BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ============ PHẠM THỊ HẠC Nghiên cứu thiết kế bài giảng điện tử theo h-ớng dạy học nêu vấn đề cho môn điện tử công suất tại tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
============
PHẠM THỊ HẠC
Nghiên cứu thiết kế bài giảng điện tử
theo h-ớng dạy học nêu vấn đề cho môn điện tử công
suất tại tr-ờng cao đẳng kinh tế - kỹ thuật hải
d-ơng
LUậN VĂN THạC Sĩ SƯ PHạM Kỹ THUậT
Chuyên ngành: Lý luận và Ph-ơng pháp giảng dạy
Chuyên sâu: Quản lý và đào tạo nghề
Trang 2HÀ NỘI - 2011
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
============
PHẠM THỊ HẠC
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ THEO HƯỚNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ CHO MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
HÀ NỘI - 2011
Trang 4BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
============
PHẠM THỊ HẠC
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ THEO HƯỚNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ CHO MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS ĐẶNG DANH ÁNH
Trang 5Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đặng Danh Ánh đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong khoa Sư phạm kỹ thuật, Viện đào tạo và bồi dưỡng sau đại học - trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, các thầy cô trong ban giám hiệu và khoa Điện tử - Viễn thông trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tuy đã rất cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2011
Tác giả
Phạm Thị Hạc
Trang 6LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những nội dung tôi viết trong luận văn này là do
sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất cứ hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi cam đoan ở trên
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2011
Phạm Thị Hạc
Trang 7MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Giả thuyết khoa học 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Sơ lược về nghiên cứu, ứng dụng dạy học nêu vấn đề 5
1.1.2 Sơ lược về nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào giáo dục (GD) và dạy học (DH) 8
1.2 Các vấn đề cơ bản trong dạy học 12
1.2.1 Dạy học và quá trình dạy học 12
1.2.2 Phương pháp dạy học 13
1.2.3 Phương tiện kỹ thuật dạy học 14
1.2.4 Máy tính điện tử là phương tiện kỹ thuật dạy học rất có hiệu quả 16
1.3 Công nghệ thông tin (CNTT) và ứng dụng CNTT vào dạy học 22
Trang 81.3.1 Khái niệm CNTT 22
1.3.2 Ứng dụng CNTT vào giáo dục 23
1.3.3 Ứng dụng CNTT vào dạy học 24
1.3.4 Các hình thức ứng dụng CNTT vào dạy học và bài giảng điện tử 25
1.4 Những nội dung chủ yếu của hệ thống dạy học nêu vấn đề 30
1.4.1 Tính cấp bách của dạy học nêu vấn đề 30
1.4.2 Cơ sở tâm lý của dạy học nêu vấn đề 31
1.4.3 Các khái niệm cơ bản trong dạy học nêu vấn đề 32
1.4.4 Phân loại tình huống có vấn đề 34
1.4.5 Phương pháp giải quyết tình huống có vấn đề 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 39
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ THEO HƯỚNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT HẢI DƯƠNG 40
2.1 Giới thiệu tóm tắt về trường và khoa 40
2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên khoa Điện - Điện tử 43
2.2.1 Trình độ nghiệp vụ chuyên môn của giáo viên 43
2.2.2 Trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên 47
2.2.3 Trình độ CNTT của giáo viên 49
2.3 Thực trạng cơ sở vật chất (CNTT và các phương tiện kỹ thuật dạy học) của trường và khoa phục vụ cho việc dạy học 51
2.4 Thực trạng nhận thức của giáo viên khoa về tầm quan trọng của ứng dụng CNTT vào dạy học và đổi mới phương pháp dạy học 52
2.4.1 Về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT (bài giảng điện tử) vào dạy học 53
2.4.2 Về tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học 54
2.5 Thực trạng ứng dụng CNTT (bài giảng điện tử) vào dạy học và ứng 56
Trang 9dụng các phương pháp dạy học của giáo viên tại khoa Điện - Điện tử
2.5.1 Thực trạng ứng dụng CNTT (bài giảng điện tử) của giáo viên khoa Điện - Điện tử 56
2.5.2 Thực trạng ứng dụng các phương pháp dạy học và phương tiện của giáo viên khoa Điện - Điện tử 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 65
CHƯƠNG III: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ THEO HƯỚNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ CHO MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT 66
3.1 Phân tích mục tiêu, chương trình, nội dung môn học Điện tử công suất 66
3.1.1 Mục tiêu môn học 66
3.1.2 Chương trình, nội dung môn học 67
3.1.3 Đặc điểm môn học 72
3.2 Xây dựng bài giảng nêu vấn đề 73
3.2.1 So sánh các bước lên lớp của bài giảng truyền thống và các bước của bài giảng nêu vấn đề 73
3.2.2 Cấu trúc bài giảng truyền thống và cấu trúc bài giảng nêu vấn đề 76
3.3 Thiết kế bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề 77
3.3.1 Lựa chọn phần mềm và các công cụ để thiết kế bài giảng điện tử 77
3.3.2 Các bước thiết kế bài giảng điện tử 86
3.3.3 Lồng ghép bài giảng nêu vấn đề vào bài giảng điện tử 90
3.4 Ứng dụng lý luận trên để thiết kế bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề cho môn điện tử công suất 93
3.4.1 Quy trình thiết kế bài dạy bằng powerpoint 93
3.4.2 Nâng cao chất lượng, hiệu quả khi thiết kế và sử dụng bài dạy bằng powerpoint 93
3.4.3 Xây dựng BGĐT theo hướng dạy học nêu vấn đề cho môn điện tử công suất 99
3.5 Khảo nghiệm sư phạm và thử nghiệm sư phạm 105
Trang 10KẾT LUẬN CHƯƠNG III 113
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 114
1 Những kết quả đạt được 114
2 Kiến nghị 115
3 Hướng phát triển của đề tài 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 118
Trang 11- BGĐT: Bài giảng điện tử
- CNTT: Công nghệ thông tin
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ CÁC HÌNH VẼ MINH HỌA
Hình 1.1 Cấu trúc bài giảng điện tử
Trang 12Hình 1.2 Sơ đồ quá trình tư duy
Hình 2.1 Biểu đồ trình độ tin học của đội ngũ giáo viên
Hình 2.2 Biểu đồ đánh giá về mức độ thường xuyên sử dụng các phương pháp dạy học cho môn kỹ thuật điện tử
Hình 2.3 Biểu đồ đánh giá về mức độ thường xuyên sử dụng các phương tiện dạy học cho các môn kỹ thuật tại khoa Điện - Điện tử
Hình 2.4 Biểu đồ đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong môn học Điện tử công suất
Hình 3.1 Mô hình hóa quy trình lên lớp của bài giảng truyền thống và bài giảng NVĐ
Hình 3.2 Giao diện của phần mềm Ms - Powerpoint
Hình 3.3 Giao diện của phần mềm Macromedia Flash
Hình 3.4 Hình giao diện của phần mềm Microsoft Frontpage
Hình 3.5 Giao diện của phần mềm Hot Potatoes
Hình 3.6 Sơ đồ các bước thiết kế BGĐT
Hình 3.7 Sơ đồ các yếu tố cần phân tích để lựa chọn nội dung tạo THCVĐ
Hình 3.8 Cấu trúc nội dung một BGĐT theo hướng NVĐ
Hình 3.9 Lưu đồ cấu trúc đã được thiết kế sẵn
Hình 3.10 Thể hiện cấu trúc dưới dạng hình sao
Hình 3.11 Biểu đồ dạng xương cá
Hình 3.12 Vùng hiển thị thông tin quan trọng
Hình 3.13 Chuyển động của mắt khi quan sát
Hình 3.14 Biểu đồ so sánh kết quả hành thăm dò ý kiến về mức độ hứng thú học tập của sinh viên
Hình 3.15 Sơ đồ mạch chỉnh lưu nửa chu kì 1 pha dùng Thyristor, tải trở cảm
Hình 3.16 Giản đồ thời gian tín hiệu vào và ra của sơ đồ mạch chỉnh lưu
nửa chu kì 1 pha dùng Thyristor
Bảng 2.1 Trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật
Trang 13Bảng 2.2 Quy mô đào tạo trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương giai đoạn 2006 -
Bảng 2.8 Nhận thức của đội ngũ về vai trò của CNTT với việc đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học
Bảng 2.9 Nhận thức của đội ngũ về tầm quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học
Bảng 2.10 Thực trạng việc ứng dụng CNTT vào dạy học tại trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương
Bảng 2.11 Kết quả thăm dò về mức độ thường xuyên sử dụng các phương pháp dạy học vào quá trình dạy học của giáo viên trong khoa
Bảng 2.12 Kết quả thăm dò về mức độ sử dụng các phương tiện dạy học các môn kỹ thuật tại khoa Điện - Điện tử trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương
Bảng 2.13 Đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong môn học Điện tử công suất của sinh viên hai lớp K8.04.01 và K8.06.01
Bảng 3.5 Kết quả vận dụng lý thuyết vào cuộc sống
Bảng 3.6 Bảng kết quả hành thăm dò ý kiến về mức độ hứng thú học tập của SV đối với môn điện tử công suất
Trang 14TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đề tài: NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ THEO HƯỚNG DẠY
HỌC NÊU VẤN ĐỀ CHO MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT HẢI DƯƠNG
Tác giả luận văn:Phạm Thị Hạc Khóa: 2009 - 2011
Người hướng dẫn:PGS.TS Đặng Danh Ánh
Nội dung tóm tắt:
a) Lý do chọn đề tài
Việc đổi mới phương pháp dạy học chính là việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT - TT), môi trường đa phương tiện vào quá trình dạy học
Với phương pháp dạy học nêu vấn đề, giúp sinh viên không chỉ nắm bắt được nội dung, mục đích của bài giảng mà còn tạo cho họ có được thói quen, bản lĩnh và phương pháp tự nghiên cứu khoa học trong suốt cuộc đời trưởng thành của họ
Trong luận văn này tác giả chọn đề tài: "Nghiên cứu thiết kế bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề cho môn điện tử công suất tại trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật Hải Dương".
b) Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng đề xuất cách thiết kế
bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề cho môn Điện tử công suất tại trường
Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn để thiết kế bài giảng điện tử
theo hướng dạy học nêu vấn đề
- Phạm vi nghiên cứu:Nghiên cứu ứng dụng 02 bài giảng điện tử nêu vấn đề cho môn
Điện tử công suất ở lớp thuộc hệ cao đẳng của khoa Điện - Điện tử trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương
c) Tóm tắt cô đọng các nội dung chính và đóng góp mới của tác giả
- Nghiên cứu tổng quan về phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, ứng dụng CNTT
Trang 15- Trình bày cơ sở lý luận của dạy học theo hướng NVĐ có sự hỗ trợ của phương tiện dạy học hiện đại (máy tính) và thực hiện phương pháp này một cách có hiệu quả cho bài giảng môn điện tử công suất
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng về cơ sở vật chất, trình độ giáo viên và việc giáo viên ứng dụng CNTT, ứng dụng các phương pháp giảng dạy vào đào tạo ở trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Hải Dương
- So sánh bài giảng truyền thống, bài giảng NVĐ, BGĐT trên cơ sở đó đề xuất quy trình xây dựng bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề khi dạy học môn điện tử công suất
- Xây dựng được BGĐT điển hình theo hướng DHNVĐ là: “2.2 Sơ đồ chỉnh lưu nửa chu
kỳ 1 pha dùng thyristor, tải trở cảm” và đồng thời tiến hành thực nghiệm với đầy đủ các bước nêu trên đặc biệt nhấn mạnh tính ưu việt của các phương pháp mới nhằm phát huy tính tích cực của SV
d) Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích - tổng hợp; Phương pháp quan sát sư phạm; Phương pháp thực nghiệm sư phạm
e) Kết luận
Trong xu thế phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi phải có sự đầu tư hợp lý và đồng bộ trên nhiều phương diện, trong đó đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao là rất quan trọng và cần thiết
Để làm được điều đó cần có sự đầu tư hiệu quả về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học Trong đó cải tiến phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng, là vấn đề đang được nhiều giáo viên tâm huyết với nghề quan tâm nhằm tìm
ra phương pháp hiệu quả truyền đạt kiến thức cho học sinh tạo ra những giờ học tích cực, sonh động, hiệu quả cao
Môn học điện tử công suất là một trong những môn học được ứng dụng rất nhiều trong thực tế hiện nay, để học sinh vừa có kiến thức lý thuyết vừa có kỹ năng tự giải quyết vấn đề, có khả năng áp dụng ngay được các tình huống có vấn đề trong thực tế thì
Trang 16phương pháp dạy học theo hướng dạy học nêu vấn đề là một hướng dạy học tối ưu hiện nay
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Người hướng dẫn Học viên
PGS.TS Đặng Danh Ánh Phạm Thị Hạc
Trang 17MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định giáo dục - đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; phát triển giáo dục là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững " Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên" [17]
Văn kiện đại hội IX đã đề ra nhiệm vụ: "Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có
tư duy phân tích, tổng hợp; phát huy được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh - sinh viên trong quá trình học tập Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học" [12, tr.107] để sinh viên khi ra trường có đủ khả năng và trình độ tiếp cận với
sự phát triển của khoa học công nghệ
Một phần của việc đổi mới phương pháp dạy học chính là việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT - TT), môi trường đa phương tiện vào quá trình dạy học, bởi lẽ ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) đã làm biến đổi sâu sắc xã hội loài người, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các ngành, các lĩnh vực, các quốc gia và tới hầu hết các công dân trong phạm vi toàn cầu; nó đã tạo ra những nhân tố năng động mới của nền kinh tế và xã hội trong đó có giáo dục và đào tạo (GD&ĐT)
Phương pháp dạy học hiện nay vẫn còn là thầy giảng - trò ghi nên không kích thích được hứng thú học tập, chưa phát huy được tính cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên Vì vậy, khả năng vận dụng những kiến thức kỹ thuật vào thực tiễn của sinh viên còn hạn chế Một trong những phương pháp dạy học mới có thể
Trang 18khắc phục điểm hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống đó là phương
pháp dạy học nêu vấn đề Với phương pháp dạy học này, giúp sinh viên không chỉ
nắm bắt được nội dung, mục đích của bài giảng mà còn tạo cho họ có được thói
quen, bản lĩnh và phương pháp tự nghiên cứu khoa học trong suốt cuộc đời trưởng
thành của họ
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương một số năm gần đây đã
triển khai đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy trong tất cả
các ngành đào tạo nhằm phù hợp với nhu cầu của xã hội Để hỗ trợ cho việc đổi
mới phương pháp dạy học, nhà trường đã đầu tư kinh phí mua sắm các thiết bị dạy
học hiện đại, khuyến khích ứng dụng CNTT và các phương pháp dạy học tích cực
vào giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo Tuy nhiên việc ứng
dụng CNTT và sử dụng các thiết bị kỹ thuật vào phương pháp dạy học tích cực
còn hạn chế Cụ thể là:
- Việc sử dụng máy tính, các thiết bị nghe nhìn vào dạy học hầu như mới ở
mức độ thấp, chủ yếu chỉ mới thay cho việc sử dụng phấn bảng; việc đổi mới các
hình thức dạy học gắn với ứng dụng CNTT chưa được quan tâm
- Phòng máy tính mới sử dụng để dạy tin học như một môn học còn việc sử
dụng phòng máy, mạng máy tính, cùng các phần mềm dạy học (PMDH) như một
công cụ dạy học chưa được quan tâm
- Việc khai thác, sử dụng mạng Internet cho việc tìm kiếm thông tin, tư liệu
dạy học còn chưa thiết thực với nhiều cán bộ, giáo viên
- Việc biên soạn bài giảng điện tử, việc xây dựng các phần mềm dạy học,
xây dựng kho tư liệu điện tử phục vụ dạy - học và việc soạn giáo án điện để tử
phát huy được tính tích cực, chủ động học tập nghiên cứu của sinh viê
n còn hạn chế
Thực tiễn ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương lâu nay các đề
tài khoa học chỉ đi sâu nghiên cứu các môn học chuyên ngành, chưa có ai nghiên
cứu về đổi mới phương pháp dạy học và áp dụng dạy học nêu vấn đề vào thiết kế
bài giảng điện tử Trọng tâm của phương pháp đó là: Giáo viên phải xây dựng
Trang 19tiến hành giảng dạy Vì vậy tác giả chọn đề tài: "Nghiên cứu thiết kế bài giảng
điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề cho môn điện tử công suất tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương"
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng đề xuất cách thiết kế bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề cho môn Điện tử công suất tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương
3 Giả thuyết khoa học:
