1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động của các mô hình nuôi tôm biển đến môi trường kinh tế và xã hội huyện duyên hải tỉnh trà vinh

115 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời kiến nghị một số biện pháp phù hợp để giảm nhẹ các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội tại địa bàn khảo sát nhằm góp phần cho việc nuôi tôm biển hiệu quả và bền vững

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Năm học 2003-2005

TRẦN THỊ HỒNG NGỌC

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM BIỂN ĐẾN MÔI TRƯỜNG, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI HUYỆN

DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

ASSESSING IMPACTS OF PENAEID SHRIMP FARMING

ON ENVIRONMENT, ECONOMY AND SOCIETY IN DUYEN HAI DISTRICT, TRAVINH PROVINCE

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Cần Thơ 07/2005

Trang 2

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, do sức hấp dẫn từ hiệu quả kinh tế của việc nuôi tôm so với canh tác các loại cây trồng khác, nên đất mặn và đất phèn nhiễm mặn đang được đưa vào sử dụng cho mục đích nuôi tôm với diện tích ngày càng tăng ở tỉnh Trà Vinh Việc phá rừng nuôi tôm ven biển ồ ạt, không định hướng suốt thập

kỷ qua, đã tàn phá rừng ngập mặn với một diện tích lớn Nó đã tác động đến môi trường và các vấn đề có liên quan tới kinh tế xã hội của người dân

Kỹ thuật và cách quản lý ao nuôi đa dạng, nhiều mô hình nuôi tôm đang được áp dụng phổ biến Tuy nhiên, mức độ thành công ở những mô hình còn rất hạn chế do: Điều kiện môi trường, thời tiết, khí hậu vẫn còn diễn biến phức tạp, giá cả đầu ra của sản phẩm chưa ổn định, cơ sở hạ tầng đầu tư còn chậm chưa đáp ứng yêu cầu kế hoạch đề ra, một bộ phận lớn hộ dân trình độ tay nghề nuôi còn hạn chế trong việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, nguồn giống kém chất lượng Nhiều nơi

sử dụng diện tích bãi triều rừng ngập mặn, cửa sông chưa hợp lý, chưa thống nhất quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết cho từng tiểu vùng, có nơi sử dụng diện tích mặt nước quá mức làm tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái, ô nhiễm nguồn nước phát sinh dịch bệnh, ký sinh trùng lan tràn, gây nguy hại đến các loài hoang dã cũng như chất lượng cuộc sống của con người

Với yêu cầu hiện nay trong chiến lược phát triển ngành thủy sản bền vững, vừa nâng cao đời sống của mọi tầng lớp nhân dân trong những năm tới, vừa đảm bảo được tính ổn định lâu bền, với những rủi ro thấp nhất Đáp ứng yêu cầu cấp bách này, đề tài " Đánh giá tác động của các mô hình nuôi tôm biển đến môi trường, kinh tế và xã hội huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh" là rất cần thiết

Trang 3

1.2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu tổng quát của đề tài

Tìm hiểu những yếu tố bên trong như lao động, vốn, trình độ tiếp thu khoa học

kỹ thuật, diện tích đất đai, mối lên kết cộng đồng của các mô hình nuôi tôm biển và các tác động của các mô hình đến các yếu tố bên ngoài như: tài nguyên đất đai, rừng, biển, chất lượng nước mặt và kinh tế-xã hội huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Đồng thời kiến nghị một số biện pháp phù hợp để giảm nhẹ các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội tại địa bàn khảo sát nhằm góp phần cho việc nuôi tôm biển hiệu quả và bền vững cải thiện được đời sống của nhân dân và hạn chế các vấn

đề suy thoái về môi trường

1.2.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài

- Tìm hiểu hiện trạng nuôi tôm biển và đời sống của người dân nuôi tôm biển

- Đánh giá tác động của việc nuôi tôm biển đến chất lượng môi trường nước

ở địa phương nghiên cứu

- Đánh giá hiệu qủa kinh tế của các mô hình nuôi tôm biển ở vùng nghiên cứu

- Đánh giá tác động của hoạt động nuôi tôm biển đến điều kiện kinh tế-xã hội của người dân địa phương

1.2.3 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát hiện trạng các mô hình nuôi tôm biển huyện Duyên Hải

- Phân tích lợi ích chi phí, hiệu quả của các mô hình

- Khảo sát đời sống dân sinh của dân (thu nhập, đồng vốn, trình độ, việc làm, giàu nghèo….)

- Phân tích chất lượng môi trường nước trong, ngoài ao

- Đề xuất một số biện pháp để giảm nhẹ các tác động xấu đến môi trường và

xã hội

Trang 4

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 TÌNH HÌNH NUÔI TÔM BIỂN Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

Sự mở rộng ồ ạt phong trào nuôi tôm biển trong 20 năm qua ở Đông Nam Á

là một trong những yếu tố kinh tế rất quan trọng ở một số quốc gia Nó đã đóng góp

một cách có ý nghĩa đến sự cung cấp lương thực trên thế giới, cung cấp khoảng 30% sản phẩm thuỷ sản (Anonymous, 2001) Bởi vì việc đánh bắt tôm tự nhiên làm

giới hạn tính bền vững của chúng, do đó việc nuôi tôm trong ao, hồ mong để tiếp tục duy trì nguồn thực phẩm quan trọng Năm 2001, tổng sản lượng tôm trên thế giới ước tính là 3.300.000 tấn Trong đó sản lượng tôm nuôi là 1.300.000 tấn chiếm

(40%)(FAO, 2001) Nuôi tôm ở Đông Nam Á được xem là một trong những sinh

kế hấp dẫn nhất ở vùng ven bển Con số điển hình từ Bộ thuỷ sản Việt Nam năm

2001 chỉ ra rằng sự gia tăng sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam vào năm 2000, sản lượng đạt 105.000 tấn, đến năm 2001 đạt 155.000 tấn tăng 50% chỉ có một năm

(Chung, 2001)

Các quốc gia chiếm ưu thế sản phẩm tôm biển ở Đông Nam Á là Thái Lan, Việt Nam, và Philippines Ở Thái Lan sản xuất nhiều tôm nuôi hơn những quốc gia

khác trên thế giới Kể từ năm 1992 đến nay quốc gia này đã sản xuất hằng năm

150.000- 220.000 tấn tôm nuôi, trong đó 90% được xuất khẩu Năm 2000-2001 Thái Lan xuất khẩu tôm ước tính trên 2 tỉ USD tương ứng 3-4% tổng giá trị xuất

khẩu của cả nước (Bangkok.Post,2001a,b,c, 2002; ILN, 2002) Trong suốt thập niên

80 hầu hết các nông trại nuôi tôm ở Thái Lan được quản lý như hệ thống thâm canh Tuy nhiên, những số liệu gần đây cho thấy rằng hệ thống nuôi bán thâm canh đang trở nên thường xuyên hơn trong khi sản phẩm của nông trại được quản lý theo kiểu thâm canh đang có chiều hướng giảm Có thể là vấn đề dịch bệnh và chất lượng nước liên quan đến mức độ thâm canh của nông trại Nuôi tôm ở Philippines chiếm

ưu thế bởi hệ thống bán thâm canh, trong khi ở Indonesia thì chiếm ưu thế bởi hệ

thống canh tác thâm canh (Kosenberry,1999)

Trong ao nuôi quản lý theo kiểu thâm canh có sự rủi ro cao về sự lan truyền dịch bệnh Các bệnh về virus như hội chứng đốm trắng hoặc thân đỏ, bệnh đầu vàng, bệnh về đường máu và nhiễm khuẩn dưới da… Kết quả làm giảm đi sản phẩm

tôm chủ lực ở Đông Nam Á trong suốt thập niên 90 (Rosenberry, 2000) Ao nuôi

tôm thâm canh thường bị bỏ hoang 2-10 năm do những vấn đề về dịch bệnh và ô

Trang 5

nhiễm môi trường gây ra bởi sự tích tụ các dưỡng chất, giảm đi sự tiếp xúc với

nguồn nước sạch hoặc đơn giản là vì năng suất và lợi nhuận thấp

(Finger-Stich,1996) Vì vậy, nuôi trồng thuỷ sản quy mô thâm canh có khả năng gây ô

nhiễm cao hơn nhiều so với quảng canh và bán thâm canh (Seim et al, 1997) Một

hecta ao nuôi tôm thâm canh ở Thái Lan phóng thích mỗi ngày khoảng 46 kg chất

hữu cơ (Briggs, 1994) Hầu hết chất hữu cơ của ao nuôi tôm tồn tại trong chất bồi

lắng ở đáy ao, nhưng hàng ngày có khoảng 1,2 kg N/ha, 0,1 kg P/ha và 3,1 kg

BOD/ha ao nuôi thải vào môi trường ven biển (Midlen và Redding, 1998) Ô nhiễm

hữu cơ từ trại nuôi tôm kết hợp với tảo nở hoa ở vùng nước ven biển sẽ làm chết những rạn san hô, làm giảm chất lượng nguồn nước ven biển và gây phú dưỡng

