1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát nhu cầu về dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em xã hội an huyện chợ mới đến năm 2020

69 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu tập trung mô tả nhu cầu, mong muốn và yêu cầu sử dụng dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em tại địa địa bàn xã Hội An, với cỡ mẫu n=100 quan sá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT NHU CẦU VỀ DỊCH VỤ VUI CHƠI GIẢI TRÍ DÀNH CHO TRẺ EM XÃ HỘI AN HUYỆN CHỢ MỚI ĐẾN

NĂM 2020

NGUYỄN LONG TUYỀN

AN GIANG, THÁNG 08/2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT NHU CẦU VỀ DỊCH VỤ VUI CHƠI GIẢI TRÍ DÀNH CHO TRẺ EM XÃ HỘI AN HUYỆN CHỢ MỚI ĐẾN

Trang 3

i

CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐÔNG

Chuyên đề “Khảo sát nhu cầu về dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em

xã Hội An huyện Chợ Mới đến năm 2020”, do sinh viên Nguyễn long Tuyền thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.s Nguyễn Vũ Thùy Chi Tác giả đã báo cáo kết quả

nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo thông qua ngày

Trang 4

ii

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày 28 tháng 08 năm 2016

Người thực hiện

Nguyễn Long Tuyền

Trang 5

iii

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc đến thầy cô khoa kinh tế Quản trị kinh doanh đã giúp đỡ tận tình và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt những năm học qua, trên hết là sự tận tình giúp đỡ và hướng dẫn của cô Nguyễn Vũ Thùy Chi người đã trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu về

đề tài và quan trọng hơn là thầy đã cho tôi một nền tảng kiến thức ban đầu và hiểu một cách cụ thể hơn về những kiến thức đã học ở trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Hội An huyện Chợ Mới, và anh chị giúp việc thuộc bộ phận Văn phòng Ủy ban nhân

xã đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiếp cận thực tế tại địa phương

Thời gian và kiến thức còn hạn chế nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, với tinh thần ham học hỏi tôi trân trọng đón nhận từ thầy cô, các anh chị và các bạn những lời góp ý để bổ sung cho cuốn đề tài này được hoàn thiện hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc thầy cô, Lãnh đạo

Ủy ban nhân dân xã Hội An huyện Chợ Mới và các anh chị giúp việc thuộc bộ phận Văn phòng Ủy ban nhân xã dồi dào sức khỏe, phát huy hết tài năng trong việc giảng dạy

An giang, ngày 28 tháng 08 năm 2016

Người thực hiện

Nguyễn Long Tuyền

Trang 6

CHƯƠNG 2: Error! Bookmark not defined TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined.

2.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cỨu Error! Bookmark not defined 2.1.1 Các khái niệm Error! Bookmark not defined 2.1.2 Những lý thuyết liên quan Error! Bookmark not defined.

CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined 3.1 Thiết kế nghiên cứu: Error! Bookmark not defined 3.2 Quy trình nghiên cứu: Error! Bookmark not defined 3.3 Mẫu nghiên cứu: Error! Bookmark not defined 3.4 thang đo: Error! Bookmark not defined 3.5 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU: Error! Bookmark

Trang 7

v

4.3.2 Trò chơi nhà hơi: Error! Bookmark not defined 4.3.3 Trò chơi Trượt pa tin: Error! Bookmark not defined 4.3.4 Trò chơi nhà banh: Error! Bookmark not defined 4.3.5 Trò chơi Gắp thú bông: Error! Bookmark not defined 4.3.6 Trò chơi xe xích lô: Error! Bookmark not defined 4.3.7 Trò chơi xe lửa Error! Bookmark not defined 4.3.8 Trò chơi Xe điện đụng: Error! Bookmark not defined.

4.4 Yêu cầu của người dân về khu vui chơi: Error! Bookmark not defined.

4.4.1 Đia điểm khu vui chơi: Error! Bookmark not defined 4.4.2 Hình thức khuyến mãi: Error! Bookmark not defined 4.4.3 Thời gian tham gia vui chơi giải trí: Error! Bookmark not defined.

4.5 Giải pháp đáp ứng nhu cầu vui chơi cho trẻ em xã Hội An: Error!

Bookmark not defined.

CHƯƠNG 5 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined 5.1 KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined 5.2 KIẾN NGHỊ: Error! Bookmark not defined.

