu cầu vay vốn của phần lớn cư dân nông thôn Chính vì thế nguồn tín dụng phi chính thức lại mở ra một cơ hội lớn cho các nông hộ vì thủ tục đơn giản, nhanh chóng Trong đó phải kể đến hình thức mua chịu vật tư nông nghiệp, thực tế đó cũng phù hợp với một nước nông nghiệp như Việt Nam
Ưu điểm của mua chịu là cho phép nông hộ có ngay vật tư để dùng vào sản xuất mà không phải mất thời gian tìm nguồn tín dụng để vay rồi mới tìm nơi mua vật tư, không phải tốn chi phí giao dịch để vay tiền, không phải thế chấp tài sản và nhất là có thể kiểm chứng được chất lượng hàng hóa trước khi trả tiền mua Như vậy, mua chịu sẽ làm tăng lợi ích cho nông hộ, đặc biệt là các nông hộ không có tài sản thế chấp nên không thể vay tín dụng chính thức hay các nông hộ sinh sống ở những vùng nông thôn xa xôi Trong khi đó người bán chịu cũng có lợi ích nhất định, họ có thể thu lợi nhuận cao hơn việc bán bằng tiền mặt đồng thời cũng kiểm soát được nguồn tiền bán chịu ấy được dùng trực tiếp vào việc mua vật tư chứ không dùng vào bất cứ mục đích nào khác
Mặc dù mua chịu rất có lợi cho cả người mua lẫn người bán nhưng thực
tế cho thấy không phải ai có nhu cầu cũng đều được chấp nhận cho mua chịu, một mặt là do người mua không đủ uy tín để người bán tin tưởng bán chịu hoặc do khoảng cách địa lý quá xa nơi bán hay nhiều lý do khác Mặc Khác do người bán chịu cũng gặp những rủi ro nhất định do không thu lại đủ số tiền bán chịu, thời gian thu hồi nợ chậm, hoặc thậm chí là bị “giựt” tiền do nông dân không đủ điều kiện trả, hay không muốn trả Nên đại lý sẽ dùng các biện pháp khuyến mãi, giảm giá để thu hồi nợ, hay dùng biện pháp cưỡng chế khi cần thiết
Một khía cạnh khác, nếu chủ đại lý không thu được nợ sẽ dẫn đến không
đủ nguồn lực để tiếp tục cung cấp cho người có nhu cầu khác, khi đó nông hộ
sẽ không thể khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, lao động cũng như các nguồn lực quý hiếm khác mà mình có được để làm tăng thu nhập và nâng cao mức sống, từ đó sinh ra lãng phí và thậm chí là đói nghèo Từ đó cho thấy, giảm rủi ro trong bán chịu vật tư nông nghiệp sẽ góp phần nâng cao giá trị sản
Trang 132
xuất và đời sống người dân nông thôn Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu về khía
cạnh này (người bán) trong tín dụng nông nghiệp, do đó bài viết “Rủi ro tín
dụng thương mại: trường hợp bán chịu vật tư nông nghiệp của các đại lý ở Long Xuyên tỉnh An Giang” được thực hiện, với mục tiêu phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến rủi ro bán chịu vật tư của các đại lý vật tư nông nghiệp ở An Giang nhằm tìm ra giải pháp làm giảm rủi ro cho các đại lý và tăng số tiền được chấp nhận cho mua chịu đối với những người có nhu cầu
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung
Nghiên cứu những rủi ro mà đại lý gặp phải trong việc bán chịu vật tư nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Long Xuyên Từ đó đề ra các giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng thương mại cho đại lý vật tư nông nghiệp và giúp việc mua bán chịu được diễn ra thuận lợi hơn
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng mà đề tài hướng đến là rủi ro tín dụng thương mại của các đại lý vật tư nông nghiệp
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Các số liệu thu thập được từ những năm kinh doanh gần đây của đại lý VTNN cụ thể là từ năm 2015 – 2017
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sử dụng trong bài là số liệu thứ cấp được thu thập thông qua sổ sách ghi chép của các đại lý vật tư nông nghiệp Sau đó phỏng vấn trực tiếp các chủ đại lý vật tư nông nghiệp ở Thành Phố Long Xuyên được chọn bằng phương
Trang 143
pháp thuận tiện để có được thông tin về các nông hộ mua chịu Thông qua sự giới thiệu của các đại lý quen biết, tác giả chọn 4 đại lý một trong các phường, mỗi đại lý là 25 hộ mua chịu Tuy nhiên trên thực tế chỉ thu thập được 95 hộ
1.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Trên cơ sở số liệu thu thập, tác giả sử dụng phương pháp thống kê miêu tả để
mô tả đặc điểm của các nông hộ trong mẫu khảo sát cũng như thực trạng bán chịu vật tư nông nghiệp của các đại lý
- Sau đó, tiến hành ước lượng mô hình hồi quy để chỉ ra ảnh hưởng của các yếu tố đến rủi ro của đại lý vật tư nông nghiệp bằng cách sử dụng mô hình Probit
1.5 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Về mặt lý luận: Đề tài giúp sinh viên bổng sung những kiến thức về
chuyên ngành và thực tế về rủi ro thương mại đối với các đại lý vật tư nông nghiệp Trong quá trình nghiên cứu sinh viên có thể so sánh giữa thực tế và mặt lý thuyết về các vấn đề xung quanh rủi ro thương mại
Về mặt thực tế: Qua việc thu thập số liệu và dùng các mô hình hồi quy để