(Nghia, 2002) Sự mặn hoá của đất và nước bởi những chất thải lỏng, sự thấm lậu

và sự bồi lắng từ ao nuôi (Flaherty, et al, 2000), ô nhiểm sinh học từ những giống

tôm mang mầm bệnh và sự lan truyền dịch bệnh đến các quần thể sinh vật bản địa

(Kautsky, et al, 2000; Naylor et al, 2000), sự suy thoái của quần thể cá thiên nhiên

thông qua số lượng đầu vào của khẩu phần cá và dầu cá trong thức ăn tôm thương phẩm và những ảnh hưởng tiêu cực về đa dạng sinh học đã gây ra bởi sự biến mất của một loài lạ, sự tiêu diệt một số loài chim và một số loài động vật ăn thịt khác

(Naylor et al, 2000), việc sử dụng không hiệu quả của những khẩu phần ăn của tôm

và việc sử dụng quá mức các chất kháng sinh đã dẫn đến hiện tượng phú dưỡng, sự

phân tán của các hoá chất trong môi trường nuôi (Kautsky et al, 2000) Việc sử

dụng quá mức nước ngầm và những nguồn cung cấp nước ngọt khác để cung cấp nước cho ao nuôi Sự mâu thuẫn giữa những người nuôi tôm và những người sử

dụng tài nguyên khác (Naylor, 2000)

Tất cả những phần trên là những tác động tiêu cực có thể xảy ra, ô nhiễm nước bởi chất thải lỏng từ ao nuôi có thể là những phàn nàn phổ biến nhất và là điều

quan tâm lớn nhất của hầu hết các quốc gia (Boyd và Tucker, 2000)

Hầu hết việc nuôi tôm đều thực hiện trong ao và hồ có chứa đựng nhiều chất

Trang 6

thải và khi những cơn mưa lớn đã làm nước trong ao tràn lan ra bên ngoài Mặc dù

có sự quan tâm đáng chú ý trong việc tái sử dụng nước hoặc hệ thống sản xuất gần như được lặp lại nhưng điều đó hiện tại khó có thể thực hiện được một cách kinh tế

và kỹ thuật để đảm bảo hầu hết các loại nuôi trồng thuỷ sản không có sự thải nước

ra bên ngoài (Boyd và Queiroz, 2001)

Phân hoá học và thức ăn bón vào trong ao nuôi nhằm đẩy mạnh quá trình sản xuất tôm, nhìn chung không quá 25% đến 30% đạm và lân đã được xử lý tại thời

điểm thu hoạch (Boyd và Tucker,1998) Ao tôm có khả năng đáng kể trong việc đồng hoá đạm và lân thông qua các tiến trình sinh học, lý học và hoá học (Schwartz

và Boyd, 1994a) Nhưng ngược lại ao tôm thường có nồng độ đạm, phiêu sinh vật,

chất rắn lơ lửng và nhu cầu oxy sinh học rất cao (Schwartz và Boyd, 1994b) Thật

vậy, chất thải từ ao nuôi tôm là nguồn ô nhiểm tiềm tàng trong sự tiếp nhận nguồn nước

Những chế phẩm phổ biến nhất được sử dụng trong ao nuôi tôm ở Đông Nam Á là CaCO3, CaH2O2, CaCl2O2; CuO4S, C12H16N3O3PS2, C11H12Cl2N2O5,

C10H16N2O8, CH2O, C4H7Cl2O4P,… Đó là các loại vôi, phân bón hoá học, thuốc tẩy, thuốc kháng sinh, thuốc diệt tảo, thuốc trừ cỏ… Năm 1995, khoảng 10 triệu USD được chi tiêu vào hoá chất chỉ cho việc sử dụng nuôi tôm ở Thái Lan

(Tonguthai,1996) Các hoá chất trên gây độc cho các sinh vật cùng sống trong một

hệ sinh thái chẳng hạn như: Đồng sulfate độc cho cá hồi, vịt Aclơkin, cá vàng và lươn ở nồng độ 0,1-2,5 mg/l (LC50, 96 giờ) (Richardson, 1992), Formalin gây hại

cho tất cả sinh vật sống dưới nước ở nồng độ 1-1000 µg/l (LC50,96 giờ) (Gesamp,

1997) Chất Malachite Green độc cho cá nước ngọt, ảnh hưởng đến độ trong của

nước, gây độc cho một số loài giáp xác ở vùng ven biển ở liều lượng 80µg/l (LC50,24giờ) (Richardson, 1992)

Giữa đất và nước có mối quan hệ tác động với nhau Ngoài hệ đất được dùng làm ao đìa còn phải kể đến là trầm tích của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản nó lắng tụ trong khu vực nuôi trong suốt thời gian dài Trầm tích này có chứa một lượng lớn vi sinh vật, các loại kháng sinh, hoá chất và chế phẩm sinh học gây hại làm ảnh hưởng đến môi trường đất Các chất thải này có thể là nguyên nhân làm thay đổi môi trường của các đầm phá Chẳng hạn như thức ăn thừa, phân và sinh vật chết thường xuyên gây ra các bệnh cục bộ; vôi và Chlorin làm thay đổi pH của đất, biến đổi hệ

sinh thái của đất và nước; thuốc tím ảnh hưởng đến sinh vật vùng nước Một trong

những nội dung trên đã cung cấp cho những quốc gia có nghề nuôi tôm công nghiệp phát triển một bức tranh tiêu cực về môi trường Vì vậy cần có sự quan tâm mạnh

mẽ về nuôi tôm sinh thái và những nổ lực để đạt đến năng suất bền vững

Trang 7

2.2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG (EIA)

2.2.1 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đánh giá tác động môi trường

Tuy ra đời chính thức chưa lâu, nhưng thuật ngữ đánh giá tác động môi trường đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới Điều đó chứng tỏ khả năng áp dụng công cụ này vào công tác bảo vệ môi trường ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới

Nó có ý nghĩa rất to lớn trong sự phát triển chung của nhân loại thể hiện ở chỗ đánh giá tác động môi trường là công cụ quản lý môi trường quan trọng Song nó không nhằm thủ tiêu, loại trừ, gây khó dễ cho sự phát triển kinh tế xã hội như nhiều người lầm tưởng mà hổ trợ cho sự phát triển theo hướng đảm bảo hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường Vì vậy nó góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững Có thể tóm tắt ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường như sau:

- Đánh giá tác động môi trường giúp công tác quy hoạch tốt hơn

- Đánh giá tác động môi trường có thể tiết kiệm được thời gian và tiền của trong thời hạn phát triển lâu dài, tránh được những hoạt động sai lầm phải khắc phục trong tương lai

- Đánh giá tác động môi trường giúp cho nhà nước các cơ sở và cộng đồng

có mối quan hệ chặt chẽ hơn Thực hiện tốt công tác đánh giá tác động môi trường

có thể đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng trong tương lai Thông qua các kiến nghị của đánh giá tác động môi trường, việc sử dụng tài nguyên sẽ thận trọng hơn

và giảm được sự đe doạ của suy thoái môi trường đến sức khoẻ con người và hệ

sinh thái (Hồ&Cơ, 2001)

Điều 5 và điều 8 của pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản

“Nghiêm cấm mọi hành vi gây tác hại đến nguồn lợi môi trường sống của các loài

thuỷ sản….”

Thông tư 02 TS/TT ngày 25/6/1994 của bộ thuỷ sản hướng dẫn thực hiện

nghị định 93/CP “Ao, hồ, lồng, bè, dụng cụ chuyên dùng phải đúng tiêu chuẩn kỹ

Trang 8

thuật, đảm bảo vệ sinh, tẩy dọn sạch sẽ, diệt mầm bệnh Nguồn nước phải sạch, không có các chất độc hại, đảm bảo tiêu chuẩn cho phép Không được xả nước thải chưa xử lý từ nơi có bệnh sang vùng nuôi khác….”