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ vui chơi giải trí: 13

Biểu đồ 2 Lý do muốn chọn dịch vụ vui chơi giải trí: 14

Biểu đồ 3 Lý do không chọn dịch vụ vui chơi giải trí 14

Biểu đồ 4 Dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em bao gồm những hoạt động nào: 15

Biểu đồ 5 Đánh giá mức độ quan tâm đến các tiêu chí thường đề cập đến khi tổ chức dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em: 16

Biểu đồ 6 Phương tiện truyền thông 17

Biểu đồ 7: Mức giá các trò chơi 23

Biểu đồ 8: Yêu cầu của người dân đối với địa điểm khu vui chơi 26

Biểu đồ 9: Yêu cầu của người dân về hình thức khuyến mãi khi tham gia khu vui chơi 27

Biểu đồ 10: Yêu cầu của người dân về thời gian vui chơi 27

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Thang bậc nhu cầu Maslow 5

DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Mong muốn của người dân đối với trò chơi Ngựa đu quay 17

Bảng 2: Mong muốn của người dân đối với trò chơi Nhà hơi 18

Bảng 3: Mong muốn của người dân đối với trò chơi Trượt patin 19

Bảng 4: Mong muốn của người dân đối với trò chơi Nhà banh 20

Bảng 5: Mong muốn của người dân đối với trò chơi tủ gắp thú bông 20

Bảng 6: Mong muốn của người dân đối với trò chơi Xe xích lô 21

Bảng 7: Mong muốn của người dân đối với trò chơi Xe lửa 21

Bảng 8: Mong muốn của người dân đối với trò chơi Xe điện đụng 22

Bảng 10: So sánh mức giá mong muốn của người dân với thực tế 25

Trang 10

1

CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trẻ em là tương lai của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và toàn thế giới Trẻ

em phải được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục toàn diện để trở thành người chú trọng tương lai của đất nước Điều này được xác ddinhjrox trong công ước quốc tế về quyền trẻ em và luật “ Bảo vệ và chăm sóc trẻ em” của Việt Nam Trách nhiệm của cha mẹ và toàn xã hội là tạo ra môi trường an toàn về vật chất và lành mạnh, phong phú về tinh thần thuận lợi cho sự phát triển của các

em Song có rất nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ Trong đó ta không thể không kể đến các hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu vui chơi – giải trí của trẻ em Nhu cầu vui chơi giải trí hình thành và phất triển qua từng giai đoạn phát triển của trẻ Ở mọi lứa tuổi khác nhau trẻ em có một nhu cầu vui chơi giải trí khác nhau

Trẻ em ở thời đại nào cững được vui chơi – giải trí, được giao tiếp với mọi người rất mạnh mẽ Việc vui chơi giải trí của trẻ em ảnh hưởng rất nhiều đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Trẻ em là đối tượng khá phức tạp về tâm lý và sở thích Vì vậy, nhu cầu vui chơi của các bé cũng rất đa dạng, muôn màu muôn vẽ Một khu vui chơi cho trẻ em vừa phải thỏa mãn nhu cầu giải trí, nhu cầu giao tiếp và cả nhu cầu tiềm hiểu và khám phá thế giới Bên cạnh đó, trẻ em là lứa tuổi đang bất đầu định hình về nhâ cách nên một khu vui chơi giải trí cũng phải góp phần giúp trẻ phát triển theo0 một định hướng đúng đắn Đặc biệt, trẻ em tuổi từ 4 – 11 có nhu cầu giao tiếp, tìm hiểu

về giới thế bên ngoài rất cao

Cách đây khoảng 40 năm, khi ở độ tuổi ấu thơ có rất nhiều trò chơi dân gian mang đậm dấu ấn tuổi thơ Những buổi chiều có cánh đồng mênh mông đều có thể trở thành sân chơi cho trẻ em Và trẻ em học được rất nhiều điều bôt ích từ những buổi vui chơi giữa thiên nhiên như thế Ngày nay, xã hội phát triển và nhiều trèo chơi mang tính hiện đại ra đời Có những trò chơi đáp ứng một cách tối đa nhu cầu giải trí của trẻ Nhưng bên cạnh đó cũng không trò chơi ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ Với sự phát triển của công nghệ thông tin hàng loạt loại hình game online ra đời Trẻ em hầu như ngoài giờ lên lớp thời gian rảnh rỗi đều ngồi bên máy vi tính chơi game Cùng với

đó là sự thu hẹp của các khu vui chơi giải trí trẻ em Trong thời buổi hiện nay,

để tiềm ra một khu vui chơi để trẻ em có thể cùng bạn bè, gia đình hoàn nhập với thiên nhiên là điều rất khó khăn Nên một số bậc phụ huynh có suy nghĩ thà để con mình chơi game ở nhà còn hơn là ra ngoài đường Hiện nay có một

Trang 11

2

số nơi vui chơi ( công viên, biển,…) nhưng trẻ em trong độ tuổi nhi đồng không thể đến đó vào buổi tối, các em chỉ có thể vui chơi vào ban ngày Buổi tối chỉ có mộ số nơi được dựng nên tạm bợ trên vĩa hè với một số trò chơi đơn giãn Các bậc phụ huynh muốn đưa con mình đi chơi, thư giãn vào buổi tối, cuối tuần thường rất khó khăn trong công việc lựa chọn một địa điểm thích hợp