phân tích thì giúp tác giả có cái nhìn đúng đắn về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi
ro trong việc bán chịu vật tư nông nghiệp của đại lý Việc nghiên cứu đề tài còn giúp các đại lý vật tư nông nghiệp trên địa bàn Thành Phố Long Xuyên làm tài liệu tham khảo để nhận biết dấu hiệu dẫn đến rủi ro trong việc bán chịu vật tư nông nghiệp, để có thể đề phòng các rủi ro và tăng số tiền có thể bán chịu cho người có nhu cầu Đồng thời giúp nông hộ có thể mua chịu vật tư nông nghiệp thuận lợi hơn để sản xuất nông nghiệp được phát triển, từ đó giúp nâng cao đời sống người dân
1.6 DỰ KIẾN CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Chương 1: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, cũng như biện pháp và phạm vi nghiên cứu
Chương 2: Cở sở lý luận về tín dụng thương mại, rủi ro, lý thuyết về các mô hình và một số khái niệm cần thiết làm nền tảng cho đề tài nghiệp cứu
Chương 3: Giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu và tình hình kinh tế -
xã hội trên địa bàn nghiên cứu
Chương 4: Phân tích về rủi ro thương mại trong việc bán chịu vật tư nông nghiệp của các đại lý trên địa bàn Thành Phố Long Xuyên
Chương 5: Kết luận và đưa ra các giải pháp khắc phục
Trang 154
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ TÍN DỤNG, TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO
2.1.1 Khái niệm về tín dụng, tín dụng phi chính thức
Tín dụng
- Tín dụng xuất phát từ gốc Latinh: Gredittum – tức là tin tưởng, tín nhiệm
Tín dụng được diễn giải theo nghĩa Việt Nam là sự vay mượn Trong thực tế tín dụng hoạt động rất phong phú và đa dạng nhưng ở bất kì dạng nào tín dụng cũng thể hiện ở hai mặt cơ bản:
- Người sở hữu số tiền hay hàng hóa chuyển giao cho người khác sử dụng trong một thời gian nhất định
- Đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, ngườ sử dụng hoàn trả cho người sở hữu một giá trị lớn hơn, phầm tăng thêm được gọi là phần lời hay nói theo ngôn ngữ kinh tế là lãi suất ( Ngô Thị Mỹ Linh, 2010)
Tín dụng phi chính thức
Khái niệm tín dụng phi chính thức ở đây được dùng với nghĩa tương đối, phản ánh một thực trạng tài chính rất phức tạp ở nông thôn nước ta hiện nay Thuật ngữ phi chính thức được dùng để chỉ những quan hệ tín dụng ngầm hoặc nửa công khai (nhiều trường hợp công khai) ở đó có một hoặc một số hoặc tất cả các yếu tố vượt ra ngoài khuôn khổ của thể chế pháp lý hiện hành (mà yếu tố cơ bản nhất là lãi suất) Tuy nhiên, trong thực tế nó cũng có thể bao gồm cả những quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các cư dân nông thôn mà yếu tố lãi suất hoàn toàn bình thường, thậm chí thấp hơn so với lãi suất thị trường chính thức Những quan hệ này phát sinh trên cơ sở những quan hệ tình cảm (họ tộc, bạn bè,…) hoặc nhiều thứ quan hệ đa dạng khác (Lâm Chí Dũng, 2002)
Vì vậy, để cho bao quát nên hiểu tín dụng phi chính thức bao gồm những giao dịch tín dụng theo kiểu tài chính trực tiếp giữa các chủ thể kinh tế nông thôn với nhau và những giao dịch tài chính gián tiếp không thông qua các tổ chức tín dụng hoạt động trong khuôn khổ Luật Tổ chức tín dụng (tạm gọi là các tổ chức tín dụng chính quy)
2.1.2 Vai trò của tín dụng trong việc phát triển kinh tế nông thôn
Trong nghiên cứu về tín dụng nông nghiệp nông thôn của Ngô Thị Thanh Hương (2012) đã có nêu về vai trò của tín dụng trong việc phát triển kinh tế nông thôn như sau:
Trang 165
Trong nền kinh tế thị trường vai trò của tín dụng cũng thay đổi về bản chất so với nền kinh tế tập trung trước kia Tín dụng trong thời bao cấp được xem như một công cục cấp phát thay ngân sách Còn trong nền kinh tế thị trường: tín dụng là tập trung huy động nhiều nguồn vốn, gắn liền với sử dụng vốn có hiệu quả để đầu tư phát triển kinh tế nông thôn, tạo điều kiện tích lũy vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tín dụng thực sự là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển cũng như mở rộng thương mại dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn Do tín dụng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn và được thể hiện như:
- Góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính nông thôn Là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về vốn, nhằm thỏa mãn nhu cần phát triển kinh tế nông thôn
- Hoạt động tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn,
tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn
- Tín dụng đã góp phần tận dụng khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động
và tài nguyên thiên nhiên
- Tín dụng đã góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho nông dân tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh
- Tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn
- Tín dụng đã tạo cho người dân không ngừng nâng cao trình độ sản xuất, tăng cường hạch toán kinh tế đồng thời tạo tâm lý tiết kiệm tiêu dùng
