Kết cấu của luận án Ngoài mở đầu, danh mục viết tắt, danh mục sơ đồ, bảng, phụ lục, kết luận, các công trình của nghiên cứu sinh đã công bố liên quan đến đề tài và tài liệu tham khảo th
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐỨC MINH
HÀ NỘI - 2019
Trang 31
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định Những kết luận khoa học của luận
án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Phước
Trang 42
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 23
Kết luận chương 1 24
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 25
2.1 Lý luận chung về Quỹ đầu tư chứng khoán 25
2.2 Nội hàm, vai trò của pháp luật và các yếu tố tác động đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 45
Kết luận chương 2 59
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 60
3.1 Thực trạng pháp luật về tổ chức của QĐTCK 60
3.2 Thực trạng hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán trong thời gian qua 76
3.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK tại Việt Nam Kết luận chương 3 89
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 108
4.1 Các có ảnh hưởng và định hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay 108
4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 117
Kết luận chương 4 146
KẾT LUẬN 147
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
PHỤ LỤC 161
Trang 5CTĐTCK : Công ty đầu tư chứng khoán
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
IFC : Tổ chức tài chính quốc tế IOSCO : Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán NAV : Giá trị tài sản ròng
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Trang 64
MB Capital : CTCP quản lý quỹ MB Techcom Capital: CTCP quản lý quỹ Kỹ thương
Trang 75
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Quan hệ giữa Quỹ đầu tư tập thể dạng hợp đồng và Người đầu tư 42
Sơ đồ 2.2: Quan hệ giữa Quỹ đầu tư tập thể dạng công ty (Công ty đầu tư) và người đầu tư 43
Sơ đồ 2.3: Hệ thống Quản trị công ty 53
Sơ đồ 2.4: Tổ chức của Quỹ tương hỗ 54
DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Số lượng công ty quản lý quỹ từ 2003 – 2011 92
Bảng 3.2: Hoạt động kinh doanh của CTQLQ từ 2011 – 2017 93
Bảng 3.3: Thời điểm thành lập và tên của các loại hình QĐTCK đầu tiên 93
Bảng 3.4: Số lượng các Quỹ đầu tư chứng khoán từ 2006 – 6/2016 94
Bảng 3.5: Số lượng các Quỹ đầu tư chứng khoán từ 12/2016 – 5/2018 94
Bảng 3.6: Báo cáo danh mục đầu tư, Báo cáo thu nhập, Báo cáo của CTQLQ (VFM), Báo cáo của NHGS đối với Quỹ VFMVF1 qua các năm 2014 – 20189 96
Bảng 3.7: Báo cáo thu nhập của Quỹ ETF - VFMVN30 các năm 2014 – 2018 97 Bảng 3.8: Báo cáo danh mục đầu tư, Báo cáo thu nhập, Báo cáo của CTQLQ, Báo cáo của NHGS đối với Quỹ MBBF qua các năm 2013 – 2017 97
Bảng 3.9: Báo cáo thu nhập của các Quỹ do BVF quản lý năm 2018 98
Bảng 3.10: Nhân sự điều hành các Quỹ do VFM quản lý năm 2018 102
Bảng 3.11: Báo cáo thu nhập của các Quỹ do VFM quản lý năm 2018 102
Bảng 4.1: Chỉ tiêu về lợi nhuận của các Quỹ do VCBF quản lý đến năm 2018 138
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán tạo ra những cơ hội cho các NĐT tìm kiếm lợi nhuận Với sự đa dạng và phong phú của TTCK, NĐT có thể lựa chọn cho mình những phương thức đầu tư có hiệu quả nhất Thế nhưng, song hành với lợi nhuận luôn tiềm ẩn những rủi ro Để hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro gặp phải, các NĐT
có thể cùng tập trung vốn vào một Quỹ đầu tư chứng khoán để tiến hành đầu tư
Là một hình thức đầu tư tập thể, QĐTCK có tác dụng tích cực đối với NĐT trên TTCK như: Giúp NĐT có thể tham gia đầu tư vào nhiều loại thị trường với nhiều loại hàng hóa khác nhau, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư và giảm thiểu rủi ro; giúp cho hoạt động đầu tư mang tính chuyên môn hơn vì QĐTCK hoạt động dưới
sự quản lý chuyên nghiệp của những nhà đầu tư có tổ chức (CTQLQ); giúp định hướng đầu tư trên thị trường và tiết kiệm được chi phí giao dịch
Tại Việt Nam, Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán là văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh trực tiếp về QĐTCK Theo đó, QĐTCK đầu tiên được chính thức thành lập vào năm 2004 Quá trình phát triển của QĐTCK dần được điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý có giá trị cao như: Luật Chứng khoán năm 2006, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010 Cơ sở pháp lý vững chắc này
đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các CTQLQ và QĐTCK
Quyết định số 252/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 01/03/2012 về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn
2011 – 2020” và Quyết định số 1826/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/12/2012 về việc phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm”, Chính phủ Việt Nam đã chỉ rõ cần phải tập trung tái cấu trúc NĐT có tổ chức, trong đó có các CTQLQ, các QĐTCK
Để hiện thực hóa các chiến lược, đề án trên và phát triển mạnh mẽ TTCK, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn về việc thành lập, tổ chức và quản lý các loại hình QĐTCK Mục đích điều chỉnh của pháp luật đối với
Trang 92
QĐTCK là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà đầu tư trước khả năng bị lạm dụng bởi các chủ thể tham gia vào tổ chức và hoạt động của QĐTCK Điều này cũng phù hợp với một trong những mục tiêu điều chỉnh hoạt động chứng khoán
do IOSCO khuyến nghị là “bảo vệ nhà đầu tư” Tuy nhiên, qua hơn 12 năm thực thi Luật Chứng khoán nhận thấy, QĐTCK chưa thể hiện được vai trò và tác dụng tích cực của mình trên TTCK, chưa là phương thức đầu tư tin cậy của NĐT Điều này được thể hiện: QĐTCK chủ yếu được thành lập dưới dạng quỹ đóng, quỹ mở, quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản; chưa thành lập quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện
và CTĐTCK (mô hình QĐTCK dạng CTCP); số lượng QĐTCK hiện nay còn ít (39 QĐTCK); hiệu quả hoạt động của QĐTCK chưa cao; số lượng NĐT tham gia vào QĐTCK không nhiều và ngày càng giảm; một số QĐTCK có quy mô lớn đã chấm dứt hoạt động Xét nguyên nhân thuộc về thể chế hoạt động có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của QĐTCK, đó là vẫn còn tồn tại các hạn chế, bất cập của pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK, vấn đề quản trị QĐTCK và cơ chế hỗ trợ thực thi pháp luật
Tiếp tục tái cơ cấu theo Quyết định số 242/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/02/2019 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán
và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”, trong đó: Tiếp tục cơ cấu lại toàn diện để TTCK trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế; nâng cao năng lực quản trị của các CTQLQ; đảm bảo
cơ cấu hợp lý giữa NĐT cá nhân và NĐT có tổ chức, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các NĐT chuyên nghiệp (QĐTCK) Nhằm đánh giá các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK xét về tính toàn diện, tính đồng
bộ, tính phù hợp, tính hiệu quả và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của QĐTCK phục vụ quá trình tái cơ
cấu, tôi chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán theo
pháp luật Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật
Kinh tế, mã số 9.38.01.07
Trang 103
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích của luận án: Mục đích của luận án là phân tích các quy định
pháp luật Việt Nam hiện hành về tổ chức và hoạt động của QĐTCK; đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK; chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập về phương diện pháp luật và cơ chế quản trị; từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật
về tổ chức và hoạt động của QĐTCK trên TTCK Việt Nam
- Nhiệm vụ của luận án: Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ của
luận án được đặt ra nghiên cứu cụ thể là:
Thứ nhất, Luận án làm rõ lý luận chung về QĐTCK và cơ sở lý luận liên
quan đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK
Thứ hai, Luận án phân tích thực trạng các quy định pháp luật chứng khoán
Việt Nam về tổ chức và hoạt động của QĐTCK; đánh giá các kết quả đạt được của pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK, những kết quả trong hoạt động của QĐTCK; chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động của QĐTCK về phương diện pháp luật và cơ chế quản trị làm giảm hiệu quả thực thi pháp luật
Thứ ba, Luận án đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và
