Việc nghiên cứu một cách có hệ thống, giải quyết các vấn đề lý luận mới đặt ra, phân tích đánh giá các quy định của BLHS đối với tội phạm về hàng giả, từ đó đưa ra giải pháp để giải quyế
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM TÀI TUỆ
CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2PHẠM TÀI TUỆ
CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 9.38.01.04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 PGS.TS TRƯƠNG QUANG VINH
2 TS LÊ ĐĂNG DOANH
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, số liệu nêu trong Luận án là trung thực Các luận điểm kế thừa được trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của Luận án chưa từng được công bố trong công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Phạm Tài Tuệ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 Những công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận về sản xuất, buôn bán hàng giả 9
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 9
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.2 Những công trình nghiên cứu khác có liên quan 21
1.2.1 Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước 22
1.2.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước 22
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 23
1.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 24
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ 27
2.1 Khái niệm các tội phạm về hàng giả 27
2.1.1 Khái niệm hàng giả 27
2.1.2 Khái niệm các tội phạm về hàng giả 31
2.2 Cơ sở của việc quy định các tội phạm về hàng giả trong luật hình sự Việt Nam 34
2.2.1 Cơ sở chính trị 34
2.2.2 Cơ sở kinh tế xã hội 36
2.2.3 Cơ sở pháp lý 37
2.3 Các tội phạm về hàng giả theo quy định của luật hình sự một số nước trên thế giới 39
Trang 52.3.1 Các tội phạm về hàng giả theo quy định của luật hình sự Hoa Kỳ 39
2.3.2 Các tội phạm về hàng giả theo quy định của luật hình sự Pháp 42
2.3.3 Các tội phạm về hàng giả theo quy định của luật hình sự Trung Quốc 43
2.3.4 Các tội phạm về hàng giả theo quy định của luật hình sự Anh 45
2.3.5 Các tội phạm về hàng giả theo quy định của luật hình sự Đức 47
Tiểu kết chương 2 48
CHƯƠNG 3: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ 49
3.1 Khái quát lịch sử phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về hàng giả 49
3.1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực pháp luật 49
3.1.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực pháp luật 52
3.1.3 Giai đoạn từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực đến trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật 56
3.2 Đặc điểm pháp lý của các tội phạm về hàng giả theo BLHS năm 2015 trong sự so sánh với BLHS năm 1999 64
3.2.1 Khách thể của tội phạm 65
3.2.2 Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm 69
3.2.3 Dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm 75
3.2.4 Các dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm 81
3.2.5 Hình phạt áp dụng với các tội phạm về hàng giả 83
Tiểu kết chương 3 86
CHƯƠNG 4: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ 87
4.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về hàng giả 87
Trang 64.1.1 Tình hình xét xử các tội phạm về hàng giả 87
4.1.2 Thực tiễn định tội danh các tội phạm về hàng giả 94
4.1.3 Thực tiễn quyết định hình phạt các tội phạm về hàng giả 107
4.1.4 Một số vấn đề thực tiễn đặt ra khi áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 122
4.1.5 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong áp dụng các quy định về các tội phạm về hàng giả 126
4.2 Các biện pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về hàng giả 129
4.2.1 Yêu cầu, phương hướng cho các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm hàng giả 129
4.2.2 Các biện pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm hàng giả 132
Tiểu kết chương 4 142
KẾT LUẬN 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
Trang 7QHXH:
QPPL:
Quan hệ xã hội Quy phạm pháp luật TNHS: Trách nhiệm hình sự
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về các tội phạm về hàng giả trên cả nước từ năm 2007 - 2017 (Điều 156, Điều 157, Điều 158 BLHS năm 1999) 88Bảng 4.2: Số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên cả nước từ năm 2007 - 2017 (Điều 156 Bộ luật hình sự năm 1999) 91Bảng 4.3: Số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh trên cả nước từ năm 2007 -
2017 (Điều 157 Bộ luật hình sự năm 1999) 92Bảng 4.4: Số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi trên cả nước từ năm 2007 - 2017 (Điều 158 Bộ luật hình sự năm 1999) 93Bảng 4.5: Cơ cấu về các hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo trong nhóm các tội phạm về hàng giả trên cả nước từ năm 2007 - 2017 (Điều 156, Điều 157, Điều 158 BLHS năm 1999) 108Bảng 4.6: Cơ cấu về các hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo bị xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên cả nước từ năm 2007 - 2017 (Điều 156 BLHS năm 1999) 109Bảng 4.7: Cơ cấu về các hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo bị xét xử về sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh trên cả nước từ năm 2007 - 2017 (Điều 157 BLHS năm 1999) 110Bảng 4.8: Cơ cấu về các hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo bị xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi trên cả nước từ năm 2007 - 2017 (Điều 158 BLHS năm 1999) 111Bảng 4.9: Cơ cấu về các hình phạt bổ sung áp dụng đối với các bị cáo trong nhóm các tội phạm về hàng giả trên cả nước từ năm 2007 - 2017 (Điều 156, Điều 157, Điều 158 BLHS năm 1999) 112
Biểu đồ 4.1: Số vụ án và số bị cáo phạm các tội phạm nói chung trên cả nước từ năm
2007 - 2017 89 Biểu đồ 4.2: Số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về các tội phạm về hàng giả trên
cả nước từ năm 2007 - 2017 (Điều 156, Điều 157, Điều 158 BLHS năm 1999) 89
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần VI cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định theo chủ trương chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường Bằng các quy định pháp luật, Nhà nước ta đã thừa nhận và bảo vệ sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế Bên cạnh đó, thừa hưởng giá trị trong việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của nước ta thực sự có những bước phát triển mạnh mẽ
Một trong những đặc điểm của nền kinh tế thị trường là đa dạng hóa các thành phần kinh tế, xuất nhập khẩu hàng hóa được mở rộng tự do hơn Chính vì lẽ
đó, thị trường hàng hoá tại Việt Nam diễn ra vô cùng sôi động với nguồn sản phẩm không chỉ ở trong nước mà còn nhập khẩu từ nước ngoài, đem lại sự đa dạng trong lựa chọn cho người tiêu dùng
Bên cạnh những thay đổi tích cực từ hành động “mở cửa” giúp thay màu áo mới một phần đến toàn diện các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, chính trị,… thì không thể không thẳng thắn nhìn nhận những bất cập, hệ luỵ khi ồ ạt nhiều nguồn du nhập vào Việt Nam, trong khi chúng ta chưa có sự chuẩn bị vững chắc về pháp lý Một trong những bất cập nằm ở sự phức tạp trong tình hình tội phạm, nó không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về số lượng tội phạm mà còn nằm ở mức độ tinh vi, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc biệt là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trong đó có tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong những tội phạm kinh tế đã gây nên tác hại to lớn trên nhiều mặt kinh tế, xã hội của đất nước Trước hết, nó gây nên những thiệt hại về kinh tế cho Nhà nước, cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh và cho cả người tiêu dùng Tội phạm này còn tác động xấu đến môi trường cạnh tranh
và phát triển lành mạnh của nền kinh tế, làm giảm sút lòng tin của người tiêu dùng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh Và điều đó làm cho các nhà đầu tư trong
Trang 10nước thiếu an tâm khi đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh Hiện nay, hàng giả tại Việt Nam xuất hiện hầu như trong mọi lĩnh vực và bao gồm nhiều chủng loại hàng hóa, từ những mặt hàng cao cấp, đắt tiền như vàng bạc, đá quý; hàng xa xỉ phẩm như nước hoa, mỹ phẩm, rượu ngoại hay trong cả các mặt hàng chuyên dùng như thuốc tân dược, thuốc trừ sâu, phân bón, chăn nuôi Hàng giả có mặt từ mặt hàng ngoại nhập như điện tử, các mặt hàng công nghiệp, cho đến các mặt hàng sản xuất trong nước như giày dép, vật liệu xây dựng
Theo đánh giá của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) tổng giá trị hàng giả được mua bán hàng năm trên thế giới khoảng 500 tỷ Euro - gấp đôi ngân sách nước Đức Hiện nay hàng giả chiếm lĩnh 1/10 thương mại thế giới, trong đó các loại hàng được làm giả nhiều nhất phải kể đến như: cứ 3 chiếc đĩa CD thì có 1 chiếc được sao chép trái phép; các mặt hàng quần áo, phụ kiện may mặc, mỹ phẩm
