với các chủ thể khác trong TTDS; - Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; tìm hiểu, so sánh với địa vị
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
VŨ THANH TUẤN
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2019
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Thị Huyền
TS Nguyễn Văn Cương
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận án đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Thanh Tuấn
Trang 4Xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, các thầy cô ở Khoa Luật, Học viện Khoa học xã hội đã chỉ bảo, góp ý, hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc tìm kiếm tư liệu cũng như nâng cao phương pháp, kỹ năng viết luận án
Xin cảm ơn các anh chị em là đồng nghiệp tại Tòa án nhân tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã cổ vũ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân và bạn
bè đã thổi lửa, tiếp sức cho tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành luận án
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Thanh Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 7
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 7
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 14
1.3 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 29
LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN 29
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM 29
2.1 Khái niệm và những thành tố cơ bản của địa vị pháp lý Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm 29
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự 29
2.2 Các yếu tố thể hiện địa vị pháp lý Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm 43
2.3 Mối liên hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với các chủ thể khác khi giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 51
2.4 Sơ lược hình thành, phát triển địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM 69
3.1 Thực trạng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 69
3.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm 104
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 123
CHƯƠNG 4 124
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 124
VÀ NÂNG CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM 124
4.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 124
Trang 64.2 Hoàn thiện quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải
quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 127
4.3 Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 134
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 142
KẾT LUẬN 143
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 145
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
PHỤ LỤC 154
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong hoạt động tư pháp, Tòa án giữ vai trò trung tâm và là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước tiến hành xét xử các vụ án Tòa án cũng được Hiến pháp quy định là cơ quan thực hiện quyền tư pháp Thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, công lý, quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được bảo vệ [39]
Theo quy định, thủ tục tố tụng dân sự được áp dụng để giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình, lao động và dân sự Trong những năm gần đây, tranh chấp về kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình, lao động và dân
sự đều tăng mạnh cả về số lượng và tính phức tạp về nội dung Điển hình là các tranh chấp kinh doanh, thương mại mà hệ thống Tòa án phải thụ lý, giải quyết năm
2018 theo thủ tục sơ thẩm là 15.439 vụ việc, tăng 1.423 vụ việc so với năm 2017 [92] Không chỉ tăng về số lượng các vụ án, tính phức tạp về nội dung ngày càng biểu hiện rõ nét Các tranh chấp không chỉ đơn thuần nằm trong một lĩnh vực nhất định mà liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau, như tranh chấp trong hoạt động đầu
tư, tài chính, ngân hàng, mua bán hàng hóa, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, nhà ở Điều đó gây không ít khó khăn, vướng mắc cho hoạt động giải quyết vụ
án của hệ thống Tòa án Mặc dù vậy, hệ thống Tòa án đã thụ lý, giải quyết khá hiệu quả nhiều tranh chấp dân sự, phần nào đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tiễn cho thấy vẫn còn không ít khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chức năng xét xử của Tòa án Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, làm cho hoạt động xét xử của Tòa án chưa thực sự hiệu quả, chưa bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế Đảng Cộng sản Việt Nam thấy được nhu cầu cải cách, hoàn thiện các cơ quan tư pháp và đã đặt ra nhiệm
vụ “cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp” từ Đại hội VIII, IX của
Trang 9Đảng Cụ thể hóa nhiệm vụ trên, cải cách tư pháp, trong đó trọng tâm là cải cách tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án đã được nhiều văn kiện của Đảng ghi nhận
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
(khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về “Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa
án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra” thể hiện rõ tinh thần ấy Thể chế hóa chủ
trương này, nhiều đạo luật và các văn bản hướng dẫn đã được ban hành, tạo hành
lang pháp lý quan trọng cho TAND thực hiện chức năng xét xử
Hoạt động của hệ thống Tòa án được thể hiện chủ yếu thông qua hoạt động xét xử của Thẩm phán Khi giải quyết vụ án, Thẩm phán tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng, kể cả khi xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (giám đốc thẩm, tái thẩm), trong đó xét xử theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự (gọi tắt là vụ án dân sự sơ thẩm) theo BLTTDS có vai trò và ý nghĩa quan trọng Khi giải quyết các
vụ án dân sự theo thủ tục thông thường, ngoài Thẩm phán, còn có sự tham gia của các HTND, nhưng vai trò của Thẩm phán vẫn có ý nghĩa quyết định hàng đầu đối với chất lượng giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm Thẩm phán phải trực tiếp lập hồ sơ
vụ án; áp dụng các biện pháp thu thập, tài liệu chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; ban hành các quyết định tố tụng và xét xử vụ án Đặc biệt, trong vụ án dân sự sơ thẩm giải quyết theo thủ tục rút gọn, xét xử không có sự tham gia của HTND, Thẩm phán là người duy nhất đưa
ra phán quyết đối với tranh chấp dân sự
Thực tế cho thấy, quá trình giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm có nhiều tình huống, vướng mắc và bất cập, gây không ít khó khăn cho Thẩm phán khi tiến hành
tố tụng Trong khi đó, địa vị pháp lý của Thẩm phán có mặt còn chưa được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ được đề cao hơn đương sự; nhiều đương sự chưa ý thức được việc chứng minh cho yêu cầu của mình; trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm chưa hợp lý Mặt khác, Thẩm phán giải quyết các vụ án dân sự vẫn còn nhiều sai sót, tình trạng vi phạm TTDS còn nhiều, tỷ lệ bản án dân sự sơ thẩm
bị hủy, sửa do lỗi chủ quan vẫn cao, một số vụ án còn để quá hạn luật định; tính chủ
Trang 10động, sáng tạo của Thẩm phán còn hạn chế; sự phối hợp giữa Thẩm phán với HTND, Thư ký chưa thực sự hiệu quả Cơ chế bảo đảm hoạt động TTDS của Thẩm phán chưa thực sự được quan tâm, hoàn thiện Nói cách khác, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong TTDS nói chung và trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm còn nhiều điểm chưa rõ cả về khía cạnh nhận thức lý luận và thực tiễn Những nguyên nhân này trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án trong lĩnh vực dân
sự, tác động không có lợi đến quyền, lợi ích của Nhà nước và nhân dân Vì vậy, nghiên cứu để nhận thức cho đúng địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ
án dân sự sơ thẩm phù hợp với yêu cầu của tình hình mới, qua đó, đề xuất hoàn thiện các quy định và cơ chế bảo đảm thực hiện hiệu quả địa vị pháp lý của Thẩm phán cùng các thủ tục giải quyết vụ án dân sự có liên quan, góp phần thực hiện mục tiêu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, bảo đảm giải quyết đúng đắn các tranh chấp dân sự (bao gồm cả kinh doanh, thương mại , phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp là hết sức cần thiết
Xuất phát từ thực tiễn và cách đặt vấn đề như vậy, tác giả lựa chọn đề tài
“Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành Luật kinh tế, mã số
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận cơ bản về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm: Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; vị trí, vai trò, cơ sở quy định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; mối liên hệ giữa Thẩm phán
Trang 11với các chủ thể khác trong TTDS;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của
Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; tìm hiểu, so sánh với địa vị pháp
lý của Thẩm phán ở một số quốc gia khác khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm;
- Làm sáng tỏ thực trạng quy định pháp luật, thực hiện pháp luật và các biện
pháp bảo đảm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm;
- Đề xuất, luận chứng yêu cầu, giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm
phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; hoàn thiện quy định pháp luật về trình
tự, thủ tục tố tụng đảm bảo cho Thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo nghĩa rộng Cụ thể:
- Các quan điểm khoa học đã được công bố ở trong và ngoài nước về địa vị pháp lý của Thẩm phán nói chung và vấn đề địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm nói riêng
- Hệ thống các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về địa vị pháp lý của Thẩm phán;
- Các quy định của pháp luật Việt Nam địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm;
- Thực tiễn áp dụng pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay;
- Pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở một số quốc gia trên thế giới;
- Các báo cáo, tổng kết tình hình thực thi pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam;
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân
sự sơ thẩm theo nghĩa rộng (gồm các vụ án kinh doanh, thương mại; hôn nhân gia
Trang 12đình; lao động và dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành, tính từ khi thụ lý vụ
án và Thẩm phán được lãnh đạo Tòa án phân công giải quyết vụ án theo quy định, đồng thời xem xét thực tiễn việc thực hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
Luận án cũng tìm hiểu các quan niệm, quy định pháp luật của một số nước
về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp phân tích lịch sử, phương pháp so sánh
và thống kê
5 Những điểm mới của luận án
- Về cách tiếp cận: Luận án không chỉ tiếp cận vấn đề địa vị pháp lý của Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay nói chung, mà tập trung nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm Địa vị pháp lý của Thẩm phán được nghiên cứu một cách toàn diện ở các khía cạnh: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo quy định của Hiến pháp, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ; các văn bản dưới luật; các án lệ của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; các bản án, quyết định dân sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật
- Luận án đưa ra khái niệm, những thành tố cơ bản và làm rõ đặc điểm của địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay
- Luận án đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay, chỉ rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm cũng như những hạn chế, thiếu sót trong quá trình áp dụng pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
Trang 13- Luận án đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án
sơ thẩm của Thẩm phán Những giải pháp đưa ra, một mặt hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán, mặt khác hoàn thiện thủ tục tố tụng giải quyết các vụ án dân sự sơ thẩm theo hướng khoa học nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng và đúng pháp luật
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận, luận án đưa ra góc nhìn toàn diện về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; xây dựng, hoàn thiện địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự và thủ tục giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
- Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay cung cấp cho các nhà nghiên cứu, cơ quan xây dựng và thực hiện pháp luật… những thông tin đáng tin cậy để phục vụ quá trình nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật Những giải pháp mà luận án đưa ra là tài liệu tham khảo hữu ích cho quá trình hoàn thiện pháp luật về
địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm nói riêng, hoàn
thiện pháp luật địa vị pháp lý của Thẩm phán nói chung Luận án có thể dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập trong chuyên ngành luật tố tụng dân sự, luật kinh tế
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu chung về Thẩm phán
1.1.1.1 Ở trong nước
- Luận án tiến sĩ luật của tác giả Lê Hải Ninh với đề tài “Các yếu tố bảo đảm
độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay” thực hiện năm 2016 tại Học viện khoa học xã
hội Trong luận án, tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về độc lập xét xử; đã đưa ra được nội hàm và tiêu chuẩn chung của từng yếu tố bảo đảm độc lập xét xử Từ
đó luận án đã đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện các yếu tố bảo đảm độc lập xét
xử Trên cơ sở lý luận, các tiêu chuẩn đưa ra và thực trạng độc lập xét xử, tác giả đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam [33]
- Luận văn “Sự độc lập của Thẩm phán - Yếu tố bảo đảm liêm chính trong
hoạt động tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu, chuyên ngành Lý luận
và lịch sử Nhà nước và pháp luật tại Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội năm
2015 Luận văn đã khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về liêm chính tư pháp và ý nghĩa của việc đảm bảo liêm chính tư pháp, trong đó tác giả đã xác định vị trí, vai trò
của Thẩm phán trong hoạt động của Tòa án “Dù nhìn nhận hoạt động tư pháp ở góc
độ nào thì hoạt động xét xử của Tòa án vẫn là quan trọng nhất trong đó chủ thể thực hiện hoạt động xét xử là Thẩm phán Thẩm phán nhân danh quyền lực Nhà nước, nhân danh công lý để đưa ra phán quyết nhằm bảo vệ trật tự, kỷ cương, công bằng và
an toàn xã hội” Luận văn đã phân tích mối liên hệ giữa độc lập của Thẩm phán và
liêm chính tư pháp, đặc biệt trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay; thực trạng độc lập của Thẩm phán đáp ứng yêu cầu bảo đảm liêm chính tư pháp trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay; quan điểm và giải pháp đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán vì liêm chính tư pháp trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam…
- Đề tài khoa học cấp bộ (2014 về “Cơ sở pháp lý đảm bảo sự độc lập xét
xử của Tòa án trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế
ở nước ta hiện nay” do PGS.TS Bùi Nguyên Khánh làm chủ nhiệm đề tài tại Viện
Nhà nước và Pháp luật, đã khái quát một số yếu tố ảnh hưởng đến sự độc lập xét xử
Trang 15của Thẩm phán, bao gồm vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án bằng sự can thiệp trái phép của cấp ủy Đảng địa phương và (hoặc chính quyền địa phương;
vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án bằng sự can thiệp trái phép của Tòa
án cấp trên, của lãnh đạo Tòa án đối với Thẩm phán trong cùng Tòa án; vi phạm nguyên tắc độc lập khi xét xử của Thẩm phán, HTND Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đưa ra giải pháp, bao gồm giải pháp hoàn thiện chế độ pháp lý đối với Thẩm phán
và những giải pháp hoàn thiện chế độ pháp lý đối với HTND
- Luận án tiến sĩ luật của tác giả Đỗ Gia Thư với đề tài “Cơ sở khoa học của
việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay” thực hiện năm 2006 tại
Viện nhà nước và pháp luật Trong luận án, tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận quan trọng về vị trí, vai trò của Thẩm phán, mục tiêu, các nguyên tắc xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở Việt Nam; thực trạng và đánh giá kết quả việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán Công trình đã chỉ ra được những yếu tố tác động đến việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán hiện nay, từ đó đưa ra được các quan điểm hoàn thiện việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán Công trình cũng đã đưa ra được các giải pháp tổng thể tăng cường xây dựng đội ngũ Thẩm phán, trong đó cần thiết phải có quy hoạch nguồn Thẩm phán, tiếp tục hoàn thiện đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật Thẩm phán, đặc biệt cần đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước đối với Thẩm phán, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng và sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với Thẩm phán
- Kỷ yếu Tọa đàm “Quy chế độc lập và cơ chế trách nhiệm của Thẩm phán”
do Nhà pháp luật Việt – Pháp (Maison du droit Vietnamo - Francaise năm 2004 Tại buổi tọa đàm, các diễn giả đã phân tích các quy định pháp luật các nước Việt Nam, Lào và Campuchia về sự độc lập và trách nhiệm của Thẩm phán Tham luận của ông Jean-Marie COULON (Chánh án danh dự Tòa Phúc thẩm Paris về tăng cường trách nhiệm của Thẩm phán và đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử
đã chỉ ra một sự cân bằng bề ngoài giữa trách nhiệm của Thẩm phán và quyền tự do xét xử Ông Jean-Marie COULON cũng xác định sự cần thiết thiết lập một sự cân bằng giữa trách nhiệm và sự tự do của Thẩm phán Tham luận của ông Alain
LACABARATS (Thẩm phán – Tòa tư pháp tối cao về “Quan niệm của các nước
Châu Âu về độc lập của Thẩm phán” đã chia sẻ kinh nghiệm xây dựng quy chế để
đảm bảo sự độc lập cho Thẩm phán Ngoài ra, các tham luận tại tọa đàm còn đưa ra
Trang 16các nội dung về việc áp dụng nguyên tắc độc lập và vô tư của Thẩm phán trong thực tiễn; một số hạn chế trong việc áp dụng nguyên tắc độc lập và vô tư của Thẩm phán; trách nhiệm của Thẩm phán và trách nhiệm của Nhà nước
- Luận văn“Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của Thẩm phán”
của tác giả Đặng Thanh Nga, chuyên ngành Tâm lý học tại Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn năm 2003 Trong nội dung luận văn, tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận về phẩm chất nhân cách của Thẩm phán, đưa ra được các khái niệm
về vị trí, quyền hạn và nghĩa vụ của Thẩm phán Tác giả đã đưa ra các nhóm phẩm chất để đánh giá nhân cách của Thẩm phán, trong đó có nhóm phẩm chất chính trị -
tư tưởng, đạo đức, chuyên môn, ý chí, năng lực tổ chức hoạt động xét xử; nhóm phẩm chất liên quan đến việc thiết lập quan hệ với những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng [31]