cơ chế thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK Những giải pháp này phải xuất phát từ yêu cầu, định hướng của Đảng cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước trong việc hoàn thiện pháp luật về TTCK nói chung, nhằm thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của TTCK, đáp ứng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án: Tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu
tư chứng khoán đặt trong bối cảnh pháp luật và thực tiễn của Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu của luận án:
+ Phạm vi về nội dung: Quỹ đầu tư chứng khoán theo pháp luật Việt Nam
bao gồm Quỹ đầu tư chứng khoán (không có tư cách pháp nhân) và QĐTCK theo
Trang 11+ Phạm vi về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu theo pháp luật Việt
Nam Pháp luật về QĐTCK của một số nước trên thế giới được đề cập để phân tích,
so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam làm cơ sở cho các đề xuất, kiến nghị
+ Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu hệ thống quy định pháp luật
về tổ chức và hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam từ khi có Luật Chứng khoán
2006 cho đến nay Giai đoạn trước khi Luật Chứng khoán có hiệu lực không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án, tuy nhiên có thể được đề cập khi so sánh và đánh giá các quy định pháp luật hiện hành
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Phương pháp luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở đường lối,
chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về việc “tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [46, tr175], trong đó có hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật chứng khoán nói riêng Bên cạnh đó, Luận
án nghiên cứu dựa trên định hướng cơ cấu lại thị trường tài chính, đảm bảo lành
mạnh hóa và ổn định trong sự phát triển đồng bộ và vận hành thông suốt với các loại thị trường khác: Thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường bất động sản, thị trường lao động và thị trường khoa học công nghệ [46, tr109-110]
- Phương pháp nghiên cứu: Luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể sau đây:
+ Phương pháp hệ thống hóa các luận điểm khoa học, tổng hợp, phân tích
và đánh giá để nghiên cứu lý luận chung về QĐTCK và cơ sở lý luận liên quan đến pháp luật về tổ chức và hoạt động QĐTCK
Trang 125
+ Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê được sử dụng để nghiên cứu,
đưa ra các nhận xét, đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam hiện nay làm cơ sở cho các kết luận, đề xuất và kiến nghị khoa học
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh để xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật, các định hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK, từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp cụ thể
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, về phương diện lý luận chung, Luận án làm rõ được khái niệm về
QĐTCK, vai trò của QĐTCK; chỉ ra được các đặc điểm của QĐTCK để thấy sự khác biệt với các loại quỹ đầu tư khác; vận dụng được các lý thuyết khoa học trong việc xác định cơ chế tổ chức và hoạt động của từng dạng mô hình của QĐTCK
Hai là, về cơ sở lý luận liên quan đến pháp luật về tổ chức và hoạt động
của QĐTCK, Luận án xác định được nội hàm của pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK đi từ nguyên tắc điều chỉnh pháp luật, xác định chủ thể pháp luật, quan hệ pháp luật giữa các chủ thể tham gia vào QĐTCK và từ đó, đưa ra được khái niệm pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK
Ba là, Luận án xác định được vai trò của pháp luật đối với quản trị QĐTCK,
bởi vì để cho các quỹ đầu tư hoạt động có hiệu quả không chỉ cần có môi trường pháp lý mà còn cả vấn đề quản trị Ngoài ra, Luận án chỉ ra được những yếu tố tác động đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK có ý nghĩa cho việc xem xét các yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật
Bốn là, Luận án phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt
động của QĐTCK và CTĐTCK (QĐTCK theo mô hình CTCP) Luận án đưa ra những đánh giá về thực trạng pháp luật, tổng hợp và thống kê được các số liệu để minh chứng cho thực tiễn hoạt động của các QĐTCK ở Việt Nam hiện nay Qua
đó, chỉ ra điểm còn hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của QĐTCK; đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật vẫn còn có những hạn chế
Trang 136
Năm là, Luận án xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp
luật tại Việt Nam hiện nay như: Sự phát triển của nền kinh tế, hội nhập quốc tế về TTCK, sự phát triển của TTCK và NĐT tổ chức trên TTCK Các định hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK được xác định cụ thể dựa trên các quan điểm, chính sách của Nhà Nước Việt Nam về việc cơ cấu lại TTCK nói chung và trước yêu cầu sửa đổi Luật Chứng khoán Từ đó, Luận án đưa ra được các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK; các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về QĐTCK
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, Luận án bổ sung vào hệ thống lý luận chung về QĐTCK,
cơ sở lý luận pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK; cung cấp cách tiếp cận khoa học về lý luận pháp luật và thực tiễn hoạt động theo hướng kinh tế học pháp luật
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần trong việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK Đồng thời, đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật về TTCK nói chung và pháp luật về QĐTCK nói riêng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài mở đầu, danh mục viết tắt, danh mục sơ đồ, bảng, phụ lục, kết luận, các công trình của nghiên cứu sinh đã công bố liên quan đến đề tài và tài liệu tham khảo thì kết cấu của luận án bao gồm 4 chương:
CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT
VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 147
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ
GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Lịch sử hình thành Quỹ đầu tư xuất phát từ cuộc Cách mạng công nghiệp tại Anh vào thế kỷ 19 Tại Mỹ, Quỹ đầu tư chính thức được thành lập năm 1924
Ở Việt Nam, QĐTCK đầu tiên được thành lập vào năm 2004 theo Nghị định số 48/1998/NĐ – CP ngày 11/7/1998 Do đó, các công trình khoa học và bài viết trong nước có liên quan đến QĐTCK cũng mới được các nhà nghiên cứu quan tâm gần đây và chủ yếu là: Sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật, kinh tế
1.1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận chung về QĐTCK và pháp luật
về tổ chức và hoạt động của QĐTCK
- Công trình nghiên cứu về khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán
Theo International Finance Corporation (IFC, 1996), Investment Fund in
emerging market (Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán mới nổi) thì Quỹ đầu
tư được biết đến như một phương tiện đầu tư tập thể - là công cụ tài chính để tập hợp và quản lý tiền của nhiều NĐT NĐT nhượng đáng kể việc kiểm soát khoản tiền của họ cho các nhà quản lý chuyên nghiệp để mua danh mục các loại chứng khoán hoặc cổ phần đầu tư tư nhân trong các công ty[108, p.8] Tác giả Nguyễn
Thu Thủy (2011), Phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay [89, tr9], thì QĐTCK thực chất là một tập hợp vốn do tổ chức và cá nhân góp lại
để được quản lý nhằm tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư chứng khoán và tối đa hóa lợi nhuận cho những người tham gia Trần Thị Thùy
Linh (2011), QĐTCK trên thị trường chứng khoán Việt Nam [65, tr5]lại cho rằng
Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng, thu hút tiền nhàn rỗi
từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ hay các loại tài sản khác Nói cách khác, Quỹ đầu tư là tổ chức đầu tư chuyên nghiệp Tác giả
Ngô Thanh Long (2006), Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng
Trang 158
khoán, thì QĐTCK là một định chế tài chính trung gian hình thành từ vốn góp của các NĐT được quản lý bởi một tổ chức quản lý quỹ chuyên nghiệp, có danh mục đầu
tư chủ yếu là các loại chứng khoán được giao dịch trên TTCK [66, tr7]
Quan điểm khác, Viên Thế Giang - Võ Thị Mỹ Hương (2008), QĐTCK -
Mô hình thích hợp để nhà đầu tư nhỏ tham gia TTCK [52], đề cập đến sự cần thiết
để thành lập tổ chức tài chính dưới mô hình Quỹ đầu tư, Công ty đầu tư, Công ty quản lý quỹ đầu tư là do sự mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư với khả năng hạn chế