Hiện nay nhiều giáo viên lên lớp vẫn dùng phương pháp dạy học truyền thống bằng phấn trắng bảng đen, hậu quả là chất lượng và hiệu quả đào tạo thấp, tay nghề của sinh viên yếu, khi ra trường khó kiếm việc làm Nếu tìm được những cách thức để thiết kế bài giảng kiểu mới - bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề thì sẽ nâng cao được hiệu quả, chất lượng dạy và học môn Điện tử công suất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn để thiết kế bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương có nhiều hệ đào tạo, tác giả chỉ nghiên cứu ứng dụng 02 bài giảng điện tử nêu vấn đề cho môn Điện tử công suất ở lớp thuộc hệ cao đẳng của khoa Điện - Điện tử trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Hải Dương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
5.2 Đánh giá thực trạng việc ứng dụng bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương
5.3 Thiết kế bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề cho môn điện
tử công suất
Trang 206 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp trên cơ sở thu thập tài liệu từ sách, báo, phương tiện thông tin
- Phương pháp quan sát: dự giờ, hội giảng, đàm thoại, trao đổi, thảo luận, rút kinh nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tổ chức thực nghiệm có đối chứng, phân tích, xử lý kết quả
7 Cấu trúc luận văn: Ngoài phần mở đầu, luận văn có 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Chương II: Đánh giá thực trạng việc ứng dụng bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương
- Chương III: Thiết kế bài giảng điện tử theo hướng dạy học nêu vấn đề cho môn Điện tử công suất
Kèm theo là danh mục các chữ viết tắt, bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 21CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
1.1.1 Sơ lược về nghiên cứu, ứng dụng dạy học nêu vấn đề
Nhìn lại quá trình phát triển, ta thấy dạy học nêu vấn đề đã trải qua những bước thăng trầm và có thể chia ra làm hai giai đoạn cơ bản:
- Giai đoạn đầu: Dạy học nêu vấn đề khi mới hình thành về mặt lý luận
Ở Nga có các đại diện là các nhà sinh học I.Ghecdơ, B.E RaiCốp; các nhà sử học N ARơgiơcốp, nhà ngôn ngữ V.Bantalon, M.ARưnicôva…
Ở Anh, các đại biểu của nền giáo dục mới từ những năm 70 của thế kỷ 19 dùng phương pháp tìm tòi phát kiến trong dạy học (thực chất là dạy học nêu vấn đề) nhằm hình thành năng lực nhận thức của học sinh bằng cách lôi cuốn họ tham gia phân tích hiện tượng, làm những bài tập chưa từng làm chứa đựng những khó khan nhất định
Trong giai đoạn này, ngoài những nhà giáo dục tâm huyết đã nhìn thấy khả năng to lớn, những đóng góp hữu iichs của dạy học nêu vấn đề đối với hoạt động dạy và học trong các nhà trường, còn số đông các nhà giáo dục khác do bảo thủ đã quen dung phương pháp dạy học truyền thống nên đã phê phán kịch liệt, vì bẩn thân dạy học nêu vấn đề có một số thiếu sót cơ bản là [1]:
+ Thiếu cơ sở lý luận, cụ thể thiếu cơ sở tâm lý học
+ Chỉ giới hạn đặt vấn đề ra trước học sinh, còn học sinh phải tự giải quyết vấn đề bằng phép “thử - sai”, biến học sinh thành nhà nghiên cứu, điều này không phù hợp với thực tế
+ Chỉ đảm bảo được tính tích cực hóa quá trình học tập nhưng không làm cho việc dạy học trở thành quá trình điều khiển được
Đáng tiếc là, việc phê phán này không nhằm mục đích bổ sung hoàn thiện thêm để cho nó phát triển mà đi đến hoàn toàn phủ định nó
- Giai đoạn 2: Là giai đoạn hiện nay được tính từ năm 60-70 của thế kỷ này trở lại đây, dạy học nêu vấn đề mới được khôi phục lại Không phải vì lý do chính trị, cũng không phải chuyện tân trang lại “bình cũ, rượu mới” cho hợp thời, mà đơn giản vì một chân lý rất hiển nhiên Khoa học là khoa học, sức sống của một
Trang 22phương pháp nằm ngay trong giá trị của bản thân phương pháp Với tư cách là một hệ thống phương pháp dạy học mới, đảm bảo cho con người phát triển toàn diện, có năng lực tư duy đọc lập và sang tạo cao, dạy học nêu vấn đề đã đáp ứng đúng được những yêu cầu mà thời đại đặt ra đối với giáo dục nói chung và đào tạo con người trong các nhà trường nói riêng
Tất nhiên để dạy học nêu vấn đề có được hiệu quả phải nhờ đến công lao của các nhà tâm lý học và giáo dục học lớn nổi tiếng đương đại ở nhiều nước như
ở Ba lan có V.O OKON (1968), đặc biệt ở Liên Xô (cũ) như: C.LRubinstein (1958), M.AMachiuskin (1972), T.V Kudriasep (1975), M.I.Makhơmutốp (1975), Jokn Deway, Rohn.Pdececco, I.A.Lecne, M.N.Xcatkin, X.F.Giucôp… đã hoàn chỉnh thêm về mặt lý luận và nhất là bằng các thực nghiệm vận dụng thành công trên nhiều đối tượng môn học như Toán, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội… và ở nhiều cấp học như học sinh phổ thông, đại học, dạy nghề… đã tạo ra một trào lưu mạnh mẽ nghiên cứu ứng dụng dạy học nêu vấn đề trên thế giới Đặc biệt là ở các nước có nên giáo dục tiên tiến hiện đại
Ở Việt Nam
Việc nghiên cứu giới thiệu, phổ biến lý luận dạy học nêu vấn đề - một thành tựu mới của khoa học giáo dục trên thế giới với bạn đọc Việt Nam, đã được làm từ nhiều năm do sự đóng góp của nhiều nhà sư phạm: Lê nguyên Long, Đặng
Vũ Hoạt, Lê Khánh Bằng, Đặng Danh Ánh, Vũ Văn Tảo, Trần Văn Hà… Các cơ quan chuyên môn như: Viện khoa học giáo dục Việt Nam, Viện khoa học dạy nghề trước kia nay cũng thuộc Viện khoa học giáo dục Việt Nam, các trường Đại học Sư phạm… đều coi đây là một nội dung đưa vào chương trình nghiên cứu
Song song với các công tác nghiên cứu lý luận, một số tác giả đã tổ chức thí điểm thực nghiệm và triển khai ứng dụng ở một số lĩnh vực như: xây dựng bài tập nêu vấn đề cho môn điện và vô tuyến kỹ thuật (Đặng Danh Ánh, luận án Phó tiến sĩ, Matxcơva năm 1977), xây dựng bài tập và bài giảng nêu vấn đề cho môn cơ kỹ thuật (Nguyễn Lộc, Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề, 1982), xây dựng các bài tập tình huống có vấn đề cho việc bồi dưỡng giáo viên mẫu giáo (Trần Thị Phong Thanh, trường cán bộ quản lý giáo
Trang 23Hầu hết các kết quả cho thấy việc xây dựng các tình huống có vấn đề theo nội dung chương trình học tập và giúp đỡ người học giải quyết các vấn đề đó sẽ góp phần phát hiện, bồi dưỡng vun đắp phát triển tiềm lực sáng tạo, tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ của người học Dạy học nêu vấn đề khêu gợi, kích thích người học suy nghĩ, tìm tòi và phát huy khả năng tư duy ở mức cao nhất, huy động trí tuệ vào giải quyết các vấn đề do bài học hoặc thực tiễn đặt ra Khi vấn đề được giải quyết là người học có thêm tri thức và kỹ năng mới nhưng đồng thời cũng tìm
ra được cách thức hay phương pháp tìm ra nó Vì lẽ đó dạy học nêu vấn đề giúp người ta học được phương pháp học, từ đó có thể biết tự học suốt đời và nảy sinh long ham học trong mọi điều kiện hoàn cảnh Đây là điều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó rất phù hợp với những yêu cầu xã hội đang đòi hỏi đối với công tác giáo dục đào tạo trong việc cung cấp lực lượng lao động cho các ngành kinh tế xã hội