- Tín dụng góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao đời sống tinh thần cho người nông dân
Tóm lại, tín dụng có vai trò quan trọng trong mọi mặt của đời sống kinh
tế xã hội nông thôn Để phát huy vai trò to lớn đó, nên sử dụng tín dụng như một công cụ đắc lực để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nông thôn
2.1.3 Đặc điểm về thị trường tín dụng nông thôn
Ngô Thị Mỹ Linh (2010) đã đưa ra một số quan điểm về thị trường tín dụng nông thôn như sau:
- Khu vực chính thức và phi chính thức cùng tồn tại, bất chấp sự kiện là lãi suất chính thức thấp hơn nhiều so với lãi suất được tính trên thị trường phi chính thức
- Lãi suất có thể không làm cân bằng cung và cầu tín dụng: có thể có tình trạng hạn chế tín dụng (credit rationing), và trong những thời kỳ mùa màng thất bát, người ta không đi vay với bất kỳ giá nào
Trang 176
- Thị trường tín dụng bị chia cắt, các mức lãi suất của những người cho vay tại những vùng khác nhau thì khác nhau, điều này có thể được giải thích là do những khác biệt về xác suất không trả được nợ, và các sự kiện của địa phương như thất bát mùa màng ở một vùng, xem ra có tác động đáng kể đối với sự sẵn sàng cung ứng tín dụng trên thị trường địa phương
- Có một số giới hạn những người cho vay thương mại trên thị trường phi tài chính, bất chấp lãi suất cao mà họ tính
- Các mối liên kết qua lại của khu vực phi tài chính giữa những giao dịch tín dụng và các giao dịch trên thị trường khác là rất phổ biến
- Người cho vay chính thức có xu hướng cho vay trong những vùng mà nhà nông có quyền sử dụng đất
Bên cạnh đó Ngô Thanh Tuyền (2015) đã có những lập luận về thị trường tín dụng nông thôn như sau:
Đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn là chi phí giao dịch cao: do khách hàng có địa bàn cư trú phân tán, cộng đồng nông dân đa dạng, giá trị vay nợ thấp, chi phí giao dịch cao (thời gian di chuyển, phương tiện và điều kiện đi lại khó khăn, chi phí khác cần có khi cho vay và thu hồi nợ,…), chi phí thông tin và tiếp thị cao hơn khu vực khác do cơ sở hạ tầng thông tin còn yếu k m
Bên cạnh đó có nhiều rủi ro tiềm ẩn khi phát sinh giao dịch tín dụng ở địa bàn nông thôn và trong lĩnh vực nông nghiệp, đó là khí hậu thời tiết dễ biến đổi, gây thiên tai, mất mùa, lợi nhuận từ nông nghiệp thấp, nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình nông thôn đa dạng, có sự tương đồng về điều kiện tự nhiên nên khó cạnh tranh về sản xuất hàng hóa nông sản, không tạo ra giá trị gia tăng cách biệt, giá hàng hóa nông sản biến động thất thường, người vay có nhiều khả năng không thể trả được nợ
Một bộ phận lớn cư dân ở nông thôn không có tài sản thế chấp hoặc giá trị tài sản không đáng kể, chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp có giá trị thấp, khó thanh khoản, quyền sử dụng đất chưa toàn v n, khả năng thu hồi nợ k m
do hệ thống pháp lý còn nhiều yếu k m
Hệ quả là các ngân hàng thương mại không muốn cho vay khu vực nông nghiệp, nông thôn, hoặc cho vay tập trung đối với các nông trại có quy mô lớn, bỏ qua nông trại nhỏ và gia trại, hộ cá thể nhỏ l do nguy cơ phát sinh chi phí giao dịch cao và không đảm bảo khả năng chi trả hoặc phát sinh nợ khó đòi
Từ đó việc hình thành một hệ thống thị trường không chính thức bắt đầu phát triển để đáp ứng nhu cầu của cư dân nông thôn, vẫn bảo đảm được khả năng thu hồi nợ và hiệu quả hoạt động tín dụng do chi phí giao dịch thấp (trên
cơ sở niềm tin, ít thủ tục hành chính, giấy tờ, nên giảm chi phí), quay vòng
Trang 187
vốn nhanh (thời gian vay nợ linh hoạt) nhưng với lãi suất cao hơn so với lãi suất của ngân hàng thương mại
2.1.4 Khái niệm tín dụng thương mại
“Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa bên mua và bên bán dưới hình thức mua bán chịu (trả chậm) hàng hóa Thông qua hoạt động này, người bán chuyển giao cho người mua một lượng hàng hóa (thương mại) cùng với quyền
sử dụng tạm thời một lượng vốn (tín dụng) bằng với giá trị hàng hóa được mua bán Đến thời hạn thỏa thuận, người mua phải trả cho người bán số tiền
mà hai bên đã đồng ý trước đó” (Lê Khương Ninh và Cao Văn Hơn, 2013)
2.1.5 Mua chịu vật tư nông nghiệp