về tri thức; đưa ra khái niệm QĐTCK dưới góc độ kinh tế, dưới góc độ xã hội, dưới góc độ pháp lý và lợi ích mà QĐTCK mang lại cho các NĐT Bài viết của
Nguyễn Xuân Thành (2006), Vai trò của QĐTCK đối với NĐT cá nhân trên TTCK
ở Việt Nam đưa ra khái niệm của QĐTCK và phân tích những lợi thế của các NĐT
cá nhân khi đầu tư vào Quỹ đầu tư so với các NĐT cá nhân riêng lẻ tự đầu tư vốn
một mình Theo tác giả, khái niệm QĐTCK: là một tổ chức thu hút tiền từ các
NĐT cá nhân có cùng mục tiêu, tập hợp lại dưới sự quản lý của CTQLQ chuyên nghiệp để đầu tư vào danh mục chứng khoán lựa chọn nhằm đảm bảo lợi ích của các NĐT cá nhân QĐTCK giúp NĐT cá nhân đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm
thiểu rủi ro; QĐTCK mang tính chất đầu tư chuyên nghiệp; QĐTCK có tính thanh khoản cao; QĐTCK cung cấp nhiều khả năng lựa chọn cho NĐT cá nhân; NĐT
cá nhân có thể tái đầu tư vào QĐTCK; QĐTCK giúp NĐT cá nhân tiết kiệm chi phí; QĐTCK tăng khả năng tiếp cận cho các NĐT [79] Năm 2016, United State Securites and Exchange Commission (SEC - Ủy ban chứng khoán và hối đoái Hoa
Kỳ) trong công trình Mutual Funds and ETFS – A guide for investors (Quỹ tương
hỗ và Quỹ hoán đổi danh mục – một chỉ dẫn cho các Nhà đầu tư) [117],đưa ra khái
niệm Quỹ tương hỗ (đăng ký SEC) là một công ty đầu tư đóng – mở, mà nó tập hợp
tiền từ nhiều NĐT và đầu tư tiền này vào cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, công cụ thị trường, các tài sản hoặc các chứng khoán khác hoặc một sự kết hợp các khoản đầu tư Việc kết hợp chứng khoán và các tài sản của Quỹ tương
hỗ được xem như danh mục đầu tư, được quản lý bởi người đăng ký tư vấn đầu tư Mỗi cố phiếu Quỹ tương hỗ đại diện cho quyền sở hữu tương ứng của NĐT vào danh mục đầu tư của Quỹ và thu nhập do danh mục đầu tư tạo ra
Trang 169
Ngoài ra, một số tác giả khác cũng đưa ra khái niệm về QĐTCK trong các công trình nghiên cứu theo những khía cạnh khác nhau: Đại học Luật Hà Nội
(2008, 2012), Giáo trình Luật Chứng khoán [47], Võ Thị Mỹ Hương (2009), Pháp
luật về quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam [62], Ủy ban chứng khoán nhà nước
– Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán (2009), Giáo trình
những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán [101], Ủy ban
chứng khoán nhà nước – Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán
(2009), Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán [102]
- Công trình nghiên cứu về đặc điểm của Quỹ đầu tư chứng khoán
Nghiên cứu dưới góc độ luật học, Ngô Thanh Long (2006) [66, tr7-12]phân
tích đặc điểm của QĐTCK dựa trên các tiêu chí như: Một là, về đối tượng đầu tư;
Hai là, về hình thức đầu tư; Ba là, về cơ cấu tổ chức và hoạt động; Bốn là, về khả
năng mua lại chứng chỉ quỹ từ NĐT (đặc điểm riêng của QĐTCK ở Việt Nam)
Đối với công trình tại Ủy ban Chứng khoán Nhà Nước (2009) [102, tr246],QĐTCK
có những đặc điểm chủ yếu: việc quản lý quỹ hình thành từ vốn góp của NĐT có thể được ủy thác cho một CTQLQ chuyên nghiệp quản lý; việc giám sát hoạt động quản
lý đầu tư của CTQLQ về việc tuân thủ các quy định của pháp luật và Điều lệ quỹ được
ủy thác cho một tổ chức giám sát độc lập (NHGS) Tổ chức này đồng thời thực hiện hoạt động bảo quản an toàn, lưu ký, thanh toán, bù trừ các giao dịch của quỹ; người đầu tư không có quyền tham gia vào hoạt động đầu tư hàng ngày của quỹ; người đầu
tư chỉ được thực hiện quyền kiểm tra giám sát của mình tại các cuộc họp đại hội đồng người đầu tư
Nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học, Nguyễn Thu Thủy (2011) [89, tr9-10]
thì ngoài nêu lên các đặc điểm của một quỹ đầu tư nói chung còn đưa ra ba đặc điểm đặc thù riêng của QĐTCK là: (i) QĐTCK được thiết lập chủ yếu trên cơ sở huy động vốn của các NĐT cá nhân dưới dạng vốn chủ sở hữu, phần lớn số tiền này được sử dụng để đầu tư vào danh mục chứng khoán nhằm sinh lời; (ii) Hoạt đồng đầu tư của quỹ do CTQLQ thực hiện được giám sát bởi một tổ chức, đó là các ngân hàng giám sát; (iii) Tỷ trọng vốn đầu tư quỹ sử dụng để đầu tư vào các
Trang 1710
công cụ của TTCK như cổ phiếu, trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng
vốn hoạt động của quỹ
- Công trình nghiên cứu về phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán
Ngô Thanh Long (2006) [66]trong công trình nghiên cứu của mình đã phân loại QĐTCK theo các tiêu chí sau: (i) Theo cơ chế huy động vốn (Quỹ đầu tư đóng và Quỹ đầu tư mở); (ii) Theo mục tiêu và đối tượng đầu tư (Quỹ đầu tư cổ phiếu, Quỹ đầu tư trái phiếu, Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ); (iii) Theo người đầu
tư (Quỹ đầu tư riêng và Quỹ đầu tư chung); (iv) Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Theo Quyết định số 73/2004/QĐ-BTC [16] thì bao gồm Quỹ công chúng
và Quỹ thành viên) Tác giả Nguyễn Thu Thủy (2011) [89]thì phân loại QĐTCK
theo: Thứ nhất,theo hình thức tổ chức (QĐTCK theo mô hình công ty; QĐTCK theo mô hình tín thác; QĐTCK theo mô hình hợp đồng; QĐTCK theo mô hình
hợp danh hữu hạn); Thứ hai, theo chủ thể đầu tư (Quỹ thành viên, Quỹ đại chúng);
Thứ ba, theo cơ chế vận động vốn (Quỹ đóng, Quỹ mở); Thứ tư, theo danh mục
đầu tư (Quỹ đầu tư cổ phiếu, Quỹ đầu tư trái phiếu, Quỹ thị trường tiền tệ, Quỹ đầu tư chỉ số, Quỹ đầu tư bất động sản, Quỹ hỗn hợp) Còn Trần Thị Thùy Linh (2011) [65, tr11]đề cập đến cách phân loại QĐTCK như sau: (i) Theo cơ cấu tổ chức hoạt động (Quỹ tín thác đầu tư, Quỹ dạng công ty cổ phần, Quỹ công ty con); (ii) Theo cấu trúc vận động vốn (Quỹ đóng, Quỹ mở); (iii) Theo tính chất của nguồn vốn huy động (Quỹ tương hỗ, Quỹ thành viên); (iv) Theo tính chất rủi
ro (Quỹ đầu tư mạo hiểm, Quỹ đầu tư tư nhân, Quỹ đầu tư chứng khoán)
Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình khác cũng nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lý luận chung về QĐTCK, điển hình như:
Lê Hồng Hạnh (1998), Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ
trong thị trường chứng khoán [54], phân tích bản chất pháp lý của chứng chỉ quỹ
đầu tư, địa vị pháp lý của CTQLQ, tức là tổ chức phát hành chứng chỉ quỹ và vai trò của chúng trong TTCK Sự tồn tại của các QĐTCK và CTQLQ bởi những lý do: (i) Những người đầu tư vào chứng khoán nếu không phải là những công ty lớn
sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc mua chứng khoán; (ii) Là sự cần thiết phải
đa dạng hóa hoạt động đầu tư chứng khoán; (iii) QĐTCK giúp cho các NĐT nhỏ
Trang 1811
khắc phục tính chất nghiệp dư của mình trong đầu tư vào chứng khoán CTQLQ
có mối liên hệ mật thiết với các QĐTCK được đầu tư ủy thác: CTQLQ xin phép lập QĐTCK; CTQLQ thay mặt QĐTCK phát hành chứng chỉ, quản lý tài sản của quỹ và thực hiện các giao dịch (ký Hợp đồng với NHGS); CTQLQ là người triệu tập đại hội những người đầu tư và thực hiện các thủ tục cần thiết để đại hội được tiến hành thuận lợi; CTQLQ thực hiện việc quản lý quỹ đầu tư theo đúng các quy định của điều lệ quỹ và nghị quyết của đại hội những NĐT Tác giả Đoàn Thanh
Hà (2002), Thúc đẩy phát triển QĐTCK - Giải pháp giảm áp lực cầu cổ phiếu
trên TTCK hiện nay [53], đã đưa ra những lý do cho sự tồn tại của QĐTCK đó là:
(i) QĐTCK là một phương tiện đầu tư tập thể; (ii) Tính chuyên nghiệp của các QĐTCK; (iii) Tính lỏng và độ an toàn cao của các chứng chỉ đầu tư Đồng thời, tác giả cũng đưa ra các kiến nghị nhằm phát triển mô hình QĐTCK: (i) Hoàn thiện
hệ thống pháp lý để tạo hành lang cho các tổ chức tài chính và doanh nghiệp hoạt động một cách công bằng và hiệu quả; (ii) Có chính sách ưu đãi về tài chính cho QĐTCK; (iii) Tăng cường đào tạo các chuyên viên lành nghề, am hiểu về chứng
khoán và TTCK, quỹ đầu tư Hay Trần Vũ Hải (2006), Một số vấn đề pháp lý về
công ty đầu tư chứng khoán [55], nêu ra một số đặc điểm của CTĐTCK theo quy
định LCK 2006; so sánh giữa CTĐTCK và QĐTCK; Tác giả đưa ra một số nhận xét đối với những quy định hiện hành về CTĐTCK Đặc điểm của CTĐTCK: (i)
Là mô hình đầu tư kết hợp giữa QĐTCK không có tư cách chủ thể với Công ty quản lý QĐTCK; (ii) CTĐTCK do chính những NĐT thành lập; (iii) Hoạt động đầu tư của CTĐTCK vừa giống với QĐTCK, lại vừa giống với hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán; (iv) CTĐTCK là một pháp nhân, được thành lập dưới hình thức CTCP
Ủy ban chứng khoán nhà nước – Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào
tạo chứng khoán (2009), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị
trường chứng khoán [101, tr291], tại chương VIII (Tổ chức và hoạt động của QĐTCK) đề cập đến vai trò của QĐTCK, phân loại quỹ đầu tư, hoạt động của quỹ đầu tư, yếu tố tác động đến sự phát triển hoạt động của QĐTCK và các bên tham gia hoạt động quản lý quỹ đầu tư Với vai trò quan trọng và tính ưu việt của
Trang 1912
QĐTCK, công trình khẳng định QĐTCK luôn được đặt vào vị trí chiến lược trong
sự phát triển ổn định, tạo hiệu quả cho TTCK và được khuyến khích phát triển trong thời gian đầu phát triển thị trường Còn các yếu tố tác động đến sự phát triển hoạt động của QĐTCK là: Trình độ phát triển của nền kinh tế; Sự phát triển của TTCK; Môi trường pháp lý; Kiến thức về đầu tư của công chúng
Hai tác giả Judith Chevalier, Glenn Ellison (1997) qua bài viết Risk taking
by Mutual funds as a response to incentives (Chấp nhận rủi ro qua Quỹ tương hỗ
như là một phản ứng để khuyến khích) [110]đánh giá mâu thuẫn nội tại tiềm tàng giữa NĐT của Quỹ tương hỗ với công ty quản lý Quỹ tương hỗ NĐT mong muốn công ty quản lý Quỹ tương hỗ sử dụng những quyết định để tối đa hóa lợi nhuận trong việc điều chỉnh rủi ro của Quỹ Tuy nhiên, CTQLQ bị áp lực từ lợi nhuận, thông tin sở hữu và cách mà họ đầu tư không trực tiếp Trong mong muốn để tối
đa hóa giá trị, đó là mối lo ngại, là một khuyến khích để thực hiện những hoạt
động làm gia tăng dòng vốn đầu tư Công trình nghiên cứu On the Origins of a
Conflict of interest in the Mutual Fund Industry (Nguồn gốc của xung đột lợi ích
trong ngành công nghiệp Quỹ tương hỗ) của Sébastien M Lemeunier (2011)
[116], bàn về xung đột lợi ích của NĐT và tư vấn tài chính của họ; đưa ra những đóng góp để xử lý vấn đề này trong mối quan hệ với khoản tiền đầu tư hoặc với thời gian nắm giữ mong đợi của Quỹ tương hỗ
- Công trình nghiên cứu lý luận của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán
International Finance Corporation (IFC, 1996), [108, p.14] đề cập sự ảnh
hưởng của Chính phủ đến Quỹ đầu tư theo hai cách: Trực tiếp nhất, Chính phủ xây dựng các quy chế pháp lý và tài chính của Quỹ đầu tư và thị trường vốn; Thứ
hai, Chỉnh phủ xác định môi trường kinh tế vĩ mô và quy định những hoạt động
riêng trong lĩnh vực kinh tế nói chung Trong việc phát triển, các Quỹ kinh tế được khuyến khích bởi việc hỗ trợ đầu tư bằng nhiều cách Việc điều chỉnh và quy trình pháp lý mở ra và cho phép giải quyết nhanh chóng các xung đột Cụ thể là xác định quyền của NĐT nhằm tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư Hay Tác giả Olha
O Cherednychenko (2010), The Regulation of Retail Investment Services in the
Trang 2013
EU: Towards the Improvement of Investor Rights? (Quy chế dịch vụ đầu tư bán
lẻ ở Liên minh Châu Âu – hướng tới việc cải thiện quyền của NĐT) [113]đã chỉ
ra rằng, mặc dù trên thực tế, hệ thống pháp luật của cộng đồng Châu Âu đã tồn tại
để bảo vệ NĐT bán lẻ Thị trường trong các dịch vụ đầu tư và sản phẩm bán lẻ vẫn bị phân tán và manh mún Hơn nữa, cuộc khủng hoảng tài chính gần đây đã làm giảm niềm tin của NĐT vào thị trường tài chính nói chung và “đóng gói” sản phẩm đầu tư bán lẻ, chẳng hạn như các Quỹ đầu tư hoặc chính sách bảo hiểm nhân thọ nói riêng Để xây dựng lại niềm tin của NĐT bán lẻ bằng cách trao quyền cho NĐT và cơ chế để thực hiện quyền của họ Bài viết kết luận rằng quyền đầu tư và các biện pháp cần được thực hiện nghiêm túc hơn khi làm nên pháp luật về dịch
vụ tài chính của Châu Âu Việc cải tổ hiện tại khuôn khổ pháp lý của cộng đồng Châu Âu trong các điều khoản dịch vụ đầu tư cung cấp cơ hội tốt để thực hiện điều này
Nguyễn Văn Tuyến (2006), Tính hiệu quả của Luật Chứng khoán - sự tiếp
cận từ góc độ kinh tế học pháp luật [98], bài viết dựa vào lý thuyết kinh tế (định
lý Coase) để xem xét và phân tích các tiêu chí cơ bản nhằm đánh giá tính hiệu quả của Luật Chứng khoán Các tiêu chí đó là: (i) Tính rõ ràng, minh bạch của các quy định trong Luật Chứng khoán; (ii) Khả năng giảm thiểu các chi phí tiếp cận thị trường và chi phí giao dịch cho các bên tham gia thị trường chứng khoán; (iii) Nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu và lợi ích của các bên tham gia TTCK Tuy nhiên, bài viết ra đời vào thời điểm Luật chứng khoán 2006 chưa được ban
hành Tác giả Võ Thị Mỹ Hương (2009), Pháp luật về quỹ đầu tư chứng khoán ở
Việt Nam [62] nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật quỹ đầu tư
chứng khoán có đề cập đến sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của QĐTCK, yêu cầu của pháp luật về QĐTCK, pháp luật về QĐTCK của một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
1.1.2 Các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK
- Công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật về tổ chức của QĐTCK
Trang 2114
Viên Thế Giang - Võ Thị Mỹ Hương (2009), Thực trạng pháp luật Quỹ đầu
tư chứng khoán Việt Nam [51], đã khái quát nội dung các quy định về QĐTCK
của Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành Đồng thời, bài viết đánh giá những kết quả đạt được trong việc thực thi pháp luật QĐTCK và ghi nhận những điểm còn tồn tại kể từ khi Luật Chứng khoán có hiệu lực thi hành đến năm 2009 Nội dung các quy định về QĐTCK của Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành: (i) Hoàn thiện quy định pháp lý về QĐTCK dạng hợp đồng, Luật chứng khoán quy định thêm mô hình QĐTCK mới đó là CTĐTCK; (ii) Quy định cụ thể trình tự, thủ tục thành lập, phát hành chứng chỉ quỹ của quỹ công chúng; (iii) Bổ sung quy định huy động thành lập QĐTCK, niêm yết chứng chỉ quỹ ở nước ngoài; (iv) Làm rõ hơn quan hệ giữa CTQLQ với các QĐTCK, CTĐTCK và với ngân hàng giám sát; (v) Quy định cụ thể hơn quyền và nghĩa vụ của NĐT tham gia đầu tư vào QĐTCK Những tồn tại trong việc thực thi pháp luật QĐTCK như: Chưa có hướng dẫn cụ thể về CTĐTCK; Chưa có quy định phương thức chuyển đổi từ mô hình QĐTCK dạng hợp đồng sang mô hình QĐTCK dạng công ty; Quy định về điều kiện thành lập QĐTCK khắt khe hơn so với trước đây; Các quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân NĐT chứng khoán sẽ là rào cản trong việc thúc đẩy phát triển NĐT tham gia thị trường
Một số bài viết như, Đoàn Minh Phụng (2013), Hành lang pháp lý mới cho
quỹ đóng và quỹ thành viên [75], phân tích một số nội dung của Thông tư
224/2012/TT-BTC ngày 26/12/2012 quy định việc huy động vốn, thành lập, quản
lý và giám sát hoạt động quỹ đóng (không bao gồm quỹ đầu tư bất động sản), quỹ thành viên trên lãnh thổ nước Việt Nam (thay thế Quyết định số 45/2007/QĐ-
BTC ngày 05/6/2007) Hay Ngô Thị Thùy (2015), Bước cải cách lớn về thu hút
dòng vốn ngoại vào thị trường chứng khoán [92], phân tích một số quy định mới
của Thông tư số 123/2015/TT-BTC hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trên
TTCK Việt Nam, đó là: Thứ nhất, bãi bỏ cơ chế hợp pháp hóa lãnh sự nên thời
gian để NĐT nước ngoài hoàn tất các thủ tục mở mã số giao dịch chứng khoán
được rút ngắn; Thứ hai, lần đầu tiên mở ra cơ chế cấp mã số giao dịch chứng
Trang 2215
khoán trực tuyến cho NĐT nước ngoài; Thứ ba, Cơ quan quản lý chấp nhận thụ
lý và giải quyết hồ sơ bằng Tiếng Anh
Các giáo trình như, Ủy ban chứng khoán nhà nước – Trung tâm nghiên cứu
khoa học và đào tạo chứng khoán (2009), Pháp luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán [102], phân tích việc chào bán CCQ và đăng ký lập quỹ đại chúng;
thành lập quỹ thành viên theo Quyết định số 45/2007/QĐ-BTC; xác định và phân tích về tổ chức và hoạt động của CTĐTCK theo Luật Chứng khoán và Nghị định
số 14/2007/NĐ-CP Với Giáo trình Luật Chứng khoán của Trường Đại học Luật
Hà Nội [47], xác định nội dung pháp luật điều chỉnh QĐTCK bao gồm: (i) Các loại hình QĐTCK và CTĐTCK; (ii) Pháp luật điều chỉnh việc thành lập và giải thể QĐTCK và CTĐTCK (Thành lập Quỹ đại chúng, Thành lập Quỹ thành viên, Giải thể QĐTCK; Thành lập CTĐTCK đại chúng, Thành lập CTĐTCK phát hành riêng lẻ); (iii) Quản trị QĐTCK, CTĐTCK (Đại hội NĐT – cơ quan quyết định cao nhất của QĐTCK; Đại hội đồng cổ đông và HĐQT của CTĐTCK; Công ty quản lý quỹ; Ngân
hàng giám sát) Tác giả Nguyễn Văn Tuyến (2011), Giáo trình Luật Chứng khoán,
xác định và phân tích về địa vị pháp lý của QĐTCK và CTĐTCK bao gồm (i) QĐTCK (Khái niệm, phân loại; Thành lập, tổ chức quản trị QĐTCK; Hoạt động QĐTCK; Quyền và nghĩa vụ của QĐTCK); (ii) CTĐTCK (Khái niệm, phân loại; Thành lập, tổ chức quản trị CTĐTCK; Hoạt động của CTĐTCK; Quyền và nghĩa vụ
của CTĐTCK) [97, tr32] Năm 2017, Lê Thị Thu Thủy với công trình Giáo trình