Điều 8 của nghị định 70/2003/NĐ-CP ngày 17/6/2003 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thuỷ sản

Thông tư số 490/1998/TT- Bộ Khoa Học Công Nghệ Môi Trường ngày 29/04/1998 Hướng dẫn về lập và báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các

- Các dữ liệu của ban ngành địa phương trong thời gian 2000- 2004

+ Căn cứ vào tình hình sử dụng đất đai của huyện 2003 và kế hoạch 2005 + Căn cứ vào kết quả báo cáo của Uỷ ban huyện qua nhiều năm

+ Căn cứ vào kết quả thống kê của Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn huyện Duyên Hải 2004

+ Căn cứ vào số liệu thống kê về khí tượng thuỷ văn của Trung tâm khí tượng thuỷ văn tỉnh Trà Vinh 2003-2004

- Các dữ liệu điều tra khảo sát của Viện hải dương học về vùng thực thi dự

án nuôi trồng thuỷ sản huyện Duyên Hải trong khoảng thời gian 1997-1998

- Các dữ liệu vừa thu thập được trong chuyến đi khảo sát này

+ Kết quả điều tra phỏng vấn nông hộ và phỏng vấn sâu của chính quyền địa phương, kết quả thảo luận PRA

+ Kết quả quan trắc mẫu nước trong và ngoài ao nuôi tôm

Trang 9

2.3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN HUYỆN DUYÊN HẢI

2.3.1 Vị trí địa lý

Huyện Duyên Hải nằm về phía Nam tỉnh Trà Vinh, giữa 2 cửa cung Hầu và Định An của 2 nhánh sông Cửu Long: Sông Cổ Chiên và sông Hậu, phía Đông và Nam giáp với biển Đông, phía Tây giáp với huyện Trà Cú và tỉnh Sóc Trăng, phía Bắc giáp với huyện Cầu Ngang

Huyện Duyên Hải với hơn 55 km bờ biển và 12 km bờ cửa sông Diện tích đất tự nhiên 38.405,75 ha Toàn huyện có 9 xã và một thị trấn với 68 ấp khóm Do nằm ven biển huyện Duyên Hải có điều kiện rất thuận lợi về nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản và có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng Duyên Hải còn là cửa ngõ giao lưu, điểm tập kết hàng hoá thuận lợi đối với tàu bè trong và ngoài nước

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Duyên Hải

Trang 10

2.3.2 Khí tượng thuỷ văn

* Khí hậu

Nhiệt đới gió mùa, mang tính chất Hải Dương đặc thù ven biển Trong năm

có hai mùa mưa nắng rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5

đến tháng 11

* Nắng và lượng bức xạ

Các tháng khô lượng bức xạ lớn nhất đạt 7.000- 8.400 cal/cm2/tháng, các tháng mưa chỉ đạt 5.300-6.700 cal/cm2/tháng

* Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình năm 2004 là 26,76 oC, nhiệt độ cao nhất vào tháng 3, tháng 4 là 35,4oC và thấp nhất vào tháng 12 và tháng 1 là 20,1oC

* Độ ẩm không khí và lượng bốc hơi

Độ ẩm không khí trung bình 80-85%, cao nhất 89,6% vào các tháng 8,9 và

tháng 10 và thấp nhất 80% vào các tháng 1,2,3,4 Lượng bốc thoát hơi trung bình từ 3,5-5,5 mm/ngày

* Thuỷ văn

Ảnh hưởng trực tiếp của triều biển Đông thông qua 2 cửa sông Cung Hầu, Định An với hệ thống sông rạch khá dày Hệ thống kinh Láng Sắt, Rạch Sâu, Láng

Trang 11

Chim, Bảy Đồn, Cồn Chùm, gồm các nhánh: Bến Giá, Cồn Ngao, Rạch Cồn Bán,

Ba Động, La Ghi,… Một số sông rạch bắt nguồn từ biển: Cái Cỏ, sông Cồn Lợi, Rạch Giồng Cái Đôi, sông Động Cao, hệ thống kênh Sa Rày,….Các hệ thống sông này thường rộng và sâu ở cửa, hẹp và cạn dần khi vào nội đồng Các sông này có chế độ bán nhật triều không đều, ngày nước lên xuống 2 lần và trong tháng có 2 lần triều cường ngày 1 và ngày 15 âm lịch và 2 lần triều kém ngày 7 và ngày 23 âm

là người khơme, trình độ dân trí thấp Phần đông dân cư sống tập trung ở các giồng cát và ven trục đường giao thông chính, tỷ lệ tăng dân số bình quân hiện nay còn 1,7%, đa số dân sống bằng nghề nông và nuôi trồng thuỷ sản chiếm trên 80%

2.4.2 Lao động

Lao động chiếm khoảng 50,7% dân số của huyện, lao động nam chiếm khoảng 48% Lao động nông nghiệp chiếm 41,2%, ngư – lâm nghiệp chiếm 52,15%, ngành nghề và dịch vụ chiếm 6,65% trong tổng số lao động của huyện

Lao động của huyện là lao động phổ thông trình độ thấp, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế

2.4.3 Cơ cấu kinh tế (tính theo GDP)

+ Nông nghiệp giảm từ 17,69% năm 2000, còn 9,07% năm 2005

+ Lâm nghiệp giảm từ 1,7% năm 2000 còn 0,85% năm 2005

+ Công nghiệp tăng từ 5,37% năm 2000 lên 5,57% năm 2005

+ Xây dựng tăng từ 4,81% năm 2000 lên 5,54% năm 2005

+ Dịch vụ có xu hướng giảm 21,79% năm 2000 còn 19,38% năm 2005

+ Nuôi trồng thuỷ sản có xu hướng tăng từ 81,47% năm 2000 lên 92,92% năm 2005 Trong khi đó đánh bắt có xu hướng giảm từ 16,19% năm 2000 xuống 4,74% năm 2005 (Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất ngư-nông-lâm-diêm nghiệp

và phát triển nông thôn trên địa bàn huyện Duyên Hải năm 2010)

Trang 12

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Khảo sát thí điểm 4 xã có các mô hình nuôi tôm đặc trưng: xã Long Toàn, xã Long Khánh, xã Đông Hải, xã Long Vĩnh của huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

+ Đợt 1: tháng 01/2004 tương ứng với đầu vụ tôm

+ Đợt 2: tháng 06/2004 tương ứng với cuối vụ tôm

- Tiến hành phân tích mẫu sau khi thu mẫu về

- Xử lý số liệu và tổng hợp thành bài báo cáo: từ tháng 01/2005 đến tháng 10/2005

Trang 13

3.3 PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

Hình 3.1 Các bước tiến hành nghiên cứu cho đề tài

3.3.1 Phương pháp PRA (Participatory Rural Appraisal)

Để đánh giá nhanh hiện trạng vùng nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc

So sánh về hiệu quả kinh tế, môi trường của các mô hình

và đánh giá tác động các mô hình đến môi trường - xã hội.

Tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm giảm nhẹ tác động

xấu tới môi trường - xã hội

Thu mẫu nước trong ao

và ngoài ao nuôi tôm

- Phỏng vấn lấy ý kiến của các cấp lãnh đạo tỉnh, huyện, xã

- Đánh giá nông thôn với sự tham gia của nông dân (PRA) để tìm hiểu đời sống của nông hộ

- Điều tra chi tiết nông hộ ngẫu nhiên qua bản câu hỏi đã được chuẩn hóa

Trang 14

gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài, bước đầu làm quen đến những đối tượng

có liên quan đến đề tài, đặc biệt là nông dân làm cơ sở cho việc chọn địa bàn nghiên

3.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm tìm hiểu tình hình kinh tế,

xã hội tại địa bàn khảo sát thông qua việc phỏng vấn các cấp lãnh đạo tỉnh, huyện

và xã Tổng số cuộc phỏng vấn lãnh đạo địa phương là 12 cuộc Trong đó, số cuộc được phỏng vấn cho cấp tỉnh là 4 (Chi cục kiểm lâm, Sở thuỷ sản, Trung tâm bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Trung tâm khí tượng thuỷ văn tỉnh Trà Vinh), cấp huyện là 4 (lãnh đạo Phòng nông nghiệp & PTNT, Trung tâm khuyến ngư huyện, Uỷ ban nhân dân huyện, Ngân hàng nông nghiệp& PTNT huyện) và có 4 cuộc phỏng vấn lãnh đạo cấp xã

3.3.3 Phỏng vấn nông dân theo bảng câu hỏi

Số lượng hộ được phỏng vấn một cách ngẫu nhiên ở vùng nghiên cứu là 150

hộ và số hộ được lựa chọn có mục đích để sử dụng cho nghiên cứu là 90 hộ được chia làm 3 nhóm (nhóm nuôi tôm theo hình thức thâm canh, bán thâm canh và quãng canh cải tiến), mỗi một nhóm là 30 hộ, nhằm tìm hiểu về các đặc tính kinh tế

xã hội của nông hộ, cách tiếp cận kiến thức kỹ thuật, tín dụng, cũng như hiệu quả của các mô hình canh tác mà nông hộ đang thực hiện

Trang 15

Nông dân được phỏng vấn trực tiếp theo bảng câu hỏi đã được lập sẵn Bảng câu hỏi điều tra được sử dụng trong khảo sát các nông hộ được trình bày ở phụ lục Bảng câu hỏi điều tra gồm có các nội dung như sau:

- Bao gồm các đặc trưng về điều kiện sống của hộ gia đình, đặc điểm nhà ở,

sở hữu một số hàng tiêu dùng, phương tiện sản xuất, mức sống của họ so với những người khác trong xã, và thay đổi mức sống theo thời gian

- Tìm hiểu về chi phí sản xuất, tiêu dùng của nông hộ nhằm mục đích hạch toán kinh tế cho qui mô hộ gia đình trong năm nhằm xem xét nguồn lực tài chính của nông hộ

- Tìm hiểu khả năng tiếp cận thông tin về kỹ thuật, vốn, thị trường của nông

hộ và xu hướng sử dụng nguồn lực trong tương lai

- Tìm hiểu về vấn đề môi trường của nông thôn: tài nguyên rừng, nguồn nước, đất đai, các vấn đề an ninh xã hội

