1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên khoa kinh tế quản trị kinh doanh trường đại học an giang đối với hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ

50 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên vì đây là năm học đầu tiên trường DHAG chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho nên nhà trường và sinh viên đã gặp không it khó khăn:  Khó khăn từ phía nhà trường như :

Trang 1

KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

GVHD: PGS.TS Nguyễn Tri Khiêm

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Trí

Lớp: DH8NH

Mssv: DNH073340

Tháng 5- 2010

Trang 4

Chương 1: GIỚI THIỆU Trang

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

1.5 ý nghĩa của đề tài 3

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Giới thiệu về hệ thống đào tão tín chỉ 4

2.1.1 Sự ra đời và lan tỏa của tín chỉ 4

2.1.2 Giai đoạn thực thi chiến lược 4

2.1.3 Đặc điểm của học chế học phần 5

2.1.4 So sánh giữa học chế học phần (Việt Nam) và tín chỉ (Hoa kỳ) 5

2.1.5 Các ưu điểm của học chế tín chỉ 6

2.2 Khái niệm về sự thích ứng 7

2.3 Mô hình nghiên cứu 8

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu 9

3.2 Các bước nghiên cứu 9

3.3 Qui trình nghiên cứu 10

3.4 Phương pháp chọn mẫu 11

3.5 Thang đo 11

Trang 5

4.1 Giới thiệu 12

4.2 Kết quả phân tích 12

4.2.1 Thống kê thông tin về mẫu 12

4.2.2 Nhận thức của sinh viên khóa 8 khoa KT-QTKD đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ 13

4.2.3 Thái độ của sinh viên khóa 8 khoa KT-QTKD đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ 14

4.2.4 Thay đổi về hành vi học tập của sinh viên khi chuyển sang chương trình đào tạo theo tín chỉ 15

4.2.5 Kiểm định sự khác biệt giữa nặng lực học tập của sinh viên và sự thích ứng với đào tạo tín chỉ 16

4.2.5.1 Sự khác biệt giữa năng lực học tập và nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của đào tạo chỉ 16

4.2.5.2 Sự khác biệt giữa năng lực học tập và thái độ của sinh viên đối với đào tạo tín chỉ ở ĐHAG 17

4.2.5.3 Sự khác biệt giữa năng lực học tập và những thay đổi về hành vi học tập của sinh viên khi chuyển sang đào tạo tín chỉ 18

4.2.6 Những khó khăn mà sinh viên Trường Đại Học An Giang gặp phải khi chuyển sang đào tạo theo tín chỉ 19

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết quả và đóng góp 23

5.1.1 Kết quả 23

5.1.2 Đóng góp 24

5.2 Kiến nghị 25

5.3 Hạn chế 26

Tài liệu tham khảo 27

Phụ lục 1 28

Phụ lục 2 29

Phụ lục 3 32

Kết thúc 43

Trang 6



Trang

 Biểu đồ

Biểu đồ 4.1: năng lực học tập của sinh viên 12

Biểu đồ 4.2: Biểu đồ mô tả nhận thức của sinh viên khóa 8 khoa KT-QTKD đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ 13

Biểu đồ 4.3: Biểu đồ mô tả thái độ của sinh viên khóa 8 khoa KT-QTKD đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ ở ĐHAG 14

Biểu đồ 4.4: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi về hành vi học tập của sinh viên 15

Biểu đồ 4.5: những khó khăn của sinh viên trong việc đăng kí học phần 19

Biểu đồ 4.6: những khó khăn của sinh viên về thời khóa biểu học tập 20

Biểu đồ 4.7: những khó khăn của sinh viên về học thỉnh giảng 20

Biểu đồ 4.8: những khó khăn của sinh viên gặp phải về điều kiện học tập 21

Biểu đồ 4.9: những khó khăn của sinh viên về tài liệu học tập 22

 Biểu bảng Bảng 3.1 tiến độ thực hiện nghiên cứu 9

Bảng 4.1: kết quả kiểm định chi-square về Sự khác biệt giữa năng lực học tập và nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của đào tạo chỉ 16

Bảng 4.2: kết quả kiểm định chi-square cho Sự khác biệt giữa năng lực học tập và thái độ của sinh viên đối với đào tạo tín chỉ ở ĐHAG 17

Bảng 4.1: kết quả kiểm định chi-square Sự khác biệt giữa năng lực học tập và những thay đổi về hành vi của sinh viên khi chuyển sang đào tạo tín chỉ 18

Trang 7

Bộ GD&ĐT : Bộ Giáo Dục & Đào Tạo

KT-QTKD : Kinh Tế-Quản Trị Kinh Doanh

ĐVHT : Đơn vị học trình

Trang 8

Chương 1: GIỚI THIỆU

1.1 lý do chọn đề tài:

“Để thực hiện đổi mới giáo dục đại học, chính phủ đã có NQ14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐHVN giai đoạn 2006 – 2010 và đang xây dựng chiến lựơc PTGD đến 2020, trong đó có GDĐH Chiến lực PTGDVN

2008 - 2020 dựa trên định hướng: đại chúng hóa, thị trường hóa, quốc tế hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta tiến kịp các nước trong khu vực, nâng cao dân trí, đáo tạo nhân lực và đào tạo nhân tài: nhằm thực hiện thành công các mục tiêu của phát triển KTXH

Trong số nhiều giải pháp để đổi mới GDĐH thích nghi với thời kì hội nhập là chuyển sang đào tạo theo hể thống tín chỉ thay thế cho cách đào tạo theo niên chế hiện nay NQ14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐHVN giai đoạn 2006 – 2010 đã xác định : xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi đề người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi nghành nghề, liên thông chuyển tiếp tới cấp học tiếp theo ở trong và ngoài nước đào tạo theo hệ thống tín chỉ còn có nghĩa là đổi mới nội dung, phương pháp và qui trình đào tạo theo hướng lấy người học làm trung tâm, phương pháp đào tạo theo tiêu chí 3C: trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học, sử dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học”

Tại hội nghị tổng kết năm học 2007- 2008 tại Hà Nội ngày 27/08/2008, trong phần phương hướng và nhiệm vụ năm học 2008–2009, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo: “ các trường cần chuẩn bị điều kiện cần thiết, thiết kế chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, giảng đường, phòng thí nghiệm, giáo trình, tài liệu, phần mềm, xây dựng qui chế đào tạo… để chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ vào năm học 2009-2010 hoặc muộn nhất là năm học 2010-2011

Trên tinh thần chỉ đạo đó năm học 2009-2010 trường ĐHAG chính thức chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ Đây được xem là bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới chất lượng giáo dục đại học, phù hợp với xu hướng giáo dục đại học tiên tiến, hiện đại trên thế giới hiện nay Đây là hệ thống quản lí đào tạo khao học, chặt chẽ nhưng rất mềm dẻo, nhằm phát huy cao nhất tiềm năng của con người trong dạy và học Tuy nhiên vì đây là năm học đầu tiên trường DHAG chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho nên nhà trường và sinh viên đã gặp không it khó khăn:

 Khó khăn từ phía nhà trường như :

- Thiết kế chương trình đào tạo, quản lí giờ dạy,đăng kí học phần cho sinh viên, sắp xếp thời khóa biểu cho sinh viên, thiếu giáo viên giảng dạy, công cụ hổ trợ học tập còn thiếu…

- Thay đổi nhận thức của sinh viên, thay đổi phương pháp học học tập, vì bản chất của học chế tín chỉ là cá nhân hoá việc học tập, số giờ lên lớp lý thuyết sẽ giảm đi so với đào tạo theo niên chế (khoảng 1/3), số giờ tự học, chuẩn bị bài ở nhà của sinh viên sẽ tăng lên

- Khó xếp lịch thi để sinh viên không bị trùng ca thi do tập hợp các môn học trong một học kỳ của từng sinh viên rất khác nhau

Trang 9

- Khó bố trí dạy bù, học bù do thời khoá biểu của sinh viên trong một lớp học phần rất khác nhau

- Khó tổ chức sinh hoạt đoàn thể vì sinh viên phân tán theo các lớp học phần

- Khó quản lý sinh viên theo lớp

 Khó khăn từ phía sinh viên là:

Do đã quen với phương pháp đào tạo theo niên chế nên khi chuyển sang hình thức mới thì không ít sinh viên đã gặp khó khăn cụ thể là sinh viên không theo kịp trương trình, chưa chủ động trong học tập, thời gian tự học của sinh viên còn ít, sinh viên chưa hình thành thói quen tự học, chưa lập được kế hoạch học tập cho bản thân…

Mặc dù gặp không it khó khăn nhưng với nhận thức đúng đắn, thái độ khá tốt đối với đào tạo theo hệ thống tín chỉ nên tập thể giảng viên và sinh viên trường ĐHAG

đã cơ bản thực hiện thành công học kỳ 1 năm học 2009-2010, học kì đầu tiên chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ Qua một học kì học tập vất vả một số sinh viên cũng

đã tìm được cho mình một phương pháp học tập hiệu quả, hình thành thói quen tự học

để thích nghi với môi trường mới… bên cạnh đó vẫn còn không ít sinh viên vẫn chưa thể làm quen với phương pháp học mới này: thể hiện ở kết quả học tập vừa qua còn kém, sinh viên không săp xếp thời gian học cho khoa học, nhận thức còn kém, vẫn còn quen với cách học cũ…Đây là vấn đề mà nhà trường đang rất lo ngại và được nhiều sinh viên quan tâm Đề tài “ nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên khoa KT-QTKD trường ĐHAG đối với hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ”sẽ đánh giá lại mức độ thích ứng của sinh viên trường ĐHAG sau một học kì áp dụng hình thức đào tạo mới như thế nào

và xem sinh viên đã thích ứng tốt hay chưa tốt đối với hình thức mới này, từ đó đề ra những giải pháp giúp sinh viên nhanh chóng thích nghi hơn với điều kiện mới