Mua chịu vật tư nông nghiệp là một hình thức phổ biến ở nông thôn Việt Nam Đa số nông dân đều mua thiếu vật tư nông nghiệp đến khi thu hoạch bán lúa trả tiền Do canh tác trong lĩnh vực nông nghiệp, ngồn thu nhập từ các vụ mùa không nhiều, khi bán nông sản có tiền, nông dân trả nợ cũ và phải để lại trang trải chi phí sinh hoạt trong gia đình, nên phải nhờ vào các cửa hàng bán vật tư nông nghiệp ở địa phương đầu tư cho nông dân vào sản xuất vụ kế tiếp Hơn nữa do đặc điểm người dân nông thôn sống chan hòa cùng mọi người nên quen biết nhiều người cùng địa phương, biết rỏ đặc điểm khách hàng nên các chủ của hàng vật tư nông nghiệp sẳn sàng cho thiếu đến mùa thu hoạch thì trả tiền Giá bán theo phương thức này được các chủ cửa hàng tính thêm từ 1% đến 5% /tháng trên giá bán (giá bán thiếu = Giá bán thông thường + (1% đến 5%/tháng * giá bán thông thường * số tháng thiếu)), 1% đến 5% được xem như là lãi suất tính trên số tiền thiếu Hình thức này thuận tiện đối với người dân, không cần thế chấp dựa trên quen biết, khi nông dân cần sử dụng vật tư thì đến mua và ghi nợ, đến mùa thu hoạch trả, số tiền được kê lên do mua thiếu cũng tương đương với lãi suất Ngân hàng, điều quan trọng là đã đáp ứng được nhu cầu vốn sản xuất nông nghiệp của những nông dân thiếu vốn nên được đa số nông dân lựa chọn Để giữ uy tín trong các giao dịch tiếp theo ở địa phương và bản chất thật thà của nông dân nên người dân trả nợ rất tốt (Ngô Thị Mỹ Linh, 2010)
2.1.6 Khái niệm về rủi ro
Nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về rủi ro nói chung và rủi
ro trong tín dụng nông nghiệp nói riêng Theo đó, định nghĩa về “rủi ro” được đưa ra dưới nhiều góc nhìn khác nhau Theo Frank Knight (1964), rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được hay theo Irving Preffer (1956) cho rằng, rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất Trong lĩnh vực tài chính, rủi ro được định nghĩa là khoảng chênh lệch giữa giá trị thực tế
và giá trị kỳ vọng (Markowitz, 1952) và được đo lường bằng phương sai
Trang 19Khái niệm cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp được quy định tại khoản
3 Điều 3 Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT quy định việc kiểm tra cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và kiểm tra, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm Theo đó cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp: là nơi thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán vật
tư nông nghiệp
2.2.2 Các thành phần của vật tư nông nghiệp
Các thành phần thuộc vật tư nông nghiệp được quy định tại Khoản 7 Điều 3 Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT quy định việc kiểm tra cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và kiểm tra, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản đủ điều kiện an toàn thực phẩm Theo đó:
Vật tư nông nghiệp: bao gồm giống cây trồng, giống vật nuôi, phân bón hữu
cơ và phân bón khác, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa chất, chế phẩm sinh học, chất xử lý, cải tạo môi trường trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản
2.2.3 Vai trò của vật tư nông nghiệp đối với sản xuất nông nghiệp
Vũ Đình Thắng và Hoàng Văn Định (2002) đã nêu một số vai trò của vật tư nông nghiệp đối với sản xuất nông nghiệp như sau:
Trong sản xuất nông nghiệp vật tư nông nghiệp đóng một vai trò vô cùng quan trọng Bởi đối tượng trong sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi chúng đều là những cơ thể sống, có sự sinh trưởng phát triển theo những quy luật sinh học nghiêm ngặt về các điều kiện như: ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm đất,
độ ẩm không khí… để có thể phát triển sinh trưởng một cách tốt nhất
Đặc biệt, với cây trồng muốn phát triển tốt thì đất đai cần có độ phì thích hợp về các khoáng chất trong đất Do đó, vật tư nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất cây trồng Vì các loại phân bón sẽ giúp đất đai tăng được độ phì cung cấp cho cây trồng các khoáng chất cần thiết, đồng thời các loại thuốc bảo vệ thực vật cũng sẽ có tác dụng ngăn ngừa các loại sâu bệnh hại cây trồng và tiêu diệt cỏ dại đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho cây Từ đó làm cho năng suất và chất lượng của các loại cây trồng tăng lên
Trang 209
Với trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, việc áp dụng kịp thời các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Bắt đầu bằng việc sử dụng hợp lý và khoa học các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật vào sản xuất sẽ giúp làm tăng tối đa khả năng sinh trưởng phát triển và kháng bệnh của cây trồng, tạo điều kiện nâng cao năng suất Từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
2.3 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN KINH DOANH VTNN
Phát triển nông nghiệp vẫn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và nhà nước ta hiện nay Qua nhiều năm đã có rất nhiều chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành nông nghiệp như: Chính sách thuế, chính sách tín dụng…
- Về chính sách thuế:
Từ ngày 1/1/2015, theo Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số Điều tại các Luật về thuế, phân bón thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT Theo đó, giá bán phân bón là giá không có thuế GTGT; doanh nghiệp sản xuất phân bón không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào (kể cả thuế GTGT của hàng hóa mua vào hoặc nhập khẩu để tạo tài sản cố định) dùng cho sản xuất phân bón