Việc thiếu thốn của các khu vui chơi – giải trí dành cho trẻ em được đặt ở tình trạng đáng báo động Nhu cầu vui chơi của trẻ em ngày càng gia tăng nhưng thực tế đáp ứng thì lại đang đi theo chiều hướng ngược lại Vì vậy, mà chúng ta cần có một biện pháp, một định hướng rõ ràng để khôi phục và phát triển các khu vui chơi – giải trí dành cho trẻ em để góp phần thỏa mãn nhu cầu vui chơi của trẻ, tạo điều kiện cho các em phát triển toàn diện về vật chất và tinh thần Do vậy em chọn đề tài “ nhu cầu vui chơi giải trí dành cho trẻ em xã Hội An huyện chợ Mới đến năm 2020” để nghiên cứu

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mô tả nhu cầu, mong muốn, yêu cầu và khu vui chơi của trẻ em tại xã Hội An, huyện Chợ Mới

Đề xuất một số giải pháp phát triển khu vui chơi giải trí dành cho trẻ em tại xã

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: nhu cầu sử dụng dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em từ 4 – 11 tuổi

- Phạm vi nghiên cứu: xã Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tập trung mô tả nhu cầu, mong muốn và yêu cầu sử dụng dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em tại địa địa bàn xã Hội An, với cỡ mẫu n=100 quan sát và là phương pháp chọn mẫu hạn mức, được chia theo tiêu chí địa bàn sinh sống

Trang 12

3

Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu:

Số liệu sơ cấp: phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối tượng khảo sát là cha, mẹ các em tại xã Hội An

Phương pháp xử lý số liệu:

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thông kê mô tả, so sánh đẻ phân tích các số liệu nghiên cứu về nhu cầu mong muốn và nhu cầu sử dụng dịch vụ vui chơi giải trí

Xử lý số liệu nghiên cứu: Làm sạch, mã hoá và thống kê mô tả số liệu dựa vào phần mềm SPSS 13.0

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:

Việc khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em tại xã Hội An sẽ trực tiếp giúp cho các đơn vị tổ chức vui chơi giải trí dành cho trẻ em nơi đây có cách nhìn toàn diện hơn về nhu cầu sử dụng vui chơi giải trí dành cho trẻ em, từ đó đáp ứng nhu cầu, mong muốn và yêu cầu của khách hàng với dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em cũng như nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình

Trang 13

ra Chúng tồn tại như một bộ phận cấu thành cơ thể con người và thân nhân con người

Yêu cầu

Yêu cầu là mong muốn có được những sản phẩm cụ thể được hậu thuẫn của khả năng và thái độ sẵn sàng mua chúng Mong muốn trở thành yêu cầu khi có sức mua

Một số nhà nghiên cứu của Việt Nam đã đưa ra định nghĩa có thể chuyến tải được những nội dung cơ bản và tương đối đầy đủ về dịch vụ

2.1.2 Những lý thuyết liên quan

Thang bậc nhu cầu Maslow (Dẫn theo Nguyễn Hải Sản, 1998)

Theo Abraham Maslow, mỗi người đều có một tập hợp những nhu cầu rất đa dạng, được chia thành 5 loại và xếp hạng theo mức độ quan trọng từ

Trang 14

5

dưới lên, bao gồm: nhu cầu vật chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu hội nhập (hay nhu cầu xã hội), nhu cầu được kính trọng và nhu cầu tự hoàn thiện

Hình 1 Thang bậc nhu cầu Maslow

Có 4 giả thuyết cơ bản là cơ sở cho hệ thống nhu cầu của Maslow bao gồm:

1/ Khi một nhu cầu được thoả mãn thì nó không còn là yếu tố thúc đẩy nữa mà một nhu cầu khác sẽ nổi lên thay thế vị trí của nó Vì vậy người ta phải luôn luôn cố gắng để thoả mãn một nhu cầu nào đó

2/ Hệ thống nhu cầu của hầu hết mọi người đều rất đa dạng Luôn có một

số nhu cầu khác nhau tác động tới hành vi của con người tại bất cứ thời điểm nào

3/ Nhìn chung, những nhu cầu bậc thấp phải được thoả mãn trước khi những nhu cầu bậc cao trở nên đủ mạnh để thôi thúc hành động

4/ Có nhiều cách để thoả mãn các nhu cầu bậc cao hơn các nhu cầu bậc thấp

Nhu cầu vật chất là những nhu cầu về thức ăn, quần áo, nơi ở.v.v… Chúng là những nhu cầu cơ bản nhất của con người và giữ vị trí thấp nhất trong hệ thống thứ bậc các nhu cầu của Maslow Người ta thường cố gắng thoả mãn các nhu cầu vật chất trước các nhu cầu khác