- Luận văn“Hoàn thiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán ở Việt Nam” của tác giả
Đỗ Gia Thư, chuyên ngành Pháp luật nhà nước – hành chính tại Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật năm 1999 Luận văn đã khái quát được vị trí, vai trò của Thẩm
phán trong hoạt động của Tòa án, “Thẩm phán là người được Nhà nước giao quyền
xét xử, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bản án Thẩm phán là người chịu trách nhiệm trước Đảng, trước Nhà nước, trước nhân dân về quyết định phán quyết của mình” [65]; sự phát triển của chế độ tuyển chọn (bổ
nhiệm Thẩm phán; chế độ bổ nhiệm theo pháp luật hiện hành; với mục đích “xây dựng một nền Tư pháp đảm bảo công lý, khách quan, công bằng, vô tư, một nền Tư pháp của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân…” tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán: Giải quyết nguồn Thẩm phán; các điều kiện, tiêu chuẩn và chế độ chính sách của Thẩm phán; vấn đề nhiệm kỳ của Thẩm phán; tăng cường thẩm quyền của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán; cải tiến thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, thuyên chuyển, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán…
- Cuốn sách “Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
(2013) của TS Bùi Thị Huyền do Nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành Cuốn sách đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự, mà ở đó Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa – là người điều hành và cùng với các thành viên của HĐXX tuyên một bản án chính xác về nội dung và pháp luật [21] Cuốn sách đã làm rõ những nội dung về lý luận và pháp luật hiện hành về
Trang 17phiên tòa sơ thẩm, đặc biệt đã đưa ra các giải pháp về hoàn thiện pháp luật; hoàn thiện việc thực hiện pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự, trong đó tác giả đề xuất việc bỏ tiền lệ “bàn án” và cần thiết phải công khai phán quyết của Tòa án…
1.1.1.2 Ở nước ngoài
Luận án tiến sĩ của tác giả Tô Văn Hòa với đề tài “Tính độc lập của Tòa án –
Nghiên cứu pháp lý về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam
và các kiến nghị đối với Việt Nam” thực hiện năm 2006 tại Đại học tổng hợp Lund -
Thụy Điển Trong luận án, tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận quan trọng về tính độc lập và các yếu tố cơ bản bảo đảm tính độc lập của Tòa án Luận án đã nghiên cứu tính độc lập của Tòa án ở Đức, Mỹ, Pháp và Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đã đưa ra khái niệm về tính độc lập của Tòa án ở Việt Nam; các khía cạnh chính của nguyên tắc độc lập Tòa án ở Việt Nam Tác giả đưa ra các kiến nghị bao gồm: Sự bảo đảm hiến định; trách nhiệm bồi thường oan sai; trách nhiệm của Thẩm phán; nhiệm kỳ và phương thức tuyển dụng Thẩm phán; các biện pháp kỷ
luật Thẩm phán; vấn đề “duyệt án”; thu nhập của Thẩm phán; vai trò lãnh đạo của
Đảng và tính độc lập của Tòa án
- Cuốn sách “Freedom of expression and the criticism of Judges”(2000) (Tạm
dịch: Tự do ngôn luận và những chỉ trích của các Thẩm phán) của tác giả MICHAEL K.ADDO, Giảng viên trường Đại học Exeter – Vương quốc Anh Đây là nghiên cứu
so sánh các tiêu chuẩn pháp lý châu Âu Nội dung cuốn sách đề cập sự hoạt động tư pháp một số nước châu Âu, bao gồm: Sự độc lập của tư pháp có thể chống lại sự chỉ trích không; sự chỉ trích đối với Tòa án Anh và xứ Wale – hệ thống luật Common Law; hoạt động Thẩm phán tại các nước Đức, Úc, Bỉ, Pháp, Đan Mạch; ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử đến hoạt động tư pháp ở Hà Lan, Ý và Hy Lạp; hệ thống pháp
lý trong thời kỳ quá độ; ảnh hưởng của Công ước châu Âu về quyền con người [30]
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự
1.1.2.1 Ở trong nước
- Luận văn “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự ở Việt Nam ” của tác giả Nguyễn Bích Thảo chuyên ngành Luật dân sự
và tố tụng dân sự tại khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội năm 2008 Phần thứ nhất của Luận văn, tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm
Trang 18phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, trong đó tác giả đã đưa ra khái
niệm về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong khoa học TTDS là“tổng thể các quyền
và nghĩa vụ tố tụng của Thẩm phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự do pháp luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệ với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự”; các yếu tố quy định và chi phối việc
xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; mối quan hệ giữa Thẩm phán với các chủ thể khác khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm Trong phần thứ hai, luận văn đã khái quát địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật hiện hành của luận văn Tại phần thứ ba, tác giả đã nêu ra thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và các kiến nghị, trong đó có kiến nghị về cải cách tư pháp để hoàn thiện quy định pháp luật; các biện pháp bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán
- Luận văn“Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố
tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Huyền, chuyên ngành Luật TTDS tại
Đại học Luật Hà Nội năm 2001 Luận văn đã khái quát được vị trí, vai trò của Thẩm
phán trong bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam, “Trong hoạt động xét xử của
Tòa án, Thẩm phán là nhân vật trung tâm…thông qua việc xét xử các vụ việc dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động; bản án do Thẩm phán tuyên đã lập lại trật tự của các quan hệ xã hội dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động theo đúng qui định của pháp luật, từ đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức”; sự phát triển của vị trí, vai trò Thẩm phán trong TTDS Việt Nam;
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS theo pháp luật hiện hành; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS một số nước trên thế giới Tác giả đã đưa ra được cơ sở lý luận để xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong TTDS là đường lối đổi mới của Đảng về cải cách hành chính, cải cách tư pháp; cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán
Từ đó, luận văn đã đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Thẩm phán…
- Luận văn “Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm” của tác
giả Phương Thảo chuyên ngành Luật dân sự và TTDS tại khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội năm 2006 Luận văn đã làm rõ được những vấn đề chung về thủ tục xét
Trang 19xử các vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm; các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm Trong phần kiến nghị, tác giả luận văn đã đưa ra một số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật TTDS; kiến nghị về hướng dẫn áp dụng pháp luật về thủ tục xét xử các vụ án dân sự về người tiến hành tố tụng, nội quy phiên tòa, quy chuẩn phòng xử án, vị trí ngồi của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Đối với kiến nghị nâng cao năng lực Thẩm phán, Luận văn
xác định “trình độ của Thẩm phán có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xét xử nói
chung, hoạt động cải cách tư pháp nói riêng Trình độ Thẩm phán được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ chính trị, tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiêp” [62] Vấn đề nâng cao vị thế của
Thẩm phán, tác giả đã đưa ra một loạt các giải pháp bao gồm việc tuyển chọn Thẩm phán, việc bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ và giám sát hoạt động của Thẩm phán Bên
cạnh “chuẩn hóa” đội ngũ Thẩm phán, luận văn cũng kiến nghị “chuẩn hóa” đội
ngũ HTND, Luật sư, Thư ký tòa án
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Luật Hà Nội về “Hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng cải cách tư pháp“ (năm 2010 do TS Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm Đề tài đã phân tích thực
trạng pháp luật TTDS Việt Nam về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật theo yêu cầu cải cách tư pháp, bao gồm:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật TTDS trong mối liên hệ với truyền thống lập pháp, đặc điểm văn hóa, tâm lý dân tộc với thành tựu khoa học tố tụng trên thế giới;
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu về bảo đảm quyền tiếp cận công lý;
Thứ ba, đáp ứng yêu cầu về đảm bảo quyền tranh tụng;
Thứ tư, pháp luật TTDS phải thể hiện được tính mềm dẻo, linh hoạt và hiệu quả theo định hướng cải cách tư pháp
Trên cơ sở tham khảo các mô hình tố tụng một số quốc gia trên thế giới, đề tài đã đưa ra một số kiến nghị về thực hiện quyền, nghĩa vụ của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm như cần xây dựng thủ tục rút gọn; xây dựng quy định để chuyển hóa từ việc dân sự sang vụ án dân sự; quy định tranh tụng là một nguyên tắc của TTDS; sự cần thiết phải khôi phục cơ chế xét xử một Thẩm phán khi tiến hành giải quyết một số vụ án dân sự
Trang 20- Luận văn “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố
tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hằng chuyên ngành Luật dân sự tại
khoa Luật Trường Đại học quốc gia năm 2013 Luận văn đã đưa ra được khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS; cơ sở quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán, vị trí, vai trò của Thẩm phán