và nước hoa chiếm khoảng 1/3 tổng số hàng giả thế giới; phần mềm máy tính là 35%; video, DVD và CD là 25%; đồng hồ Thụy Sỹ giả mạo được bán nhiều hơn hàng thật: 40 triệu chiếc giả so với 26 triệu chiếc đồng hồ thật [140] Và trong tình hình kinh tế hiện nay, khi nước ta đang ra sức thực hiện những hoạt động, sứ mệnh khi là thành viên của WTO thì tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả không những làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư nước ngoài vào nước ta, làm giảm uy tín tiêu dùng hàng hoá thật trong lòng người tiêu dùng, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp sản xuất hàng thật, mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ của con người
Theo số liệu thống kê từ năm 2012 đến năm 2015 tại Việt Nam, hành vi sản xuất buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các vụ án về hàng giả, cụ thể, năm 2012 chiếm 41/60 vụ - khoảng 68,3% BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã chia tách Điều 157 thành hai tội danh cụ
thể theo Điều 193 và 194, đó là: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực,
thực phẩm, phụ gia gia thực phẩm (Điều 193) và Tội sản xuất, buôn bán hàng giả
là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194) Bên cạnh đó, những điểm mới
của BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội phạm về hàng giả (Điều 192 -
Trang 11Điều 194) thực sự đem lại những thay đổi rõ nét trong tư duy lập pháp, trong việc thực hiện và áp dụng các quy định của pháp luật về loại tội này Cụ thể, việc quy định trách nhiệm hình sự đối với “Pháp nhân thương mại” thực sự là một điểm đáng chú ý, một chi tiết mà hiện nay vẫn còn rất nhiều quan điểm trái chiều trong việc hiểu và áp dụng, kéo theo những hệ luỵ, ảnh hưởng trong việc áp dụng luật đối với tội danh trên Như vậy, rất cần có một cách hiểu đúng, một cách áp dụng chuẩn mực trong việc thi hành pháp luật hình sự đối với việc xét xử các vụ án Tuy nhiên, chuẩn mực như thế nào, hợp lý ra làm sao, hiện nay chúng ta vẫn cần phải nghiên cứu Bên cạnh đó, việc quy định thêm đối tượng “phụ gia thực phẩm” tại Điều 193 cũng gây nhiều tranh cãi, vậy “phụ gia thực phẩm” là gì và tại sao đối tượng này lại được quy định thêm vào trong điều luật? Chính vì những điểm mới trong việc quy định và áp dụng luật, nên không thể tránh khỏi những hiểu biết chưa trọn vẹn dẫn đến hiểu sai, hiểu lầm và áp dụng chưa đúng, chưa đầy đủ đối với các trường hợp xảy ra trong thực tế, dẫn đến hậu quả là bỏ lọt các hành vi phạm tội, hoặc hình phạt chưa đủ sức răn đe đối với những người manh nha có ý định vi phạm
Tóm lại, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành gắn với phân tích thực tiễn đấu tranh chống tội phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả để từ
đó có kiến nghị phù hợp là một yêu cầu cần thiết Việc nghiên cứu một cách có hệ thống, giải quyết các vấn đề lý luận mới đặt ra, phân tích đánh giá các quy định của BLHS đối với tội phạm về hàng giả, từ đó đưa ra giải pháp để giải quyết những vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, theo quan điểm của tác giả, là một điều kịp thời và đúng lúc Tiếc rằng, trong nhiều năm
kể từ lần sửa đổi BLHS năm 2009 đến nay chưa có một luận án tiến sỹ nào nghiên cứu vấn đề này
Vì thế, việc nghiên cứu thành công những vấn đề trên có ý nghĩa quan trọng không những về mặt thực tiễn mà cả về lý luận trong giai đoạn hiện nay
Trang 122 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu toàn diện đối với các tội phạm về hàng giả theo pháp luật hình sự của Việt Nam Bên cạnh đó, luận án mong muốn góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận đối với các tội phạm về hàng giả
Mục đích đó sẽ được thể hiện trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm lý luận khác nhau, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật đối với các tội phạm về hàng giả được quy định trong Mục 1 - Chương XVIII BLHS hiện hành và thực tiễn
áp dụng các quy định của BLHS; đồng thời qua việc đề xuất giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật, giải thích pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó trong thời gian tới, góp phần đấu tranh phòng và chống có hiệu quả loại tội phạm này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, trong Luận án những nhiệm vụ sau được tập trung giải quyết:
- Về mặt lý luận:
+ Nghiên cứu những quan điểm lý luận khác nhau về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của pháp luật hình sự và sự thể chế hóa tội danh này trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
+ Làm rõ những nội dung khoa học về định tội, định khung hình phạt của tội sản xuất, buôn bán hàng giả; những mặt khách quan, mặt chủ quan của tội này Phân tích về thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với sản xuất, buôn bán hàng giả, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá tính hợp lý của các quy định đối với tội danh này trong BLHS
+ Phân tích, so sánh sự phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự trong nước với nước ngoài đối với tội phạm về hàng giả để tìm ra định hướng phát triển, xác định các nội dung hợp lý, khoa học cần được tiếp thu trong xây dựng pháp luật hình sự ở nước ta
Trang 13- Về mặt thực tiễn:
+ Đánh giá một cách khái quát tình hình của tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong vòng 10 năm (từ năm 2007 - 2017), từ đó xác định những vấn đề về định tội danh, quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả Kết quả nghiên cứu thực tế này là cơ sở để xem xét, đánh giá hiệu quả chính sách hình sự của Nhà nước đối với tội này
+ Làm sáng tỏ những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả
+ Từ sự đánh giá thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả, đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả áp dụng hình phạt đối với tội phạm này
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Về chuyên ngành nghiên cứu: Luận án được nghiên cứu, phân tích, đánh giá dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự
- Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2007 đến năm 2017
- Về địa bàn nghiên cứu: trên phạm vi cả nước
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Luận án nghiên cứu các tội phạm về hàng giả theo pháp luật hình sự Việt Nam
- Từ góc độ lý luận: Luận án nghiên cứu những vấn đề như: khái niệm các tội phạm về hàng giả, cấu thành tội phạm (mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) của các tội phạm về hàng giả; các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam cũng như quy định trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới đối với tội phạm về hàng giả
- Từ góc độ thực tiễn: Luận án phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS trong việc định tội danh, quyết định hình phạt trong xét xử đối với các tội phạm về hàng giả từ thực tiễn các tỉnh, thành phố trên Việt Nam Luận án lựa chọn
Trang 14nghiên cứu phân tích khoàng 100 bản án để từ đó làm sáng tỏ những bất cập của pháp luật hình sự, những hạn chế trong thực tiễn và nguyên nhân của những hạn chế đó để đưa ra những kiến nghị khoa học cần thiết
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tội phạm và hình phạt, về đấu tranh phòng, chống tội phạm làm phương pháp luận nghiên cứu
Luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh, lập bảng biểu, để hoàn thiện từng phần của luận
án, cụ thể là:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, chủ yếu sử dụng các phương pháp cơ bản như: phân tích, tổng hợp, so sánh để khái quát hóa các vấn đề liên quan đến đề tài đã được nghiên cứu trong các công trình khoa học đã được công bố trước
đó, những nội dung có thể kế thừa cũng như những vấn đề mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu
- Chương 2: Tác giả sử dụng các phương pháp: tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa để làm rõ các khái niệm liên quan đến các tội phạm về hàng giả và lịch sử các tội phạm về hàng giả
- Chương 3: Tác giả sử dụng các phương pháp: tổng hợp, phân tích, logic học, tiếp cận đa ngành - liên ngành để làm rõ các quy định của BLHS hiện hành đối với các tội phạm về hàng giả
- Chương 4: Tác giả sử dụng các phương pháp: tổng hợp, phân tích, thống
kê, so sánh, logic học, tiếp cận đa ngành - liên ngành để nghiên cứu thực tiễn áp dụng và đưa ra một số biện pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về hàng giả
Để hoàn thiện luận án, tác giả kết hợp sử dụng một số phương pháp đặc thù
của lĩnh vực luật học như: phương pháp tiếp cận quy phạm để hệ thống hóa và giải thích các quy định của pháp luật liên quan đến các tội phạm về hàng giả; phương
pháp nghiên cứu lịch sử pháp luật để thể hiện sự kế thừa và phát huy của những
Trang 15quy định pháp luật qua thời gian; phương pháp nghiên cứu luật pháp để nhìn nhận
thực tiễn áp dụng pháp luật đặt trong mối quan hệ với chính trị hoặc trong mối quan
hệ với xã hội học…