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên khoa KT-QTKD trường ĐHAG đối với hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ trong năm học 2009-2010

1.3 Phạm vi nghiên cứu

 Đề tài tập trung nghiên cứu vào lý thuyết về tín chỉ, nhận thức, thái độ, hành

vi của sinh viên đối với tín chỉ

 Đối tượng nghiên cứu là sinh viên khóa 8 khoa KT-QTKD trường DHAG đã học xong học kì 1 năm học 2009-2010

1.4 Phương pháp nghiên cứu

 Thu thập số liệu trực tiếp từ sinh viên và gián tiếp qua internet, những tài liệu liên quan đến tín chỉ

 Phương pháp chọn mẫu: chọn ngẫu nhiên 100 sinh viên để phỏng vấn chính thức thông qua bảng câu hỏi, sau đó sử dụng phần mềm SPSS 15.0 để phân tích và xử lý dữ liệu thu thập được

Trang 10

1 5 Ý nghĩa của đề tài

Đem lại thông tin hữu ích giúp nhà trường nhận biết được mức độ thích ứng của

sinh viên như thế nào sau khi triển khai chương trình đào tạo mới

Tìm ra những khó khăn khiến sinh viên chưa thích ứng với tín chỉ

Đề ra những giải pháp giúp sinh viên nhanh chóng thích ứng với chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ

Trang 11

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Giới thiệu về hệ thống đào tạo tín chỉ

2.1.1 Sự ra đời và lan tỏa của tín chỉ

Hiện nay, tuy sinh sau đẻ muộn hơn so với các nước Tây Âu, nhưng hệ thống GDĐH Hoa Kỳ phát triển mạnh và có sức hấp dẫn bậc nhất, được hình thành trên những nét độc đáo của nề kinh tế - xã hội Ý tưởng về một nền GDĐH cho số đông người nảy sinh đầu tiên vào cuối thế kỷ XIX và trở thành hiện thực ở Hoa Kỳ vào giữa thế kỉ XX Trong một nền GDĐH cho số đông người như vậy phải đảm bảo cá nhân hóa được việc học tập của từng sinh viên Với mục tiêu đó, năm 11872, Charle Eliot, Viện Trưởng đại học Havard đã đề xuất một quy trình đào tạo mới gọi là giải pháp mô đum hóa các môn học (học chế tín chỉ), được cung cấp trong trường đại học để sinh viên có thể lựa chọn

tổ hợp môn học thích hợp nhằm cấu thành một chương trình đào tạo, để có thể nhận được văn bằng tốt nghiệp

Vào đầu thế kỉ XX, học chế tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường đại học ở Hoa Kỳ tiếp đó, nó được lan rộng ra nhiều nước như: Canada, Nhật Bản, Philippin, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia, Indonexia, Ấn Độ, Nigeria, uganda… tại Trung Quốc từ cuối thập niện 80 (thế kỉ XX) đến nay, hệ thống tín chỉ cũng được áp dụng lần lượt ở nhiều trường đại học

2.1.2 Những đặc điểm cơ bản của học chế tín chỉ

Đòi hỏi sinh viên phải tích luỹ kiến thức theo từng học phần (đơn vị: tín chỉ)

 Kiến thức cấu trúc thành các mô đun (học phần)

 Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ tích luỹ

 Chương trình đào tạo mềm dẻo: cùng với các học phần bắt buộc còn có các học phần tự chọn , do đó cho phép sinh viên dễ dàng điều chỉnh ngành nghề đào tạo

 Đánh giá thường xuyên, thang điểm chữ

 Dạy học lấy sinh viên làm trung tâm

 Đơn vị học vụ là học kỳ Mỗi năm có thể chia thành 2 học kỳ (15 tuần),

3 thọc kỳ (15 tuần) hoặc 4 học kỳ (10 tuần)

 Ghi danh học đầu mỗi học kỳ, lớp học tổ chức theo mỗi học phần

 Có hệ thống cố vấn học tập

 Có thể tuyển sinh theo học kỳ

 Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đối với các chương trình đại học và cao đẳng