và ý nghĩa của việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS Việt Nam Luận văn đã phân tích cơ bản các quy định pháp luật
về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán theo pháp luật hiện hành Tác giả đã đưa ra một số vướng mắc và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán, theo hai nội dung là kiến nghị hoàn thiện pháp luật và kiến nghị hoàn thiện các biện pháp bảo đảm thực hiện đầy đủ nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS [10]
- Luận văn tốt nghiệp “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán
trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Lê Thị Thúy Nga chuyên ngành Luật tố
tụng dân sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012 Luận văn đã đưa ra được khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS; vị trí, vai trò của Thẩm phán và ý nghĩa của việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS Việt Nam Luận văn đã phân tích cơ bản các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo pháp luật hiện hành Tại phần thứ ba của Luận văn, tác giả đã đưa ra một số vướng mắc và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán [32]
- Các tham luận tại Tọa đàm “Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi
và tranh tụng - Kinh nghiệm của nước Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm và quản lý Thẩm phán” do Nhà pháp luật Việt - Pháp (Maison du droit
Vietnamo - Francaise năm 2002 Tại buổi tọa đàm, bà Elisabeth PELSEZ (Thẩm phán tại Tòa Phúc thẩm Rouen đã làm rõ hai hình thức tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi, những ưu nhược điểm của hai loại hình tố tụng; sự kết hợp tố tụng tranh tụng với tố tụng xét hỏi Ông Christian RAYSSEGUIER (Viện trưởng Viện Công tố tại Tòa Phúc thẩm Rouse đã phân tích nội dung quy định về quản lý Thẩm phán tại Pháp, các cơ quan quản lý Thẩm phán; nguyên tắc tuyển chọn, đào tạo Thẩm phán; sự khác nhau giữa Thẩm phán xét xử và công tố; việc bổ nhiệm Thẩm phán, thuyên chuyển công tác; kỷ luật Thẩm phán [37]
Trang 211.1.2.2 Ở nước ngoài
- Cuốn sách “Luật 101 mọi điều bạn cần biết về pháp luật Hoa Kỳ”của GS
JAY M.FEINMAN (bản dịch, 2012) do Nhà xuất bản Hồng Đức phát hành đã nêu
và đánh giá nhiều nội dung liên quan đến pháp luật của Hoa Kỳ, trong đó có phân tích về thủ tục TTDS và tranh tụng dân sự; thẩm quyền của Tòa án; việc chứng minh của các đương sự Đặc biệt tác giả đã nêu rõ được vai trò của Hội thẩm đoàn trong việc đưa ra phán quyết các vụ việc dân sự; những trường hợp vụ kiện được xét xử bởi Thẩm phán mà không cần Hội thẩm đoàn; Thẩm phán kiểm soát Hội thẩm đoàn bằng những cách thức nào…
- Bản nghiên cứu chung Việt – Nhật “Về việc phát triển án lệ tại Việt Nam”
do JICA thực hiện năm 2007 (Bản dịch đã khái quát chung về hệ thống án lệ, theo
đó Thẩm phán tiến hành xét xử không mâu thuẫn với quan điểm pháp lý được thể hiện trong phần xét xử của Tòa án cấp cao nhất của một nước đối với các vụ án tương tự đã làm rõ hai hình thức tố tụng Bản nghiên cứu đã chỉ ra mục đích hệ
thống án lệ là “áp dụng thống nhất pháp luật” [25], lý do cần phải áp dụng thống
nhất pháp luật là thực hiện nguyên tắc pháp quyền; đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật; bảo đảm khả năng dự đoán của người dân và sự phát triển kinh tế thị trường; ngăn chặn sự duy ý chí của Thẩm phán; giúp Thẩm phán yên tâm xét xử và giúp nâng cao năng lực xét xử của Thẩm phán Bản nghiên cứu cũng đưa ra các tiêu chí để lựa chọn án lệ; phương pháp tra cứu án lệ; cách thức công khai tập án lệ giúp các Thẩm phán áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự
- Cuốn sách “Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga” (bản dịch 2005) do Nhà
xuất bảnTư pháp phát hành Cuốn sách chuyên khảo đã nêu các quy định pháp luật của Liên bang Nga về TTDS, bao gồm: Các quy định cơ bản; thành phần xét xử và những tình tiết loại trừ việc tham gia tố tụng; thẩm quyền xét xử; người tham gia tố tụng; đại diện trong tố tụng chứng cứ và chứng minh… Đặc biệt, cuốn sách đã nêu cụ thể các quy định về trình tự thủ tục tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi tiến hành các thủ tục tố tụng giải quyết vụ việc dân sự sơ thẩm…
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.1 Những kết quả đạt được của hoạt động nghiên cứu
Qua nghiên cứu các tài liệu, công trình có liên quan đến đề tài ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam, có thể đánh giá khái quát như sau:
Trang 221.2.1.1 Về lý luận
Các công trình nêu trên đã nghiên cứu các vấn đề chung về địa vị pháp lý của Thẩm phán đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đang đặt ra đối với hệ thống Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng Các công trình này góp phần nâng cao nhận thức lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán:
Thứ nhất, bước đầu đưa ra khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong
giải quyết vụ án dân sự ở Việt Nam: Nhiệm vụ của Tòa án là thực hiện việc xét xử,
giải quyết các loại vụ việc phát sinh từ các quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình, dân
sự, lao động, kinh doanh, thương mại Để thực hiện nhiệm vụ đó, pháp luật xác định
và trao cho Thẩm phán vai trò quan trọng trong việc xét xử các loại vụ án Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn Luật định được Chủ tịch nước bổ nhiệm
để làm nhiệm vụ xét xử Khái niệm chung về Thẩm phán được nghiên cứu, đề cập ở nhiều góc độ khác nhau trong các công trình nghiên cứu Tác giả Đỗ Gia Thư cho
rằng “Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xử các vụ án
và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, ra các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước” [64] Tác giả Nguyễn Thị Thu cho rằng Thẩm phán là
“những người làm công tác xét xử chuyên nghiệp, được tuyển chọn theo một quy
trình chặt chẽ, làm việc thường xuyên trong cơ quan tòa án, thực hiện nhiệm vụ xét
xử nhân danh Nhà nước” [63]
Theo từ điển Luật học (2006 , địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Trong luận văn thạc sĩ năm 2008 về
“Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Việt
Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Bích Thảo đã đưa ra khái niệm “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các quyền và nghĩa vụ tố tụng của Thẩm phán phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự do pháp luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệ với các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự” Tuy nhiên, các khái niệm được xây dựng
trên cơ sở Thẩm phán là một chủ thể của pháp luật TTDS, với những quyền và nghĩa vụ nhất định, chưa nghiên cứu để xác định trách nhiệm khi thực hiện quyền
và nghĩa vụ đó, bao gồm trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán về hành chính (kỷ luật , hình sự và trách nhiệm hoàn trả khi giải quyết vụ án không chính xác, gây
Trang 23thiệt hại… Do đó, khái niệm này sẽ được nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu làm
rõ trong luận án của mình
Thứ hai, xác định được nội dung địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải
quyết vụ án dân sự sơ thẩm và các yếu tố chi phối:
Một là, xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm không chỉ trên cơ sở quy định cụ thể của BLTTDS, mà còn căn cứ vào vị trí, vai trò của Thẩm phán trong việc thực hiện chức năng xét xử - yếu tố
quan trọng của quyền tư pháp Đề tài “Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ
Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Đỗ Gia Thư xác định những yếu tố chi
phối việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán bao gồm: Sự chi phối của yếu tố kinh tế; sự chi phối của yếu tố chính trị; sự chi phối của yếu tố văn hóa và sự chi phối của yếu tố toàn cầu hóa [64]
Một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá địa vị pháp lý của Thẩm
phán là “sự độc lập” khi tiến hành tố tụng Luận án “Sự độc lập của Thẩm phán –
yếu tố bảo đảm liêm chính trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Thị Thu đã đưa ra các yếu tố đảm bảo cho sự độc lập của Thẩm phán đó là bảo đảm bằng hệ thống những nguyên tắc pháp lý; mô hình tổ chức của hệ thống Tòa án; ngân sách của Tòa án và hoạt động xét xử; nhiệm kỳ của Thẩm phán; chế
độ đãi ngộ; đảm bảo an toàn, anh ninh cá nhân và thân nhân của Thẩm phán; tiêu chí và quy trình tuyển chọn Thẩm phán
Tác giả Tô Văn Hòa trong “Tính độc lập của Tòa án – Nghiên cứu pháp lý về
các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam” đã đưa ra một cái nhìn tổng quan hơn về sự độc lập của Tòa án, ở đó
Thẩm phán là trung tâm để thực hiện nhiệm vụ xét xử Tác giả đã đưa ra những kiến nghị bao gồm: Sự bảo đảm hiến định; trách nhiệm bồi thường oan sai; trách nhiệm của Thẩm phán; nhiệm kỳ và phương thức tuyển dụng Thẩm phán; các biện pháp kỷ luật Thẩm phán; vấn đề duyệt án; thu nhập của Thẩm phán; vai trò lãnh đạo của
Đảng và tính độc lập của Tòa án
Nghiên cứu “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Bích Thảo xác định các yếu tố
quy định và chi phối việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán là quan niệm về quyền tư pháp; đặc thù của hoạt động xét xử; đặc điểm của TTDS; tính chất của xét
Trang 24xử sơ thẩm vụ án dân sự
Hai là, mối quan hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với các chủ thể khác