- Tìm hiểu những kiến nghị của nông dân trong quá trình sản xuất thông qua những câu hỏi hoàn toàn mang tính mở như đề xuất về ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vấn đề giá cả thị trường, chính sách vay vốn, cơ sở hạ tầng nông thôn…

3.3.4 Phương pháp thu mẫu nước

Để đánh giá tác động của việc nuôi tôm đến tài nguyên và môi trường đề tài còn sử dụng phương pháp quan trắc 36 mẫu nước (3 mô hình*3 ao/1mô hình*2 điểm * 2 đợt)

* Địa điểm thu mẫu

Trong đầm nuôi tôm: thu 3 điểm đều nhau dọc theo chiều dài vuông tôm đối với mẫu phân tích DO, các mẫu phân tích các chỉ tiêu khác thì thu 3 điểm trên ao sau đó trộn lại thành 1 mẫu Mỗi mô hình lấy đại diện 3 ao Đối với mô hình thâm canh thu 3 ao đại diện tại xã Long Toàn, mô hình bán thâm canh thu 3 ao tại xã Long Khánh, quãng canh cải tiến thu 3 ao tại xã Đông Hải

Ngoài đầm nuôi tôm: thu một điểm trên sông cách cống khoảng 20m

* Thời gian thu mẫu

Vào buổi sáng 9h , chu kỳ thu mẫu 2 lần trong một vụ nuôi

Trang 16

* Phương pháp thu mẫu

Cách thu mẫu nước: tráng chai, lọ thu mẫu bằng nước tại hiện trường, sau đó đậy nắp lại và ấn bình xuống dưới mặt nước từ 30-40 cm, mở nắp bình cho nước chảy vào từ từ, khi thấy không có bọt khí nổi lên là nước đã đầy bình, đậy nắp lại, nhấc bình lên và cố định, bảo quản tuỳ theo các chỉ tiêu cần phân tích

- Các yếu tố như: pH, độ mặn, đo trực tiếp tại hiện trường

- Thu mẫu Fe tổng bằng chai thuỷ tinh 125ml sau đó cố định mẫu bằng 1ml HNO3 đậm đặc

- Thu mẫu Chlorophyl-a bằng chai nhựa sau đó dùng bọc ni long đen trùm lại

- Thu mẫu oxi bằng chai thuỷ tinh 125ml sau đó cố định mẫu bằng 1 ml MnSO4và KI-NaOH 1ml

Tất cả các mẫu được bảo quản và trữ lạnh ở 40c sau đó đem về phòng thí nghiệm phân tích các chỉ tiêu: DO, COD, Fe tổng, TSS, N-NO3-, N-NH4+, P-PO4-, Chlorophyll- a

Trang 17

Hình 3.2 Bản đồ chỉ vị trí của các điểm thu mẫu

3.3.5 Phương pháp phân tích mẫu nước

- Đo pH bằng máy pH meter Orion 230

- Độ mặn (ppt) đo bằng khúc xạ kế

- Xác định Fe tổng số bằng phương pháp so màu Thiocianate

- Xác định COD bằng phương pháp KMnO4 trong môi trường kiềm

- Xác định P- PO43- (mg/l) bằng phương pháp Molibden blue

- Xác định NH4+-N(mg/l) bằng phương pháp Indophenol-blue

- Xác định N-NO3- (mg/l): Xác định bằng phương pháp Salicylate

- Oxy hoà tan (DO) (mg/l): xác định bằng phương pháp Winkler

- Chlorophyll- a: Xác định bằng phương pháp so màu quang phổ Nush

3.3.6 Phương pháp đánh giá tác động kinh tế xã hội và môi trường

* Bảng liệt kê số liệu

Trang 18

Bảng liệt kê là một danh sách chuẩn về các kiểu tác động đây là phương pháp đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng nhưng thông tin không đầy đủ và không trực tiếp liên quan nhiều tới quá trình đánh giá tác động môi trường Tuy nhiên nó rất cần thiết và

có ích trong bước đánh giá sơ bộ về tác động môi trường hoặc trong hoàn cảnh không có đủ điều kiện về chuyên gia, số liệu hoặc kinh phí để thực hiện đánh giá một cách đầy đủ

* Phân tích hiệu quả đồng vốn

Công cụ này được áp dụng trong việc đánh giá các tác động trên cơ sở so sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi tôm biển

Lợi nhuận (thu kinh tế) (Return above variable costs – RAVC) với các thông

số cần quan tâm là chi phí đầu vào, đầu ra, lợi nhuận và hiệu suất (productivity= Total output/Total input) của các mô hình nuôi tôm trong đó:

Chi phí sản xuất (total variable costs: TVC) gồm: Biến phí (variable costs),chi phí khấu hao tài sản cố định (fixed costs), chi phí cơ hội (opportunity costs)

Tổng thu (Gross Return: GR)

Lợi nhuận: RAVC = GR – TVC

* Công cụ xếp hạng các vấn đề

Công cụ này có thể giúp chọn ra các tác động quan trọng ưu tiên để đánh giá

* Phán đoán của chuyên gia

Dựa trên sự nhìn nhận của các chuyên gia để dự báo về các tác động

Trang 19

thời chất lượng nước còn được đánh giá theo chỉ số (WQI) như sau:

(WQI) = (Vt/Vstd)*100%

Ở đây: Vstd - Giá trị của thông số môi trường theo (TCVN 5943-1995)

Vt - Giá trị của thông số môi trường đo tại hiện trường

Bước đầu tiên chúng tôi sử dụng chỉ số trên đối với 5 thông số cơ bản sau:

COD, DO, TSS, N-NH4+ và pH để đánh giá chất lượng nước vùng nghiên cứu Chỉ

số WQI được phân loại thành 3 nhóm tính chất - Sạch, nhiễm bẩn nhẹ, nhiễm bẩn

nặng như được trình bày ở bảng sau:

Bảng 3.1: Phân loại chất lượng nước nuôi tôm dựa trên chỉ số WQI (Water quality index)

Trang 20

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 MÔ TẢ HIỆN TRẠNG NUÔI TÔM BIỂN Ở HUYỆN DUYÊN HẢI

4.1.1 Lát cắt về lịch sử

Nghiên cứu các sự kiện về lịch sử xảy ra trong quá khứ từ năm 1993-2003 Kết quả cho thấy năm 1994 đây là thời điểm bệnh tôm xảy ra trên diện rộng, hàng trăm ha ao tôm bỏ hoang, đất bị xói mòn và trở thành sa mạc hoá, hàng ngàn hộ nuôi tôm lâm vào cảnh thất nghiệp, mất trắng vốn và đói,…Chính quyền địa phương phải bỏ ra một số lượng ngân sách lớn nhằm giúp đỡ các hộ nghèo, trồng lại rừng ngập mặn và cải tạo lại môi trường Đến năm 1995 triều cường dâng cao gây thiệt hại cho huyện 30 tỷ đồng Bão Linda năm 1997, dịch bệnh xảy ra năm

1999 do du nhập con giống từ các tỉnh Miền Trung mang mầm bệnh đã làm cho tôm chết hàng loạt gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng

Bảng 4.1: Các sự kiện lịch sử nổi bật ở vùng nghiên cứu

1975-1990 Diện tích rừng ngập mặn giảm mạnh do dân chặt phá rừng lấy gỗ, cùi

và chuyển đổi sang các mục đích sử dụng khác

1991 Bắt đầu nuôi tôm sú

1994 Bệnh tôm xảy ra trên diện rộng, tôm chết hàng loạt, nhiều người dân

lâm vào tình cảnh nghèo đói

1995 Triều cường dâng cao, nuôi tôm thất bại

1996 Nhiều dự án khôi phục lại rừng ngập mặn

1997 Bão Linda

1998 Nhiều dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn

1999 Dịch bệnh tôm lại tái phát làm cho tôm chết hàng loạt

2000-2005 Phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững

Trang 21

4.1.2 Khái quát hiện trạng nuôi tôm biển từ năm 1991-1998

Khái quát hiện trạng chung của nghề nuôi tôm biển được trình bày ở Bảng 4.2 cho thấy từ năm 1991 cho đến 1994, diện tích nuôi tôm đạt mức bảo hoà khoảng 14.000 ha, đến năm 1995 diện tích nuôi có giảm xuống do năm 1994 dịch bệnh tôm xảy ra trên diện rộng nhiều người dân không còn vốn để tiếp tục sản xuất cho những năm kế tiếp Từ năm 1996 đến năm 1998 diện tích nuôi tôm tăng trở lại và giảm xuống vào năm 1999 do xảy ra đại dịch Tổng sản lượng tôm nuôi biến động phức tạp và có tăng thì rất chậm, sản lượng tôm nuôi tính trung bình cho 1 ha nuôi có xu hướng giảm và không tăng, hình thức nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh có xu hướng ổn định và phục hồi sau lần đại dịch vào năm 1993 và năm 1994

