Một số giải pháp giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng SHB CN Tuyên Quang Một số giải pháp giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng SHB CN Tuyên Quang Một số giải pháp giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng SHB CN Tuyên Quang luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là do chính bản thân tôi tổng hợp từ các báo cáo tài chính và hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại được công bố tại các báo cáo thường niên và các trang web Các số liệu hoàn toàn trung thực, chính xác
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan trên
Ngày tháng năm 2017
Người viết
Nguyễn Cao Thạch
Trang 2ii
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục viết tắt v
Danh mục bảng biểu vi
Danh mục hình vẽ đồ thị vii
Tài liệu tham khảo viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 3
1.1.1 Khái niệm của ngân hàng thương mại 3
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 3
1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế 5
1.1.4 Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 7
1.2 Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại 9
1.2.1 Khái niệm rủi ro của ngân hàng thương mại 9
1.2.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại 9
1.2.2.1 Rủi ro tín dụng 9
1.2.2.2 Rủi ro hoạt động 12
1.2.2.3 Rủi ro lãi suất 16
1.2.2.4 Rủi thanh khoản 18
1.2.2.5 Rủi ro tỷ giá hối đoái 20
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động của NHTM …20
1.3 Quản lý rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại 22
1.3.1 Sự cần thiết quản lý rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại 22
1.3.2 Nội dung quản lý rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại 22
1.3.2.1 Xác định rủi ro 22
1.3.2.2 Phân tích rủi ro 23
1.3.2.3 Đo lường rủi ro 23
1.3.2.4 Biện pháp phòng ngừa rủi ro 24
Trang 3iii
1.3.2.5 Tài trợ rủi ro 24
1.3.3 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý rủi ro trong hoạt động của NHTM 27
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro của ngân hàng 28
1.4 Kinh nghiệm QTRR trong hoạt động của NHTM trong nước và quốc tế 30
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro trong hoạt động của các NHTM trong nước 30
1.4.2 Kinh nghiệm quản trị rủi ro trong hoạt động của NHTM quốc tế 32
1.4.3 Bài học với ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang 36
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN - HÀ NỘI CHI NHÁNH TUYÊN QUANG 39
2.1 Giới thiệu về ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang 39
2.1.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ 40
2.1.1.1 Phòng KHDN, KHCN ( Phòng tín dụng ) 40
2.1.1.2 Phòng thẩm định 41
2.1.1.3 Phòng dịch vụ khách hàng 42
2.1.1.4 Phòng ngân quỹ 42
2.1.1.5 Phòng công nghệ thông tin 44
2.1.1.6 Phòng hành chính quản trị 45
2.1.1.7 Phòng kế toán 47
2.1.1.8 Phòng thẻ 51
2.1.2 Một số kết quả hoạt động kinh doanh chính 52
2.2 Thực trang rủi ro và công tác quản lý rủi ro trong hoạt động tại ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang giai đoạn 2014 - 2016 54
2.2.1 Nhận diện rủi ro trong hoạt động của ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang giai đoạn 2014 - 2016 54
2.2.1.1 Đánh giá dấu hiệu rủi ro liên quan đến quá trình xử lý công việc 55
2.2.1.2 Nhận diện rủi ro 57
2.2.2 Phân tích thực trang rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang giai đoạn 2014 - 2016 57
2.2.2.1 Thực trạng chung về tín dụng tại SHB - CN Tuyên Quang 57
2.2.2.2 Hoạt động huy động vốn 58
Trang 4iv
2.2.2.3 Hoạt động cho vay 60
2.2.2.4 Hoạt động quản lý và thu nợ 62
2.2.3 Phân tích thực trang rủi ro hoạt động tại ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang giai đoạn 2014 - 2016 67
2.2.4 Phân tích thực trang rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang giai đoạn 2013 - 2016 69
2.3 Đánh giá rủi ro và quản lý rủi ro trong hoạt động tại ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang giai đoạn 2011 - 2016 74
2.3.1 Những kết quả đạt được 74
2.3.2 Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân 76
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế 80
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG SÀI GÒN - HÀ NỘI CHI NHÁNH TUYÊN QUANG 83
3.1 Định hướng hoạt động kinh doanh và mục tiêu giảm thiểu rủi ro của ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang 83
3.1.1 Mục tiêu hoạt động kinh doanh của ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang đến năm 2020 83
3.1.2 Định hướng công tác quản lý rủi ro hoạt động của ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang 83
3.2 Các giải pháp giảm thiểu rủi ro cho NH Sài Gòn - Hà Nội CN Tuyên Quang 85
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quy trình hoạt động tác nghiệp 85
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện trong hoạt động tín dụng 90
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện trong công tác quản trị rủi ro lãi suất 95
3.3 KIẾN NGHỊ 102
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 102
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội 102
KẾT LUẬN 105
Trang 5SHB Saigon - Hanoi Commercial
Joint Stock Bank
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
SHB TUYÊN
QUANG
Saigon - Hanoi Commercial Joint Stock Bank - Tuyen Quang Branch
Ngân hàng thương mại cổ phần SHBchi nhánh Tuyên Quang
Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Trang 6vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Nội dung bảng biểu
Số trang
Bảng 2.1 : Tình hình hoạt động chung từ năm 2014 - 2016 53 Bảng 2.2: Số liệu lỗi rủi ro của SHB TQ theo nghiệp vụ trong thời gian các
Bảng 2.3 : Số liệu tổng nguồn vốn , dư nợ, doanh số thu nợ của SHB Tuyên
Bảng 2.4 : Bảng số liệu về tổng vốn huy động và số lượng vốn huy động
theo các kỳ hạn của CN Tuyên Quang trong giai đoạn 2014 - 2016 59 Bảng 2.5 : Bảng số liệu về tổng doanh số cho vay và số lượng vốn vay theo
các kỳ hạn của CN Tuyên Quang trong giai đoạn 2014 - 2016 60
Trang 7vii
DANH MỤC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ Nội dung hình vẽ đồ thị Số trang
Hình 1.1 : Vị trí của NHTM trong nền kinh tế 5 Hình 1.2 : Nguyên nhân rủi ro của hoạt động 23 Hình 1.3 : Quy trình thẩm định tín dụng được áp dụng tại các ngân
Hình 2.1 : Cơ cấu tổ chức của SHB CN Tuyên Quang 40 Hình 2.2 : Tình hình hoạt động chung từ năm 2014 -2016 53 Hình 2.3 : Số liệu lỗi rủi ro của SHB TQ theo nghiệp vụ trong thời
Hình 2.4 : Số liệu tổng nguồn vốn , dư nợ, doanh số cho vay, doanh
số thu nợ của SHB Tuyên Quang giai đoạn 2014 - 2016 58 Hình 2.5 : Tổng doanh số huy động và số lượng vốn huy động theo
các kỳ hạn của CN Tuyên Quang trong giai đoạn 2014 - 2016 59 Hình 2.6 : Tổng doanh số cho vay và số lượng vốn vay theo các kỳ
hạn của Chi nhánh Tuyên Quang trong giai đoạn 2014 – 2016 60 Hình 2.7 : Kết cấu dư nợ tín dụng phân theo loại nợ của CN Tuyên
Hình 2.8 : Tổng dư nợ quá hạn phân theo nhóm nợ của Chi nhánh
Hình 2.9 : Tổng dư nợ tín dụng phân theo TSĐB của CN Tuyên
Hình 2.10 : Tỉ lệ và số tiền trích lập dự phòng rủi ro của SHB Tuyên
Hình 2.11 : Số liệu lỗi rủi ro hoạt động của SHB Tuyên Quang 67 Hình 2.12 : Tỷ lệ khe hở nhạy cảm lãi suất VND năm 2015, 2016 71 Hình 2.13 : Tỷ lệ khe hở nhạy cảm lãi suất l y kế Tổng tài sản (VND)
Hình 2.14 : Tỷ lệ khe hở nhạy cảm lãi suất USD năm 2015, 2016 72 Hình 2.15 : Tỷ lệ khe hở nhạy cảm lãi suất l y kế Tổng tài sản
Hình 3.1 : Đề xuất mô hình bộ máy tổ chức tại Hội sở chính 85
Hình 3.2 : Đề xuất mô hình tổ chức quản lý rủi ro tại Chi nhánh 86
Hình 3.3 : Quy trình quản trị rủi ro lãi suất 98
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn đối mặt với những rủi ro Có thể nói rằng lợi nhuận thu được của Ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro Hoạt động mà lợi nhuận đem lại càng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng cao và nguy cơ xảy ra rủi ro là ở mức
độ cao Không có hoạt động kinh doanh nào của ngân hàng mà không có rủi ro Do
đó việc xác định, đo lường, đánh giá rủi ro để từ đó giảm thiểu rủi ro, giám sát rủi ro
là việc mà các Ngân hàng hiện nay đang hết sức quan tâm và tìm cách để nâng cao chất lượng quản lý rủi ro
Rủi ro luôn hiện hữu trong các giao dịch và hoạt động của ngân hàng nhưng lại khó lường nhất Nguyên nhân gây ra rủi ro rất đa dạng, chủ yếu là các nguyên nhân chủ quan từ nội tại của ngân hàng như: con người, quy trình, vận hành
hệ thống …
Trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới, môi trường kinh doanh cạnh tranh gay gắt, công nghệ ứng dụng trong ngân hàng ngày càng hiện đại, khủng hoảng tài chính diễn ra có tính chất thường xuyên và ảnh hưởng đến toàn cầu, tăng cường quản lý rủi ro cần được cải cách theo hướng hiện đại, phù hợp với thực tế và nâng cao khả năng dự báo Vậy các biện pháp hiện đại để quản lý rủi ro xuất phát từ đâu và sẽ được áp dụng như thế nào trong thực tế để đem lại hiệu quả, giảm thiểu rủi ro, giám sát rủi ro
Ngân hàng SHB CN Tuyên Quang là một chi nhánh thuộc hệ thống Ngân hàng TMCP SHB Kể từ khi được thành lập đến nay, SHB Tuyên Quang đã đạt được nhiều thành quả đáng kể, đóng góp vào sự phát triển của toàn hệ thống SHB Đối với quản lý rủi ro, được sự hướng dẫn của hội sở, Chi nhánh đã thực hiện những biện pháp để đo lường, đánh giá, giảm thiểu và giám sát rủi ro Tuy nhiên trong bối cảnh mới, Chi nhánh cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý rủi ro theo hướng hiện đại phù hợp với xu thế chung của thế giới, đảm bảo và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Đó c ng là lý do tác giả lựa chọn đề tài
“Một số giải pháp giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng SHB chi nhánh Tuyên Quang” cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Phân tích và đề xuất giải pháp giảm thiểu giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng SHB Chi nhánh Tuyên Quang
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài sẽ thực hiện những nhiệm
vụ sau đây:
Trang 9 Đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng SHB Chi nhánh Tuyên Quang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý rủi ro tại Ngân hàng SHB CN
Tuyên Quang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi nghiên cứu về không gian: Ngân hàng TMCP SHBCN Tuyên Quang
b Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Nghiên cứu thực trạng rủi ro tại Ngân hàng
SHB CN Tuyên Quang trong khoảng thời gian từ năm 2013 – 2016 và đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro cho chi nhánh Tuyên Quang giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu trên đây, Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp tổng quan tài liệu (Literature review) để hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro của Ngân hàng thương mại
- Phương pháp phân tích so sánh (Comparative analysis) để xác định khu vực
có vấn đề rủi ro của SHB Tuyên Quang
- Phương pháp phân tích nhân-quả (Cause-effect analysis): để xác định nguyên nhân của vấn đề rủi ro trong hoạt động của SHB Tuyên quang
- Phương pháp tổng hợp (Synthetic method): để xác định các giải pháp giảm thiểu rủi ro cho SHB Tuyên Quang
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro của ngân hàng thương mại
- Chương 2: Phân tích thực trạng rủi ro tại Ngân hàng SHB CN Tuyên Quang
- Chương 3: Giải pháp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của ngân hàng SHB
CN Tuyên Quang
Trang 103
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một bộ phận không thể tách rời khỏi đời sống xã hội, là một sản phẩm đặc biệt của nền kinh tế thị trường Sự ra đời của NHTM đánh dấu một bước nhảy vọt trong quá trình phát triển của nhân loại Hình thức sơ khai là các cơ sở chuyên cất giữ vàng và tiền hộ cho người gửi và nhận được một khoản lệ phí gọi là hoa hồng Ban đầu, các cơ sở này giữ lại toàn bộ số tiền và vàng của khách hàng, song về sau, qua thực tế hoạt động, họ nhận thấy việc giữ lại 100% tiền gửi của khách hàng là không cần thiết Vì trường hợp tất cả khách hàng đến rút tiền và vàng cùng một lúc là hầu như không xảy ra Do vậy, họ quyết định không giữ lại toàn bộ số tiền gửi của khách hàng, số còn lại họ sẽ đầu tư cho vay để thu lợi nhuận Trên cơ sở số tiền gửi của khách hàng, họ có thể sử dụng một phần để đầu tư cho vay, thực hiện một số dịch vụ như thanh toán hộ, chuyển tiền
hộ, v.v đến lúc này, ngân hàng ra đời
Theo Luật Các tổ chức tín dụng ban hành năm 2010, NHTM được định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng một hoặc một số các nghiệp vụ: tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Ở Việt Nam, theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng được định nghĩa như sau: “ Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.”