trong TTDS Trong nghiên cứu “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay” đã đề cập quan hệ giữa Thẩm phán và
các chủ thể khác trong TTDS được thể hiện thông qua hai nhóm: Quan hệ giữa Thẩm phán với những người tiến hành tố tụng khác và quan hệ giữa Thẩm phán với những người tham gia tố tụng
Các công trình nghiên cứu trên cơ bản đã đưa ra các tiêu chí và các yếu tố chi phối rộng, hẹp khác nhau để xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết
vụ án dân sự sơ thẩm Tuy nhiên, các công trình chỉ mới dừng lại ở việc đưa ra các
“yếu tố chung” để xác định địa vị của Thẩm phán hoặc của Thẩm phán trong TTDS
Các nghiên cứu chưa hệ thống một cách đầy đủ các yếu tố cụ thể xác định địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm Với nội dung này, luận án
sẽ tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở kế thừa có sửa đổi, bổ sung những kết quả nghiên cứu của các công trình đã đề cập
1.2.1.2 Về thực trạng
- Thực trạng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
Các công trình nghiên cứu đã phân tích các quy định pháp luật về địa vị pháp
lý của Thẩm phán nói chung và theo pháp luật TTDS nói riêng Trong nghiên cứu
“Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hằng đã xác định thực trạng quy định pháp luật theo
hướng liệt kê các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong quá trình Thẩm phán giải quyết
vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2004 Tác giả TS Bùi Thị Huyền
nghiên cứu “Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã đưa
ra những yêu cầu của việc hoàn thiện và thực hiện pháp luật; một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật và các giải pháp thực hiện pháp luật về phiên tòa sơ thẩm Với
một cách tiếp cận tổng quát hơn, nghiên cứu “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Bích
Thảo đã phân tích quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự bao gồm các nội dung: Địa vị pháp lý của Thẩm phán thể hiện qua các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS; thể hiện ở nhiệm
Trang 25vụ, quyền hạn của Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng khác; thể hiện ở các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và hòa giải vụ án dân sự trước phiên tòa sơ thẩm; thể hiện ở các quy định phiên tòa sơ thẩm dân sự Trong đề tài khoa học
cấp trường Đại học luật Hà Nội (2010 về“Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục
giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng cải cách tư pháp” do TS Trần Anh Tuấn đã
xác định pháp luật TTDS chưa đáp ứng được yêu cầu về đảm bảo sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu khoa học tố tụng trên thế giới phù hợp truyền thống lập pháp, đặc điểm văn hóa, tâm lý dân tộc; chưa đáp ứng yêu cầu về bảo đảm quyền tiếp cận công lý; chưa đáp ứng yêu cầu về đảm bảo quyền tranh tụng; pháp luật TTDS chưa thể hiện được tính mềm dẻo, linh hoạt và hiệu quả theo định hướng cải cách tư pháp
Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ bước đầu phân tích các quy định pháp luật mà thiếu sự đánh giá toàn diện Đặc biệt các nghiên cứu còn chưa phân tích sâu
về các quy định xác định trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán với tư cách là một trong những nội dung quan trọng trong địa vị pháp lý của Thẩm phán Thêm vào đó, hiện nay các quy định pháp luật về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý và vị trí vai trò của Thẩm phán có nhiều thay đổi theo Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014, BLTTDS năm 2015… Các nghiên cứu đã dẫn trước đây chưa có điều kiện cập nhật để phân tích, đánh giá các quy định mới vừa nêu Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu để phân tích, đánh giá tính phù hợp trong các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam hiện hành là cần thiết
- Thực trạng thực hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay:
Về những thành tựu: Các nghiên cứu đề cập trực tiếp đến địa vị pháp lý của
Thẩm phán đều xác định việc xét xử các vụ án dân sự của Tòa án đã góp phần giải quyết được những tranh chấp, giải quyết được mâu thuẫn và đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản của các đương sự Có được những thành công đó, một phần là do Nhà nước đã triển khai thực hiện việc cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án [6], đã xây dựng thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thống nhất, khoa học Quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán ngày càng hoàn thiện Quá trình giải quyết vụ án dân sự, nhiều Thẩm phán đã nỗ lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền hạn và trách
Trang 26nhiệm; nhìn chung, chất lượng giải quyết các vụ án dân sự ngày càng được nâng cao;
sự độc lập của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự ngày càng được cải thiện; số lượng và chất lượng Thẩm phán được củng cố và tăng cường
Về những hạn chế:
Luận án về “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Bích Thảo đã chỉ ra một số hạn
chế, trong việc thực hiện các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử các vụ án dân sự, ở khía cạnh vi phạm nguyên tắc cơ bản của luật TTDS; những bất cập trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trước
và tại phiên tòa [61]
Một trong những thành tố quan trọng để đánh giá địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự là sự độc lập xét xử Đề tài khoa học cấp bộ
(2014 về “Cơ sở pháp lý đảm bảo sự độc lập xét xử của Tòa án trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay” do PGS.TS
Bùi Nguyên Khánh làm chủ nhiệm đã khái quát một số biểu hiện vi phạm sự độc lập xét xử của Thẩm phán bao gồm: sự can thiệp trái phép của cấp ủy Đảng địa phương và (hoặc chính quyền địa phương; sự can thiệp trái phép của Tòa án cấp trên, của lãnh đạo Tòa án đối với Thẩm phán trong cùng Tòa án
Tác giả Nguyễn Thị Hằng trong luận văn “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Việt Nam” đã chỉ ra một số vướng mắc,
hạn chế về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán bao gồm: Chưa bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử ở một số nơi, trong một số vụ án; tình trạng vi phạm thủ tục tố tụng khi giải quyết vụ án dân sự; hạn chế khi thu thập chứng cứ; nhiều bản án quyết định không phù hợp về nội dung và hình thức; chất lượng Thẩm phán còn hạn chế [10]
Các nghiên cứu cơ bản đã chỉ rõ những hạn chế khi Thẩm phán thực hiện việc giải quyết các vụ án dân sự sơ thẩm Tuy nhiên, các đánh giá mới chỉ dừng lại
ở việc xem xét địa vị pháp lý của Thẩm phán nói chung, chưa đánh giá thực trạng thực hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán với vụ án dân sự sơ thẩm, đồng thời, các nghiên cứu hầu hết được thực hiện trước thời điểm ban hành Hiến pháp năm 2013
và các đạo luật về tổ chức Tòa án, về tố tụng ban hành năm 2014 và 2015 Do đó, các nghiên cứu trước đây chưa có điều kiện để đánh giá thực trạng những quy định
Trang 27của Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật có liên quan mới được ban hành, có thực
sự cải thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử các vụ án dân sự sơ thẩm như thực tiễn yêu cầu hay không Với nội dung này, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình đã đề cập
1.2.1.3 Về giải pháp
Trên cơ sở thực trạng đã phân tích, các nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện trên thực tế về địa vị pháp lý của Thẩm
phán Trong “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân
sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hằng đã đưa ra giải pháp cải cách tư pháp và vấn
đề hoàn thiện các quy định pháp luật về vị trí vai trò của Thẩm phán; về trách nhiệm của Thẩm phán khi tiến hành tố tụng; hoàn thiện các quy định BLTTDS Với những
giải pháp tổng thể hơn, tác giả Nguyễn Bích Thảo trong “Địa vị pháp lý của Thẩm
phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay” đã đưa ra giải
pháp cải cách tư pháp và vấn đề hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán Trong kiến nghị về hoàn thiện pháp luật, tác giả đã đề xuất sửa đổi, bổ sung BLTTDS, Luật tổ chức Tòa án nhân dân Đồng thời tác giả cũng kiến nghị về các biện pháp bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán
Để tăng cường địa vị pháp lý của Thẩm phán nói chung, tác giả Đỗ Gia Thư
trong “Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay”
đã đưa ra một loạt các giải pháp xây dựng tiêu chuẩn, quy trình để quy hoạch, tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế và đảm bảo tốt nhất quyền và nghĩa vụ của nhân dân
Đối với giải pháp về sự độc lập của Thẩm phán khi giải quyết các vụ án, đề
tài khoa học cấp bộ về “Cơ sở pháp lý đảm bảo sự độc lập xét xử của Tòa án trong
điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay”
đã đưa ra hai nhóm giải pháp, một là nhóm giải pháp hoàn thiện về mặt tổ chức bao gồm: Xác định rõ nội dung và phạm vi của quyền tư pháp; đổi mới về nhận thức và phương thức tổ chức hệ thống tài phán tư pháp ở nước ta hiện nay; đổi mới về nhận thức và phương thức giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đối với hoạt động
tư pháp; đổi mới về cơ chế quản lý Tòa án địa phương; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác xét xử; đổi mới cơ chế đảm bảo kinh phí hoạt động của Tòa án nhân dân Hai là, nhóm giải pháp về mặt con người, bao gồm giải pháp