Năm 1991-1998, có 4 hệ thống nuôi tôm biển phổ biến ở huyện Duyên Hải

- Hệ thống nuôi quãng canh: Hệ thống nuôi tôm này phụ thuộc hoàn toàn

vào con giống và thức ăn tự nhiên Sản lượng nuôi giảm từ 130 kg/ha/vụ vào năm

1991 xuống 80 kg/ha/vụ vào năm 1998 Nguyên nhân của sự giảm này là do mật độ tôm giống ngoài tự nhiên giảm từ 0,035 hậu ấu trùng/L năm 1992 xuống 0,0005 hậu

ấu trùng/L năm 1996

- Hệ thống nuôi quãng canh cải tiến: Diện tích nuôi lớn, ao nuôi được bổ

sung thêm giống 1-3 PL 35-45/m2, thêm thức ăn Sản lượng nuôi giảm từ 250 kg/ha/vụ năm 1991-1993 xuống 162 kg/ha/vụ vào năm 1998 Nguyên nhân của sự giảm này là do mật độ tôm giống ngoài tự nhiên giảm và chất lượng hậu ấu trùng tôm thả kém Mặt khác, hình thức nuôi này cũng chịu ảnh hưởng rất lớn diễn biến phức tạp của môi trường, dịch bệnh, khả năng lây lan càng lớn, mức độ thiệt hại càng cao, cho nên sản lượng nuôi ở lĩnh vực này cũng luôn biến động không theo một quy luật nhất định

- Hệ thống nuôi bán thâm canh: Đầu vào (con giống, thức ăn ) phụ thuộc

vào người nuôi, mật độ thả 4-10 PL35-45/m2, cấp nước vào ao chủ yếu dựa vào mực nước thuỷ triều và có sử dụng máy bơm khi cần, thức ăn được chế biến dạng viên tổng hợp hoặc cá tạp luộc chín Sản lượng nuôi khá cao, nhưng biến động mạnh

Nguyên nhân của sự biến động là do dịch bệnh và chất lượng giống xấu

- Hệ thống nuôi thâm canh: Đây là hình thức nuôi mới được triển khai vào

năm 1997 ở Long Toàn, sản lượng nuôi trung bình đạt 1.400 kg/ha/vụ

Trang 22

Bảng 4.2: Vài dẫn liệu thống kê hiện trạng nuôi tôm ở huyện Duyên Hải từ 1991-1998

∑Sản lượng (tấn/năm)

DT (ha)

∑Sản lượng (tấn/năm)

DT (ha)

∑Sản lượng (tấn/năm)

DT (ha)

∑Sản lượng (tấn/năm)

4.1.3 Tình hình nuôi tôm biển hiện nay

Hiện nay, khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học luôn được phát triển và chuyển giao ứng dụng vào sản xuất đã tạo ra những mô hình tiên tiến và nhân rộng Năm 2000 diện tích mặt nước nuôi tôm sú 8.072,21 ha chiếm 21% diện tích đất tự nhiên Năm 2003 toàn huyện Duyên Hải có 10.545 hộ nuôi tôm sú chiếm 75% tổng

số hộ toàn huyện, thả nuôi trên tổng diện tích mặt nước là 11.895 ha với số giống nuôi thả là 1.068 triệu con Tổng sản lượng thu hoạch là 5.198 tấn/vụ, năng suất bình quân là 437 kg/ha/vụ Trong đó có 55,6% số hộ nuôi có lãi, 44,4% số hộ nuôi thua lỗ và huề vốn So với năm 2002 số hộ nuôi tăng lên 119 hộ, số hộ nuôi có lãi giảm 2.485 hộ, số hộ thua lỗ và huề vốn tăng lên là 2.604 hộ Mặc dù số hộ nuôi tôm thua lỗ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong những năm gần đây, nhưng diện tích đất sử dụng cho nuôi tôm sú cứ liên tục tăng từ năm 2000 đến nay và đặc biệt tăng nhanh vào năm 2004 với diện tích mặt nước nuôi thả lên đến 20.352,4 ha, chiếm

53,0% diện tích đất tự nhiên, tăng lên 32,0 % so với năm 2000 (Báo cáo tổng kết

công tác thủy sản và kinh tế trang trại huyện Duyên Hải, 2003)

Trang 23

Hiện nay, hình thức nuôi quãng canh ở Duyên Hải không còn nữa, người dân chuyển từ quãng canh sang nuôi quãng canh cải tiến (rừng tôm), thâm canh và bán thâm canh

- Nuôi thâm canh: Đây là hình thức nuôi đòi hỏi kỹ thuật cao, phải có trình độ

quản lý về môi trường, ao nuôi khá tốt, phải có kiến thức về nuôi trồng thủy sản Nuôi

có đầu tư thức ăn công nghiệp, chủng loại tương đối phong phú bao gồm nhiều loại của các hãng thức ăn khác nhau: CP, KP90, Thanh Toàn, Con Cò, Thái Mỹ, Grobest… và chi phí đầu tư thức ăn khá lớn chiếm trên 50% tổng chi phí, thả với mật độ cao từ 11-

30 con tôm giống/m2 Cho ăn 4-6 lần/ngày, có sử dụng hoá chất trong ao nuôi

Hình thức này bắt đầu từ năm 1997 đã cho năng suất 1.400 kg/ha/vụ Năm

1998 toàn huyện đã có 8 hộ nuôi đạt năng suất 1.500 kg/ha/vụ Năm 1999 có 12 hộ nuôi nhưng do ảnh hưởng của diễn biến môi trường nên năng suất đạt không cao Đến năm 2003 số hộ nuôi theo hình thức này là 467 hộ, nuôi thả trên tổng diện tích 520,37 ha năng suất chỉ đạt 900 kg/ha/vụ

- Nuôi bán thâm canh: Hình thức nuôi này phổ biến từ năm 1996, mật độ thả

từ 4-10 con/m2 mặt nước Năm 2003 số hộ nuôi 5.279 hộ với diện tích là 5.032,59

ha, năng suất bình quân là 302 kg/ha/vụ So với năm 2002 năng suất bình quân tăng

100 kg/ha/vụ Hình thức nuôi này cho năng suất cao, song rủi ro rất cao

- Nuôi quãng canh cải tiến: Hình thức này còn được nuôi trên vùng đất líp có

rừng, phổ biến nhất là ở xã Đông Hải Đầm được gia cố bờ trồng thêm rừng, cống chắc chắn, họ đầu tư mua giống tôm về thả, có đầu tư thức ăn công nghiệp song còn rất hạn chế và không thường xuyên, đa số dựa vào thức ăn tự nhiên là hến và cá tạp (chiếm 68%) Mật độ nuôi thưa khoảng 2-3con/m2 Năm 2003 toàn huyện có 5.052

hộ nuôi, diện tích là 6.342 ha, năng suất bình quân 110 kg/ha/vụ

4.1.4 Sự biến động năng suất của các mô hình nuôi tôm qua các năm

Sự biến động năng suất tôm nuôi của các mô hình thâm canh, bán thâm canh

và quãng canh cải tiến qua các năm từ 1990 đến 2003 được trình bày trong Hình 4.1 Qua Hình 4.1, chúng ta nhận thấy rằng, ở cả ba mô hình năng suất tôm nuôi chỉ

ổn định trong khoảng 2-3 năm, sau đó năng suất lại giảm mạnh

So với mô hình thâm canh thì mô hình bán thâm canh năng suất thấp hơn nhưng lại cao hơn so với mô hình quãng canh cải tiến Vì thế nuôi tôm theo mô hình bán thâm canh mở rộng diện tích rất nhanh, đồng thời cùng với nó là diện tích rừng bị thu hẹp đáng kể Còn mô hình quãng canh cải tiến từ năm 1991-1997 năng suất giảm liên tục Nếu xét chung cho cả ba mô hình từ giai đoạn năm 2000 đến nay năng suất có xu hướng giảm so với những năm trước đó

Trang 24

Hình 4.1 Diễn biến năng suất nuôi tôm biển của các mô hình

Tóm lại: Cả ba mô hình nuôi này tạo ra nhiều vấn đề đáng lo ngại về môi trường và cũng tạo ra tính chất bấp bênh của sản lượng tôm nuôi Vì vậy ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người dân trong những năm gần đây

4.2 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM BIỂN ĐẾN KINH TẾ

4.2.1 Điển cứu

Để hiểu rỏ hơn về cách tính hiệu quả của các mô hình nuôi tôm biển Tôi xin trình bày một số trường hợp nghiên cứu điển hình Các ví dụ này cung cấp các minh chứng cho những số liệu được tính toán trong phần tính lợi ích và chi phí trên cả 3

mô hình nuôi tôm khác nhau của huyện Duyên Hải

Trang 25

* Trường hợp 1

Chủ hộ: Phạm Thanh Tuấn, 38 tuổi, ở ấp Long Khánh B, xã Long Khánh,

huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh

Tổng diện tích tự nhiên: 33.000 m2

; Diện tích nuôi: 10.000 m2

Ao lắng 1 cái: 7.000 m2; Ao thải 1 cái : 7.000 m2

Diện tích bờ bao mương: 9.000 m2

Mùa vụ nuôi: 2vụ trong năm

Hình thức nuôi: thâm canh

Hình 4.2 Sơ đồ ao nuôi thâm canh

Trang 26

Tóm tắt quy trình kỹ thuật nuôi

+ Kiểm tra tôm trước khi thu hoạch

+ Cách thu hoạch (thu tỉa hay thu hết)