- Về chính sách tín dụng
Nghị định số 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về một số chính sách ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn Trong đó, tối đa 50 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú ngoài khu vực nông thôn có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và tối đa 100 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn; cá nhân và hộ gia đình cư trú ngoài khu vực nông thôn có tham gia liên kết trong sản xuất nông nghiệp với hợp tác xã hoặc doanh nghiệp thì không cần phải thế chấp tài sản
- Về môi trường kinh doanh
Thông tư số38/2013/TT-BNNPTNT ngày 09/8/2013 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn ban hành Thông tư Danh mục bổ sung phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam. Đồng thời Thông
tư 38/2013/TT-BNNPTNT cũng bị sửa đổi bởi Thông tư BNNPTNT Theo đó, loại bỏ 107 loại phân bón; dạng lỏng của 02 loại phân bón lá, dạng bột của 03 loại phân bón lá ra khỏi danh mục phân bón phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng
Trang 2119/2014/TT-10
2.4 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN, 2009) khái quát về tình hình tín dụng nông thôn của nước ta sau khi gia nhập WTO như sau:
Hoạt động tín dụng nông nghiệp, nông thôn tuy đạt được những kết quả nhất định, song so với mức tăng tín dụng chung của toàn bộ nền kinh tế còn thấp Điều đó cho thấy tín dụng nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu và mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn, hiệu quả của tín dụng ngân hàng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chưa cao, chưa gắn kết được giữa nông nghiệp với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ, tiềm năng kinh tế đồi rừng và miền ven biển ở nhiều vùng chưa được khai thác tốt Sở dĩ như vậy là do:
- Trong hoạt động sản suất nông nghiệp còn chứa đựng nhiều rủi ro, do diễn biến thời tiết phức tạp, khó lường, dịch bệnh, sâu bệnh luôn rình rập, thị thường tiêu thụ sản phẩm nông sản, thực phẩm chưa ổn định, một số mặt hàng xuất khẩu thì phụ thuộc quá nhiều vào giá cả thế giới , thêm vào đó, công tác nghiên cứu, dự báo kinh tế liên quan đến lĩnh vực này còn yếu nên đã gây ra hậu quả nghiêm trọng cho sản xuất Tất cả những điều đó đã gây những khó khăn nhất định cho việc mở rộng đầu tư tín dụng của các định chế tài chính
- Thu nhập của các hộ nông dân còn thấp, cùng với việc xử lý quyền sử dụng đất của người nông dân còn có những bất cập, nên việc cho vay các khoản vốn lớn để mở rộng sản xuất của hộ gia đình nông thôn là rất hạn chế Với chính sách cho vay không có đảm bảo đến 100 triệu không đủ để thúc đẩy việc mở rộng sản xuất của các hộ gia đình, để chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nông nghiệp, nông thôn
- Chính sách đất đai hiện nay cũng khó để tăng cường khả năng tích tụ ruộng đất để mở rộng qui mô chuyên canh vật nuôi cây trồng theo mô hình các trang trại, gia trại lớn như các nước phát triển khác Điều này cũng hạn chế nhất định nhu cầu vay vốn lớn để phát triển, tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH-HĐH
- Công nghệ ngân hàng cũng như màng lưới viễn thông mới chỉ phát triển ở các vùng đô thị, đông dân, còn tại vùng sâu, vùng xa vẫn chưa phát triển, hạn chế cho việc tiếp cận tín dụng của người dân, cũng như các định chế tài chính khó có thể mở rộng màng lưới của mình Và điều đó cũng giải thích tại sao các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn còn nghèo nàn, chủ yếu là tín dụng truyền thống, các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng nông nghiệp còn rất hạn chế, gần như mới phát triển ở mức thử
Trang 22- Quy trình cung cấp tín dụng còn phức tạp, chưa phù hợp với trình độ của người dân đặc biệt là các thủ tục liên quan đến tài sản thế chấp là đất đai Các
tổ chức tín dụng chính thức thường yêu cầu người đi vay phải thế chấp tài sản, phổ biến nhất là đất hay nhà có kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc ít nhất phải có giấy chứng nhận tạm thời quyền sử dụng đất do huyện cấp, và đôi khi yêu cầu cả bảo lãnh của chính quyền địa phương Tuy hầu hết các nông hộ đều có đất, nhiều hộ không thể đem đất thế chấp cho ngân hàng
để vay tiền vì chưa có “sổ đỏ” hoặc để xin được một giấy chứng nhận thì mất rất nhiều thời gian Thủ tục phiền hà và quy định rắc rối là một cản trở lớn đối với người dân có trình độ văn hóa thấp, và làm nảy sinh những tệ nạn như cò vay vốn, phát triển hình thức tín dụng nặng lãi, và không đáp ứng kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Tư duy bao cấp trong hoạt động tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn còn tồn tại làm tăng chi phí hoạt động của các định chế tài chính, đồng thời tăng tính ỷ lại và bóp méo thị trường tài chính nông thôn
