Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề chiến lược con người nói chung và cán bộ trẻ nói riêng từ các góc độ, các lĩnh vực khác nhau; "Phát huy nhân tố con người trong đổi mới quản
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-XW -
NGUYỄN QUỐC HÙNG
LUẬN VĂN ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ TRẺ TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH NGÀNH DẦU KHÍ
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
VŨNG TÀU – NĂM 2012
Trang 2Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
1
MỤC LỤC
Mục lục 1 Danh mục các bảng, hình vẽ 4
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt 5
PHẦN MỞ ĐẦU
3 Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của luận văn 14
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
5 Phương pháp nghiên cứu 16
6 Kết cấu của luận văn 17
Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò cán bộ trẻ trong quản lý
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới nguồn lực cán bộ trẻ 32
1.3 Vai trò nguồn lực cán bộ trẻ trong các Ban QLDA 35
Trang 3Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của các ban quản lý dự án xây dựng 52
2.2 Thực trạng cán bộ trẻ tại các Ban Quản lý Dự án xây dựng
2.4.2 Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế 73
3.3.1 Nâng cao nhận thức cho các nhà quản lý 89
Trang 4Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
3
3.3.2 Xây dựng nội dung, quy trình tuyển dụng phù hợp với công
Trang 5Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
4
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo giới tính 28
Hình 2.1: Những mũi khoan đầu tiên của Đoàn thăm dò Dầu lửa 36 tại Hà
Hình 2.2: Giàn cố định số 1 (MSP-1) khai thác dòng dầu đầu tiên, mỏ Bạch
Bảng 2.3: Tỉ lệ cán bộ theo độ tuổi và giới tính 57 Bảng 2.4: Trình độ chuyên môn của các cán bộ có độ tuổi từ 23 đến 35 tại các
Bảng 2.5: Trình độ và kinh nghiệm của cán bộ trẻ 59
Bảng 2.7: Số lượng cán bộ chuyển công tác trước khi Dự án kết thúc tại các
Bảng 2.8: Động cơ thúc đẩy lao động của cán bộ trẻ 64
Bảng 2.10: Đóng góp Sáng kiến – Công trình khoa học tại các Dự án 68 Bảng 2.11: Nhận xét của lãnh đạo trực tiếp về cán bộ trẻ tại các Dự án 69 Bảng 2.12: Động lực làm việc của cán bộ trẻ tại các Dự án 71 Bảng 2.13: Những tiêu cực mà cán bộ trẻ hay mắc phải tại các Dự án 72
Trang 6Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
Trang 7Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
6
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh
thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó”- Hồ
Chí Minh - Thư gửi thanh niên; 17/08/1947
Thế kỷ XXI là thế kỷ phát triển với một tốc độ vô cùng lớn Nhân loại
đã từng chứng kiến những thành tựu thần kỳ trong sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ; đồng thời, cũng đã chứng kiến những sự đổ vỡ có tính bi kịch Lịch sử đã ghi nhận những thành tựu đó, đã cảnh báo không ít bài học đối với các quốc gia, các chính phủ trong lĩnh vực quản lý cũng như trong việc xác lập mô hình phát triển nói chung Một trong những bài học nổi bật đó
là bài học về sử dụng, phát huy và phát triển các nguồn lực tự nhiên và xã hội Với đường lối đổi mới, Đảng ta đã khẳng định rằng, nguồn lực con người là nguồn lực cơ bản, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững của xã hội
Nói tới nguồn lực con người ở Việt Nam không thể không nói đến nguồn lực chủ yếu là thanh niên Thanh niên ở Việt Nam chiếm hơn 50% lao động xã hội và gần 29% dân số Hiện nay họ được đào tạo một cách cơ bản và khá toàn diện Do đó, nguồn lực thanh niên giữ một vị trí quan trọng và có vai trò đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện
nay cũng như trong tương lai Điều này đòi hỏi rất cao ở thanh niên vốn trí tuệ
và trình độ phát triển người về mọi mặt
Bên cạnh những ưu điểm, những mặt tích cực đó, thanh niên Việt Nam đang phải ra sức khắc phục những hạn chế và khiếm khuyết của mình Một bộ phận thanh niên chưa tỏ rõ ý chí nghị lực, không chịu trau dồi về học vấn, văn
Trang 8Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
7
hóa, khoa học kỹ thuật nên không đáp ứng được yêu cầu công việc trong xu thế phát triển của đất nước và trở thành tụt hậu Một bộ phận khác, do chưa chủ động và lường trước những mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự biến động phức tạp của tình hình kinh tế - xã hội trong nước và thế giới, bị những mặt tiêu cực, lối sống thực dụng, buông thả, cá nhân chủ nghĩa và các tệ nạn
xã hội chi phối dẫn tới không ít người vi phạm pháp luật, biến thành tội phạm Mặt khác, điều cần nhấn mạnh hơn cả là, các Doanh nghiệp, các đoàn thể và
tổ chức chưa xây dựng được một cơ chế thích hợp và một hệ giải pháp thống nhất và đồng bộ nhằm khai thác, phát huy tiềm năng về mọi mặt hết sức to lớn, dồi dào của thanh niên nước ta hiện nay
Hơn lúc nào hết, việc phát huy nguồn lực trẻ đang là vấn đề có tính thời
sự, đang được sự quan tâm nghiên cứu không chỉ đối với các nhà khoa học
mà còn đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, trong các Doanh nghiệp cũng như trong các tổ chức Đoàn thể Ở một số ngành, cán bộ trẻ thật sự là lực lượng nòng cốt trong việc triển khai các đề án, dự án đầu tư trong và ngoài nước; tự tin chững chạc trong quản lý điều hành, trong quan hệ ứng xử; tiếp thu nhanh những vấn đề mới Đây chính là lực lượng trẻ, được đào tạo bài bản, được rèn luyện trong thực tiễn công tác
Trong sản xuất kinh doanh ngày nay, công tác quản lý được coi là một trong những nhân tố quan trọng nhất để giành được thắng lợi trong sự cạnh tranh với những doanh nghiệp khác trên thương trường Công tác quản lý bao gồm việc xây dựng kế hoạch một cách cẩn thận, dựng nên một cơ cấu tổ chức
để giúp cho mọi người hoàn thành các kế hoạch, và biên chế cho cơ cấu tổ chức với những con người có năng lực cần thiết, cuối cùng là việc đánh giá và điều chỉnh các hoạt động thông qua kiểm tra Tuy nhiên, tất cả các chức năng quản lý sẽ không hoàn thành tốt nếu các nhà quản lý không hiểu được yếu tố
Trang 9Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
8
con người trong các hoạt động của họ và không biết cách lãnh đạo con người
để đạt được kết quả như mong muốn
Trong phạm vi một doanh nghiệp, sử dụng lao động được coi là vấn đề quan trọng hàng đầu vì lao động là một trong ba yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Nhưng sử dụng lao động sao cho có hiệu quả cao nhất lại là một vấn
đề riêng biệt đặt ra trong ra trong từng doanh nghiệp Việc doanh nghiệp sử dụng những biện pháp gì, những hình thức nào để phát huy khả năng của người lao động nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh là một điều hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp đó Mặt khác biết được đặc điểm của lao động trong doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, thời gian và công sức vì vậy mà việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp dễ dàng hơn