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Như đã đề cập tại mục 1 (tính cấp thiết của đề tài), từ lần sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2009 đến nay chưa có đề tài luận án tiến sỹ nào nghiên cứu chuyên sâu
về những quy định của pháp luật hình sự gắn với thực tiễn đấu tranh chống tội phạm
về sản xuất, buôn bán hàng giả Nghiên cứu sinh hy vọng kết quả của đề tài này sẽ góp phần bảo đảm cách hiểu và áp dụng đúng các quy định của pháp luật về nhóm các tội phạm về hàng giả, và cao hơn nữa là góp tiếng nói hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đối với tội phạm về hàng giả, từ đó ngăn chặn và xử lý hiệu quả vấn nạn sản xuất, buôn bán hàng giả đang ngày càng hủy hoại nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Về quan điểm tiếp cận: Dựa vào phép biện chứng của triết học Mác-xít, luận
án nghiên cứu các tội phạm về hàng giả dưới nhiều hướng tiếp cận khác nhau nhưng trọng tâm là hướng tiếp cận liên ngành, xã hội học pháp luật
Về phương pháp: Các phương pháp được sử dụng trong luận án này như đã nêu tại mục 4 phần mở đầu luận án này vừa có tính bổ trợ cho nhau, vừa có tính độc lập cho phép nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về các tội phạm
về hàng giả Những phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về các tội phạm về hàng giả để từ đó luận án đề xuất những biện pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định này trong thời gian tới
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Luận án tập trung làm rõ vấn đề lý luận về các tội phạm về hàng giả, hệ thống hóa các quy định của pháp luật hình sự đối với loại tội phạm này, đưa ra nhận định về tính hợp lý hoặc chưa hợp lý của các quy định pháp luật trên cơ sở phân tích các bản án thực tế Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực luật hình sự và những lĩnh vực
có liên quan
Trang 16- Luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp, các tổ chức xã hội trong việc tham gia đóng góp ý kiến, tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định trong BLHS Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng để thống nhất về cách hiểu các quy định của pháp luật về các tội phạm về hàng giả, góp phần khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, qua đó giúp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm nói chung, các tội phạm
về hàng giả nói riêng
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận đối với các tội phạm về hàng giả
Chương 3: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về hàng giả
Chương 4: Thực tiễn áp dụng và các biện pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về hàng giả
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, tội phạm về hàng giả nói riêng
là vấn đề mang tính thời sự, đã và đang được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nuớc quan tâm nghiên cứu Các nhà tội phạm học, luật học đã có những công trình nghiên cứu về các đề tài thuộc lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung
và các tội phạm cụ thể có liên quan đã được công bố
Quá trình nghiên cứu các tài liệu trong nước, ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả hệ thống các công trình nghiên cứu dưới các góc độ như sau:
1.1 Những công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận về sản xuất, buôn bán hàng giả
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trước tiên, phải kể đến pháp luật Xô Viết đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả Đặc biệt, từ năm 1996, sau khi BLHS mới của Liên Bang Nga được thông qua và có hiệu lực pháp luật từ ngày 01 tháng 01 năm 1997, đã có một loạt công trình nghiên cứu về luật hình sự trên cơ sở
Bộ luật mới Ví dụ: 1/ Giáo trình Luật hình sự (1999) do GS.TS Gausman L.Đ,
GS.TS Kolodkin L.M., GS.TS Macximov C.B chủ biên; 2/ Giáo trình Luật hình sự, phần các tội phạm (1998) do GS.TS Ignatop A.N và GS.TS Craxicop Y A chủ biên; 3/ Giáo trình luật hình sự (2002) do GS.TS Borzenkop và GS.TS Kanuixarop chủ biên; 4/ Bình luận khoa học BLHS Liên Bang Nga (1997) do Xcuratov U.I và Lebedev B.M chủ biên; 5/ Bình luận khoa học BLHS Liên Bang Nga (2000) do GS.TS Radchenko chủ biên Các công trình nêu trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trong đó có tội sản xuất, buôn bán hàng giả; từ đó, cũng có bình luận, phân tích sâu các đặc điểm, dấu hiệu pháp lý của tội này
Trang 18* Một số tài liệu (sách chuyên khảo, các bài báo, bài tạp chí, các công trình nghiên cứu từ các tổ chức) nghiên cứu ở ngoài nước về tội sản xuất, buôn bán hàng giả đáng chú ý:
- Bài viết “Fake it ’til we make it: regulating dangerous counterfeit goods” (tạm dịch: Hàng giả: Điều chỉnh mối nguy hại của hàng giả) của tác giả James L
Bikoff, David K Heasley, Valeriya Sherman, and Jared Stipelman đăng trên Journal
of Intellectual Property Law & Practice, 2015, Vol 10, No 4 [141] - Tạp chí Luật
và Thực tiễn về Sở hữu trí tuệ, 2015, số 10, trang 4
Bài viết được thực hiện bởi nhóm tác giả là Luật sư của văn phòng luật sư Washington, Hoa Kỳ khi họ đều là những chuyên gia có hàng chục năm kinh nghiệm về IP, nhãn hiệu, hàng giả và chống hàng giả, Bài viết khai thác và làm sáng tỏ các ý sau:
Sự sinh lời trong thương mại toàn cầu khi thực hiện hàng giả - tất cả các sản phẩm tiêu dùng cho đến các sản phẩm dược phẩm được phát triển hàng năm Người dân đều nhận thức được những tác động cực kỳ to lớn, không chỉ về mặt kinh tế cá nhân rồi dẫn đến ảnh hưởng kinh tế, chính trị quốc gia, mà ngay lập tức, tác động trực tiếp vào chính sức khoẻ, tính mạng của họ Và nguy hại hơn, hầu hết các cơ quan tư pháp ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới đều thiếu những biện pháp hợp lý để ngăn chặn dòng chảy của sản phẩm này
Bài viết này sử dụng dữ liệu điều tra thu thập từ các đại diện cho ECTA
để mô tả rộng rãi pháp luật chống hàng giả ở Mỹ, EU, Trung Quốc và Ấn Độ Bài viết phân tích các “thực tiễn tốt nhất” bao gồm cả người tiêu dùng, đặc biệt là về sự tác động của giáo dục đối với sức khoẻ cộng đồng, nhất là “hàng giả nguy hiểm” (dangerous counterfeit goods) (đặc biệt là thực phẩm và dược phẩm), các hệ thống theo dõi sản phẩm tích hợp và sự phối hợp, hợp tác quốc tế để nỗ lực thực thi pháp luật
Bài viết cũng thể hiện tham vọng được bổ sung quan điểm vào một cuộc hội thoại quốc tế về việc giữa thực thi pháp luật, các tổ chức phi chính phủ và các bên liên quan cá nhân về các biện pháp hiệu quả nhất để giảm bớt sự gia tăng về vấn đề hàng giả
Trang 19- “The Illicit Trafficking of Counterfeit Goods and Transnational
Organized Crime” (tạm dịch: Việc buôn bán hàng giả bất hợp pháp và tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia) của UNODC (Cơ quan phòng chống ma tuý và tội phạm
của Liên hợp quốc) [142]
Tác gỉả xếp tài liệu này vào nhóm tài liệu nước ngoài quan trọng cần tìm
hiểu khi nghiên cứu vấn đề này vì theo công bố báo cáo Đánh giá nguy cơ tội phạm
có tổ chức xuyên quốc gia tại Đông Á - Thái Bình Dương thì các đường dây tội
phạm thu được từ các thị trường phi pháp tại nơi đây khoảng 90 tỷ USD/năm, trong
đó, doanh thu về buôn bán hàng giả lên đến gần 25 tỷ USD, thuốc giả 5 tỷ Hiện nay, phần lớn thuốc giả có nguồn gốc từ Trung Quốc và Ấn Độ, và Trung Quốc cũng là “bãi rác thải điện từ” chính trong khu vực Bên cạnh đó các nước khác như Indonesia, Việt Nam… được xếp vào nhóm các trung tâm lớn thứ hai của ngành này
- Mapping the Real Routes of Trade in Fake Goods (tạm dịch: Những con
đường thương mại làm hàng giả trên thế giới) là một công trình rất quan trọng trong
việc chỉ ra được những con đường, những tuyến hoạt động của tội phạm có tính chất xuyên quốc gia về hàng giả [143] Nắm bắt được điều này là một trong những tiền đề để nghiên cứu, giải thích cho sự hình thành của các tuyến đường trên, tìm ra
sự khác biệt của các vị trí này trên thế giới, từ đó, quan trọng là tìm được những phương pháp để triệt tiêu những tuyến đường “nguy hiểm” này, giúp giảm thiểu sự gia tăng của tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia về sản xuất, buôn bán hàng giả
- The Fake and the Fatal: The Consequences of Counterfeits (tạm dịch: Hàng giả và sự diệt vong: Những hậu quả nghiêm trọng của hàng giả) của tác giả
Kevin Lewis đăng trên Tạp chí The Park Place Economist, Volume XVII ▪ 47 (Tạp chí Kinh tế học đô thị, Số 17, trang 47) [144] mô tả quy mô toàn cầu hiện nay về vấn đề giả mạo Tác giả tìm nguồn gốc của việc giả mạo này, minh họa những ảnh hưởng tiêu cực đến công dân Mỹ, các doanh nghiệp và chính phủ; từ đó, đề xuất các bước mà các bên liên quan có thể thực hiện để giảm thiểu tỷ lệ giả mạo và tác động của sự giả mạo và hàng giả đối với Hoa Kỳ
Trang 20- Avoiding Counterfeit Goods: A How-To Guide for Consumers (tạm dịch
Phòng tránh hàng giả: Hướng dẫn cho người tiêu dùng) của tác giả Kevin M
Reichelt được phát hành bởi IIPI (International intellecture property institute - Viện