- Chưa có chiến lược phát triển nông thôn phù hợp, quy hoạch vùng sản phẩm nông nghiệp chưa rõ ràng, thị trường tiêu thụ chưa mở rộng và ổn định, nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp kịp thời Việc hỗ trợ kỹ thuật cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi chưa đồng bộ, việc bao tiêu sản phẩm chưa
có kế hoạch, quy hoạch cụ thể, chắc chắn làm hạn chế mở rộng phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dẫn đến hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn
2.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ được công bố Do không thể liệt kê hết tất
cả các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề này, tác giả chỉ liệt kê một số nghiên cứu tiêu biểu làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài
Trang 2312
Lê Khương Ninh và Phạm Văn Dương (2011) nghiên cứu về các yếu tố quyết định lượng vốn vay tín dụng chính thức của nông hộ bằng cách sử dụng
số liệu sơ cấp thu thập từ 480 nông hộ ở An Giang Kết quả cho thấy các yếu
tố như giới tính chủ hộ, trình độ học vấn, địa vị xã hội của chủ hộ hay thành viên trong hộ, thu nhập, giá trị tài sản thế chấp, mục đích sử dụng vốn và số lần vay có ý nghĩa quyết định đối với lượng vốn vay tín dụng chính thức của nông hộ
Nghiên cứu của Ngô Thị Mỹ Linh (2010) về ảnh hưởng của tín dụng phi chính thức đến đời sống nông hộ ở An Giang cũng như tìm hiểu các nhân tố nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng phi chính thức, lượng vốn vay
và hiệu quả sử dụng vốn vay phi chính thức Bằng việc phỏng vấn trực tiếp
307 nông hộ ở tỉnh An Giang để tìm hiểu về tín dụng phi chính thức của nông
hộ, mục đích và hiệu quả sử dụng vốn vay Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có đến 76,22% nông hộ trong mẫu khảo sát tham gia tín dụng phi chính thức nhưng chỉ có 39,41% nông hộ vay vốn chính thức Đề tài đã xác định được nhiều yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận với tín dụng phi chính thức như: thu nhập, khoảng cách, giới tính, dân tộc, giá trị tài sản, chi tiêu
Phạm Văn Dương (2010) nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng và lượng vốn vay của nông hộ ở An Giang Dựa trên số liệu khảo sát 480 nông hộ kết hợp mô hình hồi quy Tobit và Probit Kết quả cho thấy lượng vốn vay được của nông hộ từ nguồn chính thức được quyết định bởi giới tính và trình độ học vấn của chủ hộ, vị trí xã hội của nông hộ, diện tích đất, mục đích xin vay, tổng số lần vay vốn Cùng với các yếu tố này, thời gian định cư của nông hộ, số thành viên trong hộ, khoảng cách từ nơi định
cư đến trung tâm huyện và số lượng ngân hàng tại địa phương là các yếu tố quyết định đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ Tuy nhiên khả năng tiếp cận tín dụng phi chính thức của nông hộ được xác định bởi rất ít các yếu tố - đó là mục đích đi xin vay và liệu rằng hộ đã có vay từ tín dụng chính thức hay không
Nghiên cứu của Trương Đông Lộc và Trần Bá Duy (2010) nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Tác giả thu thập số liệu thông qua cuộc điều tra bằng bảng câu hỏi với 152 nông hộ Áp dụng mô hình Probit, kết quả phân tích cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ bao gồm: tuổi của chủ hộ, số thành viên trong gia đình, trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất của hộ, khả năng đi vay từ các nguồn không chính thức, thu nhập của hộ và tổng tài sản của hộ
Trang 2413
Nguyễn Quốc Nghi (2011) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tín dụng chính thức của nông hộ ở làng hoa Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp Thông qua số liệu điều tra trực tiếp từ 104 nông hộ sản xuất hoa kiểng và ứng dụng phương pháp hồi quy logistic, kết quả cho thấy các nhân tố như số lao động tham gia sản xuất, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất, tham gia hội đoàn thể, diện tích đất sản xuất và vay vốn phi chính thức có tác động đến cầu tín dụng chính thức của nông hộ
Nhận xét: Có rất nhiều nghiên cứu về thị trường tín dụng nông thôn,
những nghiên cứu về các quyết định của nông hộ về tiếp cận thị trường tín dụng Trong đó có những nghiên cứu về thị trường chính thức và thị trường không chính thức với những quan điểm khác nhau Các nghiên cứu thường sử dụng biến nhị phân để phân tích khả năng tiếp cận tín dụng và mô hình phân tích Probit thường được thực hiện để ước lượng Về lượng vốn vay thường sử dụng mô hình Tobit để kiểm tra Những nhân tố mà các nghiên cứu trước đây