Trong quá trình đổi mới, mở cửa hội nhập khu vực và thế giới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo điều kiện phát triển nền kinh tế nói chung và ngành Dầu khí nói riêng, điều này được thể hiện ở chính sách và huy động và
sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước, của các doanh nghiệp và của nhân dân Chính vì vậy trong những năm qua các Dự án ngành Dầu khí đã phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế –
xã hội đất nước, góp phần cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Tuy vậy, hệ thống quản lý dự án của nước ta hiện nay so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới còn nhiều yếu kém, nhiều tồn tại, bất cập Nhiều Dự án có thời gian thi công quá dài, nợ đọng lớn hiệu quả sử dụng thấp, hiệu suất không cao Sự yếu kém về tri thức, thiếu tính chuyên nghiệp, bảo thủ trì trệ là một trong những tác nhân làm hạn chế hiệu quả Quản lý dự
án, làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh của chủ đầu tư, của doanh nghiệp,
Trang 10Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
9
gây nên lãng phí, sử dụng không hiệu quả nguồn vốn của Nhà nước và nhân dân Thậm chí ở một số công trình có biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật như tình trạng bán thầu, vi phạm quy trình kỹ thuật, quản lý lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm trình độ chuyên môn quản lý và còn nhiều bất cập yếu kém
Các Ban QLDA xây dựng ngành Dầu khí là đơn vị sự nghiệp, thay mặt chủ đầu tư quản lý đầu tư xây dựng Điều hành nghiệm thu, thanh quyết toán công trình, phân bố trên nhiều tỉnh, nhiều vùng của cả nước với lực lượng nhân sự không nhỏ, quản lý và điều hành một lượng tiền hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm Với đội ngũ cán bộ hùng hậu, có thực đức, thực tài trên mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, trong cũng như ngoài khu vực nhà nước Đó là tiền đề đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Đội ngũ đông đảo đó có thể có chính kiến khác nhau, nhưng có điểm chung là thực lòng yêu nước, có tinh thần công dân, tôn trọng luật pháp và nhất thiết phải có tài trí trên lĩnh vực hoạt động của mình ở tầm đủ đảm bảo khả năng cạnh tranh phát triển của đất nước trong điều kiện mới Họ phải được đảm bảo về đời sống vật chất và tinh thần để có thể đem tài năng và nhiệt tâm phục vụ đất nước mà không phải đi kiếm sống bằng việc làm thuê cho nước ngoài Đội ngũ ấy cần
có những tri thức trên rất nhiều lĩnh vực mới mẻ, ở tầm đỉnh cao đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra đối với đất nước trong thời đại cách mạng khoa học
- công nghệ, cạnh tranh phát triển khốc liệt, các tranh chấp quốc tế diễn ra thường xuyên trên mọi lĩnh vực Đội ngũ ấy có điểm xuất phát, lứa tuổi, điều kiện trưởng thành khác nhau, nhưng rõ ràng là thế hệ cán bộ trẻ, có nhân cách, có tài năng, được đào tạo ở trình độ hiện đại có ưu thế nhất Trong đội ngũ ấy không có chỗ đứng cho những người ngoài miệng nói về lòng trung thành với đất nước và CNXH, nhưng trên thực tế thì chỉ lo vun vén lợi ích và địa vị của mình, không hiểu biết công việc, vô trách nhiệm, tài trí kém cỏi, quan liêu, tham nhũng Nếu trong cơ chế kinh tế tập trung bao cấp hoặc trong
Trang 11Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
10
giai đoạn chuyển đổi, tác hại của việc sử dụng những cán bộ như vậy còn phần nào bị che lấp, thì ngày nay, trong thử thách khắc nghiệt của cạnh tranh trong nước và thế giới thời kỳ hội nhập quốc tế, trong nhà nước pháp quyền, những yếu kém sẽ phải trả giá đắt, chịu thất bại, thua thiệt mà đất nước không thể chịu nổi Và như vậy cũng phải khắc phục ngay những yếu kém kìm hãm
sự phát triển của đội ngũ cán bộ như chủ nghĩa bình quân, cào bằng, bệnh hẹp hòi, ô dù, cục bộ địa phương, bệnh chạy theo bằng cấp hình thức… trong công tác cán bộ
Để quản lý tốt và có hiệu quả các dự án đầu tư xây dựng ngành Dầu khí thì ngoài việc cần phải hoàn thiện các chính sách vĩ mô của Nhà nước, các quyết định quy định của ngành, thì cũng phải tiến hành đồng thời việc tổ chức xắp xếp lại mô hình các ban QLDA cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Trong đó một vấn đề quan trọng cần phải giải quyết là phải phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý dự án Chỉ có như vậycông tác quản lý dự án nói chung và dự án ngành Dầu khí nói riêng mới chuyển biến tích cực và đạt được yêu cầu đặt ra trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Trong công tác cán bộ, việc chăm lo, bồi dưỡng tới đội ngũ cán bộ trẻ được xem là một khâu không kém phần quan trọng bởi đây chính là nguồn lực cho lớp lãnh đạo tương lai, là căn cứ để tuyển chọn, xây dựng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, bổ nhiệm, khen thưởng và thực hiện chế độ, chính sách với cán bộ trẻ
Đối với việc đánh giá cán bộ, đặc biệt là cán bộ trẻ, cần đảm bảo tính khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và tính kế thừa đồng thời ngăn ngừa những biểu hiện tiêu cực, thành kiến, cục bộ Đây chính là yếu tố quan trọng
để đánh giá cán bộ trẻ và sử dụng họ cho đúng, phát huy được tinh thần xung kích, tính nguyện, năng lực và trí tuệ của cán bộ trẻ
Trang 12Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
11
Khi đánh giá cán bộ trẻ cần làm rõ ưu, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu
về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống lấy sự tín nhiệm của quần chúng nơi công tác và cư trú, đồng thời cần thực hiện một cách khoa học, tránh hình thức, tiến hành thường xuyên, định kỳ Bên cạnh đó, cũng cần gắn với trách nhiệm người đứng đầu, tập thể lãnh đạo
Một điều quan trọng nữa là cần thực hiện việc trả lương, thu nhập tương ứng với hiệu quả sản xuất, kinh doanh, sự đóng góp vào việc thực thi nhiệm vụ trong doanh nghiệp Nhiều bạn trẻ cho rằng, cần tạo môi trường và điều kiện để người lao động nói chung, cán bộ trẻ nói riêng có việc làm và thu nhập tốt hơn nhưng đó cũng chưa phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện bởi trong bối cảnh hiện nay và cả trong thời gian tới, việc làm, tiền lương, thu nhập không phải là mối bận tâm hàng đầu mà những người trẻ còn quan tâm tới môi trường làm việc và tính dân chủ trong mỗi đơn vị công tác