+ Bảo quản sau thu hoạch

+ Liên hệ khách hàng

Hình 4.3 Sơ đồ quy trình quản lý nước

- Cải tạo ao: Tháo cạn nước, sên hết lớp bùn dơ ở tất cả các ao đặt cống

đăng lưới phơi đáy ao, bón vôi đều khắp mặt ao kể cả bờ với liều lượng từ

500kg/ha, khoảng 7 ngày sau (kể từ khi bón vôi) lấy nước vào ao 2 lần để rửa lại ao

sau đó cấp nước vào thả giống nuôi

Trang 27

- Diệt tạp: Diệt tạp khử mầm bệnh trong nước bằng dây thuốc cá hoặc

chlorine với liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất

- Giữ màu nước nuôi: Thông qua việc thay nước và dùng phân NPK,

- Cho tôm ăn: Thức ăn viên kết hợp với thức ăn tươi sống với lượng

khoảng 2.000 kg cho cả 2 vụ nuôi Cho tôm ăn 4 lần trong ngày chủ yếu tập trung vào buổi sáng sớm và ban đêm

- Quản lý nước nuôi: Thường xuyên kiểm tra các yếu tố cơ bản của nước

ao nuôi (mức nước, nhiệt độ, pH, độ trong, màu nước, độ mặn, ) thông qua việc thay nước và sử dụng một số sản phẩm của ngành để điều chỉnh tính chất nước nuôi luôn nằm trong giới hạn tối ưu cho đối tượng nuôi

- Giải pháp về vốn

Bảng 4.3: Đầu tư xây dựng cơ bản

Trang 28

Bảng 4.4: Đầu tư mua sắm trang thiết bị

Bảng 4.5: Chi phí sản xuất cho 1 vụ tôm

Trang 29

- Nguồn vốn tổng số: 175.800.000 đồng

+ Vốn tự có: 69.800.000 đồng

+ Vốn xin vay: 106.000.000 đồng

Hình thức vay trang trại, anh vay được 2 năm

- Kế hoạch xin vay:

+ Thời gian xin vay: 05 năm

+ Trả lãi 1%/tháng và nợ dần hằng năm

Hiệu quả kinh tế của ao nuôi thâm canh (tính cho 1 vụ nuôi)

Phần chi phí: 49.370.000 đồng

Chi phí lưu động: 36.200.000 đồng

Chi phí khấu hao: 8.170.000 đồng

Chi phí cơ hội: 5.000.000 đồng

Qua kết quả phân tích lợi ích, chi phí trên cho thấy mô hình nuôi tôm theo hình thức thâm canh nếu nuôi thành công thì lợi nhuận rất cao Tuy nhiên, nuôi tôm theo hình thức thâm canh nông dân gặp nhiều rủi ro Vì số tiền đầu tư rất lớn lỡ nuôi tôm thất bại nợ sẽ chồng chất đời sống người dân rất bấp bênh

Trang 30

* Trường hợp 2

Xét hộ Ngô Văn Hương, 52 tuổi, trình độ học hết lớp 3, ngụ tại ấp Long Khánh A, xã Long Khánh ông nuôi 2 vụ tôm liên tiếp, diện tích mặt nước nuôi 1 ha, nuôi theo hình thức bán thâm canh, tổng chi phí sản xuất là 26,4 triệu đồng trong 1

vụ, vụ đầu tiên vừa mới thả tôm không bao lâu toàn bộ tôm bị chết hết Thu hoạch chỉ được 2,8 triệu đồng Ông lỗ 23,6 triệu đồng Năm 2003 ông vay ngân hàng 106 triệu đồng, đến năm 2004 ông phải trả nợ cho ngân hàng là 31,376 triệu đồng Như vậy nếu vụ kế tiếp cũng thất bại như vụ đầu tiên, ông không còn cách nào khác là phải vay nợ bên ngoài để trả nợ cho ngân hàng với lãi suất rất cao 5-10%

* Trường hợp 3

Xét chủ hộ Tăng Văn Huỳnh 56 tuổi, trình độ lớp 5, ngụ tại ấp Xóm Chùa, Long Vĩnh ông nuôi 2 vụ liên tiếp, hình thức nuôi là quãng canh cải tiến Tổng diện tích mặt nước nuôi là 1 ha, tổng chi phí sản xuất là 19,47 triệu đồng/vụ, cả 2 vụ nuôi đều thất trắng Năm 2003 ông vay ngân hàng 40 triệu đồng Như vậy năm 2004, để tiếp tục sản xuất ông phải vay bà con bên ngoài

4.2.2 Hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi tôm biển

Kết quả tính toán cho 90 hộ nuôi tôm biển tại 4 xã Đông Hải, Long Khánh, Long Toàn, Long Vĩnh với tổng diện tích đất đai là 318,45 ha, trong đó có 178,32

ha diện tích mặt nước, tổng chi phí sản xuất là 3,241 tỷ đồng, tổng giá trị sản phẩm

là 4,769 tỷ đồng, giá trị lợi nhuận là: 1,528 tỷ đồng

Kết quả cũng cho thấy rằng các mô hình nuôi tôm biển đều có lãi nhưng không đồng đều, có vùng được mùa, có vùng mất mùa, có hộ được mùa, có hộ mất mùa Nếu tính chung trong 90 hộ khảo sát, số hộ nuôi thua lỗ 37 hộ chiếm 41,1% và

số hộ nuôi huề vốn là 20 hộ chiếm 22,2%, số hộ nuôi có lời 33 hộ chiếm 36,7 % tổng số hộ điều tra

Trang 31

Bảng 4.7: Tình hình nuôi tôm biển phân theo nhóm hộ khảo sát năm 2004

Qua kết quả phân tích Chi-Square ở Bảng 4.7 của mô hình thâm canh cho thấy mức ý nghĩa quan sát là 0.670 rất lớn so với 0.05 Do đó ta chấp nhận giả thuyết là tần suất xảy ra giữa các nhóm hộ nuôi tôm lỗ vốn, huề vốn, có lời là như nhau trong mô hình thâm canh Tương tự đối với mô hình bán thâm canh cũng không có sự khác biệt ý nghĩa về tần suất xảy ra giữa nhóm hộ lỗ vốn, có lời, huề vốn vì Sig =0.301> 0.05 Tuy nhiên, có sự khác biệt rất có ý nghĩa giữa các nhóm

hộ nuôi tôm thua lỗ, huề vốn và nhóm hộ nuôi có lời trong mô hình quãng canh cải tiến vì mức ý nghĩa quan sát rất nhỏ (Sig =0.014<0.05)

Nếu so sánh các mô hình với nhau, mô hình thâm canh số hộ thua lỗ 40%,

mô hình quãng canh cải tiến số hộ thua lỗ 56,6%, trong khi đó mô hình bán thâm canh số hộ nuôi thua lỗ chỉ chiếm tỷ lệ 26,7% Vả lại số hộ nuôi có lời của mô hình bán thâm canh chiếm 46,7% cao hơn so với mô hình thâm canh (33,3%) và quãng canh cải tiến (30,0%) Số hộ nuôi huề vốn của mô hình quãng canh cải tiến chiếm 13,3%, không có sự khác biệt về số hộ nuôi tôm huề vốn giữa mô hình bán thâm canh và thâm canh (26,7%)

Dựa vào chỉ tiêu chi phí, thu nhập, lãi thuần (RAVC), hiệu quả đồng vốn là một trong những yếu tố quan trọng để làm cơ sở phân tích, đánh giá và so sánh lợi ích kinh tế của các mô hình Kết quả Bảng 4.8 cho thấy lãi thuần của mô hình nuôi tôm biển theo hình thức thâm canh 21,91 triệu đồng/ha/vụ, bán thâm canh là 10,97 triệu đồng/ha/vụ, quãng canh cải tiến 4,93 triệu đồng/ha/vụ Kết quả phân tích cũng chỉ ra tổng chi phí đầu tư bình quân cho 1 ha nuôi tôm công nghiệp cao gấp 2,65 lần

Trang 32

so với hình thức nuôi bán thâm canh và cao gấp 3,83 lần so với hình thức nuôi quãng canh cải tiến

Tuy nhiên, tỉ suất lợi nhuận hay nói cách khác là hiệu quả đồng vốn (lợi nhuận/chi phí) để đánh giá hiệu quả kinh tế đối với mô hình bán thâm canh lại cao nhất (0,72) Kế đến là hiệu quả đồng vốn của mô hình thâm canh (0,54), thấp nhất là

mô hình quãng canh cải tiến chỉ có (0,47) Như vậy ta dễ dàng nhận thấy rằng, mô hình bán thâm canh rất có hiệu quả bởi vì chi phí đầu tư bỏ ra ít hơn so với mô hình thâm canh Vả lại nuôi tôm theo mô hình này rất thích hợp với túi tiền của đa số người dân