Trang 28hoàn thiện chế độ pháp lý đối với Thẩm phán và những giải pháp hoàn thiện chế độ
pháp lý đối với HTND Cũng xem xét yếu tố độc lập xét xử, nghiên cứu “Sự độc
lập của Thẩm phán – Yếu tố bảo đảm liêm chính trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam” đã đưa ra những giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; đảm bảo
pháp lý cho sự độc lập của Thẩm phán; nhóm giải pháp về tổ chức quyền lực và tổ chức bộ máy nhà nước; nhóm giải pháp đảm bảo, nâng cao chất lượng Thẩm phán
về năng lực và đạo đức; về giám sát, kỷ luật Thẩm phán Trong đề tài “Tính độc lập
của Tòa án – Nghiên cứu pháp lý về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam” tác giả Tô Văn Hòa đã đưa ra
những kiến nghị cần áp dụng ngay là sự bảo đảm hiến định; trách nhiệm bồi thường oan sai; trách nhiệm của Thẩm phán; nhiệm kỳ và phương thức tuyển dụng Thẩm phán; các biện pháp kỷ luật Thẩm phán; vấn đề duyệt án; thu nhập của Thẩm phán; vai trò lãnh đạo của Đảng và tính độc lập của Tòa án Ngoài ra, tác giả còn đưa ra các kiến nghị mang tính lâu dài về thẩm quyền xét xử của Tòa án; quyền giải thích pháp luật; quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ các văn bản pháp luật của Tòa án; về thỉnh án và sự lệ thuộc của Tòa án cấp dưới vào Tòa án cấp trên
Về giải pháp liên quan đến TTDS, trong nghiên cứu “Hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng cải cách tư pháp”-
Đề tài khoa học cấp trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra giải pháp đảm bảo sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu khoa học tố tụng trên thế giới phù hợp truyền thống lập pháp, đặc điểm văn hóa, tâm lý dân tộc; bảo đảm quyền tiếp cận công lý; đảm bảo quyền tranh tụng; pháp luật TTDS phải thể hiện được tính mềm dẻo, linh hoạt
và hiệu quả theo định hướng cải cách tư pháp
Các công trình này cũng giúp cho tác giả rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu để thực hiện luận án một cách hiệu quả, đưa ra yêu cầu, giải pháp có tính thực tiễn áp dụng trong điều kiện thực tiễn ở nước ta hiện nay, đáp ứng quan điểm chỉ đạo mới của Đảng về công tác tư pháp, phù hợp với những quy định mới của Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và BLTTDS năm 2015
1.2.2 Những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Qua việc phân tích tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, nghiên cứu sinh cho rằng, luận án sẽ vừa tiếp thu những luận điểm khoa học đúng đắn mà các công trình đi trước đã đóng góp, vừa phải tiếp tục nghiên cứu
Trang 29hoàn thiện những luận điểm khoa học chưa được nghiên cứu thấu đáo Đồng thời, luận án sẽ tiếp tục đưa ra những luận điểm khoa học mới góp phần nâng cao nhận thức lý luận và thực tiễn làm cơ sở hoàn thiện những quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm Cụ thể luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau đây:
1.2.2.1 Về phương diện lý luận
- Thứ nhất, luận án sẽ đưa ra khái niệm “địa vị pháp lý của Thẩm phán trong
giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay” phù hợp với quan niệm mới
của Hiến pháp năm 2013 về vai trò, vị trí của Tòa án và Thẩm phán, quan niệm mới
về quyền tư pháp Luận án cũng hướng tới việc xác định được nội hàm về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam hiện hành
- Thứ hai, luận án sẽ đưa ra các yếu tố thể hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam hiện hành Các yếu
tố này quy định vị trí, vai trò của Thẩm phán, cũng như nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
- Thứ ba, so sánh địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay với địa vị của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và vụ án hình sự Luận án cũng làm rõ địa vị pháp
lý của những người tiến hành tố tụng khác (HTND, Kiểm sát viên, Thẩm tra viên, Thư ký trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay, cũng như mối quan
hệ giữa Thẩm phán và các chủ thể đó
- Thứ tư, trong luận án, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu những quy định pháp luật Việt Nam qua các thời kì, cùng với sự so sánh quốc tế cần thiết, để xác định cơ sở pháp lý cho việc xác định và áp dụng địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm trong từng giai đoạn
1.2.2.2 Về phương diện thực tiễn
- Luận án sẽ nghiên cứu những quy định mà Hiến pháp và pháp luật về địa vị pháp lý chung của Thẩm phán như tiêu chuẩn, điều kiện để bổ nhiệm, miễn nhiệm Thẩm phán; thẩm quyền bổ nhiệm, thời hạn bổ nhiệm; các chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán nói chung Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để xác định vị trí vai trò của Thẩm phán so với các chủ thể khác trong cơ quan Nhà nước mà các nghiên
Trang 30cứu trước đây chưa đề cập đầy đủ
- Luận án sẽ phân tích cụ thể các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm Các nghiên cứu trước đều xem xét khi BLTTDS 2015 chưa có hiệu lực, vì vậy các nội dung mới của BLTTDS năm 2015 chưa được đánh giá, nghiên cứu như: Quy trình giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; nguyên tắc tranh tụng; việc tổ chức phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; các căn cứ đình chỉ… Từ đó, luận án sẽ đánh giá ưu điểm, cũng như nhược điểm của quy định pháp luật, thực trạng pháp luật trong việc Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm và so sánh nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm với Thẩm phán của một số quốc gia khác
Luận án cũng tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo pháp luật Làm rõ các nguyên nhân của những hạn chế, bất cập khi Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
1.2.2.3 Về giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
Các công trình nhiên cứu về địa vị pháp lý Thẩm phán nói chung và trong việc giải quyết vụ án dân sự nói riêng đã đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật
và đề xuất một số biện pháp đảm bảo thực hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán Tuy nhiên, các giải pháp hoàn thiện pháp luật cơ bản đã được bổ sung và quy định trong BLTTDS năm 2015, Luật tổ chức Tòa án năm 2014 Đánh giá thực tiễn thực hiện BLTTDS năm 2015, nghiên cứu sinh sẽ đề xuất những giải pháp mới nhằm hoàn thiện hơn các quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán, đồng thời kiến nghị một quy trình giải quyết vụ án dân sự phù hợp với từng loại vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh thương mại…
Đối với nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự, luận án sẽ đưa ra các giải pháp tổng thể về địa vị pháp lý của Thẩm phán nói chung; giải pháp về nâng cao trình độ, năng lực của Thẩm phán; hoàn thiện vị trí, vai trò của HTND, Kiểm sát viên, Thẩm tra viên, Thư ký tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án dân sự; sự tham gia bắt buộc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong một số vụ án dân sự… Để thực hiện các mục tiêu trên tác giả sẽ thực hiện và làm rõ trong chương 4 của luận án
Trang 311.3 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Cơ sở lý thuyết
Địa vị pháp lý của Thẩm phán nói chung và trong TTDS nói riêng là một trong những nội dung quan trọng khi hoàn thiện pháp luật về Tòa án nhân dân, đặc biệt là trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang triển khai mạnh mẽ chủ trương cải cách tư pháp
Các câu hỏi nghiên cứu về lý luận được đặt ra là:
- Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm là gì?
- Các yếu tố thể hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án
dân sự sơ thẩm là gì?
- Mối quan hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân
sự sơ thẩm với các chủ thể khác trong TTDS như thế nào?
Dựa trên những câu hỏi nghiên cứu v a nêu, giả thiết được đặt ra là:
- Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về địa vị pháp lý của Thẩm phán
nói chung, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong lĩnh vực cụ thể như: Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án hình sự; trong khoa học luật tố tụng hình sự, luật TTDS…Tuy nhiên, các quan niệm này đều có ưu, nhược riêng và đều cần tiếp tục được hoàn thiện
- Việc nghiên cứu và chỉ ra được các yếu tố thể hiện địa vị pháp lý của Thẩm
phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm có ý nghĩa trong việc xác định vị trí, vai trò của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, những yếu tố tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động tố tụng, phán quyết của Thẩm phán Các yếu tố này
có thể là yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội, quan niệm về quyền tư pháp, quan niệm,
kỳ vọng của xã hội về vai trò của Thẩm phán…
- Để xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong mối tương quan của
TTDS, cần phải xem xét địa vị của những người tiến hành tố tụng khác như HTND, Kiểm sát viên, Thẩm tra viên… cũng như địa vị pháp lý của những người tham gia
tố tụng khác theo pháp luật TTDS
Các câu hỏi nghiên cứu về thực trạng được đặt ra là:
- Thực trạng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải
quyết vụ án dân sự sơ thẩm hiện nay như thế nào?
- Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán
Trang 32trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm như thế nào?
- Thực trạng các yếu tố bảo đảm để Thẩm phán thực hiện địa vị pháp lý trong
giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm như thế nào?