Thực tế cũng khẳng định việc đánh giá đúng vị trí, vai trò của cán bộ trẻ để có biện pháp bồi dưỡng, sử dụng là điều kiện quan trọng góp phần xây dựng đất nước trong thời kỳ mới Cần thiết phải nêu rõ chủ trương và các giải pháp trọng dụng, sử dụng hợp lý nhân tài, nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao Cũng không nhất thiết phải đưa nhiều cán bộ trẻ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo mà chỉ cần giữ một tỷ lệ cơ cấu hợp lý để đảm bảo tính kế thừa, qua đó, khuyến khích người trẻ tự vươn lên làm chủ công nghệ, tự rèn luyện tay nghề,
tự đào tạo theo ngành nghề, củng cố và trau dồi thêm kỹ năng, nghiệp vụ của chính mình phục vụ sự phát triển chung của cơ quan, đơn vị
Nhằm khuyến khích thúc đẩy, động viên các cán bộ trẻ làm việc tích cực hơn, gắn bó trung thành với nghề nghiệp và công ty, tránh tình trạng chảy máu chất xám, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cán bộ trẻ, giúp đỡ các cán
bộ trẻ phát huy tiềm năng để giải quyết công việc thì việc nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá vai trò của cán bộ trẻ trong Quản lý Dự án Xây dựng Công
Trang 13Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
12
trình ngành Dầu khí Việt nam” có ý nghĩa lý luận, thực tiễn cấp thiết và lâu
dài trong lĩnh vực công tác của bản thân tác giả
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề con người và nguồn lực con người đã từng thu hút sự chú ý của các nhà lãnh đạo, quản lý, của giới lý luận trong nước và nước ngoài Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề chiến lược con người nói chung và cán
bộ trẻ nói riêng từ các góc độ, các lĩnh vực khác nhau;
"Phát huy nhân tố con người trong đổi mới quản lý kinh tế" - Nguyễn Văn
Sáu - Nxb Chính trị quốc gia, H.1993; Nghiên cứu con người từ góc độ nguồn lực của sự phát triển xã hội, đã có các công trình của các tác giả E.F
Schumaacher: "Những nguồn lực" - Nxb Lao động, 1996; Paul Hersey: "Quản
lý nguồn nhân lực" - Nxb Sự thật, H.1995; "Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước" - Nguyễn Trọng Chuẩn Tạp chí Triết
học - số 3/1994; "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản
cho sự phát triển nhanh và bền vững" - Phạm Minh Hạc - Tạp chí Xây dựng
Đảng, số 7-1996
Trên nền chung của những nghiên cứu về con người và nguồn lực con người, đã có những tác giả đi sâu nghiên cứu về cán bộ trẻ Trong những năm
gần đây, đã có các công trình như: "Chính sách đối với cán bộ trẻ - Lý luận và
thực tiễn" - Nguyễn Văn Trung (chủ biên) - Nxb Chính trị Quốc gia, H.1996;
"Tìm hiểu định hướng giá trị của cán bộ trẻ trong điều kiện nền kinh tế thị
trường" - Thái Duy Tuyên (chủ biên) - Chương trình KHCN - cấp Nhà nước - KX 07
Một số công trình gần đây có đề cập trực tiếp hoặc gợi mở những vấn
đề nghiên cứu về nguồn lực cán bộ trẻ trong Quản lý dự án đất nước như: " Phát
huy và phát triển nguồn nhân lực trẻ của đất nước phục vụ Quản lý dự án" -
Trần Thị Tâm Đan - Tạp chí Cộng sản, số 21-1996; "Góp phần tạo nguồn lực trẻ
Trang 14Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
độ Cao đẳng – Trung cấp chiếm 10,28% và 34,77% là công nhân kỹ thuật Với trình độ quản lý, tay nghề ngày càng được nâng cao, nguồn nhân lực của Tập đoàn đã có thể đảm nhận việc quản lý, vận hành các dự án thăm dò, khai thác dầu khí trong và ngoài nước như Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Nhà máy Điện Cà Mau, Nhơn Trạch… các dự án công trình trọng điểm như Đạm Cà Mau, Nhiệt điện Vũng Áng, Long Phú – Sông Hậu, Sơ Xợi Đình Vũ
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành Dầu khí đáp ứng nhu cầu phát triển, PetroVietnam đã xây dựng một chiến lược đào tạo cụ thể tiếp theo trong giai đoạn 2011 – 2015 Các giải pháp chủ yếu là tăng cường đào tạo chuyên sâu ngắn hạn và dài hạn (trình độ thạc sĩ, tiến sĩ) với nhiều hình thức khác nhau; chú trọng đào tạo chuyên gia ở các lĩnh vực chuyên môn; tập trung đào tạo thạc sĩ chuyên sâu ở các đơn vị sản xuất kinh doanh, đào tạo tiến sĩ ở các đơn vị nghiên cứu khoa học…
Trước mắt, trong năm 2011, PVN tiếp tục thực hiện kế hoạch triển khai chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực với việc xây dựng chương trình đào tạo chi tiết chuyên sâu, chuyên gia trong lĩnh vực địa chất, tìm kiếm thăm dò, khai thác , trên cơ sở đó phối hợp với các đơn vị thành viên như Viện Dầu khí Việt Nam, trường Đại học Dầu khí, trường Cao đẳng nghề Dầu khí… tiếp tục hoàn thiện các chương trình đào tạo Ngoài ra, PVN cũng yêu
Trang 15Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
Tuy vậy vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách
cơ bản và chi tiết vấn đề này Đâylà ý do tác giả lựa chọn đề tài: " Đánh giá
vai trò của cán bộ trẻ trong Quản lý Dự án Xây dựng Công trình ngành Dầu khí Việt nam" để nghiên cứu trong luận văn này Luận văn là cố gắng
bước đầu của tác giả nhằm góp phần vào việc nghiên cứu thực trạng đang diễn ra tại các dự án, công trình ngành Dầu khí
3 Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của luận văn
Giúp cho các Ban quản lý, Ban điều hành Dự án ngành Dầu khí có cái nhìn chính xác về vai trò của các Cán bộ trẻ để đạt kết quả tốt hơn nữa về chất lượng và tiến độ trong Quản lý dự án xây dựng
Giúp cho các Công ty chủ động hơn trong việc hội nhập quốc tế , ứng phó với sự thay đổi Công nghệ và kỹ thuật thông qua việc tuyển dụng và đào tạo Đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của cán bộ trẻ , giúp đỡ các cán bộ trẻ phát huy tiềm năng để giải quyết công việc Khuyến khích ,
Trang 16Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
- Phân tích vị trí, vai trò, nhiệm vụ của cán bộ trẻ trong Quản lý dự án
- Đánh giá thực trạng đào tạo sử dụng, phát huy nguồn lực cán bộ trẻ trong thời gian qua
- Phân tích khả năng và triển vọng phát triển nguồn lực cán bộ trẻ, xác định phương hướng và những giải pháp chủ yếu để phát huy và phát triển nguồn lực cán bộ trẻ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các Dự án trong nước
và Quốc tế
3.3 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực trẻ qua thực tiễn QLDA xây dựng
Trên cơ sở phân tích thực trạng QLDA xây dựng, luận văn tập trung phân tích vai trò của các cán bộ trẻ Qua đó đánh giá những mặt mạnh cũng chỉ ra những tồn tại, yếu kém của nguồn nhân lực này
Đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực cho quản lý dự án xây dựng ở nước ta trong thời gian tới
Những quan điểm, những kết luận khoa học và những kiến nghị của tác giả có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn lực cán bộ và hoạch định chính sách cán
bộ ở các Doanh nghiệp
Trang 17Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
16
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lực lượng cán bộ trẻ trong độ tuổi
từ 23 đến 35, đang làm việc trong các Dự án Xây dựng Công trình ngành Dầu khí Việt nam
-Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các dự