Nhu cầu an toàn là những nhu cầu về sự an toàn thân thể và sự ổn định trong đời sống, cũng nhu nhu cầu tránh khỏi sự đau đớn, sự đe doạ và bệnh tật Sau nhu cầu vật chất con người cần được thoả mãn các nhu cầu ở mức cao hơn Nhiều người thể hiện các nhu cầu an toàn của họ thông qua sự mong ước

Nhu cầu

tự hoàn thiện Nhu cầu được kính trọng

Nhu cầu vật chất Nhu cầu an toàn Nhu cầu hội nhập

Trang 15

Nhu cầu được kính trọng là những nhu cầu về lòng tự trọng, cảm nhận về

sự thành đạt và sự chấp nhận của cha, mẹ Để thoả mãn những nhu cầu này, người ta tìm mọi cơ hội để thành đạt, có uy tín và địa vị để khẳng định khả năng và giá trị của mỗi người

Nhu cầu tự hoàn thiện gắn liền với sự phát triển, sự tự phát huy những khả năng tiềm tàng của cá nhân Những nhu cầu này được xếp ở vị trí cao nhất trong hệ thống thứ bậc các nhu cầu của Maslow Người đạt tới nhu cầu này là người có thể làm chủ được chính bản thân mình và có khả năng chi phối cả những người khác, là người thường có những đức tính như có óc sáng kiến, có tinh thần tự giác cao và có khả năng giải quyết vấn đề

Thuyết ERG(Dẫn theo Alderfer, 1969)

R.Alderfert sau nhiều nghiên cứu về nhu cầu của con người khẳng định rằng con người theo đuổi đồng thời 3 nhu cầu cơ bản:

- Nhu cầu tồn tại (Existance Neeđs): Ước vọng khỏe mạnh về thân xác

và tinh thần

- Nhu cầu quan hệ (Relatedness Needs): Ước vọng thỏa mãn trong quan

hệ với mọi người

- Nhu cầu phát triển (Growth Needs): Ước vọng cho tăng trưởng và phát triển cá nhân

Hơn nữa, ông ta còn khẳng định rằng khi con người gặp trở ngại và không được thoả mãn một nhu cầu nào đó thì họ có xu hướng dồn nỗ lực của mình sang thực hiện các nhu cầu còn lại

Do đó các nhà quản lý cần nhận thấy được tính năng động, tính tích cực

và chủ động của mỗi nhân viên để từ dó có thế đáp ứng nhu cầu của của họ và động viên họ trong lao động sản xuất cũng như trong sinh hoạt của họ

Các nội dung của lý thuyết nhu cầu ERG

- Khi một nhu cầu cao hơn không thể được thỏa mãn (frustration) thì một nhu cầu ở bậc thấp hơn sẵn sàng để phục hồi (regression) - Lý thuyết ERG cho

Trang 16

- Lý thuyết ERG giải thích được tại sao các nhân viên tìm kiếm mức lương cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn ngay cả khi những điều kiện này

là phù hợp với các tiêu chuẩn của thị trường lao động Bởi vì lúc này các nhân viên không cảm thấy thỏa mãn với nhu cầu giao tiếp và nhu cầu tăng trưởng

Những đặc trưng của dịch vụ so với sản phẩm

Tính vô hình: sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi Khách hàng không thể

thấy, nếm, sờ, ngửi, thử trước khi mua

Không đồng nhất: gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống

nhau

Không thể chia tách: sản xuất và tiêu thụ đồng thời Quá trình cung ứng

dịch vụ cũng như tiêu thụ dịch vụ, do vậy: (1) không thể giấu được các sai lỗi của dịch vụ; (2) không có tồn kho do đó dịch vụ sẽ bị mất nếu không sử dụng

và không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng vì thế người cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc; (3) chọn lựa địa điểm phục vụ

bị ràng buộc bởi khách hàng vì khách hàng và nhân viên cung cấp dịch vụ phải được gặp nhau để 1 dịch vụ được thực hiện

Không thể hoàn trả: nếu khách hàng không hài lòng, họ có thể được hoàn

tiền nhưng không thể hoàn trả dịch vụ

Nhu cầu bất định: độ bất định của nhu cầu dịch vụ cao hơn sản phẩm hữu

hình nhiều

Quan hệ qua con người: vai trò con người trong dịch vụ rất cao và

thường được khách hàng thẩm định khi đánh giá dịch vụ

Tính cá nhân: khách hàng đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân

của mình rất nhiều

Tâm lý: chất lượng dịch vụ được đánh giá qua tâm lý của khách hàng

Khó khăn trong việc đo lường/đánh giá sản phẩm tạo ra: càng nhiều khách hàng không có nghĩa là chất lượng dịch vụ càng cao vì số lượng khách hàng được phục vụ không nói lên được chất lượng của dịch vụ đã thực hiện

Trang 17

8

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu về nhu cầu vui chơi giải trí cho trẻ em xã Hội An được thiết

kế bao gồm 2 phần : (1) Nghiên cứu sơ bộ, (2) Nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu sơ bộ