Ngày nay do sự phát triển khoa học công nghệ đã làm biến mất một số ngành nghề và xuất hiện nhanh chóng những ngành nghề mới Kỹ thuật của những năm 60 sẽ rất lạc hậu so với năm 2011 Người học không thể trông đợi vào những tri thức nhà trường trang bị và hy vọng có thể dùng vốn tri thức ấy trong suốt đời lao động nghề nghiệp của mình Khoảng 5 - 7 năm sau những tri thức học được ở trường sẽ lạc hậu Do đó muốn làm việc được thì họ phải biết cách tự học, có phương pháp tự học
Mặc dù trên phương diện nghiên cứu lý luận cũng như kết quả tiến hành thực nghiệm ở một số nơi đều khẳng định những ưu điểm nổi trội của dạy học nêu vấn đề nhưng trong nhiều năm qua hầu như dạy học nêu vấn đề chủ yếu vẫn dừng ở thí điểm diện hẹp không nhân ra được diện rộng Cách dạy học truyền thống dùng phấn trắng, bảng đen vẫn chiếm ưu thế, phổ biến nhất vẫn là thấy đọc trò chép, thuyết trình giảng giải xen kẽ vấn đáp tái hiện, biểu diễn trực quan minh hoạ
Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều, song trước hết trong quá trình cải cách và phát triển giáo dục nước ta những năm trước đây, chúng ta mới chú trọng tới tầm vĩ mô (cơ cấu hệ thống giáo dục, mạng lưới các trường lớp) còn chương trình nội dung dạy học (dạy cái gì) và phương pháp dạy học (dạy như thế nào) tuy
Trang 24đây, do có đặt ra nhưng không có những chủ trương cụ thể và chưa được xếp vào hàng những vấn đề cấp bách Từ năm 2004 đến nay Bộ GD&ĐT đã có chủ trương đổi mới mạnh mẽ cách dạy và cách học ở trường phổ thông, nhưng trên thực tế chưa có được các trường và giáo viên thực hiện nghiêm túc Còn ở các trường Cao đẳng, Đại học việc đổi mới phương pháp dạy học là tùy thuộc vào từng trường, vào giảng viên, không có hình thức ràng buộc nào cả, do vậy chất lượng đào tạo thấp
1.1.2 Sơ lược về nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào giáo dục (GD) và dạy học (DH)
Vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục ở việt nam hiện nay là mối quan tâm của nhiều tổ chức, cá nhân, trên nhiều mảng khác nhau Chẳng hạn như:
- Các công ty Schoolnet, Công ty điện toán và truyền số liệu (VDC), Công ty điện tử công nghịêp Hà Nội (CDC), Công ty phần mềm Hoàng Anh, vv rất quan tâm ứng dụng CNTT vào như: quản lý tài chính, quản lý học sinh, quản lý thi, quản lý thư viện, sắp xếp thời khoá biểu, việc cập nhập dữ liệu học sinh, sinh viên và thông tin tới gia đình để phối hợp quản lý, giáo dục học sinh vv qua mạng Internet đã được nhiều nhà trường quan tâm thực hiện
- Việc xây dựng hệ thống thông tin trong giáo dục được bộ giáo dục và các cơ quan quản lý giáo dục địa phương rất quan tâm, nhiều phần mền quản lý thông tin
có hiệu quả đã được đưa vào sử dụng và ngày càng hoàn thiện như phần mềm EMIS, PMIS, Bộ giáo dục và đào tạo, các sở, nhiều phòng GD&ĐT, các viện nghiên cứu, các trường đại học cao đẳng, THCN, dạy nghề và nhiều trường phổ thông rất quan tâm với việc xây dựng và tổ chức hoạt động rất hiệu quả của các Website Website của các đơn vị: Bộ GD&ĐT (http://mote.gov.vn/), cổng thông tin điện tử của Bộ (http://edu.net.vn/), Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục - SREM (http://www.Srem.com.vn/), là những Website rất bổ ích cho những người quan tâm, cho các nhà giáo, đặc biệt là các nhà quản lý giáo dục
Đặc biệt là hiện nay có rất nhiều nghiên cứu, rất nhiều sản phẩm phần mềm, rất nhiều Website đã có đóng góp rất quan trọng trong việc ứng dụng CNTT vào
Trang 25Sơ lược về tình hình nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học:
Nói đến việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay không thể không nói tới việc ứng dụng CNTT Việc ứng dụng CNTT vào dạy học là mối quan tâm hàng đầu của rất nhiều tổ chức, cá nhân, các nhà giáo, nhà nghiên cứu, các công ty phần mềm, tin học coi như là một phương tiện thậm chí như là một môi trường giáo dục (trường học ảo – thông qua mạng Internet) nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục trên thế giới và yêu cầu đổi mới giáo dục trên đất nước hiện nay
Các tập đoàn máy tính và phần mền Intel, IBM, Microsoft, cũng đã đầu tư rất lớn cho việc nghiên cứu đưa CNTT vào giáo dục và đã hỗ trợ cho bộ GD&ĐT nhiều dự án đang được triển khai ở nhiều trường phổ thông một cách có hiệu quả,
mở ra một hướng mới cho việc đổi mới giáo dục ở nước ta:
- Tập đoàn Microsoft với việc hỗ trợc các trường học trong việc đưa CNTT vào dạy học thông qua chương trình “Partners in Learing” Chương trình Partners
in Learing bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm 2005, mục tiêu của chương trình đến năm 2010 là 50.000 giáo viên được đào tạo về kỹ năng CNTT và phương pháp tích hợp CNTT trong giảng dạy Đặc biệt là bộ tài liệu huấn luyện và chia sẻ đồng nghiệp của chương trình này được nghiên cứu, biên soạn rất công phu, rất bổ ích cho giáo viên Bộ tài liệu bao gồm:
+ Bộ sách tin học căn bản: được viết theo các cấp độ sử dụng khác nhau: Cơ bản về soạn thảo văn bản/ Tạo bài trình bày với Microsoft PowerPoint/ Internet và khai thác Internet
+ Bộ sách hướng dẫn sư dụng CNTT trong dạy và học, hướng dẫn chia sẻ với đồng nghiệp Bao gồm mô hình trường học thế kỷ 21/ Sử dụng CNTT trong dạy học/ “Chia sẻ sử dụng CNTT trong dạy học”
- Tập đoàn Intel với chương trình “Dạy học của Intel” trước đây là chương trình có tên “Intel Teach to the Future - Dạy học cho tương lai” với nội dung là chương trình dạy học theo dự án (PBL) - một chương trình dạy học hiện đại của thế ky 21; với kết qủa từ năm 2004 đến năm 2007, riêng với các trường phổ thông,
Trang 26chương trình đã “tiến hành bồi dưỡng được khoảng 8.000 GV (giáo viên), tại 170 trường thuộc tỉnh, thành phố của Việt Nam”
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng rất quan tâm tới việc nghiên cứu và triển khai ứng dụng CNTT vào dạy học:
- Công ty Công nghệ tin học nhà trường School@net (Website http://www.vn school.net./.) với rất nhiều sản phẩm phần mền dạy - học được đóng gói trên các
CD riêng lẻ và chạy độc lập trên PC như: Học Toán 1, 2, 3, 4, 5; Cùng toán học 1,
2, 3, 4, 5; Color Math; Em tập tô màu; Bút chì thông minh, Thiên nhiên xung quanh em, Vòng quanh thế giới; iQB Cat; iTester Pro, Tủ sách tin học nhà trường; Math Test One; Math Test Pro;
- Công ty cổ phần tin học Bạch Kim - Website http://www.bachkim.vn/ với việc xây dựng kho tư liệu dạy học điện tử rất phong phú với sự đóng góp của đông đảo đội ngũ giáo viên trên cả nước - đây là một đại chỉ rất hữu ích cho đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên phổ thông trong việc khai thác tư liệu để ứng dụng CNTT vào dạy học
- Có thể kể ra rất nhiều Công ty, nhiều cá nhân có các nghiên cứu thiết kế các sản phẩm và xây dựng website đóng góp rất lớn vào việc ứng dụng CNTT vào giáo dục nói riêng, dạy học nói chung: Phân viện công nghệ thông tin tại TP Hồ Chí Minh với website hỗ trợ học tập và đào tạo từ xa (http://elearning.ioit-hcm.ac.vn/); Trung tâm tư vấn giáo dục và bộ trợ kiến thức phổ thông - Hội khuyến học Việt Nam với webssite http://hocmai.vn/; Nguyễn Duy Phi và Bùi Minh Mẫn - hai sáng lập viên của website ôn thi miễn phí trực tuyến có kho tư liệu bài tập rất phong phú (http://www.onthi.com/);