Dựa trên những câu hỏi nghiên cứu v a nêu, giả thiết được đặt ra là:
- Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
được quy định cụ thể trong Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, BLTTDS… Địa vị pháp lý của Thẩm phán bao gồm các quy định về vị trí, vai trò của Thẩm phán; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm Tuy nhiên, quy định pháp luật còn chưa đầy đủ; một số quy định thiếu hợp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp mà Đảng đã đề ra
- Trên cơ sở các quy định pháp luật, việc Thẩm phán thực hiện (chấp hành
các quy định đó như thế nào để giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; những sai sót do khách quan hoặc chủ quan Luận án tổng hợp những sai sót điển hình của Thẩm phán khi thực thi công vụ…
- Xác định các yếu tố bảo đảm để Thẩm phán thực hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán và thực trạng các yếu tố đó tác động như thế nào đến việc giải quyết vụ
án dân sự của Thẩm phán
Câu hỏi nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện pháp luật được đặt ra là: Với
những hạn chế và bất cập đã được nhận diện, cần có những yêu cầu và giải pháp gì cho việc nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự
sơ thẩm? Giải pháp gì cần thực hiện để giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm nhanh chóng, thuận tiện, đúng pháp luật và phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế?
Dựa trên câu hỏi nghiên cứu v a nêu, giả thiết được đặt ra là: Hiện nay
quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự
sơ thẩm còn những bất cập, bất hợp lý Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán còn có nhiều sai sót, áp dụng không đúng pháp luật Các biện pháp bảo đảm để Thẩm phán giải quyết vụ án chưa được quan tâm Những hạn chế đó tác động lớn đến quyền và lợi ích của đương sự, người tham gia tố tụng khác, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, cũng như hội nhập quốc tế
Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, lý thuyết nghiên cứu mà luận
án sử dụng là: Lý luận của chuyên ngành Luật dân sự, TTDS, xã hội học pháp luật,
Trang 33triết học pháp luật Đây là những lĩnh vực khoa học cung cấp nền tảng lý luận, thực tiễn cho luận án
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê-nin, Luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý Cụ thể:
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Phương pháp này được áp dụng để tìm
hiểu sự hình thành và phát triển cơ sở pháp lý địa vị pháp lý của Thẩm phán nói chung; địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; tìm hiểu sự phát triển nhận thức lý luận và quan điểm của Đảng về địa vị pháp lý của Thẩm phán (chương II
Phương pháp tổng hợp: Được áp dụng để hệ thống hoá các quan điểm về địa
vị pháp lý của Thẩm phán và cách thức phân loại các yếu tố xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; tìm hiểu các quy định về địa vị pháp
lý của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở một số quốc gia; đưa ra khái niệm về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam hiện hành (chương I và chương II
Phương pháp so sánh: Được áp dụng để đối chiếu các quy định pháp luật của
Việt Nam với quy định pháp luật của liên bang Nga, Mỹ, Anh và Pháp về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm (chương II) Từ đó, đánh giá sự hợp lý, phù hợp của quy định pháp luật nước ta và các nước khác về địa vị pháp lý của Thẩm phán (chương III
Phương pháp phân tích: Được sử dụng để xác định và đánh giá các quy định
pháp luật của Việt Nam hiện hành về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm (chương II ; đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật; đánh giá các yếu tố bảo đảm để Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm (chương III ; đưa ra các kiến nghị, giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam (chương IV)
Ngoài ra, luận án còn thu thập tài liệu để so sánh, đánh giá làm cơ sở chứng
minh các luận điểm, đánh giá, nhận định của luận án
Trang 34Luận án sử dụng các hướng tiếp cận chủ yếu sau:
Tiếp cận dưới góc độ lý luận, lịch sử nhà nước và pháp luật: Lý luận và lịch
sử về nhà nước pháp quyền, các học thuyết tổ chức quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị, lý luận về các hệ thống pháp luật, cơ cấu tổ chức của Tòa án, địa vị pháp
lý của Thẩm phán trên thế giới và Việt Nam là cơ sở quan trọng để xem xét, nghiên cứu trong từng bối cảnh cụ thể
Tiếp cận hệ thống: Phân tích và đánh giá hệ thống các vấn đề về địa vị pháp
lý của Thẩm phán và các yếu tố xác định, các yếu tố bảo đảm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
Tiếp cận liên ngành: Phối hợp của nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn
như luật học so sánh, xã hội học, khoa học lịch sử, chính trị học
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án “Địa vị pháp lý
của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay”, chúng
ta có thể rút ra một số kết luận sau:
Thứ nhất, nghiên cứu đề tài thể hiện sự cần thiết, nhằm đáp ứng những đòi hỏi về
cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và nhu cầu của quá trình phát triển đất nước và vấn đề cải cách tư pháp, trọng tâm là cải cách hệ thống Tòa án nhân dân, trong đó hoạt động xét xử Thẩm phán có ý nghĩa và vai trò quyết định Trong lĩnh vực giải quyết các vụ án dân sự theo nghĩa rộng, địa vị pháp lý của Thẩm phán được khẳng định thông qua nhiệm vụ, quyền hạn bao gồm việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án, công khai chứng cứ, hòa giải, trực tiếp xét xử vụ án dân sự…
Thứ hai, qua việc nghiên cứu các công trình trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài đã đạt được một số kết quả và thành tựu nhất định, tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ bước đầu phân tích các quy định pháp luật và thực trạng về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán Các nghiên cứu còn chưa phân tích sâu về các quy định xác định trách nhiệm của Thẩm phán với tư cách là một trong những nội dung quan trọng trong địa vị pháp lý của Thẩm phán Hơn nữa, địa vị pháp lý của Thẩm phán có nhiều thay đổi theo Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014, BLTTDS năm 2015…
Thứ ba, thông qua đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể khẳng định rằng, đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Do đó, việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Qua đó, luận án đề xuất, luận chứng các yêu cầu, giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; hoàn thiện quy định pháp luật về trình tự thủ tục tố tụng đảm bảo cho Thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Trang 36CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM
2.1 Khái niệm và những thành tố cơ bản của địa vị pháp lý Thẩm phán
trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự
Quan hệ pháp luật dân sự đa dạng về nội dung, hình thức và chủ thể tham
gia Khi tham gia các quan hệ dân sự, các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ theo
đúng những nội dung đã cam kết và quy định pháp luật Tuy nhiên, khi một trong
các bên không tuân thủ các quy định pháp luật hoặc không tuân thủ thỏa thuận đã
cam kết, xâm phạm đến lợi ích của bên kia thì bên bị vi phạm có quyền tự bảo vệ
hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ Một trong những biện pháp
bảo vệ quyền dân sự của chủ thể trong quan hệ dân sự là khởi kiện “Cơ quan, tổ
chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ
án (sau đây gọi chung là người khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”[40] Khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu
tiên của cá nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở
pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS [66] Thực hiện quyền khởi kiện, chủ
thể phải có đơn khởi kiện gửi Tòa án có thẩm quyền Tòa án chỉ giải quyết khi có đơn
của chủ thể có quyền khởi kiện Căn cứ thẩm quyền của mình Toà án sẽ thụ lý đơn
khởi kiện và thu tiền tạm ứng án phí làm phát sinh sự kiện pháp lý thì trở thành vụ án
dân sự Ngoài ra, những tranh chấp mà pháp luật quy định không phải nộp tiền tạm
ứng án phí hoặc được miễn nộp thì được Tòa án xem xét cho thụ lý thì cũng trở thành
vụ án dân sự BLTTDS cũng quy định ngoài các chủ thể trực tiếp tham gia vào quan
hệ dân sự có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì một số
chủ thể khác cũng có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước (Điều 187
Như vậy, xét xử theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự (gọi tắt là vụ án dân sự sơ
thẩm) là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có tranh chấp có đơn yêu cầu và được Tòa
án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ của mình
hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác
Trang 37So với việc dân sự, thì vụ án dân sự luôn tồn tại tranh chấp giữa một hoặc các bên đương sự với nhau Tòa án giải quyết vụ án dân sự nhằm xác định hoặc phân định quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm (về nhân thân và tài sản) của các bên Đối với việc dân sự không tồn tại tranh chấp mà người có đơn yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó là căn cứ phát sinh quyền