Sở hữu trí tuệ quốc tế) [145] không phải là một bản dự thảo Luật hay là một văn bản hướng dẫn luật, tuy nhiên, báo cáo này thực sự là khối kiến thức quý giá, đặc biệt đối với người tiêu dùng khi đã chỉ ra các nhóm, các mặt hàng hiện nay thường bị làm giả trên thị trường, cách nhận biết và cách phòng tránh chúng Tức là, thay vì triệt tiêu việc sản xuất, buôn bán các sản phẩm hàng giả, hàng nhái trên thị trường (điều rất khó thực hiện) thì báo cáo đã và đang giáo dục nhận thức cho người tiêu dùng - đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của hàng giả sẽ có cách tự bảo vệ sức khỏe bản thân, từ đó cũng phần nào góp phần giảm thiểu những thiệt hại từ các sản phẩm này gây nên trong đời sống
Tóm lại, những công trình nghiên cứu trên chỉ là những tác phẩm rất điển hình về lĩnh vực hàng giả, về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, phải công nhận những giá trị khoa học về cả lý luận và thực tiễn mà các nghiên cứu đem lại cho thấy được tình hình căng thẳng đang diễn
ra đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên thế giới với những thủ đoạn tinh vi, quy mô tổ chức lớn, để từ đó, các nhà làm luật trên toàn thế giới cùng có những chính sách phù hợp nhằm giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực của loại tội phạm này Về phía Việt Nam cũng sẽ có những bài học kinh nghiệm rút ra trong cả việc hoàn thiện cơ sở lý luận và áp dụng thực tiễn trong các vụ án cụ thể
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Các tội xâm phạm về hàng giả theo pháp
luật hình sự Việt Nam”, bên cạnh những tài liệu chuyên khảo, tác giả còn tham
khảo những tài liệu lý luận chung của pháp luật hình sự cũng như những tài liệu có liên quan đến nhóm tội phạm này
Về phương diện lý luận pháp luật hình sự, Giáo trình luật hình sự Việt Nam
(phần chung) do GS.TS.Võ Khánh Vinh chủ biên, được nhà xuất bản Khoa học xã
hội xuất bản năm 2014 đã mang lại cho tác giả những giá trị và lợi ích thiết thực
Trang 21trong thực hiện đề tài Những vấn đề lý luận về tội phạm, về hình phạt cũng như về các vấn đề khác liên quan đến tội phạm và hình phạt được các tác giả trình bày trong giáo trình này là cơ sở giúp tác giả luận án này nhận thức sâu sắc về tội phạm nói chung và các tội phạm về hàng giả nói riêng Đặc biệt những tri thức về các tội phạm về hàng giả được phân tích tại chương “Các tội phạm về hàng giả” trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) cũng do GS.TS.Võ Khánh Vinh làm chủ biên đã giúp tác giả luận án này nhận thức đúng và sâu sắc các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về hàng giả cũng như những hình phạt được quy định với các tội phạm đó
Trong số những giáo trình luật hình sự đã được công bố mà tác giả luận án này tham khảo để thực hiện đề tài luận án, có Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm do GS.TS.Võ Khánh Vinh làm chủ biên, nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành năm 2001; Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần chung của tập thể tác giả cũng do GS.TS.Võ Khánh Vinh làm chủ biên, nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành năm 2002; Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần chung của tập thể tác giả do TS.Cao Thị Oanh làm chủ biên, nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2012; Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm của tập thể tác giả cũng dưới sự chủ biên của TS.Cao Thị Oanh do nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2012; Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Tập 1 của Trường Đại học Luật Hà Nội do nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành năm 2012; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung) của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội do nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2001 Trong các giáo trình này, các tác giả phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận của luật hình sự như những vấn đề về tội phạm, hình phạt và những vấn đề có liên quan đến tội phạm và hình phạt Đây là cơ
sở để tác giả luận án nhận thức sâu sắc các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về hàng giả
Những tri thức cơ bản và nhận thức về quyền con người được tác giả luận án này lĩnh hội từ giáo trình giảng dạy sau đại học “Quyền con người” dưới sự chủ biên của GS.TS.Võ Khánh Vinh do nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm
Trang 222011 Trong cuốn giáo trình này, ngoài việc giới thiệu và phân tích những vấn đề về lịch sử cũng như những vấn đề lý luận và chính trị của quyền con người, các tác giả còn chỉ rõ các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người trên thế giới cũng như trong phạm vi quốc gia, đồng thời phân tích rõ sự nỗ lực của Nhà nước ta trong việc bảo
vệ quyền con người Cuốn giáo trình này đã giúp cho tác giả luận án mở rộng nhận thức về quyền con người nói chung và quyền bảo vệ sức khỏe, trong vấn đề tiêu dùng hàng ngày nói riêng
Bên cạnh những nhận thức cơ bản về quyền con người, tác giả luận án có cái nhìn sâu sắc hơn về quyền con người khi tham khảo hai tập sách “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học” cũng do GS.TS.Võ Khánh Vinh chủ biên, nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2010 Tác giả đã đưa ra cách tiếp cận mới khi nghiên cứu về quyền con người khi nghiên cứu không phải ở một khía cạnh hay đơn thuần ở một ngành khoa học xã hội nào đó mà tiếp cận theo hướng đa ngành và liên ngành luật học về quyền con người tạo nên hệ thống tri thức tổng hợp
về quyền con người, giúp nhận thức một cách sâu sắc và toàn diện giá trị của quyền con người, trong đó quyền nhân thân được xác định là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người và không tách rời khỏi quyền con người
Trong số những công trình nghiên cứu ở cấp độ sách chuyên khảo mà tác giả luận án này tham khảo để có nhận thức sâu sắc và đầy đủ hơn về quyền con người nói chung và quyền nhân thân nói riêng, có cuốn “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người” do GS.TS.Võ Khánh Vinh chủ biên được nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 2011; cuốn “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền mới xuất hiện trong quá trình phát triển” của GS.TS.Võ Khánh Vinh do nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 2012; cuốn “Quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 - Quan điểm mới cách tiếp cận mới và các quy định mới” của tập thể tác giả do TS Nguyễn Văn Hiển chủ biên, nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm 2014 Trong các cuốn sách này, các tác giả đã phân tích những đặc điểm của quyền con người trong điều kiện mới cũng như những cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người
Trang 23Sẽ là không đầy đủ khi nói đến các công trình nghiên cứu ở tầm sách chuyên khảo mà tác giả luận án tham khảo để thực hiện đề tài này mà không đề cập đến cuốn “Xã hội học pháp luật - Những vấn đề cơ bản” do GS.TS.Võ Khánh Vinh chủ biên được nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2011 Tác giả luận án này nghiên cứu các tội phạm về hàng giả không đơn thuần dưới góc độ phân tích các quy định của pháp luật mà nghiên cứu đề tài này dưới nhiều cách tiếp cận, trong đó đặc biệt coi trọng cách tiếp cận xã hội học pháp luật Cuốn sách “Xã hội học pháp luật - Những vấn đề cơ bản” này giúp tác giả luận án có những kiến thức cơ bản về hướng tiếp cận nghiên cứu mới này, đặt các quy định của pháp luật trong sự phát triển của điều kiện xã hội
Ngoài những công trình mang tính lý luận về luật hình sự như đã nêu ở trên, còn có thể kể đến các công trình khoa học khác nghiên cứu cụ thể hơn về nhóm các tội phạm về hàng giả như:
- Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Ngọc Việt “Tội làm hàng giả, tội buôn bán
hàng giả - Thực trạng và các biện pháp phòng chống” năm 2001 Có thể nói, đây là
Luận án đầu tiên nghiên cứu khá toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn trong việc công bố các quan điểm chính thức, các cơ sở khoa học phù hợp với thực tiễn về việc xác định loại hàng giả, hành vi làm giả, buôn bán hàng giả, từ đó, quy định định tội danh một cách chính xác đối với tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả Cá nhân tác giả cho rằng đây là luận án đầu tiên tại Việt Nam về lĩnh vực này, đặc biệt là một số vấn đề lý luận vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay, tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu luận án đã quá lâu (gần 2 thập kỷ cho đến hiện nay), cùng với giá trị hiệu lực khoa học của các chứng cứ sử dụng khi đó cho đến nay cũng không còn hiệu lực (BLHS 1985, 1999), cho nên, chỉ có thể kế thừa những nội dung vẫn
còn đúng ở hiện tại và phát triển những quan điểm mới của ngày nay
- Luận án tiến sĩ “Chuyên án trinh sát đấu tranh chống tội phạm sản xuất,
buôn bán hàng giả của lực lượng cảnh sát kinh tế”, Phạm Công Nguyên, Học viện
cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2012 có thể nói là một trong những công trình nghiên cứu khoa học mang tính chất đặc thù của ngành, tuy nhiên, những giá trị mà Luận
Trang 24án đem lại với nội dung đang nghiên cứu không phải là không có, do vậy, sẽ thật thiếu sót nếu không coi đây là một trong những nguồn tài liệu quan trọng Đề tài này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, với mục đích góp phần nâng cao hiệu quả chỉ đạo và tiến hành chuyên án trinh sát chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả của lực lượng cảnh sát kinh tế (CSKT) Luận án nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong tổ chức và tiến hành chuyên án trinh sát của lực lượng CSKT trong đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả; trên cơ sở đó, góp phần bổ sung lý luận, đưa ra hệ thống giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chỉ đạo và hướng dẫn tiến hành công tác này trong thực tiễn
- Luận văn Thạc sỹ “Đấu tranh phòng chống tội làm hàng giả, tội buôn bán
hàng giả ở Việt Nam hiện nay” - Đỗ Thị Lan, PGS.TS Uông Chu Lưu hướng dẫn,
Hà Nội, 1998 cũng là một trong những nghiên cứu khoa học có từ những năm cuối thế kỷ 20, theo đó, những lý giải về các phương thức đấu tranh, phòng ngừa tội phạm này dường như đã không còn khả thi tại thời điểm hiện nay Tuy nhiên, xuất phát từ những khía cạnh mà tác giả cung cấp như tình hình thực tại, tình hình khách quan… vẫn để lại những giá trị tích cực trong việc nghiên cứu sau này
- Luận văn Thạc sỹ “Các tội sản xuất và buôn bán hàng giả - Thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp” - Phạm Thái, PGS.TS Võ Khánh Vinh hướng dẫn, Tp
HCM, 2002 cũng là một trong những công trình có những nghiên cứu rõ ràng về tội sản xuất và buôn bán hàng giả Kế thừa về mặt khoa học khi nghiên cứu khái niệm
“hàng giả”, tác giả phân tích sâu vào nội dung nguyên nhân của tội phạm này và chỉ
ra những biện pháp phòng ngừa tội phạm này
- Luận văn Thạc sỹ “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo pháp luật hình
sự Việt Nam” - Mai Thị Lan, Khoa Luật - ĐHQGHN, TS Phạm Văn Lợi hướng
dẫn, 2008 có thể được coi là một công trình chuyên khảo nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm nâng cao hiệu quả khi xử lý tội phạm Do đó, luận văn
đã nghiên cứu tội sản xuất, buôn bán hàng giả tương đối có hệ thống, toàn diện từ góc độ lý luận và thực tiễn, trên cở sở đó đề ra phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Trang 25- Luận văn Thạc sỹ “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ
luật hình sự năm 1999” - Nguyễn Thị Tố Uyên, Khoa Luật - ĐHQGHN, GS.TS Đỗ
Ngọc Quang Năm hướng dẫn, 2014 là một trong những luận văn nghiên cứu chuyên sâu theo hướng tương tự như LVThS của Mai Thị Lan nêu trên, tuy nhiên, luận văn
có sử dụng những tính mới của thì hiện tại để triển khai nghiên cứu theo hướng làm
rõ khái niệm, đặc điểm pháp lý, các vấn đề khác có liên quan, kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả Trên cơ sở đó có thể
để xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Điều 156 BLHS và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm này
- Luận văn Thạc sỹ “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu của địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh)”, Trương Văn
Út, Khoa Luật - ĐHQGHN, TS Chu Thị Trang Vân hướng dẫn, 2013 Có thể nói, luận văn này để lại giá trị hiệu quả tại một không gian cụ thể, nhất định Xuất phát
từ chính yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn, khi thực tế cho thấy Thành phố Hồ Chí Minh luôn là một trong những thành phố đứng đầu cả nước về nạn buôn bán, sản xuất hàng giả Theo đó, luận văn không những góp phần làm rõ tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của BLHS Việt Nam mà còn thể hiện được thực trạng điều tra, truy tố, xét xử đối với loại tội phạm này trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung
- Bên cạnh các luận án, luận văn nghiên cứu về đề tài này, cũng có những khoá luận tốt nghiệp có những nghiên cứu trên các mặt nhất định của vấn đề, có thể
kể đến: Các tội phạm về hàng giả và những vấn đề lý luận và thực tiễn - Nguyễn Nhật Cường, ThS Nguyễn Thị Ánh Hồng hướng dẫn, Tp HCM, 2004; Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả trong Luật hình sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Phạm Thị Hải Yến, TS Nguyễn Văn Hương hướng dẫn, HN, 2010; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm theo pháp luật hình sự Việt Nam, Nguyễn Thị Phương Nga, TS Lê Đăng Doanh hướng dẫn, Hà Nội, 2012…
Trang 26 Các bài viết, bài Tạp chí, các sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu khoa học khác
- Bài viết “Hoàn thiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trước yêu
cầu cải cách tư pháp”, Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế -
Luật 24 (2008) Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của BLHS hiện hành và thực tiễn áp dụng, tác giả đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trước yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, trong đó, có đề cập một phần nội dung đến các tội sản xuất, buôn bán hàng giả Tác giả Nguyễn Ngọc Chí đều xuất gộp một số tội phạm qui định tại các Điều 156, 157, 157 BLHS thành một tội để đảm bảo sự công bằng trong việc giải quyết trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội
Các tội phạm này có dấu hiệu hành vi (hành vi sản xuất và hành vi buôn bán hàng giả) và các dấu hiệu khác của cấu thành tội giống nhau, giữa chúng chỉ khác nhau ở đối tượng phạm tội tương ứng với mỗi tội phạm: Hàng giả là hàng hóa thông thường; là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; hoặc là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giông cây trồng, vật nuôi Về thực chất, hành vi và tính chất của các tội phạm này không khác nhau, nếu có sự khác nhau chỉ là mức độ phạm tội do tác động đến những đối tượng phạm tội có tầm quan trọng khác nhau Vì vậy, về kỹ thuật lập pháp không cần thiết phải qui định ở những điều luật khác nhau mới phản ánh được mức độ nguy hiểm của các tội phạm mà sẽ đưa những đối tượng tác động của các tội phạm qui định tại các Điều 157, 158 là tình tiết tăng nặng của cấu thành tội phạm qui định tại Điều 156 BLHS
Thực tế, có trường hợp người phạm tội cùng một lúc thực hiện hành vi sản xuất hoặc hành vi buôn bán hàng hóa thuộc các đối tượng tác động của ba tội phạm
kể trên và do đó họ đã phạm nhiều tội, Tòa án sẽ tổng hợp hình phạt của các tội phạm đó nên hình phạt của họ có thể rất cao theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội qui định tại Điều 50 BLHS Theo đó, nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các
Trang 27hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn Như vậy, trong trường hợp này người phạm tội có thể bị tổng hợp hình phạt của nhiều tội phạm theo phương pháp cộng hình phạt của các tội phạm đã phạm và có thể đến 30 năm tù thay vì tối đa đến 20 năm tù trong trường hợp phạm một tội Thực tế này đã dẫn đến hai hệ quả: 1) Hình phạt áp dụng đối với người phạm tội quá cao so với tính chất, mức độ phạm tội của họ; 2) Không có sự công bằng nếu so sánh với các tội phạm khác trong Bộ Luật Hình sự, như các tội phạm: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230 BLHS); Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 231 BLHS); Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 232 BLHS) Trong khi hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở nhiều tội phạm do tác động đến những đối tượng phạm tội khác nhau thì cũng là những hành vi tác động đến nhiều đối tượng phạm tội ở những trường hợp khác lại chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm như các điều luật kể trên Rõ ràng ở đây đã có sự bất bình đẳng trong việc qui định trách nhiệm hình sự cho người phạm tội ở những tội phạm khác nhau Sự bất bình đẳng này cần được khắc phục khi hoàn thiện BLHS theo tinh thần của chiến lược cải cách
tư pháp theo Nghị quyết 49
- Nắm bắt ngay tinh thần này, có bài viết “Cần có giải pháp để giải quyết
vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng Điều 156 và Điều 157 BLHS” của tác giả
Nguyễn Quang Dũng - Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Quảng Nam, Nghiên cứu, xây dựng và áp dụng pháp luật, Tạp chí Kiểm sát, Số 5 (tháng 03/2012) Bài viết trình bày những vướng mắc và bất cập trong việc áp dụng Điều 156 và 157 BLHS
1999 không chỉ trên lý luận mà còn trên thực tiễn áp dụng Từ đó, kiến nghị sửa Điều 157 BLHS theo hướng quy định số lượng hàng giả là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm và cấu thành tăng nặng thiết kế bổ sung một tiết tương tự như điểm
e khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 156 BLHS
Trang 28- Bài viết “Trao đổi Một vài suy nghĩ về khái niệm hàng giả trong bối cảnh
cuộc chiến chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam”, Nguyễn