Đặc biệt là gần đây xuất hiện một hình thức dạy học mới rất độc đáo bước đầu
đã được các nhà giáo quan tâm nghiên cứu và tổ chức rất hiệu quả, đó là xây dựng blog hỗ trợ dạy học: Thầy giáo Nguyễn Văn Phương, giáo viên Lý Trường THPT
Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3 TPHCM xây dựng blog “Mái trường và chúng ta”, Địa chỉ: http://phuongmk.googlepages.com; Nguyễn Minh Tú với Weblog dạy học: http://nguyenminhtu1985.sky.vn/archiver/32; Việc lập một blog dạy học
Trang 27đối với mỗi giáo viên là hoàn toàn có thể thực hiện được bởi sự đơn giản trong việc tạo ra các trang web blog hiện nay
Trong lĩnh vực xuất bản, ngoài những sách tin học có liên quan tới việc tiếp thu kiến thức về tin học để thiết kế các sản phẩm CNTT trong dạy học như hướng dẫn sử dụng Powerpoint 2003, hướng dẫn tự học Macromedia Flash, hướng dẫn tự học Photoshop, Một số tác giả rất quan tâm và có những tác phẩm, những công trình nghiên cứu rất có ích cho giáo viên trong việc nghiên cứu, học tập và ứng dụng CNTT vào dạy học:
Lê Công Triêm: “Sử dụng máy vi tính trong dạy học Vật lý”, Nhà xuất bản:
Nguyễn Thu Hà: “Bước đầu ứng dụng CNTT trong dạy học môn Công nghệ
8 ở trường THCS”, (Luận văn thạc sỹ - ĐHSPNH, 2005)
Trên các tạp chí: Tạp chí thông tin khoa học giáo dục, Thư viện và nhà trường, Thiết bị giáo dục, có rất nhiều bài về việc ứng dụng CNTT vào dạy học các bộ môn
Có thể nói, cùng với sự phát triển của CNTT, các công trình nghiên cứu từ nhỏ, (như một bài báo, một SKKN) đến lớn (như một tác phẩm - một cuốn sách, một đề tài khoa học) làm cho việc học tập, nghiên cứu và áp dụng CNTT vào dạy học là rất thuận thiện
1.2 Các vấn đề cơ bản trong dạy học:
1.2.1 Dạy học và quá trình dạy học
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm trong bất cứ loại hình nhà trường nào, dưới góc độ của giáo dục học Dạy học là một quá trình toàn vẹn có sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học
Dạy học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động của học sinh Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức điều
Trang 28khiển của giáo viên, người tự học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học Trong hoạt động dạy học, hoạt động dạy học của giáo viên có vai trò chủ đạo, hoạt động học của học viên có vai trò tự giác, chủ động, tích cực Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học viên có tác động lẫn nhau Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó việc dạy học không diễn ra
Theo tác giả Trần Tuyết Oanh: “Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển nhận thức -học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học” [16,139]
Trong dạy học, người giáo viên phải vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp dạy học khác nhau để giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy học Theo tác giả Đặnh
Danh Ánh: “Biểu hiện quan trọng trong năng lực dạy học của giáo viên trong điều kiện hiện nay là sự kết hợp khéo léo giữa phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh trong giờ học” [2, 142]
Quản lý quá trình dạy học thực chất là những động tác của chủ thể quản lý đối với các hoạt động của chủ thể quản lý đối với các hoạt động dạy học nhằm đạt mục tiêu quản lý
1.2.2 Phương pháp dạy học
Theo tác giả Phan Hồng Vinh - Từ Đức Văn: “Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiệntối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học ” [18, 204]
Theo tác giả Lê Quang Sơn: “PPDH được hiểu là cách thức hoạt động cùng nhau của người dạy và người học, hướng tới việc giải quyết các nhiệm vụ dạy học (bao gồm cả trang bị tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành các phẩm chất nhân
cách; phát triển những khả năng và năng lực) Phương pháp dạy học là cách mà
người dạy chỉ đạo (tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) hoạt động của người học, và
Trang 29Như vậy, PPDH thực chất là cách thức hoạt động của giáo viên, được thực hiện trong quá trình dạy học để tác động đến người học, nhằm giúp HS chủ động đạt mục tiêu dạy học đề ra
Đối với giáo dục phổ thông hiện nay, Luật giáo dục năm 2005 quy định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù với từng đặc điểm của từng lớp học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” việc đổi mới phương pháp dạy học trong các trường phổ thông hiện nay đều nhằm thực hiện tốt các yêu cầu này
1.2.3 Phương tiện kỹ thuật dạy học
Để việc dạy học đạt kết quả cao, trong quá trình dạy học người giáo viên và học sinh phải sử dụng các phương tiện dạy học (mà lâu nay người ta thường gọi là thiết bị dạy học) Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng bao gồm việc đổi mới các thiết bị phương tiện dạy học (PTDH), đổi mới cách nghĩ cách làm, cách quản
lý việc sử dụng các phương tiện dạy học, sao cho hoạt động này trở thành thói quen thường xuyên trong từng tiết lên lớp của giáo viên
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về phương tiện dạy học
- Theo một số tài liệu thì phương tiện dạy học được định nghĩa như sau: Phương tiện dạy học là những đồ dùng dạy học mang những nguồn thông tin học tập khác nhau phục vụ cho giảng dạy và học tập mà cụ thể là lời nói của giáo viên, sách giáo khoa, các tài liệu học tập, các thiết bị học tập giảng dạy và làm thí nghiệm, các đồ dùng dạy học trực quan như mô hình sơ đồ, tranh vẽ các phương tiện kỹ thuật như phim ảnh, máy ghi âm, vô tuyến truyền hình
Theo tác giả Phan Thị Hồng Vinh - Từ Văn Đức: “Phương tiện dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất và tinh thần được giáo viên sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh và đối với học sinh, nó là nguồn trí thức trực quan sinh động, là công cụ rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo học” [18, 234]
Các loại phương tiện dạy học:
Có nhiều các loại thiết bị dạy học, có nhiều cách phân loại khác nhau Có thể nêu hai cách phân loại điển hình sau:
Trang 30Theo Sở GD&ĐT Hà Nội các phương tiện dạy học bao gồm:
a Thiết bị đơn giản: Các dụng cụ dạy học thông thường: Tranh ảnh đồ dùng dạy học, mô hình vật mẫu, đồ chơi giáo dục mầm non
b Thiết bị hiện đại có giá trị kinh tế cao: Các thiết bị dạy học và đồ dùng dạy học hiện đại máy móc thực hành, dụng cụ thí nghiệm, máy chiếu, máy vi tính, hệ thống nghe nhìn, máy photo copy,
Theo TS Trần Đức Vượng [19] thì danh mục trang bị phương tiện dạy học cho hệ thống trường phổ thông Việt Nam hiện nay bao gồm các loại hình như sau
6 Bản đồ dùng cho máy chiếu qua đầu
7 Băng đĩa, ghi âm
8 Băng, địa ghi hình
9 Phầm mềm dạy học
Bốn loại hình phương tiện dạy học đầu là PTDH truyền thống (hay thiết bị dạy học truyền thống) Các PTDH này được giáo viên và học sinh khai thác trực tiếp lượng thông tin chứa đựng trong phương tiện