pháp luật về thị trường chứng khoán [87] đã phân tích một số quy định của pháp
luật hiện hành về quỹ đầu tư chứng khoán theo dạng: mô hình quỹ đầu tư không
có tư cách pháp nhân và quỹ đầu tư có tư cách pháp nhân và pháp luật về công ty quản lý quỹ, pháp luật về ngân hàng giám sát
- Công trình nghiên cứu thực trạng về hoạt động của QĐTCK
Huỳnh Thị Hương Thảo (2009), Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng
khoán niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam, cung cấp sơ nét về tình hình
hoạt động của các QĐTCK nêm yết trên TTCK Việt Nam thông qua các Bảng biểu về danh sách các CCQ, Bảng thống kê khối lượng giao dịch của CCQ và thị trường, Bảng thống kê dư mua, dư bán của các CCQ; đưa ra những hạn chế,
Trang 2316
nguyên nhân làm QĐTCK Việt Nam hoạt động kém hiệu quả như là: (i) QĐTCK chưa phổ biến tại Việt Nam; (ii) NĐT trở nên thụ động đối với các khoản đầu tư của mình; (iii) Mức sinh lời thường thấp hơn so với trường hợp tự đầu tư; (iv) NĐT cho rằng khó có thể giám sát được hoạt động của quỹ đầu tư và rất dễ xảy
ra gian lận tại các Quỹ [81]
Mai Phụng Chiêu (2011), Đánh giá hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
trên TTCK Việt Nam [45], đánh giá chung về tình hình hoạt động của TTCK Việt
Nam qua 10 năm đi vào hoạt động với các yếu tố: (i) Khung pháp lý, thể chế chính sách; (ii) Quy mô hàng hóa (nguồn cung) của TTCK; (iii) Nêm yết và giao dịch chứng khoán; (iv) Hệ thống cơ sở NĐT (cầu đầu tư); (v) Hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán; (vi) Về tổ chức thị trường; (vii) Hoạt động quản
lý, giám sát thị trường Bên cạnh đó, công trình còn phân tích và đánh giá một số hoạt động của CTQLQ và QĐTCK trong nước (Công ty quản lý quỹ với VF1, VF4, VFA và Công ty quản lý quỹ đầu tư Prudential Việt Nam quản lý quỹ đại chúng PRUBF1)
Nguyễn Duy Linh (2014), Đánh giá hiệu quả của quỹ đầu tư chứng khoán
dạng mở trên TTCK Việt Nam [63], bài viết đánh giá kết quả hoạt động của 3
QĐTCK dạng mở được thành lập đầu tiên tại Việt Nam, đó là Quỹ đầu tư Trái phiếu MB Capital Việt Nam (MBBF), Quỹ đầu tư trái phiếu Bảo Thịnh (VFF) và Quỹ đầu tư Năng động Việt Nam (VFMVFA) bằng các phương pháp kinh tế học
- Công trình nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK
Các tác giả Ngô Thanh Long (2006), Pháp luật về tổ chức và hoạt động
của Quỹ đầu tư chứng khoán [66], Võ Thị Mỹ Hương (2009), Pháp luật về quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam [62], Trần Thị Huyền Trang (2014), Pháp luật về hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam[95], và Đinh Vũ Hòa (2014),
Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam[57] là những công trình nghiên cứu có phần nội dung đề cập liên quan đến thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về
tổ chức và hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam Tuy nhiên, đây là các công trình
Trang 2417
ở cấp độ luận văn cao học ngành Luật Kinh tế, thời gian nghiên cứu đã khá lâu và trên cơ sở các văn bản pháp luật đã lỗi thời, phương pháp nghiên cứu mà các tác giả sử dụng chủ yếu là phân tích, so sánh, đối chiếu, đánh giá số liệu có sẵn và có dung lượng ở mức độ hạn chế
1.1.3 Các công trình nghiên cứu đã đề xuất các kiến nghị và giải pháp liên quan đến hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK
Tác giả Ngô Văn Thịnh (2004), Trao đổi về hệ thống kế toán áp dụng cho:
Quỹ đầu tư chứng khoán và Công ty quản lý quỹ [82], đưa ra yêu cầu công tác kế
toán đối với hoạt động của CTQLQ, QĐTCK và một số định hướng để xây dựng
hệ thống kế toán cho loại hình này Các định hướng như: (i) Chế độ kế toán của CTQLQ và QĐTCK phải phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nâm, tuân thủ các quy định pháp lý của Nhà nước về hoạt động Quỹ đầu tư và CTQLQ; (ii) Phải phù hợp với yêu cầu của chuẩn mực kế toán cũng như thông lệ của quốc tế về hoạt động quản lý QĐTCK; (iii) Phải đơn giản, gọn nhẹ, phù hợp với trình độ và năng lực quản lý của các CTQLQ trong giai đoạn hiện nay; (iv) Phải đảm bảo phản ánh tách biệt tài sản, nguồn vốn cũng như thu nhập, chi phí của bản thân CTQLQ với từng QĐTCK và với hoạt động nhận ủy thác đầu tư cho NĐT; (v) Phải đảm bảo nguyên tắc hạch toán đầu tư chứng khoán của các QĐTCK; (vi) Phải đảm bảo về
tổ chức công tác kế toán Bài viết Chiến lược rút vốn của các quỹ đầu tư chứng
khoán Việt Nam của Nguyễn Xuân Thành (2006) [80], đề cập đến các hình thức
thanh hoán danh mục đầu tư mà các QĐTCK ở Việt Nam có thể sử dụng Các hình thức thanh hoán danh mục đầu tư: (i) Thanh hoán gián tiếp; (ii) Thanh hoán trực tiếp (Chuyển nhượng phần vốn góp cho các đối tác cùng tham gia dự án; Chuyển nhượng phần vốn góp cho các nhà đầu tư nước ngoài; Quỹ có thể bán trực tiếp cổ phiếu ra công chúng); (iii) Xóa sổ hoặc bán nợ đối với những khoản đầu tư khó thu hồi Từ đó, kiến nghị Nhà nước cần có những quy định cụ thể về việc thanh hoán danh mục đầu tư của quỹ để hoạt động này được diễn ra một cách trật tự và ổn định, vừa đảm bảo lợi ích cho QĐTCK, cho NĐT, vừa thúc đẩy sự phát triển TTCK lành mạnh, bền vững và hiệu quả Tuy nhiên, bài viết đề cập theo
Trang 25Trần Vũ Hải (2006), Một số vấn đề pháp lý về công ty đầu tư chứng khoán
[55], đề xuất các kiến nghị: (i) Cần phải nhận thức rõ ràng về CTĐTCK là một dạng QĐTCK; (ii) Việc đặt tên tại Chương VII dẫn đến suy luận rằng, CTĐTCK không phải là QĐTCK, do đó không giải thích được cơ chế hoạt động của mô hình này và vì sao CTĐTCK lại được quy định chung với QĐTCK; (iii) Xây dựng những quy định pháp lý nhằm tạo khả năng chuyển đổi thuận lợi nhất từ CTĐTCK
sang mô hình QĐTCK và ngược lại Tác giả Phạm Thị Giang Thu (2006), Luật
Chứng khoán với việc mở rộng cơ hội đầu tư và khuyến khích đầu tư, phân tích
những quy định của Luật Chứng khoán trong việc tạo cơ hội đầu tư và khuyến khích các đối tượng tham gia đầu tư vào TTCK Việt Nam Đồng thời, đưa ra một
số kiến nghị cần tiếp tục thực hiện [84] Huỳnh Thị Hương Thảo (2009), Hoạt
động của các quỹ đầu tư chứng khoán niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam [81], bài viết chỉ ra một số giải pháp phát triển QĐTCK Việt Nam: Một là,
Đối với CTQLQ: (i) Tăng cường hệ thống thông tin cho NĐT; (ii) Tạo ra tính ổn
định cho CTQLQ; (iii) Phát huy cả thế mạnh của danh mục đầu tư; Hai là, Đối
với cơ quan quản lý: (i) Cho phép CTQLQ mua lại chứng chỉ quỹ đã phát hành với tỷ lệ nhất định; (ii) Cho phép thành lập quỹ mở vào thời điểm thích hợp
Hoàng Đức Long (2010), Hoàn thiện Luật Chứng khoán, nghiên cứu rà soát
Luật Chứng khoán năm 2006 và trải qua 4 năm thực thi thì khi đề xuất các giải pháp về tính hợp pháp của Luật Chứng khoán trong hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK có nêu “Cần bảo đảm đa dạng hóa, đơn giản hóa và linh hoạt hóa các nguyên tắc hoạt động của các quỹ đầu tư tạo điều kiện phát triển ngành quỹ” [67, tr79] và “Xây dựng và ban hành các quy định ở mức độ cao hơn, bao quát hơn, thống nhất hơn về Quỹ đầu tư” [67, tr81]
Trang 2619
Nguyễn Thu Thủy (2011), Phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt
Nam hiện nay [89], đề xuất một trong các giải pháp để phát triển các QĐTCK ở Việt Nam đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 là hoàn thiện khung pháp lý
về QĐTCK, cụ thể: (i) Chỉnh sửa quy định pháp lý hiện hành liên quan đến hoạt động huy động vốn lập quỹ; (ii) Đến năm 2015, cần chỉnh sửa, bổ sung văn bản pháp quy cho phù hợp với các hình thức tổ chức hoạt động quỹ mở và CTĐTCK; (iii) Ban hành văn bản cho phép chuyển đổi một bộ phận QĐTCK thành viên có
đủ điều kiện thành CTĐTCK phát hành riêng lẻ; (iv) Ban hành các chính sách hỗ trợ và ưu đãi cho các CTQLQ và các NĐT tham gia đầu tư vào quỹ; (v) Khi ngành quỹ đầu tư đã phát triển đến một mức độ nhất định sẽ tiến hành xây dựng và ban hành các quy định ở mức độ cao hơn, bao quát hơn và thống nhất hơn về QĐT
(Luật Quỹ đầu tư chứng khoán) Trần Thị Thùy Linh (2011), Quỹ đầu tư chứng
khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam [65, tr180] đưa ra các giải pháp để phát triển Quỹ đầu tư trên TTCK Việt Nam, trước tiên là khung pháp lý cho hoạt động quản lý quỹ, QĐTCK Theo đó, các cơ quan quản lý cần ban hành bổ sung các văn bản làm nền tảng cho hoạt động của các quỹ với nội dung: (i) Phải khuyến khích CTQLQ thành lập quỹ đại chúng với các loại hình quỹ đa dạng; (ii) Phải có