Thị Quế Anh, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, Tập 30, Số 1 (2014) 44-53 Bài viết đã làm rõ nội hàm của khái niệm hàng giả theo quy định của pháp luật hiện nay là một trong những điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả của công tác bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ và chống hàng giả Dưới góc độ pháp lý, điều này không chỉ
có ý nghĩa xác định giới hạn, phạm vi của hoạt động chống hàng giả, mà còn có ý nghĩa trong việc huy động, phát huy vai trò của các chủ thể tham gia vào cuộc chiến chống hàng giả, bao gồm cả các lực lượng chống hàng giả là các cơ quan nhà nước lẫn các doanh nghiệp, các cá nhân Đặc biệt, việc làm rõ khái niệm hàng giả cũng có
ý nghĩa lớn trong việc quyết định các biện pháp hợp lý trong ngăn ngừa, phát hiện
và áp dụng các biện pháp chế tài một cách đồng bộ, hợp lý đối với các hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả Thực tế áp dụng pháp luật hiện nay cho thấy khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam còn cần được hoàn thiện Khái niệm hàng giả hiện được hiểu rất rộng, có những khác biệt với thông lệ quốc tế Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp có những khó khăn trong việc phân biệt hành vi sản xuất buôn bán hành giả với các hành vi vi phạm pháp luật khác, khó khăn trong việc phân biệt các loại hàng giả với nhau Những khó khăn này thực tế tạo ra những lực cản, hạn chế hiệu quả của công tác đấu tranh phòng và chống hàng giả
- Bài viết “Hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về hàng giả và về
đấu tranh phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả”, Trần Ngọc Việt - Chánh
án TAND tỉnh Nam Định, Tạp chí NN&PL số 8/2001 đã trình bày 3 vấn đề của tác giả: Thứ nhất, những quan điểm cơ bản chỉ đạo quá trình tiếp tục hoàn thiện pháp luật nước ta về hàng giả và về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả; thứ hai, tác giả trình bày quy định thống nhất về khái niệm hàng giả và sự cần thiết khi cần phải có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng khái niệm này; cuối cùng, tác giả trình bày các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hàng giả và đấu tranh chống
tệ nạn làm hàng giả, buôn bán hàng giả
Trang 29- Bên cạnh đó, một số bài viết khác thực sự là những nguồn tư liệu quý để làm phong phú và vững chắc nguồn kiến thức đối với tội sản xuất, buôn bán hàng
giả như: Một số giải pháp tăng cường đấu tranh chống hàng giả và gian lận thương
mại - Nguyễn Minh Hải, Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính, số 12.2010, tr
36-39; Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trước nạn hàng giả, hàng nhái - Huyền Trang, Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số chuyên đề 1/2014, tr 12-15; Nạn hàng giả
và một số ý kiến về chống hàng giả ở Việt Nam - Trần Việt Hùng, Dân chủ và Pháp
luật, Bộ Tư pháp, Số chuyên đề 1/2014, tr 3-5, 11; Một số ý kiến phân biệt hàng giả
về chất lượng với hàng kém chất lượng và “hàng nhái” - Lê Đăng Doanh, Toà án
nhân dân tối cao, Số 5/2008, tr 29-32; Cần có văn bản hướng dẫn các dấu hiệu đặc
trưng của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và tội sản xuất hàng giả - Lê
Đăng Doanh, Kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 21/2010, tr 25-29…
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 2, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb
Công an nhân dân, 2012; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm -
Quyển 1), Trường Đại học Luật Tp HCM, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam,
2015; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Đại học Huế, Nxb
Công an nhân dân, 2008; Với tính chất của giáo trình, chủ yếu đưa ra các vấn đề
lý luận rất cơ bản, mang tính truyền thống, bình luận các quy định của BLHS hiện hành và có một số liên hệ khiêm tốn về thực tiễn để giúp cho sinh viên tiếp cận ban đầu về tội phạm này Các giáo trình không đi sâu phân tích các quan điểm lý luận khác nhau, cập nhật các hiện tượng, quan điểm khoa học và thực tiễn tình hình tội phạm mới nên giá trị khoa học chuyên sâu của chúng bị hạn chế
1.2 Những công trình nghiên cứu khác có liên quan
Mặc dù một số công trình nghiên cứu được tác giả đề cập dưới đây không liên quan trực tiếp đến đề tài mà tác giả đang nghiên cứu Tuy nhiên các công trình này đã cung cấp cho tác giả những cái nhìn đa chiều về tội sản xuất, buôn bán hàng giả để từ đó trên cơ sở phương pháp so sánh, tác giả có thể đưa ra những nhận định
khoa học, những kiến nghị phù hợp với thực tiễn pháp lý hiện nay, cụ thể là:
Trang 301.2.1 Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước
Ở Liên Xô trước đây đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về luật hình sự nói chung và những vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự nói riêng
Điển hình là các công trình:
- Cuốn “Luật hình sự và xã hội học”, nhà xuất bản Sách pháp lý, Matxcơva năm 1970 của tác giả Ghersengion A.A; Cuốn “Tội phạm học và chính sách hình
sự”, nhà xuất bản Trường đại học Tổng hợp Xvertlov năm 1980 của tác giả
Koovalev M.I và Vôrônhin Iu.A; Cuốn “Những vấn đề xã hội học của Luật Hình
sự”, nhà xuất bản Khoa học, Mátxcơva năm 1983 của tác giả Babaev M.M; Cuốn
“Chính sách hình sự và tình trạng phạm tội: Những vấn đề và các con đường giải quyết”, nhà xuất bản Kiến thức, Mátxcơva năm 1991 của Traađaev X.G; Cuốn
“Nhiệm vụ của chính sách hình sự Tội phạm - hiện tượng xã hội tiêu cực”
Mátxcơva, Nxb Infra - M, 2008 của tác giả Franz Von Listz; Cuốn “Luật hình sự
Nga, Phần Chung” Mátxcơva, năm 2005 do tác giả Kruglikov làm chủ biên… Đây
là nguồn tư liệu quý giá cung cấp cho tác giả những kiến thức nền tảng về khoa học luật hình sự, là cơ sở lý luận cho việc triển khai các nội dung nghiên cứu thuộc phạm vi đề tài luận án
1.2.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
- Các cuốn Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các tội phạm),
của tập thể tác giả TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS,Ths Phạm Thanh Bình, Ths Nguyễn Đức Mai, Ths Nguyễn Sỹ Đại, Ths Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công
an nhân dân, 2001; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Nhà xuất bản Tư pháp, 2001) của nhóm tác giả do Tiến sỹ Uông Chu Lưu chủ biên; Bình luận khoa học Bộ
luật hình sự, Phần các tội phạm, tập VI, do Ths Đinh Văn Quế chủ biên, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam
đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, do TS Trần Minh Hưởng chủ biên, Nxb Lao
động, 2009; Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017, PGS TS Nguyễn Thị Phương Hoa và TS Phan Anh
Tuấn đồng chủ biên, Nxb Hồng Đức, 2017… Trong các công trình này, các tác giả
Trang 31đã bình luận tương đối sâu, cụ thể các quy định của BLHS năm 1999 (2015) về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế liên quan đến các dấu hiệu cấu thành tội phạm, các dấu hiệu định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự và chế tài quy định đối với từng tội phạm Tuy nhiên, với tính chất bình luận, các tác giả chỉ giải thích không chính thức các quy định của BLHS, mà không đi sâu vào các vấn đề lý luận, các quan điểm khác nhau, cũng như không có những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS trong thực tiễn Hay thậm chí, cuốn Bình luận mới nhất của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa và TS Phan Anh Tuấn chủ biên khi xét đến nhóm tội từ quy định tại Điều 192-195 thì cũng chỉ liệt kê ra những điểm mới, chưa thực sự có những phân tích sâu về những điểm mới
đó, chưa đặt vấn đề giải thích vì sao BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 lại đưa những điểm mới đó vào Bộ luật
- Bên cạnh đó, còn có một số sách chuyên khảo về tội này dưới góc độ
nghiên cứu của tội phạm học như: “Tội phạm học Việt Nam” - Tập 2, Tội phạm học
chuyên ngành, Nxb Công an nhân dân, 2013, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm và GS TS Trần Đại Quang chủ biên đã cung cấp những khối kiến thức rất sâu dưới góc độ tội phạm học Ngoài ra, ở phần Đặc điểm tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng có nội dung phân biệt giữa tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với các tội về sản xuất, buôn bán hàng giả để người nghiên cứu thêm phần chắc chắn vào giá trị định hướng nghiên cứu của mình
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Tổng hợp vấn đề nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, Về khái niệm hàng giả; tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Trong Luật Hình sự thì không quy định khái niệm Hàng giả, mà khái niệm này được thể hiện trong các văn bản hướng dẫn như các Nghị định Và cho đến hiện nay, theo sự phát triển từ thực tiễn, khái niệm này chưa một lần dược tổng kết để đem lại một quy chuẩn áp dụng chung
Trang 32Thứ hai, về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự
Quy định tại BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 đã liệt kê vào danh sách chủ thể một đối tượng mới “Pháp nhân thương mại” cũng là một trong những đối tượng chịu trách nhiệm hình sự của tội này Hiện nay, chưa có tài liệu hay công trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội về sản xuất, buôn bán hàng giả Ngay cả chính những quy định trong BLHS cũng chỉ dừng lại liệt kê đối tượng vào trong Điều 192-195 và dựa trên cơ sở là nguyên tắc cơ bản áp dụng tại các Điều 74, 75, 76 tại chương XI BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 chứ cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về đối tượng này trong tội về sản xuất, buôn bán hàng giả
Thứ ba, về dấu hiệu pháp lý hình sự
Các giáo trình, sách chuyên khảo va các công trình nghiên cứu nói trên đã đi sâu phân tích được các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội sản xuất, buôn bán hàng giả như dấu hiệu giá trị hàng giả, số lượng hàng giả, dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan, chủ thể phạm tội Có thể nói đây là những tài liệu cơ bản làm nền tảng để tác giả tiếp cận các nghiên cứu trong luận án của mình
Các công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên tạp chí cũng như sách chuyên khảo, giáo trình về tội sản xuất, buôn bán hàng giả có số lượng không phải là ít nhưng hầu hết, đường hướng của các nghiên cứu trước đó, đã cũ về mặt thời gian,
số liệu, bên cạnh đó, các đề tài chưa cập nhật được tính mới khi đã tăng dấu hiệu định khung Như vậy, việc quy định các điều khoản này theo hướng nghiêm khắc hơn liệu có phù hợp với xu hướng pháp luật hiện nay và thể hiện được tính nhân đạo trong pháp luật hình sự? Hay việc quy định như vậy thì thực tiễn thực hiện sẽ
có những mặt phải, trái như thế nào? Đây đều là những vấn đề mà tác giả cho rằng
là quan trọng và sẽ trình bày, giải quyết trong khuôn khổ luận án này
1.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả từ trước đến nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam mà
tác giả tiếp cận được, tác giả xin sơ bộ nêu ra một số đánh giá chung sau đây:
Trang 33(1) Đối với các công trình nghiên cứu ở nước ngoài, chủ yếu là các bản báo cáo, các bản khảo sát, nghiên cứu về thực trạng của tội sản xuất, buôn bán hàng giả thể hiện những vấn đề lý luận chung của tội sản xuất, buôn bán hàng giả thông qua phân tích sâu rộng khái niệm “hàng giả” được hiểu tại quốc gia sở tại và thế giới; dấu hiệu pháp lý thì pháp luật mỗi nước lại có những quy định khác nhau về tội phạm và hình phạt Tuy nhiên, giá trị để lại khi nghiên cứu các sản phẩm nước ngoài đối với kết quả luận án chính là được hiểu rõ và rộng trong tư duy của các nhà làm luật, các nhà kinh tế, các nhà chính sách về tội sản xuất, buôn bán hàng giả; từ
đó, thực sự để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự để ngăn ngừa tội phạm này
(2) Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến luận án, những kết quả nghiên cứu của các tác giả mà chúng tôi tham khảo cho thấy, đã có khá nhiều công trình lớn, nhỏ nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả Đã từng không ít một tác giả thừa nhận rằng đề tài này không mới nhưng thể hiện tính thời sự, do vậy, các công trình nghiên cứu vẫn được ra đời và để lại những giá trị sâu sắc về mặt khoa học Tuy nhiên, các giai đoạn mà các tác giả nghiên cứu là từ trước năm
2015, hay nói cách cụ thể, thời điểm nghiên cứu trước khi BLHS 1999 sửa đổi, các công trình đều cách đây đến hàng chục năm Đến nay năm 2017, khi BLHS năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực pháp lý, thì những thay đổi cơ bản
về các phương diện, như: Chủ thể chịu trách nhiệm hình sự (Pháp nhân thương mại), thay đổi dấu hiệu định tội, tách một số tội phạm thành những tội danh độc lập (Điều 157 đến Điều 193, 194), cụ thể hoá một số tình tiết định tính, định lượng làm căn cứ định tội hoặc định khung hình phạt Đặc biệt hơn, tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng tinh vi, hàng giả tràn lan trên thị trường và mức độ thiệt hại cho cá nhân, tổ chức và nhà nước ngày càng sâu sắc Điều đó cho thấy rằng, trong giai đoạn hiện nay, nghiên cứu tội sản xuất, buôn bán hàng giả một cách tổng thể, toàn diện, thể hiện tính mới là điều cần thiết cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn
(3) Qua đánh giá tình hình nghiên cứu, tác giả rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án là:
Trang 34Một là, Tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở phân tích, so sánh để làm sáng tỏ khái
niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự các tội phạm về hàng giả;
Hai là, Phân tích, đánh giá vấn đề trong việc định tội danh, quyết định hình
phạt từ đó, cần làm rõ nguyên nhân của những sai sót trong việc trên đối với các tội
phạm về hàng giả;
Ba là, Đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật
hình sự đối với các tội phạm về hàng giả
Tiểu kết chương 1
Các tội phạm về hàng giả là một trong những nhóm tội xảy ra tương phối phổ biến trong thực tiễn Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học với nhiều công trình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các tội phạm về hàng giả trên nhiều phương diện khoa học như: luật học, xã hội học pháp luật, tâm lý học, tội phạm học Sự xuất hiện của các công trình nghiên cứu khoa học nói trên vừa có những đóng góp to lớn vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, vừa có ý nghĩa to lớn cho thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này Ở Việt Nam, cũng có không ít các công trình nghiên cứu về nhóm tội này Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy các tội phạm về hàng giả đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ những phương diện khác nha; tuy nhiên, những công trình này mới chỉ nghiên cứu ở những mức độ khác nhau, thiếu tính toàn diện và tổng thể
Kết quả nghiên cứu của Chương 1 cho thấy, việc nghiên cứu các tội phạm về hàng giả theo pháp luật hình sự Việt Nam một cách đầy đủ và sâu sắc với cấp độ của một luận án tiến sĩ tại thời điểm này là rất cần thiết
Với số lượng các công trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới về những vấn đề có liên quan đến đề tài luận án, mặc dù vẫn còn những điểm hạn chế, những vấn đề chưa được giải quyết triệt để nhưng có thể nói đó chính là nguồn tư liệu vô cùng quý giá để tác giả nghiên cứu tiếp cận và tiếp thu những thành quả từ các công trình đưa vào luận án để góp phần vào sự thành công của luận án
Trang 35CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ HÀNG GIẢ
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, hàng hóa trở nên đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và không ngừng được nâng cao về chất lượng Song, bên cạnh đó, một số đối tượng vì mong muốn thu lợi bất chính mà sẵn sàng sản xuất, buôn bán các loại hàng giả không những gây thiệt hại về tiền của, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng của con người mà còn gây rối loạn trật tự kinh tế thị trường, giá cả, kìm hãm sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa Hàng giả trực tiếp gây thiệt hại cho người tiêu dùng và làm điêu đứng các nhà sản xuất kinh doanh chân chính Đối với sản xuất và tiêu dùng nội địa, hàng giả ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và danh tiếng của các doanh nghiệp chân chính muốn phát triển bằng con đường cạnh tranh lành mạnh Việc nghiên cứu và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
và lịch sử về các tội phạm về hàng giả sẽ góp phần tích cực trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa đối với tội phạm nói chung và các tội phạm về hàng giả nói riêng
2.1 Khái niệm các tội phạm về hàng giả
2.1.1 Khái niệm hàng giả
Với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, số lượng hàng hóa có chất lượng cao được sản xuất và lưu thông trên thị trường ngày càng nhiều và đa dạng thì số lượng hàng giả cũng tràn lan với nhiều hình thức tinh vi Tình trạng hàng giả xuất hiện tràn lan trên thị trường sẽ gây tác hại về nhiều mặt cho kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng cũng như gây tác hại cho người tiêu dùng, ảnh hưởng đến tiến trình hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về hàng giả Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp và Từ điển giải thích thuật ngữ luật học - Luật hình sự, Luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì hàng
giả được định nghĩa như sau: “Hàng giả là thứ không có giá trị sử dụng của loại
hàng mà nó mang tên (hàng giả về nội dung) hoặc tuy có giá trị sử dụng của loại
Trang 36hàng mang tên nhưng mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác nhằm lừa dối khách hàng (giả về hình thức)” [123], [127] Như vậy, theo hai tử điển này, hàng giả gồm