Các loại hình từ 5-9 có đặc điểm muốn khai thác lượng thông tin trong phương tiện phải có thêm các máy móc chuyên dùng Tất cả các hệ thống đó người ta quen gọi là phương tiện kỹ thuật dạy học còn gọi là phương tiện nghe nhìn (PTNN)
So với các PTDH truyền thống thì các PTKTDH có nhiều ưu điểm nổi trội PTKTDH có một số đặc điểm:
1 Mỗi PTĐTH bao gồm 2 khối: Khối mang thông tin và khối truyền tải thông tin tương ứng
Khối mang thông tin Khối truyền tải thông t in tương ứng
Phim Slide, phim chiếu bóng Máy chiếu Slide, máy chiếu phim
Băng đĩa ghi âm Radio Cassette, đầu đĩa
Băng đĩa ghi hình Đầu Video, TV hay máy vi tính, máy chiếu Phần mềm dạy học Máy vi tính
Trang 313 Đắt tiền gấp nhiều lần PTDH thông thường Ví dụ một chiếc máy chiếu qua đầu của Nhật giá 6 triệu đồng, bảng giá một bộ thiết bị vật lý lớp 6
4 Phải có trình độ và độ sử dụng bảo quản tốt
5 Phải có phòng ốc chuyên biệt để lắp đặc, sử dụng và bảo quản
Trong các phương tiện kỹ thuật dạy học thì máy tính thiết bị xử lý thông tin, phương tiện làm nên bộ não của CNTT - là phương tiện quan trọng nhất Máy tính vừa là phương tiện nâng cao tính tích cực trong dạy học vừa là đối tượng của hoạt động dạy học - dạy học về máy tính
1.2.4 Máy tính điện tử là phương tiện kỹ thuật dạy học rất có hiệu quả 1.2.4.1 Các khả năng cơ bản của MTĐT:
Trong CNTT, MTĐT là bộ phận chính đóng vai trò chủ đạo trong việc giao tiếp và thu nhận thông tin Do vậy, nó đã có ở hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Sở dĩ như vậy là vì nó có khả năng ưu việt sau:
- MTĐT là thiết bị tạo ra, lưu trữ trên máy tính và hiển thị trên màn hình một khối lượng thông tin vô cùng lớn dưới dạng văn bản, hình ảnh mà con người có thể tiếp nhận được Hơn nữa, việc truy cập thông tin hết sức dễ dàng, nhanh chóng, chính xác, tiện lợi và rẻ tiền hơn ở mọi phương tiện thông thường khác
- MTĐT có khả năng tính toán, xử lý cực nhanh các phép tính với độ chính xác cao Chức năng ưu việt này giúp con người thực hiện những khối lượng công việc vô cùng lớn trong khoảng thời gian vô cùng nhỏ Mặt khác, các dữ liệu
đã thu thập được qua quá trình tính toán, xử lý, cho ra các kết quả được hiển thị dưới dạng chuẩn như: biểu bảng, biểu đồ, đồ thị tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu
- MTĐT còn tạo ra xã hội mới với đặc thù đặc biệt - xã hội nối mạng (Networking Social) Với xã hội được nối mạng, mọi thành viên đều được nối với nhau bằng mạng máy tính toàn cầu Mọi cá nhân đều có thể liên lạc với nhau bất
cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu Thành tựu tạo ra sự thay đổi đó chính là Internet Internet là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên phạm
vi toàn thế giới
Trang 32- MTĐT còn có thể tạo ra được một thế giới ảo Thế giới ảo trong đó không chứa đựng các đối tượng vật lý cụ thể mà chỉ là những biểu tượng về những đối tượng vật chất Thế giới ảo đang ngày càng phát triển và tác động sâu sắc tới từng thành viên của nhân loại, nó làm phong phú và đa dạng hơn môi trường sống của cong người
- Nhờ phần mềm, thông qua MTĐT có thể điều khiển hoàn toàn tự động các quá trình theo chương trình đặt sẵn
1.2.4.2 Các khả năng hỗ trợ của MTĐT trong dạy học:
Nhờ những yêu điểm nổi trội, hiện nay MTĐT đã được ứng dụng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đối với ngành giáo dục đào tạo, khi khai thác có hiệu quả, nó có thể hỗ trợ được tất cả các khâu của quá trình dạy học như truyền đạt tri thức, rèn luyện kỹ năng, ôn tập củng cố, kiểm tra, đánh giá
Vậy, MTĐT có những khả năng hỗ trợ cơ bản nào trong quá trình học?
* Khả năng hỗ trợ khâu truyền đạt và lĩnh hôị tri thức mới:
Trong hoạt động dạy học, hoạt động dạy là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, mà một trong các điều khiển hoạt động tổ chức của học sinh là việc tổ chức điều khiển học sinh tri giác trực tiếp những hiện tượng, đối trượng nghiên cứu Điều này bắt đầu tư vai trò của nhận thức cảm tính trong quá trình nhận thức Nhận thức cảm tính cung cấp tài liệu cho quá trình tư duy, tư duy phải dựa trên những tài liệu cảm tính, trên những kinh nghiệm, trên cở
sở trực quan sinh động Nhận thức cảm tính là một khâu của mối quan hệ trực tiếp giữa tuy duy với hiện thực, là cơ sở của những khái quát kinh nghiệm dưới dạng khái niệm, các quy luật Do đó, V.I Lênin đã đưa ra công thức nổi tiểng về quá trình nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Xét toàn bộ quá trình nhận thức chung của loài người cũng như của học sinh đều thể hiện theo công thức đó, song trong từng giai đoạn cụ thể, tuỳ theo điểm xuất phát trong quá trình nhận thức mà có thể đi từ trừu tượng đến
cụ thể hoặc từ cụ thể đến trừu tượng
Trang 33MTĐT tạo ra môi trường đa phương tiện với nhiều hình thức biểu diễn khác nhau như: văn bản, hình ảnh (biểu bảng, biểu đồ, ảnh tỉnh động ) và những
âm thanh được trình bày như một kịch bản đã vạch sẵn, nhằm đạt hiệu quả tối đa qua quá trình học tập đa giác quan Nó được lưu giữ và trình diễn cho học sinh, làm cho nội dung tri thức trở nên dễ nhớ, dễ hiểu, và nhớ lâu hơn, vì độ bền của tri thức chỉ có thể đạt được khi người học tiếp thu chúng bằng nhiều con đường khác nhau Trong công tác nghiên cứu với những đối tượng không thể quan sát trực tiếp được như các hệ vi mô, vĩ mô, các quá trình biến đổi nhanh hay chậm sự nguy hiểm hoặc không có thiết bị thì con người thường sử dụng phương pháp mô hình hoá để sử dụng một cách đơn giản, gần đúng với cấu trúc vật chất Sau đó, cho mô hình vận động theo những quy luật của đối tượng thật Quá trình này gọi là sự mô phỏng Nhờ việc xây dựng chính xác các mô hình đó trên máy tính dưới sự trợ giúp của các phần mềm điều khiển, người ta có thể mô tả một cách sinh động, trung thực và đầy thuyết phục các đối tượng thực cần nghiên cứu như: Sự chuyển động của một hành tinh trong hệ mặt trời, của một điện tử xung quanh hạt nhân,
sự vận hành của hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, sự phát triển của một loài cây từ lúc gieo hạt cho đến khi ra hoa kết quả làm cho nội dung của nó trở nên dễ hiểu, dễ nhớ
Trên cơ sở tri giác tài liệu trực quan (tri giác mô hình, hình ảnh tĩnh, động,
âm thanh ) từ MTĐT, học sinh xây dựng biểu tượng chính xác làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm, học sinh tiến hành các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá để hình thành khái niệm, phán đoán, suy nghĩ, và qua đó các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện hơn
* Khả năng điều khiển, kiểm tra:
MTĐT tự động lưu giữ và đánh giá kết quả học tập của học sinh bao gồm
cả mặt mạnh, mặt yếu và ghi lại thời gian học sinh trả lời câu hỏi, kịp thời đưa ra các thông tin phản hồi yêu cầu, hướng dẫn, những nội dung kết quả trả lời của học sinh Như vậy, MTĐT cho giáo viên và học sinh một bức tranh chính xác về sự tiến bộ của học sinh trong quá trình tiếp thu tri thức Qua đó giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy và sửa chữa cho từng học sinh, giúp học sinh tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình cho phù hợp và hiệu quả