bộ phận độc lập kiểm soát quản lý và sử dụng vốn các quỹ đầu tư trong và ngoài nước, kiểm soát hoạt động điều hành đầu tư của mỗi quỹ, đề ra những chính sách phù hợp và sử dụng nguồn tiền của quỹ, quỹ có thể tham gia để thực hiện các dự
án lớn của Chính phủ; (iii) Khuyến khích CTQLQ huy động thành lập quỹ đại chúng từ nguồn vốn của thị trường nước ngoài; (iv) Ủy ban chứng khoán Nhà nước cần xem xét việc cấp giấy phép hoạt động của NHGS đạt chuẩn quốc tế từ các ngân hàng thương mại trong nước; (v) Cần ban hành quy chế hướng dẫn ưu tiên chọn các quỹ đầu tư đại chúng làm đối tác chiến lược trong hoạt động chào bán cổ phiếu các doanh nghiệp nhà nước
Nguyễn Thu Thủy (2012), Kinh nghiệm phát triển QĐTCK ở một số nước
và bài học đối với Việt Nam [90], đã phân tích kinh nghiệm phát triển QĐTCK ở
một số nước, đánh giá sự phát triển các QĐTCK của Việt Nam trong thời gian qua, từ đó tác giả đề xuất một số gợi ý nhằm phát triển các QĐTCK của Việt Nam
Trang 2720
trong thời gian tới Đó là: (i) Về mô hình tổ chức hoạt động; (ii) Về khung pháp lý; (iii) Về vai trò của Nhà nước đối với hoạt động của QĐTCK; (iv) Phát triển các CTQLQ và NHGS
Tác giả Nguyễn Thu Hiền (2014), Giải pháp hoàn thiện khung pháp lý đảm
bảo tuân thủ cam kết quốc tế về chứng khoán và thị trường chứng khoán của Việt Nạm [56], đã nghiên cứu các vấn đề cơ bản, bản chất của các cam kết quốc tế của
Việt Nam trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK (WTO, TPP, ASEAN, IOSCO);
rà soát khung pháp lý hiện hành của Việt Nam theo các cam kết đó; trên cơ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý về TTCK đảm bảo tuân thủ các cam kết quốc tế theo hai nhóm: (i) Nhóm các giải pháp về thể chế, chính sách; và (ii) Nhóm các giải pháp triển khai thực hiện
1.1.4 Đánh giá tình hình nghiên cứu
1.1.4.1 Những kết quả luận án sẽ kế thừa và tiếp tục nghiên cứu phát triển
Qua tìm hiểu về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của luận án, nghiên cứu sinh đưa ra đánh giá như sau:
Thứ nhất, đã có một số công trình nghiên cứu, đề xuất về khái niệm
QĐTCK; nghiên cứu đặc điểm và phân loại QĐTCK dưới góc độ kinh tế học, dưới góc độ luật học nhưng theo các văn bản pháp luật đã lỗi thời Do đó, luận án
sẽ kế thừa các quan điểm trên và làm rõ hơn nữa khái niệm QĐTCK; phân tích sâu hơn nữa đặc điểm của QĐTCK để phân biệt với các loại hình Quỹ đầu tư khác, với các chủ thể kinh doanh khác; đưa ra cách phân loại QĐTCK phổ biến
và làm rõ hơn vai trò QĐTCK để hoàn thiện lý luận chung về QĐTCK
Một số vấn đề khác cũng liên quan tới lý luận chung của QĐTCK như: Lý
do cho sự tồn tại của QĐTCK; Lợi thế của NĐT khi đầu tư vào quỹ; Rủi ro khi đầu tư vào QĐTCK; Tuy nhiên, nghiên cứu khái quát về QĐTCK thì nghiên cứu sinh chỉ nghiên cứu bốn yếu tố: khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò để làm nền tảng cho việc xây dựng lý luận của pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK
Thứ hai, tác giả Nguyễn Thu Thủy (2011) [89]khi phân loại QĐTCKtheo hình thức tổ chức, bao gồm: QĐTCK theo mô hình công ty; QĐTCK theo mô hình tín thác;
Trang 2821
QĐTCK theo mô hình hợp đồng; QĐTCK theo mô hình hợp danh hữu hạn Luật chứng khoán 2006 của Việt Nam quy định về QĐTCK (không có tư cách pháp nhân)
và CTĐTCK (QĐTCK theo mô hình CTCP) Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu mô hình
tổ chức và hoạt động của QĐTCK trên thế giới là cần thiết để làm bài học kinh nghiệm cho vấn đề hoàn thiện mô hình QĐTCK tại Việt Nam
Thứ ba, một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã chỉ ra rằng: luôn tồn
tại những xung đột về lợi ích giữa NĐT với CTQLQ, giữa NĐT và tư vấn tài chính của họ [108], [110], [116] Đây là nội dung mà tác giả tham khảo khi nghiên cứu và xem xét bản chất mối quan hệ và sự chi phối của nó đến các chủ thể tham gia vào quan hệ tổ chức và hoạt động của QĐTCK (NĐT, CTQLQ, NHGS)
Thứ tư, việc xác định nội dung của pháp luật về tổ chức và hoạt động của
QĐTCK đã được tác giả Ngô Thanh Long (2006) [66] đề cập Đây là công trình luận văn cao học ngành Luật kinh tế có tên gần giống với tên đề tài luận án của nghiên cứu sinh Tuy nhiên, luận văn nghiên cứu QĐTCK theo Nghị định số 144/2003/NĐ-CP [7] và Quyết định số 73/2004/QĐ-BTC [16] Đối với luận án này, tác giả nghiên cứu theo quy định của Luật chứng khoán năm 2006, văn bản hướng dẫn hiện hành và làm rõ hơn nội hàm của pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK
Thứ năm, việc kiến nghị tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về
TTCK, về QĐTCK đã được nhiều tác giả đề xuất Tuy nhiên, các kiến nghị
và giải pháp nêu trên chưa đầy đủ và chưa tập trung vào tổ chức và hoạt động của QĐTCK theo pháp luật Việt Nam hiện nay Việc kiến nghị, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật phải xuất phát từ nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật, thực trạng áp dụng pháp luật một cách đầy đủ và phải dựa trên điều kiện thực tế, những quan điểm định hướng của Nhà nước về TTCK nói chung, về QĐTCK nói riêng
1.1.4.2 Những vấn đề chưa được đề cập và luận án tiếp tục nghiên cứu
Một số vấn đề còn bỏ ngỏ và cần được nghiên cứu, giải quyết là:
Một là, các công trình nghiên cứu về lý luận của pháp luật về tổ chức và
hoạt động của QĐTCK không nhiều và thời điểm nghiên cứu đã khá lâu Do đó,
Trang 29là rất cần thiết Do tính đặc thù của QĐTCK, không giống như các loại hình chủ thể kinh doanh khác nên việc điều chỉnh các quan hệ này bằng pháp luật phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản, đó là: nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh, nguyên tắc cạnh tranh, nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT…
- Xác định nội hàm của pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của QĐTCK, làm rõ vai trò của pháp luật cũng như các yếu tố tác động đến pháp luật về tổ chức
và hoạt động của QĐTCK
Hai là, một số nội dung về tổ chức và hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam
hiện nay chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm là: Mô hình tổ chức của QĐTCK theo pháp luật Việt Nam; cơ chế tách bạch giữa quyền quản lý và quyền giám sát trong tổ chức và hoạt động của QĐTCK; hoạt động của QĐTCK trên TTCK Việt
Nam…Đây là nhiệm vụ đặt ra để nghiên cứu sinh giải quyết trong luận án
Ba là, khi đánh giá pháp luật, các nhà nghiên cứu về lý luận nhà nước và
pháp luật đã đưa ra 4 tiêu chí cơ bản: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp
và trình độ kỹ thuật lập pháp của pháp luật [48] Tác giả Lê Vũ Nam (2011) [70] cũng đề cập đến 4 yếu tố để đánh giá khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư chứng khoán nói chung là: Tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính hiệu quả Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK phải đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay và trên cơ sở những định hướng của Nhà nước Việt Nam về phát triển TTCK
Ở Việt Nam, chứng khoán và TTCK là lĩnh vực mới Do vậy, liên quan đến các nội dung của chứng khoán, TTCK nói chung và pháp luật về chứng khoán nói riêng thì đã có nhiều các công trình nghiên cứu, bài viết Đặc biệt, với tư cách là
cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán thì hàng năm, UBCKNN đều có các công trình nghiên cứu chuyên sâu nhằm đưa ra các đánh giá, kiến nghị và giải
Trang 3023
pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về chứng khoán Tuy nhiên, kể từ khi Luật Chứng khoán năm 2006 được ban hành đến nay thì cả trong nước và ngoài nước đều chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá, kiến nghị tổng thể và toàn diện
về tổ chức và hoạt động của QĐTCK theo pháp luật Việt Nam
1.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Bản chất QĐTCK là gì? QĐTCK có những đặc điểm nào?
- Hiện nay, tồn tại những mô hình tổ chức và hoạt động QĐTCK nào?
- Việc lựa chọn mô hình QĐTCK ảnh hưởng như thế nào đến tổ chức và hoạt động của QĐTCK?
- Pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK bao gồm những nội dung nào?
- Các nhân tố nào tác động đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK?
- Quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động như thế nào trong thực tiễn khi được thành lập, tổ chức theo pháp luật Việt Nam hiện hành?
- Những bất cập nào dẫn đến hạn chế trong tổ chức và hoạt động của QĐTCK về mặt pháp luật và quản trị?
- Những giải pháp nào cho việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về tổ chức và hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam hiện nay?