 Chỉ có 1 văn bằng chính quy với 2 loại hình tập trung và không tập trung

Trang 12

2.1.3 Đặc điểm của học chế học phần

“Học chế học phần có các đặc điểm cơ bản là tích lũy dần kiến thức mô đun hóa kiến thức thành các học phần một cách trọn vẹn và không quá lớn để có thể lắp ghép lại với nhau, tạo nên một chương trình đào tạo dẫn đến một văn bằng mà người học có thể tích lũy dần trong quá trình học tập để đo lường kiến thức theo khối lượng lao động học tập của người học, khái niệm “đơn vị học trình” được đưa vào Nhằm làm cho các chương trình đào tạo mềm dẻo, có 3 loại học phần được quy định: học phần buộc phải học, học phần lựa chọn theo hướng dẫn của nhà trường và học phần tự chọn mỗi học phần được đánh giá bằng một con điểm (tổng hợp của các đánh giá bộ phận và một kỳ thi kết thúc) Kết quả học tập chung của học kỳ, năm học (hoặc khóa học) được đánh giá bằng điểm trung bình chung, đó là điểm trung bình của các học phần tích lũy tích lũy”

2.1.4 So sánh giũa học chế học phần (Việt Nam) và tín chỉ (Hoa Kỳ)

- Điểm tương đồng:

 Đều dựa vào sự tích lũy dần các mô đum kiến thức để đạt được văn bằng

 Sinh viên được chọn một số mô đum cho chương trình học của mình

 Việc đánh giá kết quả học tập được thực hiện nhờ điểm trung bình chung với trọng số là số lượng tín chỉ của các mô đum

- Khác nhau:

 Các mô đum trong tín chỉ được thiết kế theo trình độ năm học của sinh viên, tạo thuận lợi cho lựa chọn và lắp ghép Mỗi mô đum bao gồm 3 hoặc 4 tính chỉ trong khi các học phần đôi khi được thiết kế theo kiểu chia cắt cơ giới, có một số học phần quá dài (hơn 4 ĐVHT) hoặc quá ngắn (1 đến 2 ĐVHT)

 Chương trình đào tạo tín chỉ của Hoa Kỳ có nhiều mô đum khác nhau được đưa ra để sinh viên lựa chọn nên mức độ tự do lựa chọn cao Trong khi các chương trình đào tạo của các trường đại học nước ta thường có rất ít mô đum để lựa chọn

 Lớp học theo tín chỉ của hoa kỳ được sắp xếp theo môn học, còn lớp học trong học chế học phần ở Việt Nam vẫn sắp xếp theo khóa học

 Hoa Kỳ có một hệ thống cố vấn đầy đủ để tư vấn cho sinh viên lựa chọn mô đum và thiết kế quy trình học tập, mỗi sinh viên vào trường được gắn với một

cố vấn biên tập (nước ta chưa có)

 Tín chỉ ở Hoa Kỳ được qui định theo số giời học mỗi tuần, kéo dài trong một học kì, trong khi đơn vị học trình ở nước ta được qui định bằng tổng số 15 tiết học lý thuyết ở lớp mà không nói rõ số giời học trong tuần như vậy, trong học chế tín chỉ có qui định số giời học tối thiểu cần thiết của sinh viên cho một giời lên lớp ( thường

là 2/1) Ở Việt Nam, thực tế thời gian sinh viên chuẩn bị cho mỗi tiết học ở lớp thường không quá 1/1 như vậy, tính theo khối lượng lao động học tập của sinh viên, 1 tín chỉ của hoa kì bằng khoảng 1.5 ĐVHT ở Việt Nam

 Ở các trường đại học Hoa Kỳ, việc cung cấp thông tin về chương trình

và lịch trình giảng dạy, thi, kiểm tra cho sinh viên đầy đủ, đặc biệt thể hiện ở niên lịch

Trang 13

giảng dạy được công bố chính thức trước mỗi năm học Thời gian biểu và thi đã công

bố được thực hiện nghiêm chỉnh

 Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên đối với mỗi mô đum ở các trường đại học Hoa Kỳ được thực hiện liên tục trong cả quá trình giảng dạy mô đum đó

Do đó, thời gian dành để thi học kì cho các môn học thường chỉ có 1 tuần Còn ở các trường đại học nước ta, việc đánh giá từng phần môn học ít diễn ra thường xuyên trong quá trình giảng dạy mà chủ yếu được thực hiện vào cuối mỗi học kì, kéo dài trong khoảng 4 tuần

Qua so sánh trên có thể thấy, học chế học phần ở Việt Nam cũng có cùng bản chất như học chế tín chỉ của Mỹ, đó là tích lũy kiến thức được mô đum hóa Nói cách khác, học chế học phần ở nước ta đã chứa một số yếu tố của học chế tín chỉ của Hoa Kỳ tuy nhiên tính mềm dẻo của học chế học phần ở Việt Nam chưa cao như học chế tín chỉ ở Hoa Kỳ, nói cách khác chúng ta chưa tận dụng triệt để các ý tưởng làm mềm dẻo quy trình đào tạo của học chế tín chỉ của Hoa Kỳ