Trang 34Việc kiểm tra kiến thức của học sinh bằng MTĐT luôn đảm bảo được tính công bằng, khách quan, chính xác, nhờ đó mà tính trung thực của học sinh cũng được rèn luyện Dạy học bằng MTĐT đã góp phần giáo dục nhân cách người lao động mới Như vậy MTĐT được xem là một phương tiện kiểm tra có nhiều thế mạnh hơn các phương tiện truyền thông khác, luôn đảm bảo được mối liên hệ ngược trong, ngược ngoài, điều khiển, điều chỉnh kịp thời hoạt động của học sinh
MTĐT tạo điều kiện cho người học hoạt động học tập tới mức cao độ, tách
xa thầy giáo trong khoảng thời gian dài mà vẫn đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học Do đó việc sử dụng máy tính trong quá trình dạy học dẫn tới kiểu dạy học mới - dạy học cá thể hoá Mỗi học sinh ngồi trước màn hình có thể học theo tiến độ riêng, không cần sự giám sát trực tiếp của giáo viên, người này không phụ thuộc vào người kia
Với dạy học bằng MTĐT, học sinh không bị hạn chế học tập theo một thời khoá biểu theo không gian học tập ở trên lớp Các em có thể học tập ở bất cứ nơi đâu, ở bất cứ lúc nào, có thể ở nhà máy, ở xưởng trường, nhà trường, có thể đặt máy tính ở phòng nghỉ trong giờ ra chơi, học sinh có thể tìm kiếm tri thức, rèn luyện kỹ năng, giải trí thông qua các trò chơi học tập
Như vậy, dạy học bằng MTĐT là hình thức dạy học theo nhu cầu, sự hòa nhập giữa CNTT & TT dẫn tới hình thành những mạng máy tính, đặc biệt là Internet cung cấp những kho thông tin và tri thức khổng lồ Giáo viên và học sinh
có thể sử dụng cơ sở dữ liệu mạng, tra cứu sách, tư liệu ở ngân hàng dữ liệu trung tâm, trích đọc, trích in, những phần cần thiết một cách nhanh chóng và thuận tiện Nhờ có MTĐT, người đọc có thể giao lưu với nhau không bị hạn chế bởi thời gian
và không gian, có thể dạy học từ xa và mang tính chất giao tiếp chủ động MTĐT tạo điều kiện cho việc thực hiện những ý tưởng vĩ đại trong giáo dục như học mọi nơi học mọi lúc, học suốt đời, nâng cao tính nhân văn, dân chủ trong giáo dục MTĐT có thể giúp người đọc ở mọi lúc, mọi nơi có khả năng chinh phục khoảng cách, tiếp thu nội dung giáo dục hiện đại nhất ở địa điểm tuỳ ý Họ có thể tuỳ chọn chương trình học, chọn thầy dạy, có thể học không chỉ một thầy giỏi, có thể giao
Trang 35lưu với nhiều bạn học ở những nơi khác nhau Vì thế mọi học sinh trên lãnh thổ đều có khả năng tiếp thu chương trình học, thậm chí thầy học như nhau
Với MTĐT, giáo viên có thể cài đạt lên mạng những bài dạy mẫu, có thể dạy học cả lớp hoặc có thể chia thành nhiều nhóm hội thoại với nhau Thông quan mạng, giáo viên có thể hướng dẫn, kiểm tra từng nhóm, từng học sinh Mạng cho phép hội thoại giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau Khả năng liên lạc của MTĐT được sử dụng nhiều trong các trường hợp mà mối liên lạc trực tiếp giữa người dạy và người học gặp nhiều khó khăn Khi đó các bài học, bài tập, bài kiểm tra được gửi và nhận dưới dạng thư điện tử Với sự phát triển rộng rãi của mạng Internet và hệ thống đa phương tiện thì khả năng này của MTĐT càng được phát triển hơn bao giờ hết
* Khả năng hỗ trợ công tác luyện tập và rèn luyện kỹ năng:
MTĐT với các phần mềm để dạy học để luyện tập thông qua hệ thống các bài tập, hệ thống bài tập đó có thể lặp lại vô hạn cho đến khi học sinh nắm vững tri thức, rèn luyện và củng cố chắc kỹ năng, kỹ xảo cần hình thành Trong quá trình học tập và làm việc trên máy vi tính, máy thu nhận những thông tin về diễn biến của kết quả học tập Do đó, học sinh có thể rèn luyện kỹ năng của mình, tránh tình trạng học sinh mất nhiều thời gian phải chờ đợi học sinh kém hoặc hoặc học sinh kém phải gắng gượng bỏ qua những thao tác mà mình chưa nắm vững để chạy theo học sinh khá giỏi
Luyện tập hình thành kỹ năng trên MTĐT giúp học sinh có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với thực tiễn như: quan sát các thí nghiệp thực, các bài học cụ thể, các hoạt động ngoại khoá đã được chụp ảnh, quay phim trước khi làm việc với đối tượng thực, giúp tiết kiệm thời gian chuẩn bị của thầy và nghiên cứu vai trò Việc tạo ra các vi thế giới chỉ tồn tại trên MTĐT mà quy luật vận động chúng tuân theo quy luật vận động của thế giới thực đã tạo ra những khả năng tốt phát huy tính độc lập, tự giác , chủ động sáng tạo của học sinh Các sự vật hiện tượng cần được tái tạo, khảo sát quá trình vận động của chúng, nêu các giả thuyết để giải thích, kiểm tra, để khẳng định tính đúng đắn hay bắc bỏ giả thuyết rút ra kết luận là những tri thức khoa học mới và sau đó vận dụng vào thực tiễn , học sinh có thể
Trang 36tiến hành cả quá trình đó trên môi trường vi thế giới Bên trong khả năng này là tư tưởng, là những cơ sở tâm lý của việc sử dụng các phương pháp dạy hoc hiện đại: dạy hoc nêu và giải quyết vấn đề, dạy học thông qua hoạt động Đó cũng chính là một triong các hướng của v iệc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
* Những khả năng khác:
Ngoài những khả năng trên MTĐT còn được dùng để tạo ra những trò chơi hết sức phong phú, giúp học sinh có thể vừa giải trí, vừa học tập Qua đó có thể hình thành động cơ học tập, gây hứng thù, làm giàu hoặc củng cố nhận thức cho học sinh, rèn luyện tốc độ phản ứng, khả năng phán đoán, phát triển năng lực trí tuệ MTĐT còn được dùng như công cụ phục vụ công tác nghiên cứu khoa học
và công tác quản lý trong ngành giáo dục
1.2.4.3 Những mặt hạn chế của MTĐT trong dạy học:
Nếu học sinh chỉ giao tiếp với máy, tách rời hoàn toàn với bạn bè và GV thì
nó xoá bỏ quan hệ học sinh và xã hội lên được coi là dạy học phi nhân cách, phi
xã hội Như vậy, theo quan điểm của tâm lý học và giáo dục học của Macxit thì dạy học bằng MTĐT có thể làm phương hại đến nhân cách của học sinh Mặt khác, sử dụng MTĐT trong dạy học có hiệu quả không đòi hỏi giáo viên phải có năng lực sư phạm cao, mà còn hỏi học sinh phải có thói quen học theo kiểu CNTT (nên phải cần thời gian dài cho việc hình thành thói quen đó) Thậm chí, nếu lạm dụng việc sử dụng MTĐT trong dạy học thì sẽ làm phân tán chú ý của học sinh Chính vì vậy nên chỉ coi MTĐT là phương tiện hôc trợ trong quá trình dạy học chứ không thể thay thế hoàn toàn giáo viên
Tóm lại, do khả năng thu nhận, lưu trữ, xử lý, cung cấp và trình diễn thông
tin dưới nhiều hình thức khác nhau (văn bản, hình ảnh, âm thanh ) nên khả năng được coi là nổi bật và có tính đặc thù của MTĐT là khả năng hỗ trợ công tác truyền đạt và lĩnh hội tri thức mới Khả năng của MTĐT đối với quá trình dạy học ngày càng được mở rộng, hỗ trợ tốt cho mọi tiến trình của quá trình dạy học và trở thành phương tiện tạo nên một “môi trường giáo dục có tính tương tác cao”, đáp ứng yêu cầu mới của “Nền giáo dục điện tử”, của một “Xã hội học tập”
Trang 371.3 Công nghệ thông tin (CNTT) và ứng dụng CNTT vào dạy học:
và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi hoạt động của lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