1.1.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
- Chức năng làm trung gian tín dụng:
Trong quá trình vận động của vốn tiền tệ trong nền kinh tế, tất yếu sẽ xảy ra tình trạng có những chủ thể (bao gồm cả doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội) có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến, đồng ghời
c ng trong quá trình đó lại có những chủ thể có nhu cầu vốn bổ sung tạm thời, song giữa chủ thể này không phải lúc nào c ng trực tiếp thoả mãn lẫn nhau về các nhu
Trang 114
cầu về vốn Với vai trò làm trung gian tín dụng, NHTM đứng ra làm trung gian tập trung huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể có vốn chưa sử dụng đến để cho các chủ thể thiếu vốn vay Như vậy, NHTM vừa là người nhận tín dụng (người đi vay) và vừa là người cấp tín dụng (người cho vay)
- Chức năng làm trung gian thanh toán :
Thực hiện chức năng này, NHTM thay mặt cho khách hàng tiến hành các nghiệp vụ có tính chất kỹ thuật liên quan đến sự vận động của vốn tiền tệ của khách hàng
Nghiệp vụ này bao gồm: Bảo quản tiền tệ, tiến hành thanh toán theo uỷ nhiệm của khách hàng, nhập tiền vào tài khoản, theo dõi sổ sách… Nghĩa là ngân hàng đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng, giúp họ không phải trực tiếp thanh toán với nhau Công việc này của ngân hàng ngày càng mở rộng về quy mô và phạm vi
K.Mark đã viết: "Công việc của người thủ quỹ chính là ở chỗ làm trung gian thanh toán Khi ngân hàng xuất hiện thì chức năng này được chuyển giao sang ngân hàng Tuy nhiên, khác với nghề kinh doanh tiền tệ dưới hình thức ban đầu giản đơn và thuần tuý của nó - nghĩa là tách khỏi chế độ tín dụng - trong ngân hàng, thì chức năng trung gian tín dụng gắn bó một cách chặt chẽ với trung gian thanh toán Ngân hàng dùng số tiền của nhà tư bản này để cho vay"
Chức năng này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quan
hệ thanh toán với nhau, làm giảm đi đáng kể những chi phí có liên quan đến lưu thông tiền mặt đối với từng doanh nghiệp c ng như đối với toàn xã hội
- Chức năng "tạo tiền" :
Hai chức năng làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán là tiền đề phát sinh chức năng "tạo tiền" của NHTM Quá trình tạo tiền của hệ thống NHTM
là quá trình mở rộng nhiều lần tiền gửi thông qua kỳ hạn Quá trình này được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt trong
hệ thống ngân hàng
Nếu chỉ xét thuần tuý khả năng tạo ra ngoại tệ thì với một khoản dự trữ mới được cung cấp thêm, toàn bộ hệ thống NHTM có thể tạo ra được một lượng tiền gửi qua ngân hàng gấp nhiều lần dự trữ ban đầu mà họ nhận được
Tuy nhiên, việc mở rộng tiền gửi như trên mới chỉ là khả năng mà thôi Mức
độ mở rộng tiền gửi của NHTM lên bao nhiêu lần còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: Tỷ lệ rút tiền mặt của khách hàng, mức độ sử dụng số vốn khả dụng của ngân hàng để cho vay… chức năng này đã tạo thêm nguồn vốn cho các NHTM để
mở rộng khả năng cho vay
Trang 125
Các chức năng của NHTM có mối quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn nhau, trong
đó chức năng tín dụng là chức năng cơ bản tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác Đồng thời thực hiện chức năng trung gian thanh toán và "tạo tiền" góp phần mở rộng hoạt động của chức năng trung gian thanh toán
1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Vị trí của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế được thể hiện qua sơ
đồ sau:
Hình 1.1: Vị trí của NHTM trong nền kinh tế
Tuy nhiên trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các NHTM đã chứng tỏ được vai trò của một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính bởi bề dày kinh nghiệm c ng như những lợi thế khác trong hoạt động, đặc biệt đối với nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, trong đó chủ yếu
là huy động dưới hình thức tiền gửi để cho vay thông qua hoạt động của mình Ngân hàng thương mại đã biến tiền thành vốn và từ vốn đó tạo ra lợi nhuận thông qua hoạt động tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thì tiền tệ vừa là phương tiện vừa là mục đích kinh doanh khi ngân hàng thực hiện kinh doanh tạo ra lợi nhuận đòi hỏi phải tìm đầu ra trước, sau đó định ra việc huy động vốn đầu vào Trong quản trị và điều hành kinh doanh tiền tệ ngân hàng phải chú ý đảm bảo khả năng chi trả, đặc biệt là việc giải ngân cho các khoản vay, các dự án đầu tư, phải tìm được nguồn vốn đầu vào có chi phí thấp, phải có chính sách đối với khách hàng,
để thiết lập được quan hệ thân tín với khách hàng, nhất là khách hàng hoạt động lớn có quan hệ thường xuyên bởi vì hoạt động của ngân hàng đều bắt đầu từ
Các trung gian tài
Trang 136
khách hàng, khách hàng là người bạn đồng hành của ngân hàng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của kháchh hàng
Trong kinh doanh ngân hàng phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn
để thu hút được mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội vào ngân hàng, tạo nên nguồn vốn của ngân hàng để đầu tư cho nền kinh tế Ngân hàng phải cải tiến liên tục, đảm bảo thanh toán nhanh chóng thuận tiện, an toàn tài sản cho khách hàng Ngoài ra cần có một số biện pháp tâm lý khách hàng phải luôn luôn đảm bảo tạo ra lợi nhuận đạt tỷ lệ tối ưu
Muốn có lợi nhuận tối ưu thì việc tạo thu nhập, giá thành về vốn thấp (chi phí đầu vào thấp) để tạo ra chênh lệch giữa thu nhập và chi phí cao, còn phải phân
bổ hợp lý tài sản có sinh lời, giảm thấp tỷ lệ rủi ro
Trong quá trình tuần hoàn vốn của nền kinh tế, giữa các doanh nghiệp, đơn vị,
tổ chức kinh tế, các cá nhân trong xã hội luôn xảy ra hiện tượng thừa thiếu vốn tại một thời điểm nhất định nào đó Hiện tượng xảy ra đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế không trùng nhau Để giải quyết mâu thuẫn này thì hệ thống ngân hàng thương mại
đã đứng ra huy động vốn tức là tập trung mọi khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa sử dụng đến của các chủ thể trong nền kinh tế đế tạo nên quỹ cho vay Trên cơ sở đó cung cấp cho các chủ thể cần vốn
Như vậy ngân hàng thương mại đóng vai trò là một tổ chức môi giới, vừa là người đi vay vừa là người cho vay Nói cách khác ngân hàng thương mại “Đi vay
để cho vay”
Với chức năng là trung gian tín dụng “Đi vay để cho vay” ngân hàng thương mại đóng vai trò rất to lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển vì: Ngân hàng thương mại đã đáp ứng được những như cầu vốn ngắn hạn cần thiết phải bổ xung cho khách hàng để đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục Mặt khác ngân hàng còn đáp ứng nhu cầu vốn cố định cho các nhà doanh nghiệp, từ đó làm tăng năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hơn nữa ngân hàng thương mại còn cho vay đối với ngân sách trong những thời kỳ tạm thời thiếu hụt ngân sách, nhằm phát triển cơ sở hạ tầng, phúc lợi Các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng là tăng tốc độ thanh toán trong nền kinh tế, khối lượng vốn luân chuyển nhiều hơn góp phần đẩy mạnh sản xuất và lưu thông hàng hoá
Hơn nữa thanh toán qua các ngân hàng còn làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông Từ đó ngân hàng thương mại trở thành một công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ Ngoài ra ngân hàng thương mại còn có khả năng mở rộng tiền gửi lên nhiều lần tức là chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại Hay nói một cách khác từ một khoản tiền gửi ban đầu vào một ngân
Trang 147
hàng thương mại nào đó thông qua việc cho vay, hệ thống ngân hàng thương mại đã
mở rộng khoản tiền gửi đó lên nhiề u lần, thực chất chức năng này được thực hiện trên cơ sở của quá trình liên kết chặt chẽ giữa hoạt động tín dụng với hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của hệ thống ngân hàng thương mại Hoạt động tín dụng năng động là điều kiện cần thiết cho hoạt động phát triển nền kinh tế với tốc
độ nhanh, vững chắc Nếu tín dụng ngân hàng không tạo được tiền tệ, tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động của quá trình sản xuất thì có thế xảy ra trường hợp sản xuất không thực hiện được và nguồn lợi nhuận tích luỹ sẽ giảm sút, hơn nữa các doanh nghiệp có thế bị ứ đọng vốn trong quá trình sản xuất, ngược lại có những thời điểm lại thiếu vốn không đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh
1.1.4 Các hoạt động kinh doanh cơ bản của Ngân hàng thương mại
a Nghiệp vụ tài sản nợ (nghiệp vụ hình thành nguồn vốn của NHTM)
Đây là nghiệp vụ hình thành nguồn vốn của NHTM Nguồn vốn của NHTM gồm có:
* Vốn huy động: Ngân hàng huy động tiền gửi với các hình thức:
- Tiền gửi không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất kỳ lúc nào Bộ phận tiền gửi này bao gồm: tiền gửi thanh toán được bảo quản trên hai tài khoản là tài khoản séc và tài khoản vãng lai Ngoài ra còn có tiền gửi không kỳ hạn để đảm bảo an toàn tài sản của khách hàng và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của các tầng lớp dân cư với tính chất là các khoản tiền để dành
- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có quy định cụ thể về thời gian rút tiền của khách hàng
Cùng với việc huy động tiền gửi, ngân hàng còn huy động vốn bằng các hình thức khác như: phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành trái phiếu
- Vốn đi vay: Gồm có:
+ Vay NHTM và các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng
+ Vay ngân hàng trung ương mà cụ thể là xin tái cấp vốn tại ngân hàng trung ương
Trang 158
+ Vay nước ngoài và các tổ chức tín dụng khác :
* Các nguồn vốn khác: Vốn thanh toán và vốn phát sinh từ các nghiệp vụ đại lý
Trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM, vốn tự có và coi như tự có chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng mang tính chất ổn định và là cơ sở cho việc thu hút các nguồn vốn khác Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhưng thường xuyên biến động, nhất là bộ phận tiền gửi không kỳ hạn, nhưng nó lại là bộ phận vốn quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, do đó, ngân hàng phải thường xuyên tìm mọi biện pháp để mở rộng phần vốn này
b Nghiệp vụ tài sản có (Nghiệp vụ sử dụng vốn của NHTM)
Trên cơ sở hình thành các nguồn vốn, NHTM sử dụng vốn vào các nghiệp
vụ sau:
* Nghiệp vụ ngân quỹ:
- Duy trì một mức tiền mặt tại quỹ để đáp ứng yêu cầu chi trả tiền mặt thường xuyên cho khách hàng
- Tiền gửi của NHTM tại ngân hàng trung ương (NHTW) gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán để phục vụ các khoản thanh toán giữa các ngân hàng qua vai trò trung gian thanh toán của NHTM
- Tiền gửi tại các NHTM để có thể thực hiện nghiệp vụ thanh toán, chuyển tiền cho khách hàng
* Nghiệp vụ cho vay của NHTM :
- Nghiệp vụ chiết khấu
- Cho vay ứng trước
- Cho vượt chi trên tài khoản vãng lai
* Nghiệp vụ đầu tư :
- Đầu tư theo dự án ngân hàng
- Đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán: chứng khoán nhà nước, cổ phiếu, trái phiếu công ty
Trang 169
c Các nghiệp vụ khác của NHTM (Nghiệp vụ trung gian)
* Nghiệp vụ thu chi chuyển tiền cho khách hàng
* Nghiệp vụ đại lý về chứng khoán: phát hành, mua bán, bảo quản chứng khoán cho khách hàng
* Nghiệp vụ mua bán, bảo quản vàng bạc đá quý và ngoại tệ
* Nghiệp vụ uỷ thác của khách hàng quản lý tài sản theo thư, hợp đồng
* Nghiệp vụ tư vấn về đầu tư
* Nghiệp vụ thanh lý tài sản khi doanh nghiệp giải thể, phá sản
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi
và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại c ng không nằm ngoài
sự kiện hoạt động đó Các hoạt động nghiệp vụ, dịch vụ của ngân hàng luôn đối mặt với rủi ro Bởi lẽ, hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trường là hoạt động rất nhạy cảm, mọi biến động trong nền kinh tế - xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động ngân hàng, có thể gây nên những xáo trộn bất ngờ và dẫn đến hiệu quả của ngân hàng giảm sút một cách nhanh chóng Kinh nghiệm cho thấy không phải việc né tránh rủi ro mà chính việc kiểm soát, kiềm chế thậm chí chấp nhận rủi ro mới là điều kiện cần thiết để đạt được kết quả hoạt động tốt dựa trên cơ sở quản lý rủi ro hiệu quả
1.2 Rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm rủi ro của Ngân hàng thương mại
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về rủi ro như: “Rủi ro trong hoạt động kinh tế nói chung là những tổn thất mà các Ngân hàng phải gánh chịu trong hoạt động kinh doanh của mình hoặc rủi ro là những bất trắc gây ra mất mát thiệt hại ” nhưng nói chung mọi định nghĩa đều khẳng định “ rủi ro là những điều ngoài mong muốn và mang lại hiệu quả xấu Rủi ro có thể gặp bất cứ lúc nào ngoài ý thức của con người Chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro ra khỏi môi trường kinh doanh mà chỉ có nghiên cứu nó, nhận biết nó và hạn chế nó tới mức thấp nhất
1.2.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Rủi ro tín dụng
a Khái niệm
Rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của Hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay
Theo Quyết định 493 2005 QĐ-NHNN ban hành ngày 22 tháng 04 năm
2005 của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách
Trang 1710
hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
b Nguyên nhân
Nguyên nhân từ phía Ngân hàng :
- Việc mở rộng hoạt động tín dụng quá mức thường tạo điều kiện cho rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng lên.Mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa với việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng,khả năng giám sát của cán bộ tín dụng đối với việc
sử dụng khoản vay giảm xuống đồng thời c ng làm cho việc tuân thủ chặt chẽ theo quy trình tín dụng bị nới lỏng
- Trình độ cán bộ hạn chế,nhất là cán bộ tín dụng người trực tiếp nhận hồ sơ khách hàng, phân tích và thẩm định khách hàng c ng như dự án vay vốn.Vì vậy nếu trình độ cán bộ tín dụng không cao, thẩm định không tốt, có thể chấp nhận cho vay những khoản vay không khả thi hoặc bị khách hàng lừa gạt
- Quy chế cho vay chưa chặt chẽ, quá cụ thể hoặc quá linh hoạt đều khiến cho NHTM gặp phải rủi ro tín dụng.Việc đánh giá giá trị tài sản thế chấp, cầm cố
c ng là vấn đề rất lớn, hiện nay đang là vấn đề nổi cộm trong quy chế tín dụng tại các NHTM
- Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng giữa các NHTM khiến cho việc thẩm định khách hàng trở nên sơ sài,qua loa hơn Hơn nữa, nhiều NHTM do quá chú trọng đến lợi nhuận nên đã chấp nhận rủi ro cao, bất chấp những khoản vay không lành mạnh, thiếu an toàn
- Ngoài ra, còn rất nhiều nhân tố khác thuộc về NHTM gây ra rủi ro tín dụng như: chất lượng thông tin và xử lý thông tin trong NHTM, cơ cấu tổ chức và quản
lý đội ng cán bộ, năng lực công nghệ
Nguyên nhân từ phía khách hàng :
- Đối với các doanh nghiệp, kinh nghiệm và năng lực hoạt động kinh doanh còn đang ở trình độ thấp, hầu hết các doanh nghiệp này đều không nắm bắt được thông tin kịp thời, thiếu thích nghi với cạnh tranh Vì vậy, khi dự án vay vốn gặp khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng gặp vấn đề, rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi
- Lợi dụng điểm yếu của NHTM, nhiều khách hàng đã tìm cách lừa đảo để được vay vốn Họ lập phương án sản xuất kinh doanh giả, giấy tờ thế chấp cầm cố giả mạo, hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng với cùng bộ hồ sơ
- Sử dụng sai mục đích so với hợp đồng tín dụng khiến cho nguồn trả nợ trở nên bấp bênh Vì vậy, khi khách hàng đã sử dụng vốn sai mục đích, việc thanh toán gốc và lãi đúng hạn rất khó xảy ra, rủi ro tín dụng xuất hiện
Trang 1811
- Việc trốn tránh trách nhiệm và nghĩa vụ đã uỷ quyền và bảo lãnh c ng là một nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho NHTM Một số công ty, tổng công ty đứng ra bảo lãnh hoặc uỷ quyền cho các chi nhánh trực thuộc thực hiện vay vốn của NHTM
để tránh sự kiểm tra giám sát của ngân hàng cho vay chính Khi đơn vị vay vốn mất khả năng thanh toán, bên bảo lãnh và uỷ quyền không chịu thực hiện việc trả nợ thay
- Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp c ng như ngân hàng
- Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn c ng như công nghệ ngân hàng
- Ngoài ra, những rủi ro từ môi trường thiên nhiên như động đất, bão lụt, hạn hán, tác động xấu tới phương án đầu tư của khách hàng, làm cho khách hàng khó
có nguồn trả nợ ngân hàng, từ đó c ng gây ra rủi ro tín dụng
c Tác động
Đối với hoạt động ngân hàng :
Rủi ro tín dụng làm giảm thu nhập của ngân hàng: khi có một khoản nợ được coi là quá hạn, thu nhập của ngân hàng bị giảm sút ngay, một phần vì không thu được lãi hoặc nợ gốc như cam kết, trong khi vẫn phải trả lãi cho nguồn huy động, một phần do các chi phí quản lý, giám sát phát sinh Mặt khác nếu các khoản nợ quá hạn chuyển thành khó thu hoặc không thu được thì việc xử lý tài sản đảm bảo luôn gặp khó khăn về pháp lý và định giá nên trường hợp ngân hàng có thể thu hồi được
nợ khi phát mại tài sản là rất khó xảy ra
Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao không những làm giảm thu nhập của ngân hàng mà cón làm giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Khi đó ngân hàng sẽ phải đi vay trên thị trường lien ngân hàng với lãi suât cao, bởi huy
Trang 19nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao c ng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá không tốt về tình hình hoạt động của ngân hàng, điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác
Đối với nền kinh tế :
Hoạt động của NHTM mạng tính xã hội hóa cao vì nó liên quan đến nhiều ngành nghề và nhiều thành phần khác nhau trong nền kinh tế Do vậy khi một ngân hàng bị phá sản nó sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ phận còn lại trong xã hội, trước tiên là các ngân hàng khác, bởi có quan hệ mật thiết với nhau trong hoạt động nên một ngân hàng sụp đỗ có thể dẫn đến sự sụp đổ của các ngân hàng còn lại Ngoài ra việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị gián đoạn do thiếu vốn, người gửi tiền không lấy lại tiền được Những hậu quả này còn giảm lòng tin của công chúng vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, những như hiệu lực của các chính sách tiền tệ của Chính phủ
và rủi ro uy tín doanh nghiệp
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại là các tổn thất về vật chất hoặc phi vật chất phát sinh trong quá trình kinh doanh thẻ của ngân hàng, bao gồm cả hoạt động phát hành và hoạt động thanh toán thẻ Ngân hàng kinh doanh thẻ có thể nhận biết được các rủi ro ngân hàng có thể gánh chịu nhưng không thể triệt tiêu được rủi ro vì nó xảy ra ngoài dự kiến và mong đợi của ngân hàng Cách tốt nhất để các ngân hàng kinh doanh thẻ đối mặt với rủi ro là nhận biết
và đưa ra các giải pháp nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro c ng như khắc phục các tổn thất khi rủi ro xảy ra