Từ câu hỏi nghiên cứu, tác giả xây dựng các giả thuyết nghiên cứu sau:
- Quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định pháp luật có sự khác biệt với các loại hình quỹ đầu tư khác tại Việt Nam
- Mô hình QĐTCK có ảnh hưởng đến cách thức tổ chức và hoạt động của QĐTCK
- Hoạt động của các QĐTCK ở Việt Nam hiện nay chưa hiệu quả, chưa thể hiện vai trò là công cụ thu hút vốn và điều tiết vốn cho nền kinh tế
- Pháp luật và quản trị là hai yếu tố không thể thiếu để hoạt động của QĐTCK mang lại hiệu quả
Để thực hiện luận án, tác giả dựa trên những lý thuyết nghiên cứu sau đây:
Trang 3124
- Lý thuyết về quan hệ ủy thác hay quan hệ đại diện của Berle và Means (1932) được vận dụng để xác định bản chất mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào
tổ chức và hoạt động của QĐTCK mô hình hợp đồng (hay mô hình tín thác)
- Lý thuyết về doanh nghiệp của Ronald Coase (1937) và Samuelson (1954) được vận dụng để xây dựng nên cơ chế tổ chức và hoạt động của QĐTCK mô hình pháp nhân
- Lý thuyết về bất cân xứng thông tin của George Akerlof (1970, 2001) trong phân tích vấn đề thông tin bất cân xứng giữa Nhà phát hành và Nhà đầu tư, đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin của QĐTCK
đề tài mới, chưa từng được ai nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá cụ thể những kết quả của các công trình nghiên cứu trước, tác giả xác định rõ được một số nội dung cơ bản làm nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Luận án sẽ được triển khai dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết với những lý thuyết nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu cụ thể Đồng thời, để đạt được mục tiêu của luận án, tác giả dựa trên quan điểm đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về việc “tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, kết hợp sử dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng phần, từng chương của luận án
Trang 3225
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
2.1 Lý luận chung về Quỹ đầu tư chứng khoán
2.1.1 Khái quát về Quỹ đầu tư chứng khoán
2.1.1.1 Khái niệm về Quỹ đầu tư chứng khoán
Cũng như bất kỳ hoạt động đầu tư, kinh doanh nào khác, đầu tư chứng khoán
là “đầu tư một lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai” [83,
tr11] Điều này thể hiện tính rủi ro của hoạt động đầu tư trên TTCK Khi đầu tư chứng khoán, NĐT có thể lựa chọn nhiều phương thức khác nhau: hoặc là trực tiếp quyết định đầu tư (thông qua các công ty chứng khoán với tư cách là nhà đầu tư riêng lẻ) hoặc là ủy nhiệm đầu tư (thông qua việc nắm giữ các chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán được quản lý bởi các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, có tổ chức) Như vậy, thay vì NĐT đưa số vốn của mình cho nhà môi giới chứng khoán trực tiếp mua chứng khoán thì họ có thể góp vốn vào QĐTCK thực hiện việc đầu tư tập thể
Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng, thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ hay các loại tài sản khác Nói cách khác, Quỹ đầu tư là tổ chức đầu tư chuyên nghiệp [65, tr5].Các Quỹ đầu tư, còn được hiểu là phương tiện đầu tư tập thể - là các cơ cấu tài chính nhằm phân bổ và quản lý tiền của nhiều người đầu tư để mua chứng khoán được niêm yết hoặc cổ phần tư nhân trong các công ty cổ phần Quỹ đầu tư tập hợp các khoản đầu tư cá nhân thành một khoản tiền lớn và đầu tư vào danh mục đầu tư được xác lập theo chính sách của quỹ [73, tr243] Về bản chất, Quỹ đầu tư là một tập hợp những khoản tiền vốn từ những người đầu tư được hình thành từ việc phát hành các chứng chỉ huy động vốn (chứng chỉ quỹ đầu tư) để đầu tư vào các công cụ trên thị trường tài chính [101, tr292] Ở Hoa Kỳ, Quỹ đầu
tư được định nghĩa là các tổ chức tài chính phi ngân hàng thu nhận tiền từ một số lượng lớn các nhà đầu tư và tiến hành đầu tư số vốn đó vào các tài sản tài chính có tính
Trang 3326
thanh khoản dưới dạng tiền tệ và các công cụ của thị trường tài chính Ở Nhật Bản, các quỹ tín thác được coi là một sản phẩm được hình thành nhằm đầu tư số tiền tập hợp được từ một số lớn các nhà đầu tư vào chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) chủ yếu dưới sự quản lý của những người không phải là người đầu tư và phân phối lợi nhuận thu được từ các khoản thu được từ việc đầu tư cho các nhà đầu tư theo tỷ lệ vốn
mà họ góp vào quỹ [101, tr280]
Quỹ đầu tư chứng khoán thực chất là một tập hợp vốn do tổ chức và cá nhân góp lại để được quản lý nhằm tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư chứng khoán và tối đa hóa lợi nhuận cho những người tham gia [89, tr9] QĐTCK là quỹ tiền hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư để đầu tư chủ yếu vào chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận [47] Vốn góp có thể bằng tiền, bằng chứng khoán, hoặc góp dưới dạng tài sản
Quỹ đầu tư chứng khoán thường được xem xét dưới hình thức là: một quỹ tiền tệ, một tập hợp những khoản tiền, tập hợp vốn góp, một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng hay còn được hiểu là phương tiện đầu tư tập thể
Hiểu theo một cách đơn giản, “quỹ” là việc tập hợp nhiều số tiền thành một
số tiền lớn để phục vụ cho một mục đích nào đó [59] Nói cách khác, “quỹ” là số tiền thu góp và “quỹ ủy thác đầu tư” là quỹ thường được thành lập dưới dạng công ty
cổ phần để thực hiện những nghiệp vụ đầu tư liên kết trong việc mua bán cổ phần, chứng khoán trên thị trường chứng khoán [106]
Như vậy, khái niệm QĐTCK có thể được nhìn nhận như sau: QĐTCK là một tập hợp các khoản tiền hoặc là một công ty, được hình thành với sự góp vốn của các NĐT để tăng cường tính chuyên nghiệp trong quản lý, đầu tư chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận
2.1.1.2 Đặc điểm của Quỹ đầu tư chứng khoán
Đặc điểm của QĐTCK là những dấu hiệu phản ánh bản chất của QĐTCK, đồng thời cũng là những tiêu chí để phân biệt QĐTCK với các Quỹ đầu tư khác và với các chủ thể kinh doanh Những đặc điểm sau sẽ chi phối sự điều chỉnh của pháp luật đối với QĐTCK:
Trang 3427
Một là, Quỹ đầu tư chứng khoán vừa là chủ thể phát hành chứng khoán vừa là chủ thể đầu tư chứng khoán
Là chủ thể phát hành chứng khoán, QĐTCK được hình thành từ vốn góp của
các NĐT thông qua việc phát hành cổ phiếu hay CCQ Chứng chỉ quỹ đầu tư do CTQLQ phát hành nhằm thu hút vốn từ NĐT Người sở hữu chứng chỉ quỹ đầu
tư được coi là người góp vốn vào QĐTCK
Là chủ thể đầu tư chứng khoán, khác với chủ thể phát hành cổ phiếu và trái
phiếu, QĐTCK phát hành CCQ không nhằm huy động vốn để phục vụ mục đích kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà phần lớn nguồn vốn của QĐTCK đầu tư chủ yếu
là chứng khoán CCQ mang lại cổ tức cho NĐT không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh mà là do hoạt động đầu tư chứng khoán của QĐTCK Vì vậy, QĐTCK được xem là NĐT có tổ chức hay NĐT chứng khoán chuyên nghiệp, tức đầu tư chứng khoán theo danh mục đầu tư, với các chiến lược đầu tư và do các chuyên gia
có kinh nghiệm thực hiện
Hai là, đầu tư qua QĐTCK là hình thức đầu tư gián tiếp và mục đích hoạt động của QĐTCK cũng giống như doanh nghiệp – đó là lợi nhuận
Đầu tư là việc sử dụng một khoản tiền tích lũy nhất định vào một việc nhất định nhằm mục đích thu lại một khoản tiền lớn hơn Mục tiêu thông thường của đầu tư, nhất là của các nhà đầu tư tư nhân là sử dụng đồng tiền nhằm sinh lợi Tính sinh lợi là đặc trưng cơ bản của đầu tư, nó không chỉ tạo ra một lượng tiền lớn hơn so với số vốn đã bỏ ra mà còn đạt được các giá trị xã hội khác [77, tr43]
Và, đầu tư gián tiếp thể hiện ở chỗ các chủ thể thừa vốn không trực tiếp cung ứng vốn cho người thiếu vốn là người sử dụng vốn cuối cùng, mà là gián tiếp thông qua các trung gian tài chính [78, tr45]
Qua việc phát hành cổ phiếu hay CCQ, QĐTCK thu được một lượng tiền khá lớn từ NĐT Sau đó, QĐTCK sử dụng số tiền thu được để đầu tư vào các loại chứng khoán Lợi nhuận thu được từ việc đầu tư chứng khoán sẽ được phân chia cho các NĐT Như vậy, mục đích thành lập và hoạt động của QĐTCK cũng giống như một chủ thể kinh doanh, đó là tìm kiếm lợi nhuận
Trang 35sản và giám sát hoạt động của quỹ [77, tr233]
Nhà đầu tư góp vốn vào QĐTCK và được hưởng lợi từ việc đầu tư của quỹ Hoạt động quản lý QĐTCK được NĐT ủy thác cho CTQLQ Công ty quản lý quỹ
là một tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn cao về đầu tư chứng khoán, thực hiện việc quản lý và tiến hành các hoạt động của QĐTCK Ngân hàng giám sát thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của QĐTCK đảm bảo tài sản độc lập với CTQLQ và giám sát hoạt động CTQLQ liên quan đến QĐTCK để bảo vệ lợi ích của NĐT Đặc điểm này thể hiện rõ nét trong suốt quá trình thành lập và hoạt động của QĐTCK
2.1.1.3 Vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán
Thứ nhất, Quỹ đầu tư chứng khoán cung cấp cơ hội đầu tư cho các NĐT nhỏ lẻ, góp phần xã hội hóa hoạt động đầu tư chứng khoán
Nhà đầu tư cá nhân chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn khi nghiên cứu về TTCK, các loại chứng khoán, các loại tài sản tài chính NĐT riêng lẻ cũng sẽ tốn kém hơn khi thuê tư vấn, thực hiện các dịch vụ đầu tư, nhất là khi họ đầu tư dàn trải vào nhiều chứng khoán Do đó, QĐTCK là mô hình tốt giúp các NĐT có ít vốn, ít thời gian, ít kinh nghiệm tham gia hoạt động đầu tư NĐT chỉ cần góp vốn thông qua mua CCQ và không cần dành thời gian để cân nhắc xem xét việc đầu