án xây dựng trong ngành Dầu khí khu vực phía Nam, trong khoảng thời gian
từ 2009-2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị đó là: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp kết hợp logíc với lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá, phương pháp so sánh, hệ thống hoá, phương pháp phân tích các số liệu thống kê để nghiên cứu
Số liệu sơ cấp thu thập bằng phương pháp điều tra thực tế từ các cán bộ
đã và đang công tác tại các Ban quản lý dự án xây dựng ngành Dầu khí Mẫu phiếu hỏi gồm 3 phần, bao gồm:
Phần 1 thu thập thông tin cá nhân
Phần 2 thu thập thông tin về công tác chuyên môn
Phần 3 thu thập các đánh giá của lãnh đạo về nguồn nhân lực cán bộ trẻ
Các kết quả khảo sát được lấy trực tiếp bằng cách phỏng vấn trực tiếp, gửi bảng hỏi trực tiếp và qua email Kết quả điều tra được xử lý trên excel Ngoài ra luận văn còn kế thừa các kết quả và số liệu nghiên cứu đã được kiểm nghiệm, đánh giá từ trước tới nay, các nguồn thông tin đại chúng
để làm sáng tỏ thêm những vấn đề cần nghiên cứu, phân tích Các số liệu về
Trang 18Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
17
Nhân sự còn được lấy từ Ban Tổ chức Nhân sự Tổng công ty Cổ phần xây lắp Dầu khí Việt Nam và từ các phòng Tổ chức Nhân sự của Ban quản lý Dự án các công trình Dầu khí
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò Cán bộ trẻ trong
quản lý dự án xây dựng ngành Dầu khí
Chương 2: Thực trạng vai trò cán bộ trẻ trong QLDA xây dựng ngành Dầu
Khí Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp cơ bản cho phát triển nguồn
lực cán bộ trẻ trong QLDA xây dựng ngành Dầu khí
Trang 19Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
- Theo Lyn Squire “dự án là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn vốn có nhằm đtác giả lại lợi ích thực cho xã hội càng nhiều càng tốt”
- Theo từ điển Oxford của Anh định nghĩa: Dự án (project) là một ý đồ, một nhiệm vụ được đặt ra, một kế hoạch vạch ra để hành động
- Theo tiêu chuẩn của Australia (AS 1379-1991) định nghĩa: Dự án là một dự kiến công việc có thể nhận biết được, có khởi đầu, có kết thúc bao hàm một số hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau
- Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được Việt Nam chấp thuận trong tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực
Trang 20Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
19
1.1.2 Quản lý dự án
- Theo tài liệu MBA trong tầm tay chủ đề Quản lý dự án của tác giả Eric Verzuh (Mỹ): Một dự án được định nghĩa là “công việc mang tính chất tạm thời và tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ độc nhất” Công việc tạm thời sẽ có điểm bắt đầu và kết thúc Mỗi khi công việc được hoàn thành thì nhóm dự án
sẽ giải tán hoặc di chuyển sang những dự án mới
Hầu hết các dự án khi lập ra, thực hiện thì đều cần có sự đầu tư về nguồn lực Nếu không phải là đầu tư tiền bạc, của cải hữu hình thì cũng phải đầu tư chất xám, công sức Dự án là một chuỗi các hoạt động liên kết được tạo ra nhằm đạt được kết quả nhất định trong phạm vi ngân sách và thời gian xác định
- Theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng (ban hành kèm theo Nghị định
số 177/CP ngày 20 tháng 10 năm 1994 của Chính phủ), dự án đầu tư được hiểu như sau:"Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch
vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định."
- Theo Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”
- Theo dự án đầu tư xây dựng công trình theo định nghĩa của luật Xây dựng: Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở
- Thực hiện dự án là xác định và thực hiện một tổ hợp các hành động, các quyết định và hàng loạt các công việc phụ thuộc lẫn nhau trong một chuỗi
Trang 21Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
là kết quả của công việc này sẽ là tiền đề cho kết quả của công việc khác Vì vậy việc tổ chức các công việc một cách hợp lý sẽ tạo ra hiệu quả cho quá trình thực hiện dự án Không có dự án nào lại không có thời điểm khởi đầu và kết thúc Do đó, bất kỳ một dự án cũng được đặt vào một khoảng thời gian định trước hết sức nghiêm ngặt, bất kỳ một sự trễ hạn nào cũng đều kéo theo một chuỗi các biến cố bất lợi như vượt chi, tổ chức lại các nguồn lực, thay đổi tiến độ cung cấp thiết bị, vật tư và tất nhiên không đáp ứng được nhu cầu sản phẩm vào đúng thời điểm mà cơ hội xuất hiện như dự đoán ban đầu Dự
án thường bị ràng buộc về nguồn lực Các nguồn lực ràng buộc một cách chặt chẽ và định hình nên khuôn khổ của dự án Khối lượng tiêu hao nguồn lực cho dự án chính là một thông số then chốt phản ảnh mức độ thành công của
dự án Việc huy động và sử dụng các nguồn lực cho dự án thường liên quan đến các quan hệ: chủ đầu tư, nhà tư vấn và nhà thầu với các đối tác cung cấp các nguồn lực Mọi dự án đều được triển khai trong một môi trường hoạt
Trang 22Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
21
động luôn biến đổi và đầy nghi vấn Vì vậy điều hành dự án bắt buộc phải tính đến những hiện tượng này để phân tích và ước lượng các rủi ro, lựa chọn các giải pháp cho một tương lai bất định Dự kiến những trường hợp phòng thủ cần thiết cũng như theo dõi, giám sát và có phản ứng thích hợp, kịp thời đảm bảo cho dự án đi đến thành công
Quản lý dự án là huy động các nguồn lực và tổ chức các công việc để thực hiện mục tiêu đề ra Các nhà quản lý phải quyết định cái gì cần phải làm Nó bao gồm việc đặt ra mục tiêu và hình thành các công cụ để đạt mục tiêu đề ra trong giới hạn về nguồn lực và phù hợp với môi trường hoạt động Nhà tổ chức phải quyết định công việc được tiến hành như thế nào Huy động và sắp xếp các nguồn lực Xây dựng cấu trúc tổ chức, hệ thống thông tin phục vụ cho quản lý dự án Nhà quản lý hướng dẫn và khuyến khích đội ngũ nhân viên
hăng say công việc để đạt mục tiêu đề ra Kiểm soát và xây dựng hệ thống
thông tin hữu hiệu để thu thập và xử lý số liệu về chi phí, về tiến độ và các tiêu chuẩn khác Điều chỉnh các kế hoạch, các hoạt động, các tiêu chuẩn khi
có những thay đổi
1.1.3 Hình thức quản lý Dự án
Theo qui định của pháp luật, căn cứ vào qui mô, tính chất của dự án và
năng lực của mình, chủ đầu tư lựa chọn một trong các hình thức quản lý thực hiện dự án, đó là:
- Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
- Chủ nhiệm điều hành dự án
1.1.3.1 Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Trong trường hợp này, chủ đầu tư thành lập Ban quan lý dự án trực thuộc để quản lý thực hiện dự án và phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Ban QLDA là đơn vị trực thuộc chủ đầu tư nhiệm vụ và quyền hạn phải phù hợp với trách nhiệm, quyền hạn của chủ đầu tư được quy định tại quy chế
Trang 23Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