Trang 2013
b Nguyên nhân
Nguyên nhân của rủi ro hoạt động: con người (nhân viên gian lận, trình độ chuyên môn yếu kém, không đúng chuyên môn), quy trình (văn bản hướng dẫn không có, không đầy đủ, việc tuân thủ kém), hệ thống (đầu tư công nghệ không phù hợp, lỗi tích hợp từ vận hành hệ thống, lỗ hổng an ninh hệ thống) và các yếu tố bên ngoài (các hành vi tội phạm, việc sử dụng nguồn lực bên ngoài không hợp lý, thảm họa thiên tai, cơ sở hạ tầng) …
Do hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại còn hạn chế, chủ yếu là cho vay, hoạt động trong nước là chính Tuy nhiên không vì thế mà các ngân hàng không quan tâm đến công tác quản trị rủi ro Bởi vì rủi ro hoạt động có thể ảnh hưởng đến uy tín và kết quả kinh doanh của ngân hàng
Nguyên nhân khách quan :
Thẻ Ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, ra đời và phát triển cùng với quá trình hiện đại hoá và ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực Ngân hàng Có thể trong thời gian đầu, chủ thẻ không thể tránh khỏi những bỡ ngỡ trong việc sử dụng thẻ, không thể ngay lập tức biết cách sử dụng, bảo quản thẻ một cách an toàn Đôi khi khách hàng không thực sự chú ý đến những hướng dẫn sử dụng ban đầu, những khuyến cáo của Ngân hàng đối với khách hàng khi sử dụng và chấp nhận thanh toán thẻ, và họ chưa thể ý thức được tầm quan trọng của việc bảo quản thẻ, như chính việc bảo quản tiền của mình Bên cạnh đó, chủ thẻ, các ĐVCNT và bản thân Ngân hàng thanh toán thẻ, Ngân hàng phát hành thẻ và các Tổ chức thẻ quốc tế c ng chưa nhận thức được hoàn toàn các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình kinh doanh thẻ Chỉ có qua thực tế sử dụng, phát hành và thanh toán thẻ thì mới dần dần đúc kết được những kinh nghiệm, những bài học trong quá trình sử dụng thẻ Ở đây, Ngân hàng phát hành, Ngân hàng thanh toán giữ vai trò rất quan trọng trong việc định hướng, khuyến cáo và hướng dẫn cách sử dụng thẻ thanh toán an toàn cho các thành viên tham gia hoạt động kinh doanh thẻ
Ở các quốc gia phát triển nơi thẻ Ngân hàng đã được sử dụng rộng rãi, rủi ro trong quá trình sử dụng và chấp nhận thanh toán thẻ sẽ thấp hơn các quốc gia mới bắt đầu
làm quen và phát triển phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt này
Thẻ Ngân hàng chính thức gia nhập vào Việt nam từ đầu những năm 90 nhưng chỉ thực sự thu hút được sự quan tâm của khách hàng trong vòng 5 năm trở lại đây
Là nền kinh tế còn ưa chuộng tiền mặt nên giống như các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác, thẻ thanh toán mới chỉ tập trung tại các thành phố lớn, các khu công nghiệp và giới hạn trong một số tầng lớp dân cư nhất định.Và ngay cả trong số đó không phải tất cả các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh thẻ đều có
Trang 2114
sự hiểu biết về thẻ mà nhiều khi khách hàng sử dụng thẻ, chấp nhận thẻ vì điều kiện bắt buộc Sinh viên đi du học phải có thẻ tín dụng để chứng minh năng lực tài chính của mình với các tổ chức đào tạo, công nhân các khu công nghiệp, người đi làm cho các doanh nghiệp liên doanh, các công ty nước ngoài được phát hành thẻ để nhận lương hàng tháng Các khách sạn, nhà hàng, cửa hiệu, các nhà cung cấp dịch vụ cho khách quốc tế chấp nhận thanh toán thẻ vì khách hàng của họ không có tiền mặt để thanh toán Ngay cả bản thân các Ngân hàng, tham gia vào hoạt động kinh doanh thẻ c ng là do chịu sức ép về cạnh tranh, cùng nhau phát hành thẻ, cùng đưa ra những sản phẩm thẻ có sự liên kết thông minh, góp phần đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng, và thu hút khách hàng nhiều hơn nữa Tuy nhiên, chính những nhận thức chưa chính xác đã làm họ thờ ơ trước những khuyến cáo, quy định trong quá trình sử dụng gây rủi ro cho chính bản thân họ
Các chính sách, quy định của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh thẻ không chỉ tác động đến sự phát triển của thị trường thẻ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến rủi
ro trong hoạt động kinh doanh thẻ Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật thiết lập duy trì hành lang pháp lý, môi trường hoạt động kinh doanh thẻ Quy định càng
rõ ràng, càng chặt chẽ phù hợp với điều kiện thực tế càng hạn chế được rủi ro trong quá trình kinh doanh thẻ của ngân hàng Thị trường thẻ càng phát triển, số lượng chủ thẻ, doanh số sử dụng và thanh toán thẻ tăng c ng đồng nghĩa với nguy cơ rủi
ro tiềm ẩn tăng cao Như thẻ tín dụng, về bản chất ngân hàng đồng ý phát hành thẻ cho khách hàng tức là ngân hàng đã chấp thuận cho khách hàng vay tiền, nên quá trình thẩm định phát hành thẻ c ng chính là quá trình thẩm định cho vay của Ngân hàng Một chủ trương tăng trưởng tín dụng, nới lỏng các điều kiện cho vay, mở rộng đối tượng phát hành thẻ trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay
c ng đồng nghĩa ngân hàng sẽ phải chấp nhận rủi ro tín dụng cao hơn Chủ thẻ chi tiêu không thanh toán được nợ gây nên tổn thất cho ngân hàng Thực tế trong năm
2004, hàng loạt các ngân hàng, tổ chức phát hành thẻ tại Hàn Quốc đã bị phá sản do nền kinh tế Hàn Quốc chịu khủng hoảng, hậu quả của thời kỳ chính phủ khuyến khích cho vay tiêu dùng bằng thẻ tín dụng
Sự phát triển của khoa học công nghệ:
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ra đời trên cơ
sở áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng Khoa học càng phát triển tính bảo mật của sản phẩm thẻ càng được nâng cao, thẻ càng khó làm giả hơn Tuy nhiên khoa học công nghệ phát triển c ng kéo theo sự xuất hiện của nhiều phương tiện, máy móc, thủ đoạn làm giả, đánh cắp thông tin thẻ hiện đại hơn, tinh vi hơn Cuộc chiến đấu giữa quá trình nghiên cứu phát triển sản
Trang 2215
phẩm thẻ mới an toàn hơn với quá trình nghiên cứu làm giả thẻ mới của các tổ chức tội phạm thẻ là cuộc chiến đấu không ngưng nghỉ có tác động rất lớn đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
Nguyên nhân chủ quan:
- Chất lượng công tác thẩm định khách hàng:
Thẩm định khách hàng trong hoạt động kinh doanh thẻ là việc cán bộ Ngân hàng phân tích đánh giá năng lực pháp lý, năng lực tài chính ( đối với phát hành thẻ tín dụng) của khách hàng để quyết định đồng ý hay từ chối phát hành thẻ cho khách hàng, làm đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ của Ngân hàng Khi phát hành thẻ ghi
nợ, khách hàng chỉ chi tiêu trong số tiền mà họ có trong tài khoản của thẻ của chính khách hàng đó, khi có rủi ro xảy ra thì thiệt hại chủ yếu là do chủ thẻ phải gánh chịu, giả dụ như thẻ bị người khác nhặt được và bị sử dụng trước khi chủ thẻ kịp thông báo cho ngân hàng Còn với thẻ tín dụng, khi ngân hàng đồng ý phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng tức là Ngân hàng chấp nhận cho khách hàng vay, đồng ý cho khách hàng làm đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ c ng là Ngân hàng đồng ý tạm ứng thanh toán trước cho khách hàng Chất lượng công tác thẩm định cao tức là Ngân hàng đã lựa chọn được cho mình những khách hàng tốt, từ chối những khách hàng có ý định lừa đảo, hạn chế được rủi ro chủ thẻ không thanh toán nợ cho khách hàng, ĐVCNT lừa đảo chiếm dụng vốn của Ngân hàng
- Nhân lực: Con người là trung tâm của mọi hoạt động, là yếu tố quyết đinh
đến sự thành công hay thất bại trong tất cả lĩnh vực trong nền kinh tế Đội ng cán
bộ thẻ là những người trực tiếp hàng ngày tiếp xúc với hoạt động kinh doanh thẻ, với những hành vi lừa đảo trong lĩnh vực thẻ Kinh nghiệm, ý thức cảnh giác, tuân thủ chặt chẽ các quy định của Ngân hàng trong hoạt động kinh doanh thẻ của đội
ng cán bộ thẻ sẽ góp phần phát hiện, ngăn chặn, hạn chế những rủi ro, những tổn thất cho Ngân hàng trong quá trình kinh doanh Mặt khác là những người trực tiếp làm thẻ, hiểu biết về thẻ nên những giả mạo thẻ do cán bộ thẻ gây ra lại là những giả mạo tinh vi nhất, khó phát hiện nhất và c ng gây tổn thất lớn cho Ngân hàng Chính vì vậy, đạo đức, kinh nghiệm, trình độ của đội ng cán bộ thẻ có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng
Cơ sở hạ tầng của các ngân hàng thương mại: Khác với những nghiệp vụ ngân hàng truyền thống như tín dụng, thanh toán quốc tế… nghiệp vụ thẻ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, do vậy các ngân hàng cần phải đầu tư để trang bị phần cứng, phần mềm hiện đại Hiện tại các ngân hàng thương mại Việt nam đang nghiên cứu và đưa vào ứng dụng hệ thống ngân hàng lõi Core Banking rất hiện đại, là nền
Trang 2316
móng phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói chung và hoạt động kinh doanh thẻ nói riêng
c Tác động
- Gây thiệt hại nghiêm trọng trong hoạt động kinh doanh của Chi nhánh
- Rủi ro hoạt động là tiền đề của rủi ro khác khi có sự gian lận nội bộ trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng (lợi dụng quyền hạn và chức vụ làm trái với các quy định của Nhà nước và Pháp luật) dẫn đến xảy ra rủi ro tín dụng gây thất thoát vốn của Nhà nước
- Rủi ro hoạt động là nguyên nhân của rủi ro khác khi quy trình, quy định các mặt hoạt động nghiệp vụ chưa chặt chẽ, rõ ràng, có sự chồng chéo lên nhau trong quá trình thực hiện vì vậy cán bộ ngân hàng c ng như khách hàng đã lợi dụng kẽ hở đó để chiếm đoạt vốn của ngân hàng gây ra rủi ro mất tài sản