và nghĩa vụ dân sự
Vụ án dân sự được giải quyết theo trình tự sơ thẩm cũng khác với giải quyết theo trình tự phúc thẩm hoặc giải quyết theo thủ tục đặc biệt Việc giải quyết theo trình tự phúc thẩm hoặc giải quyết theo thủ tục đặc biệt chỉ đặt ra khi vụ án đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định mà có đơn kháng cáo, khiếu nại, kiến nghị của đương sự (hoặc người có quyền lợi liên quan và chủ thể có thẩm quyền khác
Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy vụ án dân sự sơ thẩm có đặc điểm sau:
Một là, vụ án dân sự sơ thẩm được hình thành trên cơ sở có đơn khởi kiện
của chủ thể có quyền khởi kiện Chỉ khi Tòa án thụ lý thì đơn khởi kiện đó mới được coi là vụ án dân sự;
Hai là, trong vụ án dân sự sơ thẩm luôn tồn tại tranh chấp giữa một bên hoặc
các bên đương sự (về quyền, nghĩa vụ nhân thân hoặc tài sản ;
Ba là, vụ án dân sự sơ thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật Trong trường hợp đã thụ lý vụ án mà không thuộc thẩm quyền của Tòa án mình, thì phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền; trường hợp không thuộc thẩm quyền của Tòa án mà của cơ quan, tổ chức khác thì
vụ án phải đình chỉ;
Bốn là, vụ án dân sự sơ thẩm được giải quyết theo trình tự TTDS sơ thẩm
Bản án, quyết định do Tòa án cấp sơ thẩm ban hành chưa có hiệu lực pháp luật ngay
mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm địa vị pháp lý của Thẩm phán
Trên thế giới có nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, trong đó có hai hệ thống pháp luật chủ yếu là hệ thống pháp luật án lệ (Common law) và hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (Continental law - hay còn gọi là hệ thống pháp luật thành văn - Civil Law) Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong mỗi hệ thống pháp luật có những khác biệt nhất định, dẫn đến địa vị pháp lý của Thẩm phán cũng khác nhau Trong hệ thống Common law, nguồn luật chủ yếu là án lệ được hình thành do phán
Trang 38quyết của Thẩm phán, tức là Thẩm phán có thể tạo ra luật Tuy nhiên, không phải mọi bản án, quyết định của tòa án đều là án lệ Về nguyên tắc, Thẩm phán của Tòa án cấp dưới phải sử dụng phán quyết của Tòa án cấp cao khi xét xử một vụ việc tương tự Đối với hệ thống pháp luật Continental law, luật thành văn là nguồn luật chính Luật thành văn được hình thành bởi cơ quan lập pháp và có hiệu lực thi hành đối với mọi Tòa án
Trong hoạt động xét xử, Thẩm phán của hệ thống pháp luật Common law không tham gia vào hoạt động tranh tụng cũng như xét hỏi mà giữ vai trò trung lập, các đương sự sẽ tự đưa ra tài liệu, chứng cứ để tranh tụng Sau đó, Thẩm phán sẽ phán quyết trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ, lập luận của các bên và sử dụng án lệ nếu vụ việc tương sự đã được Tòa án cấp cao giải quyết
Thẩm phán trong hệ thống pháp luật Continental law có nhiệm vụ thu thập tài liệu, chứng cứ và xác định sự thật khách quan của vụ việc làm căn cứ giải quyết vụ
án Vai trò của Thẩm phán là trung tâm, trực tiếp điều hành việc xét hỏi, đánh giá chứng cứ, từ đó áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết vụ án
Ở Việt Nam, về cơ bản hệ thống pháp luật được xây dựng trên cơ sở thủ tục xét hỏi nhưng có kết hợp các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng [11] Vai trò của Thẩm phán Việt Nam tương đối giống với người đồng cấp ở hệ thống Continental law, tức là họ cũng phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật thành văn khi giải quyết vụ án Nhưng một đặc điểm khác của Thẩm phán Việt Nam là dù quyết định của tòa cấp dưới là độc lập với các phán quyết của tòa cấp cao, nhưng khi gặp vấn đề pháp lý khó giải quyết, Tòa án cấp dưới thường gửi đơn xin ý kiến của Tòa cấp cao hơn Đây là một trong những điểm khác biệt trong thực tiễn xét xử của tòa án Việt Nam với tòa án nhiều quốc gia khác [80]
Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thực hiện quyền tư pháp” (Điều 102 Tòa án thực hiện chức năng xét xử
không chỉ là quy định pháp luật mà còn là một yêu cầu khách quan, nhiệm vụ không thể thiếu trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước pháp quyền Nhiệm vụ của Tòa án là thực hiện việc xét xử, giải quyết các loại vụ việc phát sinh từ các quan
hệ pháp luật hình sự, hôn nhân, gia đình, dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại, hành chính Để thực hiện nhiệm vụ đó, pháp luật xác định và trao cho Thẩm phán vai trò quan trọng trong việc xét xử các loại vụ án Thẩm phán là người có đủ điều kiện,
Trang 39tiêu chuẩn luật định, được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử Trong hoạt động xét xử sơ thẩm theo thủ tục thông thường của Tòa án, Thẩm phán giữ vai trò hạt nhân, cùng với HTND tạo thành HĐXX tiến hành giải quyết các loại vụ án Đối với vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn, Thẩm phán trực tiếp lập hồ sơ vụ
án và một mình thực hiện việc xét xử mà không có HTND tham gia HĐXX (xét xử theo thủ tục thông thường hoặc Thẩm phán (xét xử theo thủ tục rút gọn nhân danh Nhà nước giải quyết việc một người có tội hay không có tội; giải quyết đúng - sai của hành vi pháp lý được xem xét trong các tranh chấp phát sinh, bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do của công dân Với vị trí, vai trò như vậy, Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định việc tuyển chọn, bổ nhiệm đối với Thẩm phán được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, nghiêm ngặt Đồng thời, pháp luật cũng quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi thực hiện chức năng xét xử của Tòa án
Thẩm phán là khái niệm chỉ một chức danh tư pháp đặc biệt, được nghiên cứu,
đề cập ở nhiều góc độ khác nhau trong các công trình nghiên cứu trước đây Tác giả Đỗ
Gia Thư cho rằng “Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xử
các vụ án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, ra các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước”[64] Tác giả Nguyễn Thị Thu cho rằng Thẩm phán là
“những người làm công tác xét xử chuyên nghiệp, được tuyển chọn theo một quy trình
chặt chẽ, làm việc thường xuyên trong cơ quan tòa án, thực hiện nhiệm vụ xét xử nhân danh Nhà nước”[63]
Theo từ điển tiếng Việt, “địa vị” là vị trí, chỗ đứng của cá nhân trong xã hội [74] Theo từ điển Luật học, “địa vị pháp lý” là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình [69, tr.244]
Điều 65 Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định “Thẩm phán là người có đủ
điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử”
Như vậy, Thẩm phán theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu
sau: Thứ nhất, Thẩm phán được Chủ tịch nước bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ giải
Trang 40quyết, xét xử các loại vụ án hình sự, dân sự, hành chính Để được bổ nhiệm là Thẩm phán, cá nhân phải có đầy đủ điều kiện mà pháp luật quy định và được bổ nhiệm
theo phương thức và trình tự đặc thù; thứ hai, Thẩm phán là chủ thể trực tiếp thực
hiện quyền tư pháp của Tòa án - cơ quan duy nhất được Hiến pháp năm 2013 trao
cho thực hiện quyền tư pháp; thứ ba, Thẩm phán nhân danh nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội, lợi ích Nhà nước, bảo vệ công lý, công bằng xã hội
Địa vị pháp lý của Thẩm phán được thể hiện trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn
mà pháp luật quy định cho Thẩm phán Không giống như những chủ thể tố tụng khác (bao gồm cả chủ thể tố tụng là Điều tra viên, Kiểm sát viên , Thẩm phán là chủ thể tố tụng đặc biệt, Thẩm phán (cùng với HTND) nhân danh nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi xét xử, giải quyết các vụ án Thẩm phán ban hành bản
án, quyết định trên cơ sở nội dung vụ án, quy định pháp luật và cả niềm tin nội tâm của Thẩm phán Chính vì vậy, bản án, quyết định của Tòa án tuyên có hiệu lực thi hành đối với các bên, trừ trường hợp bị kháng cáo, kháng nghị
Địa vị pháp lý của Thẩm phán không chỉ bao hàm quyền, nhiệm vụ mà còn
cả trách nhiệm pháp lý có thể phát sinh khi thực thi công vụ Quyền hạn, nhiệm vụ càng quan trọng thì trách nhiệm càng lớn Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình trong hoạt động xét xử Nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Thẩm phán trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử
có trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của pháp luật
Như vậy, địa vị pháp lý của Thẩm phán là tổng thể các nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Thẩm phán do pháp luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệ với các chủ thể khác trong bộ máy Nhà nước và quan hệ pháp luật tố tụng Hoạt động xét xử của Thẩm phán nhằm bảo vệ công lý, pháp luật
của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Có thể nói, nhiệm
vụ, trách nhiệm của Thẩm phán là những yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật đối với hành vi của Thẩm phán mà việc thực hiện chúng là rất khó khăn, phức tạp Quyết