Bảng 4.8: Hiệu quả đầu tư và chi phí của các mô hình nuôi tôm biển ( ĐVT: triệu đồng)

Chi

Lãi (RAVC)

Hiệu quả đồng vốn

4.2.3 Nghề nuôi tôm biển góp phần tăng giá trị GDP

Thực tiễn trên 10 năm qua cho thấy, ngành nuôi trồng thuỷ sản huyện Duyên Hải ngày càng khẳng định vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, là đòn bẩy để thúc đẩy các ngành kinh tế khác của huyện nói riêng mà còn là một trong những ngành chủ lực quan trọng của tỉnh Trà Vinh nói chung Nó là một trong những ngành góp phần quyết định vào mức tăng trưởng GDP hằng năm của tỉnh Bình quân hằng năm

huyện Duyên Hải đóng góp 36,7% tổng sản lượng ngành thuỷ sản của tỉnh (Phòng

nông nghiệp& phát triển nông thôn huyện Duyên Hải, 2003) Nuôi trồng thuỷ sản

huyện Duyên Hải không những nó cung cấp nhiều sản phẩm hàng hoá đa dạng, phong phú cho tiêu dùng, chế biến mà còn làm tăng thêm nguồn kim ngạch xuất khẩu của huyện GDP bình quân trên đầu người của huyện Duyên Hải hằng năm đều tăng bình quân 11,7%/năm Cụ thể như sau:

Trang 33

Hình 4.4 Thu nhập bình quân trên đầu người qua các năm

Năm 1997 GDP là 160 (USD người/năm) tăng 11,5 % so với năm 1996 (116 USD người/năm), năm 1998 tăng 14,8 % so với 1997, năm 1999 tăng 2,8% so với

1998 Năm 2003 GDP tiếp tục tăng 18,6% so với năm 2002 Sự gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người là do nhiều ngành nghề đóng góp Tuy nhiên ngành thuỷ sản đóng góp khoảng 69,7% so với ngành nghề khác trong địa bàn toàn

huyện.(Phòng NN&PTNT Duyên Hải, 2004)

4.3 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM BIỂN ĐẾN XÃ HỘI

4.3.1 Điều kiện kinh tế- xã hội của nông hộ khảo sát

Trong nuôi trồng thuỷ sản, ngoài các điều kiện tự nhiên như đất đai, nguồn nước; nguồn lực nội tại của nông hộ bao gồm vốn, lao động, tư liệu sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, trình độ học vấn… có ảnh hưởng rất lớn khả năng sản xuất của nông hộ

Trang 34

4.3.1.1 Số nhân khẩu và trình độ học vấn của chủ hộ khảo sát

Trung bình, mỗi hộ khảo sát có số khẩu trung bình là 4,8 người/hộ Số trẻ em dưới 10 tuổi chỉ chiếm khoảng 0,5 người/hộ và số người lớn hơn 60 tuổi là 0,2 người/hộ Chủ hộ của các hộ khảo sát có tuổi trung bình là 45,0 và có 5,7 số năm đi học

Bảng 4.9: Tuổi trung bình, trình độ học vấn chủ hộ, số nhân khẩu trong các hộ khảo sát

Quy mô

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Các hộ khảo sát được chia thành 3 nhóm: các hộ nuôi tôm thâm canh, các hộ nuôi tôm bán thâm canh và các hộ nuôi tôm quãng canh cải tiến Kết quả trong Bảng 4.10 cho thấy rằng những hộ thuộc nhóm nuôi tôm theo hình thức thâm canh, chủ hộ có tuổi trung bình (43,5) trẻ hơn nhóm chủ hộ nuôi tôm theo hình thức bán thâm canh (43,9) và quãng canh cải tiến (47,5)

Trang 35

Bảng 4.10: Quy mô và cơ cấu của hộ phân theo nhóm khảo sát

bình

Độ lệch chuẩn

Bên cạnh đó, học vấn giữa nhóm chủ hộ nuôi tôm theo hình thức thâm canh 6,2 năm đến lớp, nhóm nuôi tôm theo hình thức bán thâm canh là 5,9 năm đến lớp

và quãng canh cải tiến là 5,1 số năm đến lớp Điều đó cho thấy rằng trình độ học vấn của nhóm nuôi tôm theo hình thức thâm canh cao hơn nhóm nuôi tôm theo hình thức bán thâm canh và quãng canh cải tiến Học vấn cao là điều kiện để họ tìm hiểu

và tiếp thu khoa học kỹ thuật mới Do đó, họ cũng sẽ có điều kiện chuyển sang mô hình nuôi tôm thâm canh càng dễ dàng hơn Tuy nhiên, dùng phép thử Ducan để kiểm định thống kê kết quả lại không có sự khác biệt trình độ học vấn giữa 3 nhóm chủ hộ ở mức độ tin cậy 95% Kết quả điều tra cũng cho thấy không có chủ hộ có

Trang 36

trình độ cao đẳng, đại học đối với cả ba nhóm hộ nuôi tôm nói trên Điều này nói lên trình độ học vấn của người dân trên địa bàn khảo sát còn rất thấp, chủ yếu là lao động phổ thông Cần lưu ý rằng, đối với các nghề có thu nhập cao, tính rủi ro lớn như khai thác hải sản xa bờ, nuôi tôm công nghiệp, các lao động bị hạn chế về kiến thức cơ bản trong nghề nghiệp sẽ gặp những khó khăn trong phát triển sản xuất

Số nhân khẩu trung bình của các hộ nuôi tôm theo hình thức thâm canh cũng nhỏ hơn nhóm bán thâm canh và quãng canh cải tiến Trung bình nhóm nuôi tôm theo hình thức thâm canh có 4,6 khẩu/hộ còn đối với nhóm nuôi theo hình thức bán thâm canh 4,8 người/hộ và quãng canh cải tiến là 5,0 người/ hộ

4.3.1.2 Tiếp cận thông tin

* Tiếp cận thông tin chính sách

Khi tìm hiểu về khả năng tiếp cận các chính sách về nuôi trồng thuỷ sản, các chính sách về chuyển đổi cơ cấu sản xuất ngư-lâm-diêm nghiệp hay các chính sách cho vay vốn, chính sách về xóa đói giảm nghèo, chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn …phần lớn người dân đều đã có nghe thông tin về các chính sách của tỉnh, huyện là 70% trong tổng số 90 hộ khảo sát Tuy nhiên, vẫn còn 30% số người được hỏi bảo rằng họ không biết gì về thông tin chính sách của tỉnh, huyện Nếu so sánh số liệu này với thực trạng 84,4% đều có đài truyền hình và 58,9% có radio, có thể nói phương pháp truyền đạt hoặc chuyển tải các thông tin này chưa phù hợp với đối tượng nông dân nên không được tất cả quan tâm

Kết quả kiểm địnhChi-Square cho thấy, không có sự khác biệt tần suất giữa nhóm có tiếp cận thông tin và nhóm không có tiếp cận thông tin về chính sách trong

mô hình quãng canh cải tiến (vì Sig 0.273 >0.05) Tuy nhiên, có sự khác biệt tần suất giữa nhóm có tiếp cận thông tin và nhóm không có tiếp cận thông tin về chính sách trong cả hai mô hình thâm canh và bán thâm canh ở mức độ tin cậy 95%

Trang 37

Bảng 4.11: Tiếp cận thông tin chính sách phân theo nhóm khảo sát

Nếu so sánh cách tiếp cận thông tin về chính sách của các mô hình với nhau

ta thấy đối với mô hình thâm canh tỷ lệ người dân tiếp cận thông tin về chính sách cao nhất (76,7%), kế đó là mô hình bán thâm canh (73,3%), thấp nhất là mô hình quãng canh cải tiến (60%)

Nhìn chung, các loại chính sách được nông dân quan tâm đến là chính sách cho vay vốn khắc phục bảo Linda, chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách hỗ trợ trồng rừng, chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ trồng lúa sang nuôi tôm, chính sách hỗ trợ kỹ thuật nuôi tôm Đặc biệt, các chính sách về hỗ trợ vay vốn cho các trang trại, cho chăn nuôi, vay đánh bắt thuỷ sản, vay kinh doanh… được 100% nông dân biết đến Các chính sách về phúc lợi cộng đồng như đầu tư nâng cấp trường học, bệnh viện hay các chính sách hỗ trợ con em đến trường ít được người dân quan tâm, thậm chí chính sách miển viện phí cho các hộ nghèo có hộ chưa biết đến

Phần lớn những chính sách này đã được nông dân tiếp cận thông qua các kênh thông tin từ chính quyền địa phương xã (47,6%) Các thông tin về chính sách

ít được nông dân đề cập đến trên kênh thông tin đại chúng như đài truyền hình, radio (28,6%)