- Trong quá trình phát hành, thanh toán hay sử dụng thẻ nếu hệ thống máy móc, trang thiết bị, viễn thông, trung tâm chuyển mạch không ổn định hoặc gây lỗi trong quá trình xử lý dẫn tới nguy cơ có thể xảy ra rủi ro và gây thiệt hại cho các bên tham gia Ngoài ra việc bảo mật công nghệ, bảo mật dữ liệu c ng là một trong những nguyên nhân gây nên những hậu quả nghiêm trọng
1.2.2.3 Rủi ro lãi suất
a Khái niệm
Lãi suất là giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng tài sản khác nhau C ng như nhiều giá cả hàng hóa khác, lãi suất của các khoản cho vay, tiền gửi và chứng khoán thường xuyên biến động có thể làm gia tăng lợi nhuận hoặc ngược lại gây tổn thất cho ngân hàng
Do đó, rủi ro lãi suất là tổn thất tiềm tàng có thể xảy ra đối với thu nhập hoặc giá trị ròng của ngân hàng do sự biến động của lãi suất trên thị trường
Khi lãi suất thị trường thay đổi, nó ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai khía cạnh thu nhập (khả năng suy giảm thu nhập lãi ròng) và giá trị thị trường của tài sản
b Nguyên nhân
Do sự biến động lãi suất thị trường:
Lãi suất cho vay và lãi suất huy động của các ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào lãi suất thị trường Cụ thể, khi lãi suất thị trường tăng lên hay giảm xuống thì các ngân hàng phải điều chỉnh lãi suất huy động tăng lên hay giảm xuống theo xu hướng lãi suất thị trường nhằm đảm bảo nguồn vốn huy động cần thiết cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tương ứng, mức lãi suất cho vay khách hàng phải thay đổi phù hợp với lãi suất huy động đảm bảo bù đắp chi phí trả lãi c ng như tạo lợi nhuận cho ngân hàng Trong khi đó, sự biến động của lãi suất thị trường lại phụ
Trang 2417
thuộc vào mức lạm phát, chu kì kinh tế, rủi ro của các công cụ nợ c ng như chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kì, việc xác định được sự thay đổi lãi suất thị trường không phải lúc nào c ng chính xác, vì vậy, thu nhập của ngân hàng rất dễ bị ảnh hưởng khi các loại lãi suất này thay đổi và rủi ro lãi suất là điều không thể tránh khỏi
Do sự bất cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ:
Các khoản vốn huy động c ng như các khoản cho vay rất đa dạng không chỉ
về quy mô mà còn về kỳ hạn Cụ thể, mỗi ngân hàng bao gồm rất nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, trong đó nhu cầu gửi và nhu cầu vay tiền của họ là rất đa dạng, do đó việc ngân hàng kiểm soát sự cân xứng trong kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và nguồn vốn cho vay là khá khó khăn Hơn nữa, để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận, các ngân hàng thương mại thường xuyên duy trì kỳ hạn của tài sản có lớn hơn kỳ hạn của tài sản nợ trong quá trình kinh doanh Bên cạnh đó, các ngân hàng thường không quy định khách hàng bắt buộc phải tôn trọng thời hạn trong hợp đồng, vì vậy, khi khách hàng rút tiền trước hạn hoặc trả tiền vay trước hạn c ng khiến cho kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ có sự chênh lệch Ví dụ, khi nguồn vốn của ngân hàng là ngắn hạn trong khi ngân hàng lại cho vay với kỳ hạn dài hơn, khi lãi suất thị trường thay đổi theo chiều hướng tăng lên, mức độ tăng của thu nhập lãi tăng nhỏ hơn mức độ tăng của chi phí trả lãi và thu nhập của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng, và ngược lãi đối với trường hợp kỳ hạn của nguồn vốn huy động lớn hơn các khoản cho vay và lãi suất thị trường có xu hướng giảm Như vậy, chênh lệch giữa kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ là nguyên nhân quan trọng gây ra rủi ro lãi suất cho ngân hàng
Ngoài ra, sự canh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại trong việc thu hút khách hàng (tăng lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay…) c ng là nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất, làm ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng
Trang 25ro khi lãi suất ngắn hạn tăng, chi phí ngân hàng tăng lên trong khi thu nhập ở tài sản
Có dài hạn hơn vẫn giữ nguyên Nếu chênh lệch thu nhập ở tài sản Có không bù đắp chi phí nghiệp vụ kinh doanh thì ngân hàng sẽ bị ăn mòn vào vốn Ngược lại, khi nhận lại vốn với một thời hạn và lãi suất ấn định, lợi nhuận ngân hàng sẽ bị giảm khi lãi suất thị trường bị giảm xuống
1.2.2.4 Rủi ro thanh khoản
a Khái niệm
Rủi ro thanh khoản xảy ra khi khi những thay đổi trên thị trường thứ cấp gây
khó khăn cho ngân hàng trong việc chuyển đổi các tài sản thành tiền để đáp ứng các nhu cầu chi trả Khả năng này xảy ra khi chi phí giao dịch tăng, hoặc thời gian giao
dịch bị kéo dài
b Nguyên nhân
Các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã chỉ ra 5 nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua
- Thứ nhất: tăng trưởng tín dụng quá nóng Sự tăng trưởng tín dụng quá nóng
của các ngân hàng thương mại đi kèm với cơ cấu đầu tư không hợp lý, tập trung lớn vào đầu tư bất động sản chạy theo lợi nhuận sẽ phát sinh rủi ro cao khi thị trường đóng băng, tạo sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ do ngân hàng
đã sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn Chính điều này đã tạo ra sự rủi ro thanh khoản cao đối với ngân hàng thương mại”
- Thứ hai: công tác dự báo và phân tích thị trường của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam còn nhiều hạn chế Các NHTM còn có tư tưởng ỷ lại quá nhiều vào cơ chế nhà nước, trong khi các ngân hàng nước ngoài, ngoài việc chấp hành nghiêm túc các tỷ lệ an toàn còn thường xuyên nghiên cứu, dự báo sát các diễn biến của thị trường nên đã dự phòng vốn thanh khoản và điều chỉnh kịp thời, không
bị động trước những tác động thị trường
- Thứ ba: tính liên kết hệ thống giữa các NHTM để đảm bảo an toàn thanh toán còn yếu, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao tạo khe hở cho khách hàng gửi tiền “làm giá, tăng lãi suất” hoặc rút tiền chuyển sang các
Trang 26- Thứ năm: xuất phát từ phía khách hàng, đây được đánh giá là nhóm nguyên nhân khiến các ngân hàng khó có thể dùng công cụ thị trường để điều tiết có hiệu quả thanh khoản của các ngân hàng Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, lại chưa minh bạch, một số khách hàng (kể cả pháp nhân) đã rút tiền ra khỏi ngân hàng này và chuyển sang ngân hàng khác, dân cư rút tiền để mua vàng, mua đô la Mỹ để tích trữ…đã làm tăng tính bất ổn của thị trường, nội và ngoại tệ, gây khó khăn cho chính khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ gửi và vay tiền tại ngân hàng
c Tác động
Những tác động trực tiếp từ các loại rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng
c ng gây ảnh hưởng không nhỏ tới rủi ro thanh khoản; hiện tượng một số tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước chuyển tiền hoặc rút tiền với khối lượng lớn; yếu kém trong công tác kế hoạch hóa và quản trị điều hành Ảnh hưởng trực tiếp đến gần như toàn
bộ hoạt động ngân hàng bao gồm :
- Chức năng trung gian tín dụng, huy động vốn và cho vay
- Chức năng trung giant hanh toán, giúp người mua và người bán trong việc thanh toán nhằm hoàn tất các giao dịch thương mại và các giao dịch khác
- Không đáp ứng được nhu cầu giải ngân cho các khoản cấp tín dung
- Không đáp ứng được nhu cầu rút tiền dẫn đến mất niềm tin của người gửi tiền
- Lãi suất huy động cao buộc lãi suất cấp tín dụng cao và khó khăn
- Buộc phải chạy đua huy động vốn dẫn đến lãi suất huy động cao
Tác động đến nền kinh như sau :
- Ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư Khi lãi suất tiền gửi tăng nguồn tiền
sẽ tập trung gửi vào ngân hàng làm cho nền kinh tế sẽ giảm kênh huy động vốn
- Khi lãi suất cấp tín dụng cao làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến giá cả tăng ( làm phát tăng ) , giảm quy mô đầu tư dẫn đến giảm tăng trưởng kinh tế
- Khi giá cả tăng sẽ ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân
Trang 27- Thứ nhất, căng thẳng ở biển Đông tạo nên tâm lý bất ổn trên thị trường
- Thứ hai, khi tỷ giá rất ổn định trước đó, nhiều ngân hàng sử dụng trạng thái
âm ngoại tệ để hưởng chênh lệch lãi suất giữa VND với USD Họ kỳ vọng và tin tưởng tỷ giá sẽ không biến động nhiều Nhưng khi có thay đổi tâm lý trên thị trường, các ngân hàng phải đóng trạng thái lại, tạo nên áp lực nhất định
- Thứ ba, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu c ng kỳ vọng tỷ giá không nhiều biến động nên bán kỳ hạn, bán trước mặc dù doanh thu chưa về Việc bán này là tốt cho họ, giúp họ hưởng thêm phần chênh lệch lãi suất giữa VND với USD Khi có biến động, họ c ng đóng lại các hợp đồng trước hạn Khi đóng như vậy thì ngân hàng phải làm ở chiều ngược lại, đi ra thị trường để mua ngoại tệ
- Thứ tư, bản thân khi nhìn vào trạng thái ngoại tệ của các ngân hàng hiện nay, ẩn trong đó là sản phẩm mà họ đã chào khoảng hai năm trở lại đây: cho vay VND với lãi suất USD Các ngân hàng phải làm âm trạng thái, dùng VND chuyển đổi được để cho vay
c Tác động
Rủi ro tỷ giá tác động đến việc kinh doanh ngoại hối và tác động gián tiếp lên luồng tiền của ngân hàng “ chính là thu nhập hoạt động của ngân hàng ”, luồng tiền của Khách hàng tác động lên toàn bộ nền kinh tế Có nghĩa là nếu đo lường rủi
ro tỷ giá theo TSC và TSN bằng ngoại tệ thì nguyên nhân gây ra rủi ro tỷ giá là khác xa so với khi đo lường rủi ro tỷ giá theo TSC bằng ngoại tệ ròng
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
a Môi trường kinh tế xã hội trong và ngoài nước
Ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính làm câu nối giữa khu vực tiết kiệm và khu vực đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các Ngân hàng thương mại, vì đây c ng là điều kiện làm cho quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn, hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu
Trang 2821
mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh do đó nhu cầu vay vốn tăng làm cho các Ngân hàng thương mại dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình đồng thời khả năng nợ xấu có thể giảm vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp c ng được nâng cao Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thì lại
là những nhân tố bất lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại như nhu cầu vay vốn giảm; nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại
b Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ thắt chặt hay nới lỏng đều có tác dụng đến rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại Sự nới lỏng có thể mang lại lợi ích ngắn hạn cho các NHTM nhưng nới lỏng quá mức sẽ dẫn đến tình trạng gia tăng lạm phát và tăng giá bất động sản một cách giả tạo, ảnh hưởng xấu đến hoạt động ngân hàng trong tương lai Chính sách tỉ giá có tác động khác nhau đến từng ngành và hoạt động xuất nhập khẩu, tác động gián tiếp đến khả năng sinh lời và hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng Thay đổi lớn về tỉ giá hay biên độ dao động quá lớn thường ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình tài chính của khách hàng vay vốn và tăng
nợ khó đòi, tác động đến ngân hàng sẽ lớn hơn nếu không có quy chế thích hợp về quản lý trạng thái ngoại hối của các ngân hàng
d Nền tảng công nghệ
Nền tảng công nghệ là yếu tố quan trọng bởi đây chính là cong cụ để thực hiện và áp dụng các phương pháp đo lường và đánh giá rủi ro hoạt động Nếu nền tảng công nghệ ở trình độ thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thống kê, đo lường rủi ro từ đó phản ánh sai lệch tình trạng thực tế trong hoạt động ngân hàng đồng thời c ng cản trở quá trình phát triển của hoạt động ngân hàng nói chung c ng như hoạt động quản lý rủi ro nói chung Vì vậy muốn nâng cao chất lượng quản lý rủi ro hoạt động thì cần có sự đầu tư hệ thống CNTT đảm bảo đáp ứng với quy mô hoạt động của NHTM
e Trình độ, chất lượng của người lao động
Nhân tố con người là yếu tố quyết định quan trọng đến sự thành bại trong bất kỳ
Trang 2922
hoạt động nào của các ngân hàng thương mại Xã hội càng phát triển thì càng đòi hỏi các ngân hàng càng phải cung cấp nhiều dịch vụ mới và có chất lượng Chính điều này đòi hỏi chất lượng của nguồn nhân lực c ng phải được nâng cao để đáp ứng kịp 24 thời đối với những thay đổi của thị trường, xã hội Việc sử dụng nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn sẽ giúp cho ngân hàng tạo lập được những khách hàng trung thành, ngăn ngừa được những rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư và đây c ng là nhân tố giúp các ngân hàng giảm thiểu được các chi phí hoạt động Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nguồn nhân lực luôn phải chú trọng việc gắn phát triển nhân lực với công nghệ mới
1.3 Quản lý rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Sự cần thiết quản lý rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại
- Quản lý rủi ro trong hoạt động tạo cơ sở pháp lý giúp các ngân hàng thương mại và các cấp quản lý chỉ đạo hoàn thiện hệ thống văn bản chế độ, công cụ đo lường, biện pháp quản lý rủi ro hoạt động một cách hiệu quả trong hoạt động để ngân hàng chủ động xây dựng chính sách quản lý rủi ro trong hoạt động, kiểm soát rủi ro trong hoạt động nhằm giảm thiểu, hạn chế tổn thất của rủi ro
- Quản lý rủi ro trong hoạt động đảm bảo thực hiện các cam kết của ngân hàng với các tổ chức tài chính quốc tế Tạo tiền đề quan trọng để hướng tới các chuẩn mực theo khuyến cáo của Uỷ ban giám sát ngân hàng của ngân hàng thanh toán quốc tế tại Hiệp định Basel II
- Quản lý rủi ro trong hoạt động tạo ra lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
- Quản lý rủi ro trong hoạt động đảm bảo hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại được an toàn, hiệu quả, nâng cao uy tín của ngân hàng thương mại
1.3.2 Nội dung quản lý rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.3.2.1 Xác định rủi ro
Xác định rủi ro nhằm nhận diện những rủi ro tiềm ẩn, những sự cố rủi ro trong hoạt động, bao gồm: Xác định dấu hiệu rủi ro ở tất cả các hoạt động; Xác định giao dịch nghi ngờ, bất thường trong hệ thống dữ liệu; Xác định sự cố rủi ro hoạt động
Nhận diện rủi ro hoạt động bao gồm:
- Thu thập dữ liệu rủi ro hoạt động: Cơ sở dữ liệu rủi ro hoạt động đầy đủ và hoàn thiện là yếu tố rất quan trọng làm nền tảng cho quản lý rủi ro hoạt động Nhận thức được điều đó, nhiều ngân hàng đã bắt đầu triển khai việc thu thập dữ liệu rủi ro hoạt động nội bộ
- Ghi nhận của kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Ngân hàng theo dõi ghi nhận của các đợt thanh kiểm tra, kiểm soát của nội bộ lẫn bên ngoài và giám sát việc thực
Trang 3023
hiện các yêu cầu, kiến nghị của đoàn kiểm tra
- Quy trình rà soát sản phẩm mới: Ngân hàng rà soát các sản phẩm mới trước khi ban hành theo một quy trình chặt chẽ, phát hiện sớm sai sót để chỉnh sửa kịp thời, tránh để sót những sơ hở trong văn bản để cán bộ có thể lợi dụng làm sai gây thiệt hại cho ngân hàng và khách hàng
1.3.2.2 Phân tích rủi ro
Nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động của ngân hàng: con người (nhân viên gian lận, trình độ chuyên môn yếu kém, không đúng chuyên môn), quy trình (văn bản hướng dẫn không có, không đầy đủ, việc tuân thủ kém), hệ thống (đầu tư công nghệ không phù hợp, lỗi tích hợp từ vận hành hệ thống, lỗ hổng an ninh hệ thống) và các yếu tố bên ngoài (các hành vi tội phạm, việc sử dụng nguồn lực bên ngoài không hợp lý, thảm họa thiên tai, cơ sở hạ tầng) …
Nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động có thể được khái quát qua mô hình sau đây:
Hình 1.2: Nguyên nhân của rủi ro trong hoạt động
1.3.2.3 Đo lường rủi ro
Đo lường, đánh giá rủi ro
Đo lường rủi ro để xác định khả năng xảy ra (tần suất) c ng như mức độ ảnh hưởng, thiệt hại của từng loại rủi ro đã được xác định, đánh giá được sự thay đổi của từng loại rủi ro
Phương pháp đo lường:
- Phương pháp định tính: thực hiện đánh giá, nhận xét, so sánh khả năng xảy
Con người Câu thả, Gian lận, Sơ suất
Quy trình quy định Không đầy đủ, sơ bộ, không phù hợp
Hệ thống
Hệ thống CNTT hay hệ thống truyền thông không đầy đủ hoặc không hoạt động, do không có hoặc không đủ dữ
liệu
Sự kiện bên ngoài
Rủi ro do các sự kiiện hoặc hành động bên ngoài có những tác động xấu lên hoạt động kinh doanh nằm ngoài khả năng kiểm soát lập tức của NH
Trang 3124
ra, mức độ tổn thất của các dấu hiệu rủi ro đã được xác định, gồm các rủi ro như: rủi
ro liên quan đến cán bộ, liên quan đến cơ chế văn bản, quy định Đó là quá trình phân tích đánh giá, nhận xét chủ quan của mỗi NHTM về mức độ tốt – xấu, lớn – nhỏ; tính nghiêm trọng của dấu hiệu rủi ro đã được xác định và giải thích khả năng ảnh hưởng đến nhiệm vụ công việc được giao, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Phương pháp định lượng: sử dụng thẻ tính điểm để cho điểm cụ thể về khả năng xảy ra, mức độ tổn thất của từng loại dấu hiệu rủi ro, khả năng xảy ra và mức độ tổn thất rủi ro cùa từng hoạt động, gồm các rủi ro như: rủi ro liên quan đến quá trình xử
lý công việc, về hệ thống hỗ trợ, các yếu tố bên ngoài
1.3.2.4 Biện pháp phòng ngừa rủi ro
Phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro
Đây là quá trình xây dựng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu rủi ro xảy ra hoặc giảm mức độ ảnh hưởng của các loại rủi ro đã được xác định
Các biện pháp:
- Các biện pháp giảm nhẹ: hoàn thiện, chỉnh sửa chính sách, quy định, quy trình nghiệp vụ; sắp xếp bố trí, luân chuyển cán bộ; biện pháp về hệ thống công nghệ thông tin
- Thực hiện chuyển giao rủi ro bằng cách mua bảo hiểm
- Đối với các hoạt động phát sinh rủi ro không thể chấp nhận được, tiến hành chuyển hướng sang hoạt động khác có mức độ rủi ro thấp hơn
Nội dung của phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro: Sửa đổi, bổ sung chính sách, quy trình, quy định cho phù hợp; Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ qui định; Tăng cường giáo dục, học tập về đạo đức nghề nghiệp; Đào tạo tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ; Kế hoạch sửa chữa các lỗi, sai sót; Các hành động để phòng tránh rủi ro hoặc dừng hoạt động có thể gây ra rủi ro; Xây dựng phương án giảm thiểu rủi ro đối với các sự cố bất ngờ; Xây dựng, thực hiện chế tài xử lý trong công tác quản lý rủi ro trong hoạt động : Mua bảo hiểm hoặc thực hiện các biện pháp khác để giảm thiểu rủi ro
- Công cụ vốn dự phòng cho rủi ro trong hoạt động: Theo Ủy ban Basel, có
ba phương pháp để tính toán yêu cầu về vốn cho rủi ro hoạt động, theo thứ tự gia
Trang 32KBIA = GI x α
Trong đó:
KBIA: Yêu cầu về vốn trong Phương pháp Chỉ số cơ bản
GI: Lợi nhuận gộp hàng năm bình quân trong ba năm trước đó
α: 15% tỷ lệ này do Ủy ban Basel đặt ra, phản ánh mối liên hệ giữa lượng vốn yêu cầu chung của toàn ngành với chỉ số chung của toàn ngành
Lợi nhuận gộp được tính bằng doanh thu lãi ròng cộng với doanh thu phí ròng Hiệp ước Basel mới không đặt ra các điều kiện cụ thể để được phép áp dụng Phương pháp Chỉ số cơ bản đối với các ngân hàng Tuy nhiên các Ngân hàng sử dụng phương pháp này được khuyến khích tuân theo hướng dẫn của Ủy ban Basel