2.1.5 Các ƣu điểm của học chế tín chỉ:

Có hiệu quả đào tạo cao: học chế tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến

trình tích lũy kiến thức và kỹ năng của SV để nhận được văn bằng Sinh viên chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho bản thân, được quyền lựa chọn tiến độ học tập phù hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của mình Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đại học và giữa các nghành đào tạo khác nhau Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích lũy được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học thuận lợi về phương diện này có thể nói, học chế tín chỉ

là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa thành nền đại học mang tín đại chúng

Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao: với học chế tín chỉ, sinh

viên có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa trên những qui định chung

về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức nó cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi nghành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu cũng do vậy với học chế tín chỉ, các trường đại học có thể mở thêm nghành mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn nghành nghề của sinh viên Học chế tín chỉ còn cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước

Đạt hiệu quả cao về mặt quản lí và giảm giá thành đào tạo: với học chế

tín chỉ, kết quả học tập của sinh viên được tính theo tường học phần chứ không phải theo năm học, do đó, việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục sinh viên không bị buộc phải quay lại học từ đầu chính vì vậy, giá thành đào tạo theo học chế tín chỉ thấp hơn so với đào tạo theo niên chế

 Nếu triển khai học chế tín chỉ, các trường đại học lớn đa lĩnh vực có thể

tổ chức những môn học chung cho sinh viên nhiều trường, nhiều lựa chọn, tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi Ngoài ra, sinh viên có thể học những môn học lựa chọn

ở các khoa khác nhau Cách tổ chức trên cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học kết hợp với học chế tín chỉ, nếu trường

Trang 14

đại học tổ chức thêm các kì thi đánh giá kiến thức và kĩ năng của người học tích lũy được bên ngoài nhà trường bằng con đường tự học để cấp cho họ một tín chỉ tương đương, thì sẽ tạo thêm cơ hội cho họ đạt văn bằng đại học Ở Hoa Kỳ trên 1.000 trường đại học chấp nhận cung cấp tín chỉ cho những kiến thức và kĩ năng mà người học đã tích lũy được bên ngoài nhà trường

2.2 Khái niệm về sự thích ứng:

“Sự thích ứng” là nói đến một môi trường, hoàn cảnh mới với những yêu cầu, đòi hỏi mới chưa hề có trong kinh nghiệm của bản thân Chúng ta cần đến “sự thích ứng” khi phải làm quen, xâm nhập vào môi trường đó, đó được xem như một điều kiện, một phẩm chất quan trọng giúp con người tồn tại, phát triển Ở chừng mực nào đó, nó

có vẻ giống với “bản năng sinh tồn của giống loài” Nếu như ở động vật cần sự “thích nghi sinh học” (khái niệm do Đac-Uyn đưa ra) để đảm bảo sự tồn tại của cơ thể trước thay đổi của môi trường - điều kiện tự nhiên, thì với con người đó là sự “thích ứng tâm

lý - xã hội” Con người không chỉ phải đáp ứng với những yêu cầu của môi trường tự nhiên mà cả môi trường xã hội; không chỉ duy trì sự tồn tại mà còn tác động trở lại môi trường đó theo ý muốn của mình Rõ ràng, khả năng thích ứng thể hiện tính năng động, tích cực, linh hoạt của mỗi người Nó đặc biệt cần thiết trong hoàn cảnh sống nhiều biến động như hiện nay khái niệm “thích ứng” được sử dụng trong đề tài này thuộc phạm trù “thích ứng tâm lý- xã hội”

Nói ngắn gọn, “thích ứng” là sự thay đổi, điều chỉnh bản thân (về ý thức, thói quen, hành vi…) cho phù hợp với những yêu cầu của hoàn cảnh mới nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển

Dưới góc độ tâm lý học, một nhân cách toàn diện luôn được xem xét ở 3 cấp độ: nhận thức, thái độ và hành vi Trước một sự việc, cá nhân phải có nhận thức đúng đắn, toàn diện với thái độ phù hợp, mới có thể biến thành hành vi và đạt kết quả tốt

Với cách hiểu đó, cùng với sự kế thừa về mặt lý luận của các nghiên cứu về “sự thích ứng” trong Tâm lý học, đề tài này sẽ tập trung xem xét trên cả 3 mặt: nhận thức, thái độ và hành vi Một là chủ thể nhận thức đúng, đầy đủ điều kiện, hoàn cảnh của mình; hai là có thái độ tích cực, biểu hiện các tình cảm, cảm xúc hài lòng, hứng thú…với điều kiện, hoàn cảnh đó; không chỉ nhận thức tốt, thái độ đúng đắn, mà biểu hiện cao nhất của sự thích ứng đó là chủ thể tích cực hoạt động, đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi của hoàn cảnh và đạt được kết quả tốt