hai loại là hàng giả về nội dung và hàng giả về hình thức Trong đó hàng giả về nội dung là thứ không có giá trị sử dụng của loại hàng mà nó mang tên, còn hàng giả về hình thức là hàng hóa tuy có giá trị sử dụng của loại hàng mang tên nhưng lại mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác nhằm lừa dối khách hàng Theo từ điển Bách
khoa toàn thư: “Hàng giả là hàng làm bắt chước theo mẫu mã của loại hàng thật
nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn Về hình thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi Người làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem nhãn của hàng thật để lừa gạt người mua” Khái niệm này thực ra chỉ là giải thích về mặt ngôn ngữ, mà chưa
phải là khái niệm mang tính pháp lý, thể hiện bản chất của hàng giả [146]
Dưới góc độ pháp lý, kể từ khi đất nước được thống nhất, thuật ngữ hàng giả lần đầu tiên được sử dụng trong Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 [11] Điều 5 của Pháp lệnh này quy định về tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả Tuy nhiên khái niệm hàng giả vẫn chưa được làm rõ trong pháp lệnh này Có thể nói , văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra khái niệm hàng giả là Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định
về việc kiểm tra, xử lý hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả Điều 3 của Nghị định
quy định: “Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản
xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”
Điều 4 của Nghị định 140/HĐBT nêu cụ thể 6 trường hợp được coi là hàng giả, bao gồm: 1) Sản phẩm có nhãn giả mạo; 2) Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng ký, bảo hộ; 3) Sản phẩm,
Trang 37hàng hóa mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng; 4) Sản phẩm hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam; 5) Sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ quan Tiêu chuẩn đo lượng chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức tối thiểu cho phép; 6) Sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó
Kể từ sau Nghị định 140/HĐBT, khái niệm hàng giả tiếp tục được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật, từ các văn bản về xử lý vi phạm hành chính, hình sự đến các văn bản về kinh doanh, thương mại; bảo hộ sở hữu trí tuệ; hải quan bao gồm cả các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ [1, tr.45] Tùy trong từng bối cảnh, phù hợp với nhu cầu đấu tranh chống hàng giả trong từng lĩnh vực mà khái niệm hàng giả có thể được hiểu theo nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung, khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam cũng đã có sự phát triển, hoàn thiện đáng kể [128] Theo các văn bản trong giai đoạn này, hàng giả bao gồm hàng giả về chất lượng hoặc công dụng, giả về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, giả về nhãn hàng hóa, các loại ấn phẩm đã in sử dụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa hay hàng có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của hàng hóa Tuy nhiên, những văn bản này không quy định rõ tiêu chuẩn định mức cho phép là bao nhiêu thì được xem
là hàng giả
Thời gian sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2013/NĐ-CP ngày 10/01/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả; Nghị định số 185/2013/NĐ ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng và Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015
về sửa đổi bổ sung một số nội dung của Nghị định 185 đã có những quy định chi tiết hơn về hàng giả Theo các văn bản này thì khái niệm hàng giả bao gồm bốn trường hợp: trường hợp giả về nội dung; trường hợp giả về hình thức; trường hợp
Trang 38giả mạo về sở hữu trí tuệ và trường hợp các sản phẩm là tem, nhãn, bao bì giả Trong đó, hàng giả về nội dung và giả về hình thức được quan tâm đặc biệt
Trường hợp giả về nội dung là trường hợp hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hoá; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất, có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký, không đủ loại dược chất đã đăng ký, có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá; thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất, có hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng, không đủ loại hoạt chất đã đăng ký, có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa
Trường hợp giả về hình thức (giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa), bao gồm: hàng hóa có nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hoá, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hoá của thương nhân khác; Hàng hóa
có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hoá, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa
Về nguyên tắc, mọi hàng giả đều gây thiệt hại cho người tiêu dùng Bảo vệ người tiêu dùng là một trong những mục đích cao nhất của công cuộc chống hàng giả Tuy nhiên, có một số hàng giả mà việc sử dụng có thể gây hại hoặc đe dọa gây hại trực tiếp cho sức khỏe, thậm chí tính mạng của người tiêu dùng như một số loại hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh Đối với những loại hàng giả này, các quy định của pháp luật về đấu tranh chống, phòng ngừa có những đặc thù riêng
Trang 39Khái niệm hàng giả hiện nay ở hầu hết các văn bản ở Việt Nam đều được xây dựng dưới dạng liệt kê đặc điểm của các loại hàng giả Qua thời gian, hàng giả được xác định gồm nhiều dạng khác nhau nhưng có thể nói xuyên suốt trong sự phát triển của khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam luôn có sự phân biệt giữa hàng giả về nội dung và hàng giả về hình thức, sau đó là sự phân định giữa hàng giả và hàng xâm hại quyền sở hữu trí tuệ, hàng giả thông thường và hàng giả gây hại cho sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng
Dưới góc độ bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, hàng giả về nội dung hay hàng giả về hình thức đều ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng nói riêng và nền kinh tế - xã hội nói chung nhưng hàng giả về nội dung là những loại hàng hóa gây hại trực tiếp đến người tiêu dùng Đây là những loại hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa Nếu mua phải loại hàng giả này, người tiêu dùng bị thiệt hại về kinh tế, thậm chí hại về tính mạng, sức khỏe Trong khi đó, đối với những loại hàng giả về hình thức (đây là những hàng hóa giả mạo về bao bì, nhãn hàng hóa) sự thiệt hại lại chủ yếu và trước hết thuộc về những thương nhân có hang hóa thật bị làm nhái, làm giả Trong trường hợp này, người tiêu dung cũng có thể là nạn nhân nếu chất lượng của hàng hóa cũng bị giả mạo Nhưng trái lại, trong một số trường hợp, người tiêu dung lại chấp nhận chất lượng hang hóa có thể thấp hơn với giá rẻ và gắn nhãn, bao bì của thương hiệu có uy tín [1, tr.46-47]
Thực tiễn công tác đấu tranh chống hàng giả, các số liệu thống kê cả về hành chính và về hình sự cho thấy, chủ yếu các vụ việc bị xử lý đều tập trung vào loại hàng giả về nội dung hoặc vừa giả về nội dung và đồng thời giả về hình thức [1, tr.47]
2.1.2 Khái niệm các tội phạm về hàng giả
Nhà nước ta luôn luôn nhất quán tôn trọng và bảo vệ quyền con người nói chung và quyền lợi của người tiêu dùng nói riêng thông qua nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có việc bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật hình sự Đã có nhiều văn bản pháp luật quy định các tội phạm về hàng giả dưới nhiều góc độ
Trang 40khác nhau nhưng tựu chung lại lợi ích của người tiêu dùng luôn được Nhà nước đặc biệt quam tâm
Việc quy định các tội phạm về hàng giả trong BLHS năm 2015 tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa hàng giả BLHS không đưa ra khái niệm các tội phạm về hàng giả nhưng thông qua quy định về khái niệm tội phạm nói chung, khái niệm các tội phạm về hàng giả sẽ được làm rõ Điều 8 BLHS
năm 2015 đã đưa ra khái niệm về tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”
Có thể nói khái niệm tội phạm này là khái niệm có tính khoa học đã thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm Nó không những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong phần các tội phạm của BLHS mà nó còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể
Nghiên cứu các tội phạm về hàng giả, ta có thể nhận thấy chúng có một số đặc điểm khái quát sau:
Thứ nhất, các tội phạm về hàng giả là những hành vi nguy hiểm cho xã hội
Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả không chỉ gây thiệt hại cho những doanh nghiệp chân chính, gây mất ổn định thị trường; hành vi này còn gây ra những thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe và lợi ích vật chất của người tiêu dùng Thực trạng hàng giả hiện nay đang tràn ngập thị trường và gần như xuất hiện ở hầu hết các mặt hàng trên thị trường đã khiến những nhà sản xuất chân chính bị thiệt hại không hề nhỏ Hàng giả được làm ngày càng tinh vi và thường đánh vào tâm lý ham của giẻ của người tiêu dùng nên khiến cho hàng thật điêu đứng, gây mất ổn định thị trường,