Theo luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006 (Điều 4 Giải thích từ ngữ): “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”
Theo tác giả Đặng Danh Ánh, đến nay CNTT đã phát triển qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1, từ khi máy tính ra đời năm 1943 đến những năm 60, 70 của thế
kỷ 20 - đây là giai đoạn khởi đầu của CNTT; giai đoạn 2 - những năm 80, giai đoạn tin học hoá các ngành kinh tế quốc dânvà xã hội; giai đoạn 3 của CNTT là Internet hoá được bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ 20[2]
Có thể nói, sự phát triển nhanh chóng của CNTT và đặc biệt là của mạng Internet hiện nay vừa tạo ra một điều kiện hết sức thuận lợi đồng thời cũng là một đòi hỏi cấp thiết đối với GD & ĐT nói chung, phương pháp dạy học trong mỗi nhà trường, của mỗi thầy cô giáo nói riêng phải đổi mới mạnh mẽ theo hướng tích hợp
và sử dụng triệt để những thế mạnh của CNTT vào dạy học
1.3.2 Ứng dụng CNTT vào giáo dục
Ứng dụng CNTT trong GD & ĐT là một yêu cầu đặt ra trong chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất cả các
Trang 38lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Tại chỉ thị số 58 - CT/TW ngày 17/10/2000
“Về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển thông tin phục vụ sự công nghiệp hoá hiện đại hoá” Bộ chính trị (khoá VIII) yêu cầu: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD & ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo
từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho GD&ĐT, kết nối Internet với tất cả các cơ sở GD&ĐT
Ứng dụng CNTT trong giáo dục còn là một điều tất yếu của thời đại, như ông Peter van Gils, chuyên gia dự án Công nghệ thông tin trong giáo dục và quản
lý nhà trường (ICTEM) khẳng định: “Chúng ta đang sống trong một xã hội mà người ta gọi là xã hội tri thức hay một xã hội thông tin Điều này có nghĩa rằng sản phẩm đầu ra mang tính công nghiệp trong xã hội của chúng ta đã mất đi cái tầm quan trọng của nó Thay vào đó là những “dịch vụ” và “những sản phẩm tri thức” Trong xã hội như vậy, thông tin đã trở thành một loại hàng hoá cực kỳ quan trọng Máy vi tính là những kỹ thuật liên quan đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc lưu trữ và truyền tải thông tin và tri thức Thực tế này yêu cầu các nhà trường phải đưa các kỹ năng công nghệ vào trong chương trình giảng dạy của mình Một trường học mà không quan tâm gì tới sự kiện đang xảy ra trong xã hội.”
Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bao gồm hai lĩnh vực: ứng dụng
CNTT trong quản lý và ứng dụng CNTT trong dạy học Thực tiễn, việc ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay không phải là một chuyện xa vời, điều kiện CSVC,
hạ tầng CNTT Nó cũng đòi hỏi công tác quản lý giáo dục phải có những giải pháp thích hợp để phát huy hết những lợi thế mà công nghệ thông tin mang lại cho việc dạy và học của chúng ta hiện nay
Một thuật ngữ hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau là giáo án điện tử hay bài giảng điện tử Thuật ngữ này cho đến nay còn nhiều ý kiến chưa đồng nhất
nhưng có thể hiểu đó là việc giáo viên lên lớp dạy học với sự hỗ trợ của máy tính, qua các phần mềm trình chiếu hoặc các phần mềm dạy học - trong luận văn này
Trang 391.3.3 Ứng dụng CNTT vào dạy học
Trước những yêu cầu của đổi mới giáo dục và khả năng to lớn lớn của việc ứng dụng CNTT cũng như thực tiễn trong các cơ sở giáo dục nước ta GS Hoàng Kiếm - Giám đốc trung tâm Phát triển CNTT, ĐHQG TP HCM đề xuất cho 3 mô hình ứng dụng nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Mô hình 1: Xây dựng hệ thống hỗ trợ công tác giảng dạy qua các phần mềm
dạy học cho từng môn học
Mô hình 2: Xây dựng hệ thống giảng dạy học tập qua đài truyền hình, đài
phát thanh và các mạng máy tính cục bộ Mô hình này cho phép kết hợp giữa bài giảng của thầy với các phương tiện nghe nhìn tiên tiến như TV, video, đĩa CD
Mô hình 3: Mô hình đào tạo từ xa trên cơ sở mạng diện rộng Internet,
Intranet Mô hình này tích hợp lợi điểm của các mô hình 1, 2 và tăng cường khả năng tương tác giữa thầy và trò qua thư tín điện tử, diễn đàn thảo luận Mô hình hướng đến việc xây dựng một hệ thống đào tạo từ xa hoàn chỉnh trên nền tảng của mạng diện rộng: Internet, Intranet bao gồm các hệ mềm quản trị tri thức bài giảng, câu hỏi, bài tập, quản lý giáo vụ
Trong các nhà trường học hiện nay tuỳ theo mức độ nhận thức của các bộ quản lý, giáo viên, trang bị cơ sở vật chất về CNTT & TT, mà việc ứng dụng CNTT & TT trong dạy học ở nhà trường là rất khác nhau Theo các tác giả của đề
tài nghiên cứu “ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” (do PGS.TS Đào Thái Lai làm chủ nhiệm [8], dưới sự chủ trì của Viện chiến lược và Chương trình giáo dục, được thực hiện trong 2 năm 2003-2005),
việc ứng dụng CNTT trong các nhà trường từ thấp đến cao có 4 mức độ sau:
Mức 1: Sử dụng CNTT & TT để trợ giúp giáo viên trong một số thao tác nghề nghiệp như soạn giáo án in ấn tài liệu, sưu tầm tài liệu, nhưng chưa sử dụng CNTT & TT trong tổ chức dạy học các tiết học cụ thể của môn học
Mức 2: ứng dụng CNTT & TT để hỗ trợ một khâu, một công việc nào đó trong toàn bộ quá trình dạy học
Mức 3: Sử dụng MPDH để tổ chức dạy học một chương, một tiết, một vài chủ đề môn học
Trang 40Mức 4: Tích hợp CNTT & TT vào quá trình dạy học
Có thể nói, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục sẽ tạo nên một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập trong các nhà trường CNTT đang trở thành một cánh cửa góp phần rút gắn khoảng cách trong giáo dục giữa các vùng miền, là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, để khai thác sao cho đạt hiệu quả đối với những trang thiết bị CNTT đã và sẽ được đầu tư thì còn nhiều việc cần phải làm
Đó là một nhiệm vụ mà công tác quản lý giáo dục nói chung, với các cơ quan quản lý giáo dục nói riêng cần phải sớm tìm ra những giải pháp khoa học, hợp lý
đề nhà trường còn là ốc đảo giữa xã hội thông tin hiện nay
1.3.4 Các hình thức ứng dụng CNTT vào dạy học và bài giảng điện tử
Qua tìm hiểu cho thấy trong thực tiễn hiện nay các hình thức phổ biến của ứng dụng CNTT vào dạy học bao gồm:
1 Dạy học bằng giáo án điện tử hay bài giảng điện tử
2 Khai thác thông tin qua mạng Internet phục vụ dạy học
3 Tổ chức học tập, tìm hiểu kiến thức qua mạng Internet
4 Dạy học tại phòng máy tính, qua các phần mềm
5 Kiểm tra, đánh giá học sinh bằng CNTT/ máy tính
+ Khái niệm bài giảng điện tử:
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra Cần lưu ý bài giảng điện
tử không phải đơn thuần là các kiến thức mà học sinh ghi vào vở mà đó là toàn bộ dạy và học - tất cả các tình huống đã xảy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức của học sinh Bài giảng điện tử càng không phải là công cụ thay thế “ bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp Các đơn vị của bài học đều phải được multimedia hoá Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng: văn bản (text), đồ họa