Khi đáp ứng được cả 3 tiêu chí trên và biểu hiện rõ nét ra ngoài bằng hành vi, kết quả thì có thể đánh giá về mức độ thích ứng của mỗi người

Tuy nhiên, các tiêu chí đưa ra chỉ mang tính tương đối, như 1 căn cứ để chúng ta tham khảo khi nhìn nhận đánh giá vấn đề Bởi lẽ đánh giá sự thích ứng của con người (thích ứng tâm lý- xã hội) không hề dễ dàng

Trang 15

2.3 Mô hình nghiên cứu:

Hình 2.1: mô hình nghiên cứu của đề tài

Theo mô hình trên: Để đo lường mức độ thích ứng của sinh viên khoa QTKD đối với hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ cần phải dựa trên ba tiêu chí: nhận thức, thái độ và xu hướng hành vi

KT-Về nhận thức: thì các vấn đề cần quan tâm là nhận thức về tầm quan trọng của đào tạo tín chỉ, những ưu và nhược điểm của đào tạo tín chỉ, sự cần thiết của đào tạo tín chỉ đối với đổi mới GDĐH trong giai đoạn hiện nay

Về thái độ: thể hiện ở tình cảm của sinh viên đối với đào tạo tín chỉ như thế nào, sinh viên thích học theo học chế tín chỉ hay không, đã hài lòng với hính thức đào tạo mới chưa, bị lôi cuôn bởi tín chỉ

Về xu hướng hành vi: thể hiện ở sự thay đổi cách học, phương pháp học tập của sinh viên, thời gian tự học của sinh viên thay đổi như thế nào khi chuyển sang tín chỉ, tự nghiên cứu bài trước ở nhà Lên kế hoạch học tập

Sự thích ứng của

sinh viên với ĐTTC

Nhận thức:

Đúng đắn, đầy đủ điều kiện, hoàn cảnh

của sinh viên với tín chỉ

Thái độ:

biểu hiện các tình cảm, cảm xúc hài

lòng, hứng thú…với đào tạo tín chỉ

Hành vi:

Sinh viên tích cực hoạt động, đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi của hoàn cảnh và

đạt được kết quả tốt

Những khó khăn khi chuyển sang tín chỉ:

( đăng kí học phần, thời khóa biểu, thỉnh giảng, cơ

sở vật chất, tài liệu học tập…)

Trang 16

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Kỹ thuật thu

dữ liệu Thời gian Địa điểm

1 Sơ bộ Định tính Thảo luận trực diện 5 sinh

viên

1 ngày Phòng B302

2 Chính thức Định lượng

Phỏng vấn trực tiếp (100 bảng câu hỏi)

2 tuần Khoa

KT-QTKD

Bước 1 thực hiện nghiên cứu sơ bộ định tính, sử dụng dàn bài thảo luận để thu thập

dữ liệu, dàn bài này có hai phần chính Phần thứ nhất giới thiệu mục đích và tính chất của nghiên cứu đây là phần tạo nên không khí thân mật trước khi phỏng vấn phần thứ hai bao gồm các câu hỏi gợi ý cho việc thảo luận để thu thập dữ liệu

Bước 2 thực hiện nghiên cứu chính thức định lượng, sau khi nghiên cứu sơ bộ từ kết quả thu thập được sẽ lập ra một bảng câu hỏi chi tiết gồm 16 câu hỏi xoay quanh các vấn đề về thông tin cá nhân, nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên đối với tín chỉ và

5 câu hỏi mở, hỏi về những khó khăn của sinh viên khi chuyển sang tín chỉ Với số liệu thu thập được sẽ được đem mã hóa làm sạch sau đó sử dụng phần mềm SPSS 15.0 để phân tích và mô tả mức độ thích ứng của sinh viên

Trang 17

3.3 Qui trình nghiên cứu

Hình 3.1: Qui trình nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lƣợng

Thảo luận trực diện 5 sinh viên Thiết kế bảng câu hỏi

Vấn đề nghiên cứu

Sự thích ứng của sinh viên với đào tạo tín chỉ

Mô hình nghiên cứu

Mô hình mức độ thích ứng của sinh viên khoa KT-QTKD, trường

đại học an giang đối với hệ thống đào tạo theo tín chỉ

Soạn thảo báo cáo

Trang 18

3.4 Phương pháp chọn mẫu

Đối tượng nghiên cứu là sinh viên khóa 8 khoa KT-QTKD đã học xong học kỳ I năm học 2009-2010 Mẫu được lấy có chú ý độ khác biệt về năng lực học tập (chỉ khảo sát ở 3 mức xếp loại: trung bình, khá, giỏi ), cỡ mẫu là 100