22
đầu tư xây dựng, phù hợp với quy chế đầu tư xây dựng quy phù hợp với điều
lệ tổ chức của chủ đầu tư và các quy định pháp luật khác có liên quan cơ cấu
tổ chức quản lý do chủ đầu tư và các quy định pháp luật khác có liên quan
Cơ cấu tổ chức quản lý do chủ đầu tư quyết định phải đảm bảo có đủ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ quản lý, thực hiện dự
án Ban quản lý gồm có trưởng ban, các phó trưởng ban và các bộ phận chuyên môn và các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ giúp việc trưởng ban Ban quản lý dự án phải thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên v à đầy
đủ với chủ đầu tư Chủ đầu tư thực hiện việc chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động của ban QLDA và xử lý kịp thời các vấn đề ngoài phạm vi quyền hạn của ban
để đảm bảo tiến độ, chất lượng và các yêu cầu khác của dự án
Khi dự án hoàn thành, đưa vào khai thác sư dụng, ban QLDA đã hoàn thành nhiệm vụ được giao thì chủ đầu tư gia quyết định giải thể hoặc giao nhiệm vụ mới cho ban quản lý dự án
- Thứ nhất: Hình thức này áp dụng đối với các dự án thuộc chuyên
ngành xây dựng được Chính phủ giao cho các bộ, cơ quan ngang bộ và xây dựng chuyên ngành (bao gồm: Bộ xây dựng, Bộ GTVT, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ công nghiệp, Bộ văn hóa thông tin, Bộ quốc phòng,
Bộ công an, Tổng cục bưu điện) và ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý thực hiện các dự án do ủy ban nhân các tỉnh giao cho các sở xây dựng chuyên ngành và ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện
Trang 24Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
23
- Thứ hai: Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các Ban quản lý dự án
chuyên ngành phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Ban quản lý dự án chuyên ngành do các bộ hoặc ủy ban nhân dân cấp Tỉnh quyết định thành lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hành vi của mình
Ban quản lý chuyên ngành có giám đốc, phó giám đốc và bộ máy thích hợp để quản lý điều hành dự án độc lập
Ban quản lý dự án chuyên ngành thực hiện chức năng nhiệm vụ của chủ đầu tư về quản lý thực hiện dự án từ khi dự án được phê duyệt đến khi bàn giao đưa vào khai thức sử dụng Trường hợp cần thiết, ban quán lý dự án chuyên ngành có thể được giao thực hiện các công việc của giai đoạn chuẩn
bị đầu tư hoặc các nhiệm vụ kha thác của chủ đầu tư theo quy định tại quy chế quản lý đầu tư và xây dựng do chính phủ ban hành
- Thứ ba: Điều kiện về năng lực chuyên môn của các ban quản lý dự án
1.1.4 Vai trò của Quản lý dự án
- Nhằm thực hiện dự án
- Phối hợp có hiệu quả nhân lực, vật lực và tài lực của các hoạt động theo thời gian và không gian để đạt kết quả của dự án
Trang 25Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
24
- Quản lý các rủi ro có thể xảy ra, đảm bảo dự án thành công
- Phối hợp lợi ích các bên tham gia
- Đảm bảo bền vững về vật chất, nhân lực, tổ chức và tài chính cho dự
án
Vai trò của quản lý dự án trong quản trị chiến lược toàn diện giúp các tổ chức hệ thống hóa lại các phương pháp quản lý, đưa ra các bước triển khai chiến lược trong thực tế, giải quyết được phần nào các bế tắc thường gặp trong việc quản lý tổ chức
Bất kỳ tổ chức nào cũng tồn tại hai dạng công việc Một là khởi tạo công việc, sản phẩm, dịch vụ và hai là duy trì, vận hành công việc, sản phẩm, dịch
vụ đó
Việc tạo lập được thể hiện thông qua vai trò của quản lý dự án
Dự án là công việc có thời hạn nhất định được thực hiện để tạo ra kết quả, sản phẩm, dịch vụ
Quản lý dự án chính là dùng các công cụ, kỹ thuật, nguồn lực, kỹ năng, v.v để đạt được mục tiêu của dự án Trong giai đoạn này, tổ chức có thể áp dụng các chuẩn mực về quản lý dự án trên một dự án cụ thể
Duy trì được thực hiện thông qua quản lý vận hành Duy trì nhằm đảm bảo việc tuân thủ theo các quy trình, hướng dẫn đã thiết lập và đảm bảo được chất lượng đầu ra của sản phẩm, dịch vụ
Giai đoạn vận hành sản phẩm, dịch vụ là giai đoạn sử dụng kết quả từ giai đoạn thực hiện dự án, đưa vào khai thác, sử dụng, phục vụ khách hàng Đây chính là giai đoạn sản phẩm thực sự đến tay khách hàng, và cần phải có những phương pháp quản lý nhằm sử dụng đúng, hạn chế lỗi xảy ra
Trang 26Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
25
1.1.5 Nội dung của Quản lý dự án
Mỗi dự án đều chứa đựng tính đa ngành cũng như các đặc điểm riêng
và đối tượng riêng, các dự án đều có tính độc đáo Tuy nhiên, vẫn tồn tại một
số dấu hiệu chung:
- Dấu hiệu “thay đổi” chính là nội dung cơ bản của dự án Trong tiến trình thực hiện dự án luôn nảy sinh những thay đổi về hệ thống vật chất và miền đối tượng Dự án là một quá trình động, luôn biến động
- Dấu hiệu “hạn chế về thời gian” Đó chính là sự ràng buộc về thời hạn thực hiện dự án Một dự án phải có điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng Sự thành công của dự án được đánh giá bằng khả năng thực hiện đúng tiến độ của dự án
- Dấu hiệu “hạn chế ngân sách” Mỗi dự án chỉ được sử dụng một khoản chi phí nhất định nào đó
- Lập kế hoạch: Các nhà quản lý phải quyết định cái gì cần phải làm Nó bao gồm việc đặt ra mục tiêu và hình thành các công cụ để đạt mục tiêu đề ra trong giới hạn về nguồn lực và phù hợp với môi trường hoạt động
- Tổ chức: Nhà tổ chức phải quyết định công việc được tiến hành như thế nào Huy động và sắp xếp các nguồn lực Xây dựng cấu trúc tổ chức, hệ thống thông tin phục vụ cho quản lý dự án
- Lãnh đạo: Nhà quản lý hướng dẫn và khuyến khích đội ngũ nhân viên hăng say công việc để đạt mục tiêu đề ra
- Kiểm soát: Xây dựng hệ thống thông tin hữu hiệu để thu thập và xử lý
số liệu về chi phí, về tiến độ và các tiêu chuẩn khác
- Điều chỉnh: Điều chỉnh các kế hoạch, các hoạt động, các tiêu chuẩn khi
có những thay đổi
Trang 27Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
26
1.2 Nguồn nhân lực cán bộ trẻ
1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất,
có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ,
có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn
Nguồn nhân lực (NNL) là một khái niệm không phải mới, đã xuất hiện và được sử dụng ở nhiều nước nhưng ở nước ta mới xuất hiện trong thời gian gần đây và hiện nay được sử dụng nhiều không chỉ trong giới khoa học mà ngay ở trong cơ quan doanh nghiệp, NNL đang là một vấn đề được chú ý và đặc biệt quan tâm ở nước ta hiện nay
Vậy nguồn nhân lực là gì? Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”
Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên
Theo tổ chức lao động quốc tế thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn
bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát
Trang 28Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