- Nghiên cứu sơ bộ lần 1

Đây là dạng nghiên cứu khám phá, trong lần nghiên cứu này, dữ liệu được thu thập bằng phương pháp định tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn chuyên sâu theo một đề cương đã được phác thảo trước đó với cở mẫu n = 5 Qua đó, người phỏng vấn có thể dễ dàng khai thác thông tin cũng như giải thích thêm nếu đáp viên chưa rõ câu hỏi để thông tin thu thập được chính xác hơn

Đề cương phỏng vấn chuyên sâu tập trung vào các vấn đề về nhận thức nhu cầu, mong muốn và yêu cầu khi sử dụng dịch vụ cưới hỏi trọn gói Sau khi thảo luận với nhóm đáp viên được chọn, các thông tin thu thập sẽ được chọn lọc nhằm thiết kế bảng câu hỏi cho nghiên cứu sơ bộ lần 2

- Nghiên cứu sơ bộ lần 2

Dựa trên bảng câu hỏi tổng hợp được rút ra từ nghiên cứu sơ bộ lần 1, tiến hành phỏng vấn thử bằng cách phỏng vấn trực tiếp n = 5, ghi nhận các ý kiến của đáp viên Sau đó, tiến hành điều chỉnh lại bảng câu hỏi để cho các biến và thang đo phù hợp, rõ ràng và dễ hiểu hơn, loại bỏ các biến không có ý nghĩa Từ đó, thiết kế bảng câu hỏi hoàn chỉnh để chuẩn bị cho nghiên cứu chính thức

- Nghiên cứu chính thức:

Với bước nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đo lường mức cầu của người tiêu dùng về dịch vụ vui chơi giải trí Đây là bước quan trọng ảnh hưởng đến kết quả bài nghiên cứu Thông qua đề cương phỏng vấn chuyên sâu, tác giả hoàn chỉnh bản hỏi Tuy nhiên, để nghiên cứu được nhanh chóng, chính xác, hiệu quả, tác giả mô tả sơ lược về đặc trưng tổng thể, biến và thang đo, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu tiến hành phát bản hỏi với cỡ mẫu n =

100, do đó bước này sử dụng phương pháp định lượng với kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bản hỏi Tiếp theo tiến hành làm sạch dữ liệu, mã hóa, nhập và

xử lý dữ liệu để đưa ra kết quả nghiên cứu

Trang 18

9

3.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU:

Phỏng vấn thử (n=5)

Thông tin thực tiễn

Thông tin từ thị trường dịch

vụ trước đó

Lập bảng câu hỏi sơ bộ Thảo luận tay đôi (n=5) Thiết kế bảng câu hỏi Bảng câu hỏi hoàn chỉnh Phỏng vấn chính thức (n=100) Làm sạch, mã hóa Phân tích số liệu Viết báo cáo

Trang 19

10

3.3 MẪU NGHIÊN CỨU:

STT Đơn vị Ấp Dân số Tỷ lệ % Mẫu Ghi chú

Thang đo Likert: Xem xét và đo lường mức độ tin cậy các nguồn thông tin, mức độ quan tâm, mức độ hài lòng của đáp viên

Ví dụ: Mức độ quan tâm của người dân đối với khu vui chơi mà người dân lựa chọn hoàn toàn qua tâm gồm: cách thức tổ chức khu vui chơi (71%), chương trình khuyến mãi khu vui chơi (66%), nhân viên phục vụ của khu vui chơi (63%), các trò chơi giải trí (55%), giá cả dịch vụ (52%), cơ sở vật chất của khu vui chơi (51%) và địa điểm khu vui chơi – giải trí mà người dân lựa chọn cao nhất là (81%) với 2 mức độ là quan tâm và hoàn toàn quan tâm Thang đo danh nghĩa: Là thang đo chỉ để xếp loại, không có ý nghĩa về lượng Có 2 dạng câu hỏi của thang đo danh nghĩa được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:

Câu hỏi một lựa chọn (Single Answer): đáp viên chỉ lựa chọn một trong

số những câu trả lời, cụ thể trong bảng câu hỏi

Trang 20

11

Ví dụ: Người dân mong muốn kiểu dáng nhà hơi cho trẻ vui chơi và

được lựa chọn cụ thể như sau: Hình trái tim (37%), hình bầu dục (36%), hình mèo, chuột (16%) và hình chú hề (11%)

Câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple Answer): đáp viên có thể lựa chọn một hoặc nhiều câu trả lời được liệt kê sẵn trong bảng câu hỏi

Ví dụ: Hình thức khuyến mãi mà người dân mong muốn cho com em vui

chơi gồm: giảm giá chiếm tỷ lệ 95%, tặng quà (kẹo, bong bóng,…) chiếm tỷ lệ 86%, cho thêm thời gian (79%) và cho thêm lượt chơi khác (24%)