Bảng câu hỏi sẽ được gửi cho sinh viên các lớp DH8KD, DH8NH, DH8KT, DH8TC, DH8QT

3.5 Thang đo

- Thang đo danh nghĩa (nominal scale) hai giá trị : giới tính

- Thang đo thứ tự (ordinal scale) dùng để đo lường kết quả học tập

- Thang đo quãng (interval scale) dùng để đo lường nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên

Trang 19

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Giới thiệu

Sau khi đã xác định được các bước tiên hành nghiên cứu, qui trình nghiên cứu, thang đo và mẫu, bước tiếp theo sẽ lập bảng câu hỏi chính thức và bắt đầu thu thập số liệu với những số liệu đã thu thập được từ bảng câu hỏi, mục tiêu của chương 4 là phân tích và mô tả những số liệu thu thập được, từ đó đưa ra kết quả phân tích và mô tả sự thích ứng của sinh viên với đào tạo tín chỉ

4.2 Kết quả phân tích

4.2.1 Thống kê thông tin về mẫu

Biểu đồ 4.1 năng lực học tập của sinh viện

6%

44%

50%

Giỏi Khá Trung bình

Trang 20

4.2.2 Nhận thức của sinh viên khóa 8 khoa KT-QTKD đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ

Biểu đồ 4.2: Biểu đồ mô tả nhận thức của sinh viên khóa 8 khoa KT-QTKD đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ

Chú thích:

1 Sự phù hợp của đào tạo theo tín chỉ

2 Nâng cao chất lượng nghiên cứu và học tập của sinh viên

3 Chủ động trong học tập

4 Đưa nền GDVN tiến gần với nền GDTG

5 Xây dụng kỹ năng tự học

6 Trang bị kỹ năng cho SV khi ra trường

Qua biểu đồ trên cho thấy:

Đa phần sinh viên điều có nhận thức khá tốt về chương trình đào tạo theo tín chỉ.Thông qua những nhận định về tầm quan trọng của đào tạo theo tín chỉ như: đào tạo theo tín chỉ rất phù hợp với giai đoạn hiện nay, làm năng cao chất lượng nghiên cứu và học tập của sinh viên, giúp sinh viên chủ động trong học tập, đưa nền GDVN tiến gần

Trang 21

hơn với nền GDTG, xây dựng kỹ năng tự học cho sinh viên, trang bị nhiều kiên thức cho sinh viên khi ra trường phần lớn sinh viên điều chọn mức “đồng ý” và “rất đồng ý” vói những nhận định trên, thể hiện trên biểu đồ 4.1 tỉ lệ sinh viên chọn mức “đồng ý”dao động từ 40% đến 62%, tỉ lệ sinh viên chọn mức “phản đối” và “hoàn toàn phản đối” là rất ít (3%-7%).Với trung bình cao nhất là 3.95% (đào tạo theo tín chỉ xây dựng

kỹ năng tự học cho sinh viên), trung bình nhỏ nhất là 3.53% (trang bị nhiều kỹ năng cho sinh viên khi ra làm việc)

Như vậy, với những gì thể hiện trong biểu đồ 4.1 ta có thể khẳng định rằng phần lớn sinh viên điều nhận thức rõ vai trò và tầm quan trong của chương trình đào tạo theo tín chỉ mặc dù nó còn khá mới mẽ đối với sinh viên khoa kinh tế nói riêng và sinh viên trường ĐHAG nói chung

4.2.3 Thái độ của sinh viên khóa 8 khoa KT-QTKD đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ

Biểu đồ 4.3: Biểu đồ mô tả thái độ của sinh viên khóa 8 khoa KT-QTKD đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ ở ĐHAG

Chú thích:

1 Bị lôi cuốn bởi chương trình đào tạo tín chỉ

2 Thích học tín chỉ ở ĐHAG

3 Hài lòng với đào tạo tín chỉ ở ĐHAG

Biểu đồ trên cho thấy tình cảm sinh viên sau khi học xong học kì đầu tiên chuyển sang đào tạo theo qui chế tín chỉ Hầu hết ý kiến mà các bạn đưa ra chỉ tập trung ở mức trung hòa cao nhất là 52% trong nhận định về bị lôi cuốn bởi chương trình đào tạo tín chỉ, thấp nhất là 40% về nhận định thích học tín chỉ ở ĐHAG, tỉ lệ sinh viên chọn mức phản đối với các nhận định trên còn cao (19%-29%) cho thấy thái độ của sinh viên đối với chương trình đào tạo này là chưa thật sự hài lòng và thỏa mãn Nguyên nhân là do trường ta chưa phát huy được hết những ưu điểm của đào tạo tín chỉ, chương trình đào tạo tín chỉ ở ĐHAG chưa thật sự thu hút và hấp dẫn sinh viên Tuy nhiên, với mức trung bình cao nhất 3.00, và đồng ý cao nhất 25% về “mức độ hài lòng của sing viên đối với