27
triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn
bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố
về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong
độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Như vậy theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng
để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một '' tài nguyên đặc biệt '', một nguồn lực của sự phát triển kinh tế
Trang 29Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
1.2.2 Cán bộ trẻ
“Trẻ” hay “Thanh niên”? Theo Luật Thanh niên, Thanh niên là người từ
16 đến 30 tuổi trong khi tại các môi trường đặc thù thì đôi khi các cán bộ 40,
50 tuổi vẫn được coi là “trẻ”
Theo Thống kê của Tổng cục Thống kê thì tỉ lệ lực lượng lao động chiếm 58% tổng số dân cả nước, được phân theo nhóm tuổi các năm như sau:
Bảng 1.1: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo giới tính
Trang 30Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
29
Nguồn lực cán bộ trẻ là nguồn lực đang trưởng thành, đang trong quá trình hoàn thiện về phẩm chất và năng lực, là một bộ phận quan trọng trong quá trình thực hiện dự án Khái niệm về cán bộ trẻ, trước hết liên quan đến việc xác định lứa tuổi của cán bộ trẻ, tùy thuộc vào tính chất chuyên biệt của từng ngành, vai trò trong quá trình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân mà mỗi thời kỳ, mỗi ngành có khái niệm
độ tuổi cán bộ trẻ khác nhau Hầu hết đều thống nhất là dưới 35 và trong một
số trường hợp thì cho đó là 40
Cán bộ trẻ là thế hệ kế tiếp, chỉ 5-10 năm sau họ sẽ trở thành các cán bộ chủ chốt, nòng cột Cán bộ trẻ là một thành phần không thể thiếu trong quá trình quản lý dự án Muốn tìm hiểu và xác định phạm trù này cần phải có sự thống nhất về khoảng tuổi, về đặc điểm chung, riêng của họ, về tính chất xã hội, về các quan hệ cơ bản giữa họ với công việc và phải tính đến những qui luật bên trong của sự phát triển về thể chất và tinh thần của họ
Theo số liệu thống kê từ các Dự án ngành Dầu khí khu vực phía Nam trong 3 năm 2009, 2010, 2011 thì độ tuổi trung bình của các cán bộ tham gia điều hành quản lý Dự án là 35,7 Số lượng các cán bộ có độ tuổi từ 23-35 chiếm hơn 60%
Tùy thuộc vào nội dung và góc độ nghiên cứu mà có nhiều cách tiếp cận khác nhau Tựu trung lại, có thể rút ra một số nội dung tổng quát về quan niệm cán bộ trẻ như sau:
Thứ nhất: Cán bộ trẻ với tư cách là một người lao động từ 23 đến 35
tuổi, đang ở độ tuổi phát triển, có khả năng phát triển về trí tuệ và nhân cách mạnh mẽ cùng với sự phát triển nhanh chóng về sự nghiệp Đứng ở góc độ sinh học, lứa tuổi cán bộ trẻ được coi là một cấp độ phát triển hoàn thiện về mặt thể chất Trong những giai đoạn của một đời người, tuổi cán bộ trẻ là biểu tượng về sự trẻ trung, mạnh mẽ, hoạt động, hy vọng và ước mơ Đây chính là
Trang 31Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
30
giai đoạn cán bộ trẻ tự khẳng định vai trò, vị trí và trách nhiệm của mình trong công việc Tuy vậy, cán bộ trẻ còn có những hạn chế nhất định, bên cạnh sự mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm, là tính bồng bột, thiếu kinh nghiệm, thậm chí cả sự liều lĩnh Có sự tiềm ẩn những khả năng to lớn, những yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen trong mỗi cán bộ trẻ Nhìn từ góc độ này, ta thấy một mâu thuẫn trong sự phát triển của cán bộ trẻ đó là mâu thuẫn của quá trình tự phát triển trong bản thân nó với những phẩm chất xã hội chưa chín muồi Để giải quyết tốt mối quan hệ này thì đào tạo và hướng dẫn có vai trò đặc biệt quan trọng Quan điểm chỉ đạo đào tạo, hướng dẫn ở đây là phải chú
ý đáp ứng những nhu cầu hợp lý về tồn tại, phát triển và cả các hoạt động mang tính đặc thù về lứa tuổi
Thứ hai: Cán bộ trẻ như một thế hệ có quan hệ mật thiết với các thế hệ
khác trong môi trường công việc Các tiêu chí chủ yếu xác định sự phát triển của cán bộ trẻ là: thể lực, trình độ, văn hóa, lối sống, hành vi và hoạt động Căn cứ vào đó, người ta có thể xác định và đánh giá cán bộ trẻ trong hiện tại
và trong tương lai Mang trong mình những đặc trưng riêng: khao khát lý tưởng và hành động thực hiện lý tưởng, hướng tới các giá trị xã hội nhưng lại chưa đủ kinh nghiệm và sự từng trải để có cách suy xét, đánh giá các giá trị, lựa chọn giá trị theo tinh thần duy lý Những con người đang trưởng thành này sống nặng về tình cảm hơn là lý trí Họ có trình độ học vấn tương đối cao, năng động, nhạy cảm nên dễ dàng tiếp nhận và hội nhập vào cái mới Cán bộ
trẻ có đặc điểm hay di chuyển sự chú ý, thay đổi hứng thú, sở thích, dễ dàng
tiếp thu hệ tư tưởng này hoặc hệ tư tưởng khác, kể cả tích cực và tiêu cực Sự nhạy cảm, xúc cảm trực tiếp mạnh hơn và đi trước năng lực phân tích bằng lý trí, khoa học về mọi vấn đề của cuộc sống và bản chất của con người xã hội
Do đó, có thể dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột thế hệ về tâm lý và tính cách xã hội Do bị chi phối bởi các quan niệm khác nhau về trình độ văn hóa,
Trang 32Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
31
học vấn và kinh nghiệm sống nên với quá khứ, cán bộ trẻ dễ có cách nhìn và đánh giá xuất phát từ cảm hứng phê phán, thậm chí có thể phiến diện và cực đoan Với tương lai, cán bộ trẻ thường lý tưởng hóa, hy vọng, say mê và hay tưởng tượng, nhưng đồng thời cũng dễ chán nản, thất vọng và hoài nghi Để khắc phục tình trạng này, cần phải áp dụng hàng loạt các biện pháp quản lý, đặc biệt trong việc hướng dẫn và đối thoại với cán bộ trẻ theo nguyên tắc dân chủ, tôn trọng suy nghĩ độc lập và tự do tư tưởng của cán bộ trẻ, tin cậy họ, mặt khác cần lôi cuốn và thuyết phục, giúp họ tự điều chỉnh Đồng thời, cần chú ý mối quan hệ giữa cán bộ trẻ với lớp người đi trước, nhằm động viên, phát huy thế mạnh và tiềm lực của cán bộ trẻ, giúp họ biết kế thừa, học hỏi kinh nghiệm Tránh cho thế hệ cán bộ trẻ có thái độ kiêu ngạo, tự mãn, tự ngộ nhận và huyễn hoặc bản thân cũng như trạng thái mặc cảm tự ti, an phận và thụ động Đó là tất cả nghệ thuật và thành công của quản lý đối với cán bộ trẻ
Thứ ba: Cán bộ trẻ với tư cách lực lượng lao động chủ yếu tại các Dự
án Cán bộ trẻ luôn là lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế Hệ luận quan trọng rút ra ở đây là, cần phải tạo ra môi trường lao động tốt đối với cán bộ trẻ để họ phát triển tối đa năng lực trí tuệ, khả năng sáng tạo và bản sắc riêng độc đáo của mỗi cá nhân cho sự phát triển kinh
tế Những tài năng trẻ phải được phát hiện sớm và đưa vào quy hoạch Đào tạo thế hệ thế hệ kế cận thông minh, sáng tạo, có nhân cách và tài năng lớn chính là đầu tư theo chiều sâu và thuộc về chiến lược phát triển quốc gia Mỗi một Dự án đều có tính riêng biệt và đặc thù dẫn đến các cán bộ trẻ đều có những nét đặc trưng riêng biệt, tùy theo đặc điểm nghề nghiệp và môi trường hoạt động khác nhau, vì vậy số lượng, nhu cầu, nguyện vọng cũng khác nhau