về thông lệ tốt cho Quản lý và Giám sát rủi ro hoạt động, tháng 2 năm 2003
○ Phương pháp Chuẩn hóa
Trong phương pháp Chuẩn hóa các hoạt động ngân hàng được chia thành 8 mảng dịch vụ: tài chính doanh nghiệp, thương mại& bán hàng, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng thương mại, thanh toán, dịch vụ đại lý, quản lý tài sản và môi giới bán lẻ
Trong mỗi mảng dịch vụ, lợi nhuận gộp là một số chỉ số phản ánh quy mô hoạt động của mảng dịch vụ đó, do vậy c ng phản ánh mức độ rủi ro hoạt động của mỗi mảng dịch vụ Yêu cầu về vốn cho mỗi mảng dịch vụ được tính bằng việc nhân
lợi nhuận gộp với một hệ số (hệ số β) áp dụng cho mảng dịch vụ đó Hệ số β phản
ánh tương quan trong phạm vi toàn ngành ngân hàng giữa các tổn thất từ rủi ro trong hoạt động ghi nhận trong thực tế với quy mô lợi nhuận gộp của ngành ấy với mỗi loại dịch vụ Cần phải lưu ý rằng trong phương pháp Chuẩn hóa, lợi nhuận gộp được đo lường cho mỗi mảng dịch vụ, chứ không tính chung cho cả ngân hàng, cụ thể là: trong mảng tài chính doanh nghiệp, chỉ số này là toàn bộ lợi nhuận gộp thu được từ hoạt động tài chính doanh nghiệp của ngân hàng
Tổng số yêu cầu về vốn được tính bằng các cộng các yêu cầu về vốn của mỗi mảng dịch vụ với nhau Tổng yêu cầu về vốn có thể được biểu diễn bằng công thức sau:
KTSA = Σ(GI1-8 x β1-8)
Trang 3326
Trong đó:
KTSA : yêu cầu về vốn theo Phương pháp Chuẩn hóa
GI1-8: Lợi nhuận gộp hàng năm bình quân của ba năm gần nhất, được xác định như trong Phương pháp Chỉ số cơ bản nêu trên, cho mỗi một trong 8 mảng nghiệp vụ
β1-8: Là một tỷ lệ phần trăm cố định, do Ủy ban Basel quy định, phán ảnh mối quan hệ giữa lượng vốn yêu cầu với lợi nhuận gộp của mỗi mảng nghiệp vụ
Chi tiết các giá trị β như sau:
Hệ số β cho mỗi mảng nghiệp vụ
Mảng nghiệp vụ Hệ số β Mảng nghiệp vụ Hệ số β
Tài chính doanh nghiệp (β1) 18% Thanh toán (β5) 18% Thương mại và Bán hàng (β2) 18% Dịch vụ đại lý (β6) 15% Ngân hàng bán lẻ (β3) 12% Quản lý tài sản (β7) 12% Ngân hàng Thương mại (β4) 15% Môi giới bán lẻ (β8) 12% ○ Phương pháp Đo lường tiên tiến (AMA)
Trong phương pháp AMA, yêu cầu về vốn pháp định sẽ bằng độ lớn của rủi
ro theo kết quả đo lường cùng hệ thống đo lường rủi ro hoạt động của ngân hàng, với điều kiện hệ thống đó đạt được các tiêu chuẩn định tính và định lượng đối với Phương pháp AMA Các ngân hàng chỉ được áp dụng Phương pháp AMA sau khi được Cơ quan quản lý ngân hàng cho phép
Để đủ điều kiện áp dụng phương pháp Chuẩn hóa hoặc phương pháp AMA, ngân hàng cần chứng minh với Cơ quan quản lý ngân hàng rằng, ít nhất:
→ Hội đồng Quản lý và Ban điều hành cao cấp của Ngân hàng, tùy từng trường hợp, đóng vai trò tích cực trong việc giám sát hoạt động quản lý rủi ro
→ Ngân hàng phải có một hệ thống quản lý rủi ro hoạt động trên một nguyên
lý đúng đắn và được thi hành một cách toàn diện và đồng bộ
→ Ngân hàng có đủ nguồn lực cho việc sử dụng phương pháp được lựa chọn trong những mảng nghiệp vụ chính, c ng như trong lĩnh vực kiểm soát và kiểm toán
Giám sát rủi ro
Giám sát rủi ro trong hoạt động nhằm theo dõi, kiểm soát những dấu hiệu có mức độ rủi ro cao, sự biến động của các dấu hiệu rủi ro và giám sát việc thực hiện công tác rủi ro trong hoạt động tại ngân hàng thương mại
Từ cơ sở dữ liệu rủi ro trong hoạt động, các ngân hàng xây dựng đường phân phối tổn thất, trên cơ sở đó xác định các biện pháp quản lý và giảm thiểu rủi ro
Quản lý và giám thiểu rủi ro gồm:
Trang 3427
- Các chiến lược kiểm soát rủi ro: (1) Các chiến lược giảm ảnh hưởng hoặc khả năng xảy ra (2) Chiến lược phòng ngừa rủi ro (3) Chiến lược chuyển giao rủi
ro (4) Chiến lược tránh rủi ro
- Kế hoạch dự phòng kinh doanh
Để thực hiện giám sát rủi ro trong hoạt động Ngân hàng phải có hệ thống báo cáo rủi ro hoạt động hiệu quả Báo cáo rủi ro hoạt động phản ánh việc thu thập, phân tích, đánh giá và phân phối thông tin rủi ro cho các bộ phận tương ứng, xuyên suốt toàn bộ ngân hàng
1.3.3 Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
Sau đây là 4 loại rủi ro tài chính được đo lường bằng phương pháp truyền thống:
a Rủi ro tín dụng, theo phương pháp đo lường truyền thống cần xem xét các tiêu chí như sau
Cho vay bao gồm doanh số cho vay và dư nợ cho vay, chỉ tiêu này cho biết qui mô về họat động tín dụng của ngân hàng, đồng thời cho thấy mức độ đầu tư vào từng lĩnh vực, lĩnh vực rủi ro cao hay thấp
Rủi ro tín dụng = ổ ấ
ổ ượ ề Chỉ tiêu này đánh giá mức độ tổn thất trong họat động tín dụng là bao nhiêu phần trăm ( % ) so với tổng số cho vay, chỉ tiêu của ngân hàng nên được so với chỉ tiêu trung bình ngành
Rủi ro tín dụng = ự ữ ổ ấ
ổ ượ ề Chỉ tiêu này cho thấy tình hình dự trữ cho tổn thất tín dụng của ngân hàng chiếm bao nhiêu phần trăm ( % ) trong tổng số cho vay, chỉ tiêu c ng cho biết được chất lượng họat động tín dụng, vì mức dự trữ tổn thất dựa vào các khỏan cho vay chất lượng thấp tức là rủi ro cao
Những chỉ tiêu đo lường này có khuynh hướng chịu thiệt hại vì nó có thể làm sútgiảm lợi nhuận thu được, khi chấp nhận rủi ro tín dụng cao hơn
b Rủi ro thanh khoản, phương pháp đo lường truyền thống bao gồm các tiêu chí như sau
Rủi ro thanh khoản = ư ợ
ổ ố độ Chỉ tiêu này cho thấy mức độ sử dụng nguồn tiền huy động để cho vay, chỉ tiêu này càng cao khả năng thanh toán càng giảm, nhất là tập trung vào cho vay trung và dài hạn
Trang 3528
Rủi ro thanh khoản = ổ à ả ả
ổ ượ ề ử Chỉ tiêu này cho thấy tài sản dùng để thanh toán cho các khoản tiền gửi có thể rút ra ở bất cứ kỳ hạn nào, chỉ tiêu này càng cao thì càng ít rủi ro
Cách phân tích này có khuynh hướng chú trọng đến thanh khoản của tài sản trên bảng cân đối kết toán
c Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất = à ả ạ ả ã ấ
ổ ồ ố ạ ả ớ ã ấ
Số chênh lệch giữa tài sản nhạy cảm lãi suất và nguồn vốn nhạy cảm lãi suất Vấn đề gặp phải đối với những phương pháp đo lường truyền thống này bao gồm sự khó khăn trong việc chọn kỳ hạn để sử dụng như là tiêu chuẩn cho sự nhạy cảm chú ý đến sự tái đầu tư và lãi suất thay đổi ảnh hưởng đến sự nhạy cảm lãi suất một cách nhanh chóng và đều đặn, và sự thất bại để xem xét sự nhạy cảm giá trị đối với sự thay đổi lãi suất
d Rủi ro vốn, phương pháp truyền thống như
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro của Ngân hàng thương mại
a Nhân tố thuộc về Ngân hàng
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ quản lý rủi ro hoạt động tại Ngân hàng Đây là những nhân tố đầu tiên và có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý rủi ro hoạt động Bởi họ là những người tiến hành các chính sách, quy định và kiểm tra, kiểm soát các biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi
ro Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức của cán bộ quản lý rủi ro trong hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác quản lý rủi ro trong hoạt động
- Nền tảng công nghệ: bởi đây chính là môi trường để thực hiện và áp dụng các phương pháp đo lường và đánh giá rủi ro hoạt động Nếu nền tảng công nghệ ở trình độ thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thống kê, đo lường rủi ro từ đó
Trang 3629
phản ánh sai lệch tình trạng thực tế trong hoạt động ngân hàng đồng thời c ng cản trở quá trình phát triển của hoạt động ngân hàng nói chung c ng như hoạt động quản lý rủi ro nói chung Vì vậy muốn nâng cao chất lượng quản lý rủi ro hoạt động thì cần có sự đầu tư hệ thống CNTT đảm bảo đáp ứng với quy mô hoạt động của NHTM
b Nhân tố thuộc về môi trường
- Môi trường kinh tế xã hội: Môi trường kinh tế xã hội là tổng hòa các mối quan hệ về kinh tế và xã hội tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Xét một cách tổng thể, môi trường kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quá trình quản lý rủi ro hoạt động từ cả phía ngân hàng và khách hàng
- Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống pháp luật điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và những biện pháp để thực thi pháp luật Trong nền kinh tế thị trường, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ về hoạt động kinh doanh của mình nhưng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật quy định Hoạt động ngân hàng c ng không nằm ngoài vòng kiểm soát đó Nó c ng phải tuân theo những quy định có liên quan của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ban hành
- Chính sách tiền tệ nới lỏng có thể mang lại lợi ích ngắn hạn cho các NHTM nhưng nới lỏng quá mức sẽ dẫn đến tình trạng gia tăng lạm phát và tăng giá bất động sản một cách giả tạo, ảnh hưởng xấu đến hoạt động ngân hàng trong tương lai
- Chính sách tỉ giá có tác động khác nhau đến từng ngành và hoạt động xuất nhập khẩu, tác động gián tiếp đến khả năng sinh lời và hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng Thay đổi lớn về tỉ giá hay biên độ dao động quá lớn thường ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình tài chính của khách hàng vay vốn và tăng nợ khó đòi, tác động đến ngân hàng sẽ lớn hơn nếu không có quy chế thích hợp về quản lý trạng thái ngoại hối của các ngân hàng
c Quy trình quản lý
- Bộ máy quản lý: với một bộ máy quản lý có sự phân công công việc phù
hợp về khối lượng công việc và tính chất công việc sẽ giúp cho cán bộ quản lý rủi