Trang 22

đào tạo tín chỉ” cho thấy sinh viên đã chấp nhận chương trình đào tạo này, đây là tín hiệu tốt cho nhà trường và có thể tiếp tục thực hiện ở các năm học tiếp theo

Như vậy, với những thông tin trên ta có thể kết luận là sinh viên cũng có thái độ khá đúng đắn về đào tạo tín chỉ ở ĐHAG

4.2.4 Thay đổi về hành vi học tập của sinh viên khi chuyển sang chương trình đào tạo theo tín chỉ

Biểu đồ 4.4: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi về hành vi học tập của sinh viên

Chú thích:

1 Thay đổi cách học

2 Thời gian tự học tăng lên

3 Lập kế hoạch học tập ngay từ đầu năm học

4 Giảm thời gian đi chơi

5 Thường lên thư viện tìm tài liệu hơn trước

Biểu đồ trên cho thấy những thay đổi về hành vi học tập của sinh viên khi trường ta chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, nhìn vào biểu đồ trên ta thấy tỉ lệ sinh viên chọn mức

độ “đồng ý” đối với các nhận định như: thay đổi cách học tập (66%), thời gian tự học tăng lên (60%), lập kế hoạch học tập ngay từ đầu năm học (44%), giảm thời gian đi chơi

để nghiên cứu bài vở (51%), thường xuyên lên thư viên tìm tài liệu hơn trước (37%) là khá cao Đặt biệt là nhận định về thời gian tự học tăng lên sinh viên chọn mức “đồng ý”

và “rất đồng ý” là rất cao có trung bình cao nhất là 3.96 Đây là những dấu hiệu cho thấy sau một học kì học tập đầu tiên, sinh viên đã nhanh chóng thay cách học để thích nghi với điều kiện mới và những yêu cầu mới Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận nhỏ sinh

Trang 23

viên vẫn chưa tìm được cho mình cách học cho phù hợp với điều kiện mới, chưa thấy được sự thay đổi trong chính bản thân mình.Thể hiên ở chỗ sinh viên còn chọn mức trung hòa, cao nhất là 39% và thấp nhất là 19%, mức không đồng ý cao nhất là 13%

4.2.5 Kiểm định sự khác biệt giữa nặng lực học tập của sinh viên và sự thích ứng với đào tạo tín chỉ

4.2.5.1 Sự khác biệt giữa năng lực học tập của sinh viên và nhận thức về tầm quan trọng của đào tạo chỉ

Trong những nhận định về tầm quan trọng của đào tạo tín chỉ Sẽ chọn ra một nhận định tiêu biểu mang tính đại diện để kiểm định về sự khác biệt giữa năng lực học tập và nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của đào tạo tín chỉ Nhận định về “chủ động hơn trong học tập” sẽ được chọn để kiểm định

Chủ động trong học tập Hoan toan phan doi 1 1 0 2

(2-4.378(a) 8 822 Likelihood Ratio 4.441 8 .815

Linear-by-Linear

N of Valid Cases

Trang 24

Kết luận:

Với các xác suất ở bảng chi-square trên (82.2%, 81.5%, 80.8%) lớn hơn mức ý nghĩa =5% rất nhiều cho nên ta không đủ điều kiện để bác bỏ Ho như vậy có thể kết luận rằng sinh viên có học lực khác nhau đều có nhận thức giống nhau về vai trò của đào tạo tín chỉ

4.2.5.2 Sự khác biệt giữa năng lực học tập và thái độ của sinh viên đối với đào tạo tín chỉ ở ĐHAG

Phần này sẽ chọn nhận định “hài lòng với đào tạo tín chỉ ở ĐHAG” để kiểm định sự khác biệt giữa năng lực học tập và thái độ của sinh viên đối với đào tạo tín chỉ ở ĐHAG

hailong Hoan toan phan doi 1 3 0 4

Trang 25

4.2.5.3 Sự khác biệt giữa năng lực học tập và những thay đổi về hành vi học tập của sinh viên khi chuyển sang đào tạo tín chỉ

Nhận định về “thay đổi cách học tập” sẽ được chọn để kiểm định Sự khác biệt giữa năng lực học tập và thay đổi về hành vi của sinh viên khi chuyển sang đào tạo tín chỉ

thaydoicachhoc Hoan Toan phan doi 0 1 0 1

Qua các kết quả vừa kiểm định trên ta thấy hoàn toàn không có sự khác biệt về năng lực học tập và sự thích ứng của sinh viên đối với đào tạo tín chỉ Điều này cho thấy sinh viên dù có học lực thế nào đi nữa cũng điều tìm cho mình cách thích nghi với chương trình mới này Bởi vì, sinh viên không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận nó và tìm cách thích ứng với nó, vì đây là chương trình đào tạo do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo bắt buộc Vấn đề là phải tìm cách nào để thích ứng nhanh với nó

Ngày đăng: 28/02/2021, 18:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w