Trang 38

Bảng 4.12: Các kênh thông tin được người dân tiếp cận chính sách theo nhóm khảo sát

canh

Quãng canh cải tiến

Nguồn: Điều tra nông hộ(2004)

* Tiếp cận thông tin khoa học kỹ thuật mới

Những kỹ thuật nuôi tôm sú nông dân tiếp cận được từ nguồn thông tin xem trên đài truyền hình, radio (33,5%), đọc sách báo 9,6% Tham quan học hỏi từ bàn

bè hàng xóm chiếm con số rất đáng kể (40,1%), trong khi việc tiếp cận thông tin khoa học kỹ thuật từ lớp tập huấn chỉ chiếm (16,8%)

Nếu so sánh từng mô hình với nhau ta thấy, nhóm nuôi tôm biển theo hình thức thâm canh thường dự lớp tập huấn khuyến ngư (25,9%) nhiều hơn nhóm nuôi theo hình thức bán thâm canh (16,1%) và quãng canh cải tiến (8,8%) Điều đó nói lên rằng người dân tham gia các khóa tập huấn kỹ thuật cũng có tác động tích cực đến hiệu quả kinh tế của mô hình mà họ đang nuôi, thực tế qua phỏng vấn cũng cho thấy được điều đó Tuy nhiên, vẫn có một số nông dân tham gia tập huấn kỹ thuật nhưng họ không áp dụng vào ao nuôi của mình, và một số hộ đã áp dụng kỹ thuật từ lớp tập huấn nhưng họ áp dụng không hiệu quả Bởi vì, thực tế để đạt được những thành công từ lớp tập huấn mà họ học được sẽ còn tuỳ thuộc vào các điều kiện khác của nông hộ như điều kiện về đất đai, vốn, lao động và việc người nông dân có chấp nhận rủi ro hay không?

Nếu so sánh giữa 3 nhóm nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh và quãng canh cải tiến trong việc tiếp cận thông tin qua đài truyền ta thấy tỷ lệ % đối với mô hình thâm canh là 24,1%, bán thâm canh là 41,1%, quãng canh cải tiến là 35,1% Điều này cũng

Trang 39

cho thấy 2 nhóm hộ nuôi tôm bán thâm canh và quãng canh cải tiến rất thích nghe và xem các chương trình khuyến ngư trên đài phát thanh và truyền hình hơn là nhóm nuôi tôm theo hình thức thâm canh Tuy nhiên, điểm chú ý trong khảo sát này cho thấy đối với 3 nhóm hộ khảo sát, ngoài việc tiếp thu các nguồn thông tin trên, việc đọc sách tìm hiểu kỹ thuật mới không được các nhóm này quan tâm

Bảng 4.13: Nguồn thông tin được nông dân tiếp cận theo nhóm khảo sát

canh

Quãng canh cải tiến

Nhìn chung, việc tham dự kỹ thuật được tập huấn từ cán bộ khuyến ngư chưa thật sự quan trọng (16,8%) Mà nguồn quan trọng nhất là nông dân tiếp thu qua đài truyền hình (33,5%) và bạn bè, láng giềng, chia sẻ kinh nghiệm với nhau (40,1%) Đọc sách chỉ nhằm tăng thêm sự hiểu biết, và cũng chỉ là thói quen giải trí nhưng chưa thật sự là yếu tố giúp nông dân thành công

Nhằm đánh giá về khả năng áp dụng kỹ thuật từ lớp tập huấn của nhóm nông dân được khảo sát, chúng tôi đưa ra câu hỏi có nhiều lựa chọn để giúp người dân tự đánh giá lại những gì mà họ đã học và đã áp dụng thực tiễn Kết quả khảo sát 28 hộ

có dự lớp tập huấn cho thấy phần lớn là họ đã áp dụng nhưng không hiệu quả chiếm 67,8% (Bảng 4.14) Có khoảng 21,4% hộ áp dụng rất thành công những gì họ đã được học Tuy nhiên, có 10,7% hộ dự lớp tập huấn nhưng do điều kiện chủ quan và khách quan nên họ không áp dụng kỹ thuật mới mà họ học được vào ao nuôi của

Trang 40

mình Một người dân được phỏng vấn nói rằng: “Họ chỉ áp dụng một phần nhỏ

những gì được hướng dẫn vì thực tế sản xuất của họ khác với những điều các chuyên viên đã nói và nuôi thì cứ nuôi, nhưng không biết chắc chắc có trúng không Hơn nữa, những hộ trung bình và nghèo không đủ vốn để nuôi tôm theo kỹ thuật được trình bày” Nhu cầu đào tạo về kỹ thuật nuôi tôm sú của người dân là rất lớn

Vì hiện nay trong nuôi tôm họ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân và hàng xóm láng giềng nên hiệu quả khá bấp bênh Họ mong muốn các cơ quan nhà nước tiếp tục tập huấn kỹ thuật nuôi tôm sú định kỳ với các nội dung phù hợp với thực tế sản xuất của địa phương, nhất là phải xây dựng 5-10 mô hình trình diễn về kỹ thuật nuôi

để họ còn tiếp cận học hỏi thực hành Có như vậy mới giúp họ nuôi tôm có hiệu quả

Bảng 4.14: Mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật chia theo nhóm khảo sát

canh

Quãng canh cải tiến

* Tiếp cận thông tin về tín dụng

Vốn là điều kiện cần thiết trong việc quyết định khả năng đầu tư sản xuất của nông hộ Việc tiếp cận thông tin về vốn là điều kiện tiên quyết trong sản xuất, đặc biệt là trong việc mở rộng diện tích nuôi hoặc mua thêm máy móc thiết bị để áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật Vốn có thể phân làm 2 loại: vốn tự có của nông hộ (bao gồm đất đai, tư liệu sản xuất, lao động) và vốn vay (gồm vay từ ngân hàng, vay mượn bạn bè…)

Trong số 90 nông hộ khảo sát khi hỏi về điều kiện vốn của gia đình có

Ngày đăng: 28/02/2021, 17:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ANONYMOUS. 2001. Status of world aquaculture Magazine Buyer , s Guide 30,6-38 Khác
3. BOYD, C.E, TUCKER C.S. 1998. Pond Aquaculture water quality management. kluwer academic publishers,boston, MA.700pp Khác
4. BOYD, C.E. 1998b. Water quality for pond aquaculture. Research and development series No.43, August 1998, 37p Khác
5. BOYD C.E, TUCKER C.S. 2000. Ruler – making for aquaculture effluents in the US. Global Aquaculture Advocate 3 (6),81-82 Khác
6. BOYD, C.E, QEIROZ, J. 2001. Feasibility of retention structures, settling basins, and best management practices in effluent regulation for Alabama channel catfish farming. Reviews in fisheries science 9,43-67 Khác
7. BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG, BỘ THUỶ SẢN. 2003. Hướng dẫn đánh giá tác động môi trường cho nuôi trồng thuỷ sản ven biển Khác
8. BỘ THUỶ SẢN. 1994. Thông tƣ 02 TS/TT ngày 25/6/1994 Khác
9. BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG.1998. Thông tư số 490/1998/TT- 4 Khác
10. BRIGGS, M.R.P. 1994. Status, problems and solution for sustainable shrimp culture industry with special reference to Thailand. In: Development strategies for sustainable shrimp farming, report to ODA, Research Project R4751, 1-41 Khác
11. BRIGGS, M.R.P, AND FUNGE –SMITH. S.J. 1994. A nutrient budget of some intensive marine shrimp ponds in Thailan. Aqua. Fish. Manage. 25, 789- 811.0 Khác
12. BUI ĐINH CHUNG. 2001. The Research Institute of Marine Products, Hai Phong Khác
13. CHUA. T.E., PAW J.N, AND GUARIN F.Y.1989. The environmental impact of aquaculture and the effects of pollution on coastal aquaculture development in southeast Asia. Marine pollution bulletin 20, 335-343 Khác
14. DƯƠNG BẢO VIỆT. 2003. Ảnh hưởng của dự án khôi phục rừng ngập mặn Khác
15. FAO. 2001. Fao Yearbook. Fishery statisties. Aquaculture production,vol. 88/2. Fao, Rome,178 pp Khác
16. FINGER-STICH. A. 1996. Shrimp aquacultures impact in Asia. Evironment 1996; 38 (7):12-5 Khác
17. FLAHERTY. M, ET AL. 2000. Low salinity inland shrimp farming in Thailand. Ambio 2000;29:174_179 Khác
18. GESAMP, ET AL. 1997. Towards safe and effective use of chemicals in coastal aquaculture, 40p Khác
19. HẠT KIỂM LÂM HUYỆN DUYÊN HẢI. 2004. Thống kê tài nguyên rừng ngập mặn 2003-2004 Khác
20. HOPKINS, ET AL. 1995. A review of water management regimes which abate the environmental impacts of shrimp farming. Louisiana, USA. World Aquaculture Society 1995;29:431_438 Khác
21. KAUTSKY, ET AL. 2000. Ecosystem perspectives on management of disease in shrimp pond farming. Aquaculture 2000;191:145_161 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w