tư cụ thể hàng ngày Thông qua đầu tư vào QĐTCK, NĐT có khả năng đầu tư vào thị trường bất kỳ thời gian nào, với bất kỳ số tiền lớn hay nhỏ
Quỹ đầu tư chứng khoán được thành lập thông qua phát hành CCQ/cổ phiếu ra công chúng, tạo ra loại hàng hóa cho TTCK, tăng cung cho thị trường Nói cách khác,
sự ra đời của QĐTCK góp phần tạo ra các phương thức đầu tư đa dạng qua TTCK Với tính chuyên nghiệp và sự đa dạng trong đầu tư, QĐTCK không chỉ có thể giải quyết những thách thức mà các NĐT cá nhân gặp phải khi tham gia TTCK, mà
Trang 36Bên cạnh đó, các QĐTCK được quản lý bởi các chuyên gia có kỹ năng và giàu kinh nghiệm Các chuyên gia này sẽ thay mặt NĐT phân tích, đánh giá các yếu tố liên quan đến thị trường để quyết định mua, bán loại chứng khoán nào để
có lợi nhất cho tập thể NĐT Những chuyên gia không tạo ra lợi nhuận sẽ bị thay thế Bởi vì một trong những nhân tố quan trọng trong việc lựa chọn Quỹ đầu tư tốt là quỹ đó phải được quản lý tốt Với đội ngũ các chuyên gia dày dặn kinh nghiệm, các thông tin về các dự án đầu tư, các chứng khoán đầu tư dễ dàng được tiếp cận với chi phí thấp nhất Ngoài ra, với sự hỗ trợ tối đa của các chuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán nên đầu tư theo mô hình tập thể không phải mất chi phí thuê các dịch vụ tư vấn bên ngoài như các NĐT đơn lẻ
Thứ ba, Quỹ đầu tư chứng khoán góp phần tạo ra các phương thức huy động vốn đa dạng qua TTCK; qua đó, đáp ứng được nhu cầu vốn của doanh nghiệp và làm cho công tác quản trị doanh nghiệp được minh bạch, hiệu quả
Khi nền kinh tế phát triển và các tài sản tài chính ngày càng tạo khả năng sinh lời hơn, NĐT có khuynh hướng muốn có nhiều dạng công cụ tài chính để đầu tư Để đáp ứng nhu cầu của NĐT, các QĐTCK hình thành dưới nhiều dạng sản phẩm tài chính khác nhau như quỹ cổ phiếu, quỹ trái phiếu, quỹ cân bằng, quỹ tăng trưởng…có thời hạn đáo hạn, khả năng sinh lời, mức độ rủi ro được kiểm soát
Đối với thị trường sơ cấp, QĐTCK giúp cho các doanh nghiệp huy động vốn đầu tư bằng cách mua chứng khoán của các tổ chức phát hành lần đầu Đối với thị trường thứ cấp, chứng chỉ QĐTCK được niêm yết tạo ra hàng hóa cho TTCK, công cụ giao lưu vốn cho các NĐT QĐTCK có được một nguồn vốn lớn
Trang 37Thứ tư, Quỹ đầu tư chứng khoán góp phần huy động vốn cho việc phát triển TTCK nói riêng và nền kinh tế nói chung, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Việc phát triển nền kinh tế rất cần những nguồn vốn trung và dài hạn QĐTCK tạo ra các kênh huy động vốn phù hợp với nhu cầu của NĐT và doanh nghiệp (người nhận đầu tư) Các nguồn vốn nhàn rỗi riêng lẻ trong công chúng do vậy sẽ được tập trung lại thành một nguồn vốn lớn, thông qua QĐTCK sẽ được đầu tư vào các dự án dài hạn, đảm bảo được nguồn vốn phát triển bền vững cho
cả khu vực tư nhân lẫn khu vực Nhà nước
Không những thế, các QĐTCK còn khuyến khích được nguồn vốn nước ngoài Đối với nguồn vốn gián tiếp, việc đầu tư vào QĐTCK sẽ loại bỏ các hạn chế của họ về giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp, về kiến thức và thông tin
về chứng khoán cũng như giảm thiểu các chi phí đầu tư Đối với nguồn vốn đầu
tư trực tiếp, QĐTCK góp phần thúc đẩy các dự án bằng cách tham gia góp vốn vào các liên doanh hay mua lại một phần vốn của bên đối tác, tạo thuận lợi cho NĐT nước ngoài trong việc thu hồi vốn cũng như tăng được sức cạnh tranh trong nước ở các liên doanh
Chính vì vai trò quan trọng trên, ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển đều tồn tại QĐTCK
Trang 3831
2.1.1.4 Các loại hình Quỹ đầu tư chứng khoán
Việc phân loại QĐTCK có thể dựa trên rất nhiều tiêu chí khác nhau, chẳng
hạn như: theo hình thức tổ chức (QĐTCK theo mô hình công ty, QĐTCK theo
mô hình tín thác, QĐTCK theo mô hình hợp đồng, QĐTCK theo mô hình hợp
danh hữu hạn); theo chủ thể đầu tư (Quỹ thành viên, Quỹ đại chúng); theo cơ chế
huy động vốn (Quỹ đóng, Quỹ mở); theo danh mục đầu tư (Quỹ đầu tư cổ phiếu,
Quỹ đầu tư trái phiếu, Quỹ thị trường tiền tệ, Quỹ đầu tư chỉ số, Quỹ đầu tư bất động sản, Quỹ cân bằng) [89]
Ở mỗi nước, tùy theo mục đích điều chỉnh riêng mà có những quy định phân loại QĐTCK khác nhau Mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa riêng của nó Tuy nhiên, các cách phân loại này chỉ mang tính tương đối bởi vì có loại QĐTCK bao hàm trong nó nhiều tiêu chí khác nhau Một số loại hình QĐTCK phổ biến:
* Căn cứ vào chủ thể đầu tư vào QĐTCK: quỹ đại chúng và quỹ thành viên
Quỹ đại chúng (Quỹ đầu tư tập thể hay quỹ công chúng) là quỹ được hình thành từ vốn góp của nhiều NĐT riêng lẻ trên TTCK Quỹ đại chúng phát hành CCQ rộng rãi ra công chúng nên số lượng NĐT tham gia góp vốn vào quỹ đại chúng rất lớn, có thể là cá nhân hay pháp nhân Quỹ đại chúng cung cấp cho các NĐT nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp
Quỹ thành viên là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ NĐT tổ chức, có trình độ chuyên môn, tiềm lực tài chính và am hiểu
về lĩnh vực đầu tư Các NĐT đầu tư vào quỹ thành viên thường với lượng vốn lớn
và có thể tham gia việc kiểm soát đầu tư của quỹ Do vậy, tính thanh khoản của quỹ thành viên thấp hơn quỹ công chúng
* Căn cứ vào cơ chế huy động vốn của QĐTCK: quỹ đầu tư dạng đóng
và quỹ đầu tư dạng mở
Quỹ đầu tư dạng đóng là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ quỹ một lần với số lượng nhất định và không thực hiện việc mua lại CCQ khi NĐT có nhu cầu bán Sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các
Trang 39* Căn cứ vào danh mục đầu tư của QĐTCK: Khi thành lập QĐTCK, các
nhà quản lý quỹ xác định cụ thể mục tiêu đầu tư, chính sách đầu tư và xây dựng
một danh mục đầu tư phù hợp với từng loại hình QĐTCK
Quỹ đầu tư cổ phiếu, đầu tư chủ yếu vào các loại cổ phiếu
Quỹ đầu tư trái phiếu, đối tượng đầu tư chủ yếu là các loại trái phiếu Quỹ thị trường tiền tệ, đầu tư vào các công cụ của thị trường tiền tệ như chứng chỉ tiền gửi…
Quỹ đầu tư chỉ số, đầu tư vào một danh mục chứng khoán được lập dựa trên kết cấu của một chỉ số cụ thể
Quỹ đầu tư bất động sản, đầu tư vào bất động sản (đất đai, công trình nhà cửa…)
Quỹ cân bằng, là quỹ đầu tư vào các loại hình tài sản khác nhau theo tỷ lệ hướng tới đảm bảo sự an toàn và thu nhập ổn định cho nhà đầu tư
2.1.2 Các mô hình của Quỹ đầu tư chứng khoán trên thế giới
Nói đến mô hình của QĐTCK chính là nói đến cách thức tổ chức và hoạt động QĐTCK Do đó, việc tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của QĐTCK gắn liền với
mô hình pháp lý của QĐTCK ở các nước trên thế giới để làm tham khảo cho Việt Nam là việc làm hữu ích
Khi nghiên cứu mô hình QĐTCK trong pháp luật của một số nước, có ba dạng tồn tại sau: Quỹ đầu tư theo mô hình tín thác, Quỹ đầu tư theo mô hình hợp đồng, Quỹ đầu tư theo mô hình pháp nhân [101], [102], [89]
2.1.2.1 Quỹ đầu tư theo mô hình tín thác
Trong Quỹ đầu tư mô hình tín thác có sự tham gia của các chủ thể: Người đầu tư (Bên ủy thác), Ngân hàng (Bên nhận tín thác), Công ty quản lý quỹ (Bên
Trang 4033
thụ ủy) Theo đó, Quỹ đầu tư mô hình tín thác được coi như một thỏa thuận ủy thác ba bên trong đó người đầu tư (Bên ủy thác) ủy thác vốn cho một ngân hàng
có độ tín nhiệm cao (Bên nhận tín thác) và Bên nhận tín thác chỉ định một công
ty quản lý quỹ (Bên thụ ủy) đứng ra thực hiện việc quản lý đầu tư [102, tr247]
Cơ chế này hoạt động theo sự điều chỉnh của Luật Tín thác (Trust Law)
Mô hình tín thác của Mỹ được xem là tiêu biểu Các QĐTCK đã có được một lịch sử hoạt động khá lâu đời và hình thức tín thác đầu tư (đơn vị tín thác đầu
tư UITs) là hình thức ban đầu của các QĐTCK tại Mỹ Trong hình thức này, để hình thành quỹ, một nhà tài trợ, thường là một công ty môi giới, sẽ mua một tập hợp các chứng khoán nhất định và ký gửi chúng cho một tổ chức nhận ủy thác (ví
dụ một ngân hàng) Sau đó, một số lượng cổ phần được gọi là những chứng chỉ tín thác có thể bán lại được bán ra công chúng Những chứng chỉ này đem lại cho người sở hữu nó lợi ích tương ứng mà những chứng khoán được ký gửi cho tổ chức nhận ủy thác mang lại Toàn bộ thu nhập mà tổ chức nhận ủy thác nhận được trên những chứng khoán này sẽ được trả cho người có chứng chỉ, cùng với những khoản hoàn trả vốn gốc Chỉ trong những trường hợp rất đặc biệt mới có sự thay đổi trong thành phần của tập hợp chứng khoán ban đầu, tức là mới có việc bán chứng khoán này ra và mua chứng khoán khác vào Như thế, quỹ tín thác đầu tư đơn vị không quản lý theo lối chủ động và vì thế nên các khoản phí thường niên
mà người tài trợ đòi là khá thấp (khoảng 15% giá trị tài sản ròng cho một năm) [100, tr10]
Ở Nhật, QĐTCK cũng được tổ chức dưới dạng mô hình tín thác nhưng
được hình thành với cách thức khác với mô hình tín thác ở Mỹ Các quỹ đầu tư lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật vào năm 1941 Ban đầu các quỹ đầu tư gặp nhiều khó khăn nhưng kể từ năm 1996 trở lại đây, các quỹ đầu tư đã thực sự bước vào giai đoạn phát triển ổn định và đóng một vai trò quan trọng vào sự phát triển của thị trường chứng khoán và nền kinh tế của Nhật Bản Có hai phương pháp hình
thành quỹ dạng tín thác ở Nhật: Thứ nhất, các chứng chỉ quỹ được bán cho công chúng để tạo vốn; Thứ hai, người quản lý dùng vốn của mình giao cho người lưu
giữ tài sản của quỹ tạo vốn trước, sau đó đem bán các chứng chỉ cho công chúng