Thang đo thứ bậc: Dùng để xác định mức chi trả sẵn lòng của đáp viên khi sử dụng dịch vụ vui chơi giải trí

Ví dụ: Tham gia vui chơi xe xích lô người dân sẳn lòng chi trả với mức

giá 10.000 đồng cho 30 phút chiếm tỷ lệ 52%

3.5 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU:

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu:

Số liệu sơ cấp được thu thập bao gồm các số liệu về nhu cầu, mong muốn và yêu cầu của người dân xã Hội An đối với khu vui chơi giải trí dành cho trẻ em trong xã

Công cụ thu thập số liệu là bảng câu hỏi

Phương pháp thu thập số liệu được sử dụng là phương pháp phỏng vấn trực tiếp các gia đình có con em trong xã

3.5.2 Phương pháp xử lý số liệu:

Số liệu nghiên cứu sau khi được thu thập sẽ được làm sạch và tiến hành

xử lý thông qua phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh

Nghiên cứu sử dụng công cụ là phần mềm SPSS để thống kê mô tả các nhu cầu, mong muốn và yêu cầu của người dân đối với khu vui chơi giải trí dành cho trẻ em

Trang 21

12

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Thông tin mẫu nghiên cứu

Tiêu chí Số lượng Tỷ lệ % Giới tính Nam 41 41

Trang 22

13

Kết quả thống kế mẫu nghiên cứu cho thấy, đáp viên trong mẫu nghiên cứu tập trung ở độ tuổi từ 18 đến 30 chiếm tỷ lệ 72%, đa phần các đáp viên là công chức nhà nước, công nhân, nông dân chiếm tỷ lệ 82%, các đáp viên có thu nhập chủ yếu tập trung trong khoảng từ 2 triệu đến 4 triệu đồng một tháng chiếm tỷ lệ 74%

Về phân bố mẫu nghiên cứu theo đơn vị là các ấp trong xã, số liệu thu được cho thấy mẫu nghiên cứu đảm bảo đúng theo yêu cầu về phân bố mẫu ban đầu đề ra đảm bảo mẫu nghiên cứu mang tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu

4.2 Nhu cầu của người dân về khu vui chơi:

Thống kê mô tả khảo sát nhu cầu về dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ

em xã Hội An, huyện Chợ Mới đến năm 2016:

Biểu đồ 1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ vui chơi giải trí:

Về nhu cầu sử dụng dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em cho thấy nhu cầu này cao tại địa bàn khảo sát với tỷ lệ 93% Chỉ có 7% mẫu nghiên cứu không có nhu cầu cho con em tham gia dịch vụ vui chơi giải trí là do các hộ nằm ở vùng sâu đồng ruộng cách xa đường liên xã và trung tâm văn hóa của

xã Kết quả thống kê về nhu cầu này cho thấy việc mở khu vui chơi giải trí cho trẻ em trong xã trong tương lai sẽ đáp ứng được nhu cầu của người dân, đồng thời khi mở khu vui chơi giải trí cần phải chú ý đến địa điểm xây dựng khu vui chơi để giúp cho tất cả trẻ em trong xã có cơ hội tham gia vui chơi giải trí

Biểu đồ 2 Lý do muốn chọn dịch vụ vui chơi giải trí:

Qua xử lý số liệu cho thấy người dân có nhu cầu đưa con em mình tới khu vui chơi giải trí bao gồm 6 lý do trong đó Tạo cơ hội cho trẻ vui chơi

Có, 93 không, 7

Trang 23

14

(76%) và tạo niềm vui cho trẻ (72%) là hai lý do chiếm tỷ lệ cao nhất tạo tình cảm với trẻ (60%), giảm bớt căng thẳng (56%), tiếp xúc với nhiều trẻ khác (44%) tạo được niềm tin của các em mạnh dạng hơn khi giáo tiếp, phụ huynh

ít quan tâm hơn nhất là tham gia được với nhiều trò chơi hơn (28%) Điều này cho thấy người dân trong xã ngày càng quan tâm nhiều hơn tới nhu cầu tinh thần cho trẻ em, việc đầu tư xây dựng khu vui chơi giải trí cho trẻ em trong xã

sẽ tạo cơ hội nâng cao tinh thần cho trẻ, tạo cơ hội cho trẻ có thể hòa nhập với cộng đồng tốt hơn Đồng thời từ kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khi xây dựng khu vui chơi giải trí cho trẻ em cần đầu tư các trò chơi đa dạng để đáp ứng nhu cầu của người dân

Biểu đồ 3 Lý do không chọn dịch vụ vui chơi giải trí

Với 7% các bậc phụ huynh không chọn dịch vụ vui chơi giải trí là do mức giá dịch vụ cao (85.71%) và cách xa nhà (42.85%) Để khắc phục khó khăn cho những hộ gia đình ở vùng sâu của xã có thu nhập thấp có thể đưa con

em đến khu vui chơi thì nên có mức giá ưu đãi dành cho các hộ gia đình, phải đồng thời cải tạo nâng cấp thêm các trò chơi mới lạ và làm phong phú hơn, ưu đãi đối với các hộ dân nằm ở vùng sâu, đồng ruộng cách xa trung tâm khoảng