sử dụng để phân tích tính tiếp cận vốn của nông hộ thường là: diện tích đất sản xuất, thu nhập bình quân đầu người, tổng tài sản của hộ, quen biết, kinh nghiệm sản xuất, trình độ học vấn của chủ hộ, khoảng cách và thời gian sống ở địa phương, tuổi chủ hộ, địa vị xã hội của hộ, giá trị tài sản, chi tiêu,…
2.6 LÝ THUYẾT VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH HỒI QUY
2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sử dụng trong bài là số liệu thứ cấp được thu thập thông qua sổ sách ghi chép của các đại lý vật tư nông nghiệp Sau đó phỏng vấn trực tiếp các chủ đại lý vật tư nông nghiệp ở Long Xuyên được chọn bằng phương pháp thuận tiện để có được thông tin về các nông hộ mua chịu Thông qua sự giới thiệu của các đại lý quen biết, tác giả chọn ở mỗi phường một đại lý để tiến hành phỏng vấn Do điều kiện thời gian và tài chính có hạn, tác giả dự kiến thu nhập 4 đại lý, mỗi đại lý là 25 khách hàng mua chịu Tuy nhiên, thực tế chỉ thu thập được chỉ 95 khách hàng
2.6.2 Phương Pháp phân tích số liệu
Trên cơ sở số liệu thu thập, tác giả sử dụng phương pháp thống kê miêu
tả để mô tả đặc điểm của các nông hộ trong mẫu khảo sát cũng như thực trạng bán chịu vật tư nông nghiệp của các đại lý Sau đó, tiến hành ước lượng mô hình (1) để chỉ ra ảnh hưởng của các yếu tố đến rủi ro của đại lý vật tư nông nghiệp bằng cách sử dụng mô hình Probit
Mô hình Probit có dạng sau:
Trang 25+ Có rủi ro nên nhận giá trị là 1
+ Không rủi ro nên nhận giá trị là 0
Mô hình Probit được ứng dụng trong trường hợp biến phụ thuộc là biến giả, dùng để ước lượng xác suất xảy ra của biến phụ thuộc như là hàm số của biến độc lập (chẳng hạn như các yếu tố kinh tế - xã hội)
Trong bài nghiên cứu này, Mô hình Probit sẽ được sử dụng để xác định
có rủi ro hay không khi bán chịu vật tư nông nghiệp của đại lý
2.6.3 Giải thích các biến được sử dụng trong mô hình
Rủi ro hay không rủi ro và rủi ro đối với hoạt động bán chịu vật tư nông nghiệp của đại lý có thể bị ảnh hưởng một số biến giải thích như: Giới tính của chủ hộ, tuổi của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, khoảng cách từ nơi ở của
hộ đến đại lý, số tiền mua hàng, thời gian quen biết của đại lý với chủ hộ,…
- Số tiền mua chịu: Ưu thế của người bán chịu bắt nguồn từ sự khác biệt về
bản chất giữa tiền mặt và hàng hóa (đó là vật tư nông nghiệp trong trường hợp mua chịu của nông hộ) Tiền mặt có thể được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau trong khi vật tư nông nghiệp chỉ có thể được sử dụng vào mục tiêu sản xuất như đã dự định, khó bán lấy tiền để chi xài cho việc khác hay chỉ có thể bán với giá r nên người mua sẽ ưu tiên sử dụng nó vào sản xuất để sinh lợi nhiều hơn Do đó, sẽ ít xảy ra hiện tượng sử dụng vật tư sai mục đích và rủi ro người bán không thu hồi được nợ sẽ được giảm thiểu (Fabbri and Menichini, 2010) Hơn nữa, ngay khi người mua có dấu hiệu lệch lạc hay không thể trả nợ, người bán có thể lập tức thu hồi số vật tư đã bán để bán lại cho người khác Ngược lại, các tổ chức tín dụng khó làm được điều đó bởi không có chức năng cũng như kỹ năng kinh doanh hàng hóa (vật
Trang 26- Giới tính: là giới tính của chủ hộ Nó là biến được mã hóa là 1 nếu chủ hộ là
nam, là 0 nếu chủ hộ là nữ Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu về mặt
xã hội do đặc điểm ở Châu Á và các nước đang phát triển do nhiều yếu tố khách quan hay chủ quan, vấn đề giới tính vẫn còn cách biệt Xã hội vẫn còn mang tính chất truyền thống về vấn đề “trọng nam” do đó vị thế của người phụ
nữ trong gia đình không được coi trọng Chính vì vậy, nam giới sẽ có thể được đại lý tin tưởng bán chịu vật tư nông nghiệp cao hơn phụ nữ
- Tuổi của chủ hộ: Người lớn tuổi thường có nhiều tài sản, nhiều kinh
nghiệm, quan hệ xã hội rộng, được kính trọng (đặc biệt ở những nơi còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa truyền thống) và nhất là ít có xu hướng thay đổi nơi sinh sống nên được xem là ít rủi ro
- Thời gian quen biết: Uy tín của người mua sẽ được thẩm định thông qua độ
dài thời gian quen biết giữa người mua và người bán Nếu thời gian quen biết càng dài thì hai bên càng tường tận về nhau, vì vậy hiện tượng thông tin bất đối xứng được giảm thiểu và người mua sẽ dễ được chấp nhận cho mua chịu hơn Nói cách khác, thời gian quen biết sẽ giúp người bán có thêm thông tin
để đánh giá và chọn lọc đúng người mua, qua đó giảm thiểu rủi ro cho chính mình (Pike et al., 2005)
- Khoảng cách: ý định trả nợ còn phụ thuộc vào khoảng cách địa lý giữa
người bán và người mua Thông thường, nếu sống càng gần người bán thì người mua sẽ ít có động cơ “giựt” nợ bởi người Việt Nam luôn sống với nhau bằng tình nghĩa xóm làng, bè bạn Nếu sống gần người mua thì người bán cũng sẽ dễ dàng và ít tốn kém trong việc kiểm soát và cưỡng chế người mua trả nợ, do đó sẽ giảm thiểu rủi ro người mua không trả nợ (Rohner, 2011)