ro hoạt động đảm bảo được yêu cầu của công tác quản lý Bộ máy quản lý cần có sự thống nhất từ ban quản lý rủi ro hoạt động tại Hội sở Chính đến phòng/bộ phận quản lý rủi ro trong hoạt động ở Chi nhánh Có thể nói bộ máy quản lý đóng vai trò quyết định sự thành công đối với chính sách quản lý rủi ro trong hoạt động
d Tiêu chí đánh giá
- Tiêu chí về tần suất xảy ra rủi ro: tần suất xảy ra rủi ro càng thấp thể hiện hiệu quả của công tác quản lý rủi ro hoạt động có hiệu quả Ngược lại rủi ro có tần suất xuất
Trang 3730
hiện cao thì cho thấy công tác quản lý rủi ro trong hoạt động chưa đạt được hiệu quả đề
ra và chưa tìm được đúng vấn đề trong quá trình quản lý
1.4 Kinh nghiệm quản trị rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại trong nước
a Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank)
Vietinbank đã xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro hoạt động với mỗi bộ phận có chức năng nhiệm vụ rõ ràng trong đó khối quản lý rủi ro có trách nhiệm quản trị rủi ro thông qua hoạt động của 5 phòng ban: phòng QLRR thị trường và tác nghiệp, phòng chế độ tín dụng và đầu tư, phòng quản lý rủi ro tín dụng và
đầu tư, phòng quản lý nợ có vấn đề, Ban kiểm soát nội bộ Bên cạnh đó phòng kế hoạch và hỗ trợ ALCO có trách nhiệm quản trị rủi ro thanh khoản, lãi suất và ngoại hối và phòng pháp chế phụ trách quản trị các rủi ro pháp lý
Công tác quản lý rủi ro hoạt động tại Vietinbank đã có một số kết quả như sau:
- Vietinbank đã bước đầu xây dựng được khung quản lý rủi ro hoạt động phù hợp với hoạt động thực tiễn, đó chính là ban hành các Chính sách quản lý rủi ro hoạt động, các quy định và quy trình cụ thể về nhận diện, đo lường, kiểm soát và phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro
- Vietinbank đã xây dựng được thư viện các dấu hiệu rủi ro chủ yếu, qua đó góp phần nhận diện được chính xác hơn các rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh
- Vietinbank đã xây dựng được kho dữ liệu về tổn thất trong lịch sử hoạt động những năm gần đây trên cơ sở các báo cáo tổn thất Kho dữ liệu tổn thất là tài liệu bổ ích phục vụ cho công tác đào tạo nội bộ về quản lý rủi ro c ng như cho phép Vietinbank áp dụng phương pháp đo lường vốn dành cho rủi ro hoạt động tiên tiến hơn khi các quy định, chuẩn mực này chính thức được áp dụng tại Việt Nam
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý rủi ro hoạt động tại Vietinbank còn tồn tại 1 số vấn đề như:
- Cơ cấu quản trị rủi ro hoạt động chưa hoàn chỉnh và đầy đủ: trong mô hình
đã hình thành Khối quản lý rủi ro và phòng ALCO nhưng chưa bao gồm đầy đủ các chức năng và chưa thể hiện được vai trò, ảnh hưởng đáng kể trong các quyết định kinh doanh của Ngân hàng
- Khung pháp lý, quy trình, quy định trong hoạt động quản trị rủi ro hoạt động dựa trên tham khảo các nguồn tài liệu nước ngoài nên chưa thể chuẩn hóa
Trang 3831
ngay được và áp dụng vào thực tế còn bất cập
Đây là những tồn tại chung trong hoạt động quản trị rủi ro hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam
b Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) được thành lập trên cơ sở cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thông qua việc bán cổ phiểu lần đầu ra công chúng vào ngày 26/12/2007 tại Sở chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Hiện Vietcombank được coi là ngân hàng hàng đầu trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như quản lý và kinh doanh vốn, thanh toán quốc tế, dịch vụ thẻ, công nghệ ngân hàng …
Cơ cấu tổ chức kiểm soát rủi ro theo hướng tập trung tại Hội sở chính Tại Vietcombank cơ cấu tổ chức kiểm soát rủi ro đã được hình thành với các bộ phận cơ bản như: Ủy ban quản lý rủi ro, Hội đồng ALCO, Khối quản lý rủi ro tại Hội sở chính … Trong những năm qua các loại rủi ro của Ngân hàng đều được quản trị, điều hành thông qua khối quản lý rủi ro tại Hội sở chính thông qua các phòng: Quản
lý rủi ro tín dụng, Quản lý rủi ro thị trường và Quản lý rủi ro tác nghiệp Các phòng thuộc khối quản lý rủi ro đã có sự phối hợp với các phòng ban chuyên môn quản
lý nghiệp vụ để kịp thời nắm bắt các vấn đề phát sinh, nhận diện rủi ro tiềm ẩn, qua
đó đề xuất, triển khai biện pháp phù hợp với diễn biến thị trường
Để hỗ trợ công tác quản trị rủi ro Vietcombank đang triển khai nhiều dự án với sự hỗ trợ của các chuyên gia tư vấn nước ngoài, các công ty kiểm toán độc lập quốc tế như dự án nâng cao hiệu quả trong việc quản lý rủi ro hoạt động nhằm thiết lập hệ thống tự nhận diện, đánh giá rủi ro Vietcombank c ng đang triển khai hệ thống đánh giá, đo lường và quản lý rủi ro hoạt động để hoàn thiện thêm các báo cáo quản trị nội bộ
Tuy nhiên trong cơ cấu tổ chức kiểm soát nói chung và quản lý rủi ro hoạt động nói riêng của Vietcombank hiện tập trung tại Hội sở chính nhưng chưa có bộ phận quản lý rủi ro hoạt động tại Chi nhánh do đó việc cập nhật diễn biến tình hình phát sinh rủi ro tại Chi nhánh Đồng thời hệ thống thông tin hỗ trợ thực hiện còn thủ công, chưa có phần mềm hỗ trợ để thu thập, thống kê, tổng hợp phân tích số liệu và lập các biểu mẫu báo cáo Hiện nay các văn bản hướng dẫn về hoạt động quản lý rủi
ro hoạt động còn mang tính sơ khai
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý rủi ro trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại quốc tế
a Kinh nghiệm của Thái Lan
Trang 3932
Hệ thống ngân hàng Thái Lan có bề dày hoạt động cả trăm năm, nhưng đã bị chao đảo trước cơn bão khủng hoảng tài chính Châu á năm 1997-1998 Nhiều công ty tài chính và ngân hàng đã bị phá sản hoặc buộc phải sát nhập Tình hình đó buộc các ngân hàng Thái Lan phải có những chính sách mới để khôi phục lại hệ thống tài chính tiền tệ, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng, nhằm giảm thiểu rủi ro Qua những năm thực hiện theo chính sách mới đã tạo cho các ngân hàng của Thái Lan có chỗ đứng vững mạnh trên thị trường trong nước và khu vực
Đối với các ngân hàng Thái Lan thì bộ phận thẩm định và bộ phận quyết định cho vay được tách riêng Quá trình thực hiện Cụ thể như thế nào chúng ta có thể tìm hiểu quy trình thẩm định tín dụng được áp dụng tại các ngân hàng Thái Lan
Hình 1.3: Quy trình thẩm định tín dụng đƣợc áp dụng tại
các ngân hàng Thái Lan
Ngoài các chỉ tiêu phân tích và đánh giá tình hình tài chính của khách hàng tương
tự như ở Việt Nam Các ngân hàng ở Thái Lan thực hiện quá trình phân tích tài chính qua 6 bước: xây dựng mục tiêu, tính toán các chỉ tiêu tài chính chủ yếu, so sánh các chỉ
Động cơ vay tiền
Xem xét chiến lược kinh
Trang 4033
tiêu, lập các nghi vấn và làm rõ, xác định, đánh giá rủi ro, đề ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro Đối với các dự án, ngân hàng phải tiến hành: dự báo rủi ro, khảo sát độ nhạy, dự báo dòng tiền của dự án
Về dự báo rủi ro, ngân hàng dự báo rủi ro trong tương lai và những rủi ro chính; nhận định và phán đoán những gì xảy ra đối với doanh nghiệp, đưa ra những phương án rủi ro, doanh nghiệp sẽ hoạt động như thế nào khi xảy ra rủi ro
Về khảo sát độ nhạy: phương án doanh nghiệp đưa ra chưa chắc đã là tốt nhất,
do đó giám đốc quan hệ khách hàng phải phân tích độ nhạy của dự án Cần khảo sát
độ nhạy theo các cách thức sau: theo đề án của ngân hàng; theo đề án của khách hàng; phương án xấu nhất có thể xảy ra, doanh nghiệp hoạt động như thế nào
Về dự báo dòng tiền của dự án: thông thường phải qua 3 bước: bước 1, tính luồng tiền của dự án; bước 2, các giả thiết định lượng; bước 3, xem xét toàn diện hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên ngân hàng thường quan tâm đến bước 3: nghiên cứu xu hướng phát triển của sản phẩm, của ngành; xem xét hoạt động của doanh nghiệp trong quá khứ; xem xét chiến lược quản trị doanh nghiệp Hiện nay, nhân viên tín dụng của các ngân hàng ở Thái Lan không còn coi tài sản thế chấp là số một như trước, mà điều đáng quan tâm là “dòng tiền”, gắn liền với cơ cấu món vay theo thời gian để xem doanh nghiệp trả nợ có đúng hạn hay không Tài sản thế chấp vẫn được coi trọng nhưng không coi đó là nguồn trả nợ, mà chỉ là nguồn để xử lý khoản nợ khi không thể thu hồi Việc xem xét cơ cấu món vay (theo thời gian) c ng rất quan trọng, ngân hàng rất quan tâm vì qua đó thấy được khách hàng có bảo đảm được thanh khoản không,có nguồn để trả nợ không, trong thời gian nào Ngân hàng phải thường xuyên nắm bắt, cập nhật thông tin về khách hàng, để nhanh chóng phát hiện các tình huống, xử lý kịp thời Các ngân hàng còn cho điểm khách hàng để từ đó mới ra quyết định cho vay Những khoản vay vượt quá hạn mức quy định trên thì phải chuyển cho bộ phận thẩm định độc lập để thẩm định trước khi trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt khoản cho vay
b.Kinh nghiệm của Mỹ
Có thể nói cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính Mỹ trong năm 2008 đã cho chúng ta cái nhìn đa chiều về quản lý rủi ro tín dụng tại một đất nước có nền kinh tế phát triển bậc nhất, c ng như có ngành ngân hàng đứng đầu thế giới về mức độ chuyên nghiệp cùng tài sản rất lớn Sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng tại Mỹ đã gây
ra không ít những hậu quả nghiêm trọng của kinh tế thế giới Các khoản nợ cầm cố dưới chuẩn, hợp đồng hoán đổi khả năng vỡ tín dụng, tình trạng nợ nần chồng chất
là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ vào năm 2008 Nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ một chính sách tín dụng lỏng lẻo, hệ thống