5 – 12 km Qua đó nhằm tạo mọi điều kiện để người dân trên địa bàn xã cho con em được vui chơi ngày một đông hơn và thu hút được khách ngoài địa bàn

Giảm bớt căng thẳng Tiếp xúc với nhiều trẻ

khác

Tham gia được với nhiều trò chơi hơn

Trang 24

- Nhóm thứ nhất: nhà banh (87%), xe xích lô (80%)

- Nhóm thứ hai: nhà hơi (77%), xe điện đụng (71%)

- Nhóm thứ ba: gắp thú bông (65%), Trượt pa tin (63%), xe lửa (62%), ngựa đu quay (56%), game (18%)

game

Trang 25

16

Biểu đồ 5 Đánh giá mức độ quan tâm đến các tiêu chí thường đề cập đến

khi tổ chức dịch vụ vui chơi giải trí dành cho trẻ em:

Để thiết kế khu vui chơi giải trí trướt hết chúng ta nên sắp xếp lại cách thức tổ chức khu vui chơi , mở ra nhiều chương trình khuyến mãi và tuyển chọn những nhân viên phục vụ có tay nghề cao tại khu vui chơi

Biểu đồ 6 Phương tiện truyền thông

Nhờ vào phương tiện thông tin đại chúng, phần lớn các bậc phụ huynh và trẻ em điều nắm bắt được về khu vui chơi giải trí tại xã như: Bạn bè (75%), tuyên truyền trên đài truyền thanh (75%), người thân trong gia đình (70%), hang xóm (58%), phụ huynh ít quan tâm nhất là trẻ con (57%)

nhân viên phục vụ của khu vui chơi giải trí

chương trình khuyến mãi của khu vui chơi

cách thức tổ chức khu vui chơi

Trang 26

17

4.3 Mong muốn của người dân về các trò chơi:

Bảng 1: mong muốn của người dân đối với trò chơi Ngựa đu quay 4.3.1 Trò chơi Ngựa đu quay: Đối với trò chơi Ngựa đu quay được

người dân lựa chọn về phong cách với những con vật hiện đại (83%), về kiểu dáng hiền lành phong phú hơn như con Thiên Nga (69%), về màu sắc có 6 màu sắc khác nhau nhưng được người dân chọn màu sáng, nhiều nhất là màu vàng (50%) và màu đỏ (19%), thời gian được lựa chọn nhiều nhất là 10 phút (51%)

Kiểu dáng

Con Thiên Nga 69 Con Sư tử 12 Con Ngựa Đu

Màu sắc

Màu vàng 50 Màu đỏ 19 Màu hồng 13 Màu xanh dương 12

58%

57%

Bạn bè tuyền truyền trên …

người thân …

Hàng xómTrẻ con

Trang 27

4.3.2 Trò chơi nhà hơi: Dựa vào bảng 2: Đối với trò chơi nhà hơi được

trang trí nhiều loại đèn và người dân chọn nhiều nhất là một ngọn đèn (44%)

và loại có đèn xung quanh nhà hơi (39%); về kích thước có 4 loại kích thước trong đó được người dân lựa chọn nhiều 3 X 4 m (33%); với những kiểu dáng hài hước hấp dẫn, mới lạ và được chọn hình trái tim (37%) và hình bầu dục (36%); về màu sắc có 4 màu do người dân không thích nhà hơi có những màu nổi mà chọn nhiều nhất là màu vàng nhạc (37%); bên cạnh đó khi tham gia vui chơi phần lớn người dân chọn 10 phút (44%) có tỷ lệ cao hơn so với khoảng thời gian khác

4.3.3 Trò chơi Trƣợt pa tin: Dựa vào bảng 3: Trò chơi Trượt pa tin

người dân mong muốn rằng với loại hình này trước hết cần phải làm mặt láng mướt cho các em dể trượt và được lựa họn nhiều nhất: sân bê tông (39%) và

Trang 28

19

sân lót ván (32%); kích thước được lựa chọn nhiều là 8 X 12 m (39%); về cách trang trí sân có mô chính giữa (43%) ; khi tham gia trượt pa tin các em quan trọng nhất là chọn cho mình đôi giầy với màu sắc đẹp, mạnh dạng và được chọn nhiều nhất là một màu với (68%) như màu xanh và màu vàng, lựa chọn thấp nhất là loại giầy có nhiều màu; thời gian người dân chọn cao nhất là 10 phút (50%)