- Giá trị đất: Để đánh giá rủi ro (năng lực) trả nợ của người mua, người bán
sẽ căn cứ vào giá trị đất sản xuất nông nghiệp của nông hộ (Burkart and Ellingsen, 2004) để xem x t coi đây là cơ sở để đảm bảo cho số tiền bán chịu của mình Trong quan hệ mua bán chịu vật tư nông nghiệp ở nông thôn, đất sản xuất đóng hai vai trò mấu chốt trong việc giảm thiểu rủi ro cho người bán,
đó là (i) Đất là yếu tố tiên quyết để người mua sử dụng số vật tư nông nghiệp mua được đúng mục đích, qua đó giúp làm tăng khả năng trả nợ; (ii) Đất có thể được coi là tài sản đảm bảo giúp người bán bù đắp mất mát bằng cách
Trang 2716
cưỡng đoạt trong trường hợp người mua không trả nợ Do đó, yếu tố đầu tiên
để các đại lý vật tư nông nghiệp bán chịu cho nông hộ là hộ đó phải có đất sản xuất (sở hữu hoặc thuê) với một giá trị nhất định nào đó
- Thời gian sống ở địa phương: những người có thời gian sống lâu năm ở địa
phương cũng được đánh giá cao vì người bán có nhiều thông tin cho quá trình thẩm định năng lực và ý định trả nợ cũng như có nhiều thời gian hơn để xây dựng mối quan hệ thân tình mang tính chất ràng buộc (mặc dù không chính thức)
- Địa vị xã hội: Khi có thành viên trong gia đình hay bạn bè làm việc ở cơ
quan quản lý nhà nước, đoàn thể hay các tổ chức chính thức thì nông hộ sẽ được xem là có uy tín trong trả nợ
Các yếu tố vừa trình bày cho phép xây dựng mô hình nghiên cứu để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thương mại trong mô hình Probit đối với việc bán chịu VTNN cho nông hộ như sau:
)1(6
5 4
3 2
1 0
DIAVIXH TGSONGDP
KHOANGCACH
TGQUENBIET N
GIATRIDATN SOTIENMUA
của các i
SOTIENMUA Số tiền mua chịu vật tư nông nghiệp +
GIATRIDATNN Giá trị đất nông nghiệp của nông hộ (triệu
TGQUENBIET Độ dài thời gian quen biết giữa nông hộ và
đại lý vật tư nông nghiệp (tháng) -
KHOANGCACH Khoảng cách từ nơi ở của nông hộ đến địa
điểm kinh doanh của đại lý vật tư (km) +
TGSONGDP Số năm sinh sống tại địa phương của nông
DIAVIXH
Có giá trị là 1 nếu nông hộ có thành viên hay bạn bè làm việc ở cơ quan nhà nước, đoàn thể hay các tổ chức chính thức và là 0
nếu ngược lại
-
(Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu có liên quan)
Trang 28kỳ hạn (10 ngày) đƣợc coi là rủi ro và nhận giá trị 1 Ý nghĩa của các biến độc lập và kỳ vọng về dấu của các hệ số i (i1,8) trong mô hình (1) đƣợc trình
bày trong bảng 1
Trang 2918
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH AN GIANG
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý của tỉnh An Giang
An Giang là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long có diện tích
tự nhiên là 3.536,8km2, một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên Tỉnh có phía tây bắc giáp với Campuchia (104km), Phía tây nam giáp tỉnh Kiên Giang (69,789 km), phía nam giáp thành phố Cần Thơ (44,734 km), phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107,628 km) An Giang nằm trong vĩ độ địa lý của khoảng
10 – 110 vĩ bắc, tức là nằm gần xích đạo, nên các quá trình diễn biến của nhiệt
độ cũng như lượng mưa đều giống với khí hậu xích đạo (Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, 2017)
Địa hình và khí hậu
An Giang là một trong hai tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có đồi núi, hầu hết đều tập trung ở phía Tây Bắc của tỉnh, thuộc 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn Đây là cụm núi cuối cùng của dãy trường Sơn, nên đặc điểm địa chất có những n t tương đồng với vùng Nam Trường Sơn, bao gồm các thành tạp trầm tích và magan (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2017)
An Giang chịu ảnh hưởng của hai mùa gió: gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc Gió Tây Nam mát và ẩm nên gây ra mùa mưa Gió mùa Đông Bắc thổi và An Giang xuất phát từ biển nhiệt đới phía Trung Quốc, nên có nhiệt độ cao hơn vùng băng tuyết Si – bê – ri và có độ ẩm lớn hơn, không tạo
ra rét, mà chỉ hanh khô, có phần nắng nóng (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2017)
Đơn vị hành chính của tỉnh An Giang
Theo Bách khoa toàn thư mở thống kê: Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: 2 thành phố (Long Xuyên và Châu Đốc), 1 thị xã, 8 huyện, trong đó bao gồm 156 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 16 thị trấn, 21 phường và 119 xã
- Thành phố:
+ Long Xuyên thì có 8 phường, 2 xã
+ Châu Đốc có 5 phường, 2 xã
- Thị xã Tân Châu: 5 phường, 9 xã
Trang 30Theo bách khoa toàn thư mở (2018) thống kê tình hình dân số tỉnh An Giang như sau:
Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh là 2.159.900 người, mật độ dân số
611 người/km² Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long 30.7% dân số sống ở đô thị và 69.3% dân số sống ở nông thôn