Cán bộ trẻ là tương lai Cán bộ trẻ luôn có những vấn đề riêng của mình, và luôn tự khẳng định mình trong xã hội Như vậy, cán bộ trẻ là đối
Trang 33Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới nguồn lực cán bộ trẻ
Tốc độ tăng dân số: Qui mô, tốc độ tăng dân số ảnh hưởng trực tiếp
đến số lượng và chất lượng NNL….Qui mô dân số đông, tốc đô phát triển dân
số cao là một nguyên nhân làm giảm tăng trưởng, phát triển KT – XH và phát triển NNL vì dân số tăng nhanh làm tăng số lao động gây nên sức ép lớn về giải quyết công ăn việc làm, về giáo dục, chăm sóc sức khẻo, và các vấn đề cộng đồng, xã hội cần giải quyết, làm tăng số lao động ăn theo trên một lao động, làm chậm phát triển và giảm thu nhập bình quân GDP/đầu người.Theo tính toán của tổ chức Liên hợp quốc khi dân số tăng 1% muốn đảm bảo thu nhập, công ăn việc làm ổn định như trước thì thu nhập GDP phải đạt ở mức tăng trưởng 3%
Trình độ phát triển kinh tế – xã hội Sự phát triển KT – XH có tác
động rất lớn đến phát triển NNL Khi nền kinh tế – xã hội của một quốc gia phát triển cao thì điều đó tác động đến mọi người, đến trực tiếp người lao động bởi lẽ sự phát triển này chính do con người và vì con người
KT – XH càng phát triển cao thì con người càng có điều kiện thoả mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của mình, qua đó con người tự hoàn thiện, phát triển chính bản thân mình, làm việc cống hiến được nhiều điều đó lại thúc đầy phát triển KT – XH Như vậy sự phát triển KT – XH là một trong những tiền đề phát triển NNL
Mức sống: Các Mác đã chỉ và đưa ra qui luật về vấn đề cơ bản của triết
học là: vật chất có trước, ý thức có sau và vật chất quyết định ý thức Như vậy
Trang 34Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
33
con người trước hết phải ăn, ở mặc học hành, đi lại …trước khi tính đến chuyện hoạt động kinh tế, chính trị khoa học, nghệ thuật, tôn giáo …Điều kiện vật chất là yếu tố cơ bản đầu tiên để con người tồn tại và phát triển
Như vậy mức sống không chỉ ảnh hưởng mà còn tác động lớn đến phát triển NNL Để LLLĐ phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực và tinh thần, thái độ, phong cách làm việc, đạo đức đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao trong xã hội phát triển thì việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động là một việc làm cần thiết, thường xuyên đây là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của các cơ quan, các đơn vị của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương
Trình độ phát triển và chất lượng giáo dục đào tạo: Giáo dục - đào
tạo được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, được coi là “ quốc sách hàng đầu” trong chiến lược và kế hoạch phát triển KT – XH của nước ta
Vấn đề giáo dục đào tạo tham gia trực tiếp và ảnh hưởng lớn, đóng vai trò quyết định trong chiến lược phát triển con người, đến phát triển NNL Qua giáo dục - đào tạo, NNL nâng cao trình độ văn hoá, trình độ học vấn, trình độ CMKT, năng lực quản lý KT – XH tổ chức hoạt động SXKD và năng lực hoạt động thực tiễn của con người
Có thể nói giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng, cơ bản ảnh hưởng đến phát triển NNL, phát triển nguồn nhân lực con người đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Trình độ phát triển khoa học công nghệ Ở mỗi quốc gia, với một
trình độ khoa học nhất dịnh, sử dụng công nghệ thế nào đều ảnh hưởng rất lớn đến phát triển NNL, là người phát minh ra những thành tựu khoa học công nghệ, mà còn áp dụng những kết quả nghiên cứu khoa học những công nghệ
Trang 35Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
Trình độ phát triển y tế và chăm sóc sức khoẻ Đây là một trong
những tiêu chuẩn quan trọng của hầu hết các quốc gia, nó thể hiện bản chất của Nhà nước đó có ưu việt không, có phải Nhà nước của dân, do dân, vì dân” không, phát triển y tế và chăm sóc sức khoẻ là nâng cao thể lực của con người, tạo điều kiện để phát triển trí lực, nâng cao chất lượng cuộc sống Nó ảnh hưởng lớn đến phát triển NNL- nguồn lực con người, bởi con người có sức khẻo, được bảo vệ và chăm sóc tốt sẽ có thể lực tốt để hoạt động có chất lượng và hiệu quả, thúc đẩy KT – XH đất nước phát triển
Tư tưởng lối sống, đạo đức và truyền thống văn hoá dân tộc Một
đất nước, một quốc gia mà ở đó có tư tưởng tốt, lối sống tốt đẹp, tiến độ văn minh, thì đó là môi trường tốt để phát triển con người và ngược lại , chính những con người trong môi trường đó sẽ thúc đẩy KT – XH đất nước phát triển
Đạo đức của xã hội với những giá trị con người chân, thiện, mĩ được khẳng định là nền tảng để xây dựng và hoàn thiện một lớp người mới, như Bác Hồ đã từng nói về con người là “ Vừa hồng, vừa chuyên”
Lối sống văn hoá tại cơ quan, đơn vị và địa phương và rộng ra là toàn quốc có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển NNL, phải kế thừa và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc Đảng và Nhà nước ta khẳng định hướng phát triển văn hoá đã nêu: “Xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Như vậy tư tưởng, lối sống đạo đức và truyền thống văn hoá dân tộc
Trang 36Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
bộ trẻ đều là hạt nhân tích cực, đi đầu trong việc phát huy sáng kiến, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, đóng góp tích cực cho sự thành công của nhiều công trình lớn có yêu cầu kỹ thuật cao như trong các ngành quốc phòng, bưu chính viễn thông, điện lực, xây dựng, dự án vận tải, nông nghiệp Bộ phận ưu tú của cán bộ trẻ có tiềm năng trí tuệ khá cao, có tầm nhìn rộng, lao động giỏi, dám đương đầu với mọi thử thách Nhiều nhà doanh nghiệp trẻ, có tài đã tự vươn lên, khẳng định mình và làm ăn thành đạt Khoảng 30% trong số những người mới giàu lên hiện nay trên dưới 30 tuổi
Đó là truyền thống quý báu có ngọn nguồn sâu xa từ truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc và truyền thống cách mạng
Thực tế cuộc sống, tiến trình phát triển của xã hội ta và kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới đều chỉ ra rằng, cán bộ trẻ luôn luôn đóng vai trò xung kích và là nguồn lực rất quan trọng để phát triển xã hội Chất lượng của nguồn lực cán bộ trẻ có thể hiểu một cách khái quát là xây dựng một lớp cán bộ trẻ có trình độ học vấn rộng, có kiến thức chuyên môn cao, có tay nghề
Trang 37Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
36
vững vàng và đặc biệt là có phẩm chất, bản lĩnh chính trị, có thể lực tốt và lối sống lành mạnh