Bảng 3: mong muốn của người dân đối với trò chơi Trượt patin

Sự lựa chọn

Tỷ lệ

(%) Mặt

4.3.4 Trò chơi nhà banh: Dựa vào bảng 4: Trò chơi nhà banh: được

thiết kế với nhiều loại khác nhau như loại có rổ, loại bình thường, loại có đèn léd chóp, loại có bậc thang nhưng người dân lựa chọn nhiều nhất là loại có rổ

Trang 29

20

(54%); kích thước được người dân chọn nhiều: 4 X 8m (58%); kiểu dáng quả

banh được người dân chọn nhiều nhất tròn 15cm (44%); thời gian người dân

kích

thước

3m X 5m 20 8m X12m 15

Bảng 5: mong muốn của người dân đối với trò chơi tủ gắp thú bông

Sự lựa chọn

Tỷ lệ

(%)

Kiểu dáng

Tủ đứng ( 100 X 150) 44

Tủ đứng (120 X 60) 37

Tủ đứng ( 120

X 80) 16

Tủ đứng ( 100 X 200) 13

4.3.5 Trò chơi Gắp thú bông: Dựa vào bảng 5: Trò chơi gắp thú bông:

được thiết kế với 4 loại kiểu dáng nhưng được người dân chọn nhiều nhất là tủ

đứng (100 X 150) chiếm tỷ lệ 44%

Trang 30

21

4.3.6 Trò chơi xe xích lô: mong muốn của người dân thích nhất là loại

xe được làm bằng những vật liệu tốt đảm bảo an toàn phù hợp với kiểu dáng

như: loại niền (vành) được người dân lựa chọn nhiều: 500mm (43%); vật liệu

người dân lựa chọn Inox và kẽm như nhau (50%)

Bảng 6: mong muốn của người dân đối với trò chơi Xe xích lô

4.3.7 Trò chơi xe lửa người dân mong muốn 2 điều kiện quan trọng nhất

là loại xe, kiểu dáng Về loại xe người dân lựa chon nhiều nhất: 1 đầu 3 toa

(43%) và kiểu dáng được người dân lựa chọn như nhau: xe lửa trần và xe lửa

4.3.8 Trò chơi Xe điện đụng: Dựa vào 8: Trò chơi xe điện đụng người

dân lựa chọn nhiều nhất: diện tích sân lựa chọn 150m2 (37%) là vì diện tích

này rộng thoải mái, an toàn khi cho con em vui chơi; về loại xe người dân lựa

Trang 31

22

chọn 2 người ngồi (61%) là gấp đôi loại xe 1 người ngồi và chở được 2 người

(1 người lớn và 1 trẻ em) để đảm bảo an toàn cho trẻ khi vui chơi

Bảng 8: mong muốn của người dân đối với trò chơi Xe điện đụng

Sự lựa chọn

43%

37%

12%

8%

Trang 32

trở lên

20.000 đồng

trở lên gắp thú bông

50%

25%

18%

7%

Trang 33

24

Dựa vào bảng 9: mức giá các trò chơi cho thấy: Ngựa đu quay người dân lựa chọn cao với mức giá 3.000 đồng (43%); nhà hơi được chọn mức giá dao động từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng chiếm tỷ lệ (87%); Trượt pa tin lựa chọn cao với mức giá 10.000 đồng (47%); nhà banh chọn cao mức giá 5.000 đồng (59%); Xe xích lô lựa chọn 10.000 đồng (52%); xe lửa lựa chọn với mức giá 5.000 đồng (46%); Xe điện đụng chọn mức giá 5.000 đồng (44%); gắp thú bông chọn mức giá mức giá 2.000 đồng (50%)

Bảng 10: So sánh mức giá mong muốn của người dân với thực tế

STT Trò chơi Kết quả

khảo sát

Thực tế kinh doanh

1 Ngựa đu quay 3000 2000 Vắng khách

Trang 34

25

4.4 Yêu cầu của người dân về khu vui chơi:

Biểu đồ 8: Yêu cầu của người dân đối với địa điểm khu vui chơi

4.4.1 Đia điểm khu vui chơi: Người dân khi được hỏi về địa điểm xây

dựng khu vui chơi giải trí cho trẻ em trong xã đã đưa ra 7 địa điểm trong đó 78% người dân chọn 3 địa điểm: (1) gần chợ chiếm 30%, (2) gần trụ sở ủy ban chiếm 28% và (3) gần sân vận động chiếm 20% Bốn địa điểm còn lại là gần nhà văn hóa, gần trgần bưu điện và gần nhà trẻ chỉ chiếm có 22 % Kết quả nghiên cứu này cho thấy khi đầu tư vào khu vui chơi ta nên ưu tiên là gần chợ, gần ủy ban và gần sân vận động

Biểu đồ 9: Yêu cầu của người dân về hình thức khuyến mãi khi tham

gia khu vui chơi

cho thêm lượt chơi

95%

86%

79%

24%

Ngày đăng: 28/02/2021, 18:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w