Nói đến nguồn lực cán bộ trẻ không chỉ nhìn nhận nó trên cơ sở số lượng cán bộ trẻ chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu dân cư và lực lượng chủ yếu trên các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, mà nguồn lực cán bộ trẻ còn được nhìn nhận là một lực lượng xã hội giàu tiềm năng phát triển
Bước vào thế kỷ XXI, chất xám đã dần trở thành một nguồn lực quan trọng của xã hội Cán bộ trẻ với ưu thế về sức khỏe (thể lực), phẩm chất tâm
lý (tư duy, trí nhớ, khí chất ) và trình độ chuyên môn kỹ thuật - văn hóa, v.v sẽ là nguồn lực tốt nhất có thể đáp ứng được sự biến đổi của nội dung lao động dưới tác động của các tiến bộ khoa học công nghệ (thay đổi nghề, hoặc tiếp cận với công nghệ mới, kỹ thuật cao) Quản lý dự án ngày càng đi vào chiều sâu và phát triển với tốc độ cao Lớp cán bộ trẻ vào đời hôm nay sẽ
là nguồn nhân lực hết sức quan trọng cho ngày mai của đất nước
1.3.2 Vai trò của cán bộ trẻ trong các Ban Quản lý Dự án
1.3.2.1 Quản lý dự án và yêu cầu đối với nguồn lực cán bộ trẻ
Từ một xuất phát điểm quá thấp, với thu nhập bình quân đầu người ở mức những quốc gia nghèo nhất, CNH-HĐH sẽ là con đường cơ bản đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu và nguy cơ tụt hậu, đảm bảo đi lên chủ nghĩa xã hội, văn minh hiện đại Đó chính là lời giải cho bài toán phát triển, tăng nhanh tốc độ phát triển Các Mác cho rằng, những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà ở chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào Ở nước ta, tiến hành CNH, HĐH
"không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỉ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản
Trang 38Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
Sự nghiệp CNH – HĐH được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là:” Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế –xã hội từ sử dụng lao động thủ công chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ” Như vậy tiến hành CNH – HĐH là một cuộc cách mạng sâu sắc, là quá trình cải biến cách mạng toàn bộ đời sống xã hội
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các yếu tố của quá trình tái sản xuất được dịch chuyển dịch tự do hơn từ nước này sang nướckhác thông qua các cam kết mở cửa thị trường song phương hoặc đa phương Quá trình toàn cầu hoá vừa thúc đẩy phát triển NNL nhưng cũng làm cho công cuộc chạy đua phát triển giữa NNL giữa các quốc gia và giữa các doanh nghiệp trong một quốc gia cũng diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt với các mức độ khác nhau
Tuy vậy, môi trường quốc tế hiện nay có nhiều biểu hiện tích cực là thuận lợi lớn cho sự phát triển Quản lý Doanh nghiệp, quản lý Dự án Đó là
Trang 39Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
38
xu hướng quốc tế hóa với phân công lao động quốc tế không ngừng phát triển,
là tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ, đặc biệt là xu hướng mở rộng hợp tác trong khu vực và trên toàn thế giới đang tăng lên Trong bối cảnh chung đó, các nước đi sau như Việt Nam có điều kiện để tìm ra cho mình những nhân tố hợp lý, rút ra được những bài học thành công
và cả bài học không thành công của các nước đi trước nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH
Những nước châu Á đã từng xuất phát từ xã hội truyền thống, với nền nông nghiệp chiếm đến 75% lao động và trên 30% GDP, dựa trên những đột phá công nghệ họ đã sử dụng những cơ hội tốt để "rút ngắn" quá trình phát triển, tiến thẳng vào công nghệ hiện đại và hướng vào xã hội thông tin Chúng
ta cần nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm đó Trong những năm qua, để quản lý xây dựng các công trình xây dựng chúng ta
đã tổ chức các ban quản lý dự án với các chức năng và nhiệm vụ là thay mặt Tập đoàn Dầu khí, Doanh nghiệp Dầu khí làm đại diện Chủ đầu tư các dự án, tiếp nhận và quản lý nguồn vốn đầu tư trong nước và các tổ chức quốc tế xây dựng các dự án quan trọng, thiết yếu của ngành Dầu khí quốc gia Và tất yếu
là chúng ta phải xây dựng, phát triển NNL để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ này Qua hơn 10 năm hoạt động thực tiễn, các ban quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xây dựng đã có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển mạng lưới hạ tầng và cả nước và ở đây không thể không nhắc tới vai trò to lớn của NNL Vai trò được thể hiện ở các khía cạnh:
Thứ nhất Vai trò dẫn dắt định hướng, lập dự án xây dựng cơ sở hạ tầng
xây dựng Bất kỳ một dự án nào cũng phải trải qua các giai đoạn: Lập báo cáo tiền khả thi và phê duyệt báo cáo tiền khả thi của dự án; lập báo cáo khả thi và phê duyệt báo cáo khả thi của dự án; Tổ chức thực hiện dự án; Khai thác và
sử dụng Dự án có đem lại hiệu quả kinh tế hay không, có góp phần thúc đẩy
Trang 40Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh Nguyễn Quốc Hùng
39
phát triển kinh tế xã hội hay không, có góp phần củng cố an ninh quốc phòng hay không đều phụ thuộc vào rất nhiều giai đoạn lập dự án Chỉ một sai sót nhỏ trong khâu lập dự án sẽ gây hiệu quả rất nghiêm trọng cho toàn bộ dự án
cả về phương diện vốn đầu tư cũng như hiệu quả của dự án mà điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào tư duy, ý trí, khả năng của những người lập dự án
Thứ hai: Vai trò tổ chức, quản lý triển khai thực hiện dự án Các dự án
được lập ra và phê duyệt xong thì phải tiến hành tổ chức thực hiện Tiến bộ của dự án có được đảm bảo hay không? Chất lượng của dự án như thế nào một phần phụ thuộc vào ý chí và khả năng của con người Tiến độ chung của một dự án chịu tác động của tiến độ khâu thiết kế, tiến độ giải phóng mặt bằng và tiến độ thi công Đối với thiết kế và thi công ngoài năng lực thiết bị, trình độ công nghệ của các nhà thầu thì năng lực của người thực hiện sẽ mang tính chất quyết định tới tiến độ, chất lượng của dự án bởi bản thân thiết bị, công nghệ không tự thiết kế, thi công mà phải được được thực hiện do bàn tay con người Đối với khâu giải phóng mặt nằng nếu người thực hiện không làm theo các cơ chế, chính sách đã quy định, không giải thích rõ ràng với người dân thì khó lòng mà đảm bảo được tiến độ đề ra Khi tiến độ của từng khâu bị ảnh hưởng thì tiến độ chung của dự án sẽ bị ảnh hưởng, gây lãng phí và trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế xã hội, làm mất lòng tin của nhân dân
Thứ ba: Tiếp thu và ứng dụng các thành tựu KHCN vào việc xây dựng
cơ sở hạ tầng xây dựng Chất lượng các công trình của nước ta trong những năm qua đã được nâng lên đáng kể, và nguồn nhân lực quản lý dự án có ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp thu cũng như ứng dụng các thành tựu khoa học vào xây dựng các công trình Nếu nguồn nhân lực không đủ trình độ, khả năng thì không thể tiếp thu được thì cũng không dám ứng dụng vào hoặc áp dụng không đúng