1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và các giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của học sinh sinh viên bằng hình thức trắc nghiệm khách quan tại trường cao đẳng y tế ninh bình

67 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 793,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm ở các trường đại học, cao đẳng và Trung cấp hiện nay chưa được tiến hành một cách bài bản: Việc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm theo qui trình chuẩ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đánh giá kết quả học tập là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo, là một trong những yếu tố quyết định chất lượng đào tạo Việc đánh giá có chất lượng là một vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý giáo dục ở nước ta hiện nay Từ năm

1994, Bộ giáo dục và Đào tạo chủ trương đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng hình thức trắc nghiệm nhằm nâng cao chất lượng đánh giá Hiện nay nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đã triển khai áp dụng việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên bằng hình thức trắc nghiệm khách quan

Việc đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm ở các trường đại học, cao đẳng và Trung cấp hiện nay chưa được tiến hành một cách bài bản: Việc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm theo qui trình chuẩn hoá còn là một vấn đề mà nhiều trường chưa làm được, khâu tổ chức thực hiện còn nhiều vấn đề

Từ nhiều năm nay, Trường Cao đẳng y tế Ninh Bình đã thực hiện việc đánh giá kết quả học tập bằng hình thức trắc nghiệm khách quan Các môn học đã được áp dụng thi hết môn bằng câu hỏi trắc nghiệm Tuy nhiên số lượng các test của từng môn học chưa nhiều và chưa tiến hành xác định chất lượng một cách có hệ thống và chưa được soạn thảo theo quy trình chuẩn hoá

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: Thực trạng và các giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của Học sinh – Sinh viên bằng hình thức trắc nghiệm khách quan tại trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu thực trạng đánh giá KQHT của HS-SV bằng hình thức

TNKQ và các giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá KQHT

3 Đối tượng nghiên cứu

- Thực trạng KTĐG KQHT của trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình

- Một số giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của HS – SV bằng hình thức TNKQ tại trường CĐ Y tế Ninh Bình

Trang 2

4 Giả thuyết khoa học

Nếu các giải pháp đề xuất được áp dụng thì có thể nâng cao chất lượng đánh giá

kết quả học tập của HS - SV bằng hình thức trắc nghiệm khách quan

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về KTĐG KQHT

- Nghiên cứu thực trạng KTĐG KQHT bằng hình thức TNKQ tại Bộ môn Khoa học cơ bản trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình

- Xây dựng và đề xuất giải pháp

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này chỉ tiến hành nghiên cứu quá trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS - SV tại Bộ môn Khoa học cơ bản trường CĐ y tế Ninh Bình

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá, các tài liệu có liên quan đến đề tài 7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát cách tổ chức thực hiện việc kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kỳ, hết môn học

- Phương pháp điều tra: Sử dụng các bộ phiếu điều tra đối với học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý để phân tích thực trạng công tác kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên bằng hình thức trắc nghiệm khách quan

8 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 3 phần lớn:

Mở đầu: Bao gồm các yêu cầu chung của đề tài

Nội dung: Gồm 3 chương

- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

- Chương 2: Thực trạng công tác KTĐG KQHT tại Bộ môn Khoa học cơ bản trường CĐ Y tế Ninh Bình

- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của HS –

SV bằng hình thức trắc nghiệm khách quan tại trường CĐ Y tế Ninh Bình

Trang 3

Kết luận và những kiến nghị

Những kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 4

ở Trung quốc cũng như các nước châu Á trong đó có Việt Nam Các phép thử dùng để chọn tướng, dùng người được miêu tả kỹ càng trong tam quốc chí Những phép thử khi các sứ thần Việt Nam đi triều cống ở các vương triều Trung Quốc là tiêu biểu cho các phép trắc nghiệm tâm lý Trong các truyện dân gian việc kén rễ, kén vợ, chọn dâu hiền, tôi trung xảy ra phở biến người ta còn tổng kết thành tục ngữ, ca dao, thành ngữ để chọn người

Việc KTĐG thông thường có thể qua đối đáp (ngày nay chhúng ta gọi là trắc nghiệm nói), qua công việc như: thi nấu ăn, thi dệt vải, thi đấu võ, thi vật, thi vẽ (ngày nay gọi là trắc nghiệm thực hành) và khi có chữ viết thì xuất hiện trắc nghiệm viết Trong trường học Việt Nam và Trung Quốc thời xưa, bài viết được đánh giá qua các buổi bình văn, hoặc do quan trường chấm bài, thậm chí các kỳ thi quan trọng Vua cũng tham gia chấm bài Một hình thức kiểm tra lý thú khác cũng xuất hiện khá sớm là kiểm tra bằng hình ảnh Qua các cuộc kiểm tra, người ta thường đánh giá và chọn ra người thắng cuộc Trắc nghiệm bằng lời nói, việc làm, hành động nếu được xem là phép thử hay TNKQ, thì TNKQ có thể ra đời sớm hơn trắc nghiệm khác Nhưng cái thiếu của những loại trắc nghiệm lúc đó chính là có một công cụ đo chính xác

Trang 5

Trong dạy học truyền thống người ta sử dụng các câu hỏi mở (trắc nghiệm tự luận) để thí sinh trả lời theo diễn đạt của mình mà ta thường gọi là câu hỏi tự luận, sau

đó hình thành khoa TNKQ Việc kiểm tra thường đi kèm với đánh giá xếp loại và tuyển chọn học sinh

Theo Vũ Cao Đàm: “Trắc nghiệm là phương pháp bán thực nghiệm được sử dụng để đánh giá chất lượng của đối tượng khảo sát với một chương trình đòi hỏi đối tượng thực hiện, nhưng không gây biến đổi bất cứ một thông số nào trên đối tượng Trắc nghiệm là phương pháp đo lường khách quan những phản ứng của sự vật được trắc nghiệm, biểu hiện tâm lý và mức độ nhận thức của một người hoặc một nhóm người được trắc nghiệm Công cụ được sử dụng trong nghiên cứu bằng trắc nghiệm có thể là ngôn ngữ hoặc công cụ phi ngôn ngữ

Nói trắc nghiệm là phương pháp bán thực nghiệm là vì, sự vật không bị bất cứ tác động nào làm biến đổi trạng thái, mà chỉ có các tình huống của môi trường hoạt động sự vật bị thay đổi Qua trắc nghiệm, người nghiên cứu nhận biết được chất lượng của đối tượng khảo sát Trắc nghiệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu Chẳng hạn, trong lĩnh vực công nghệ, người ta có thể làm trắc nghiệm như thử nghiệm đánh hỏng vật liệu; thử nghiệm độ bền cơ học của vật liệu; thử nghiệm các điều kiện làm việc: thời gian ngắn, cường độ lao động cao; tải trọng thường xuyên biến đổi, điều kiện vật lý bất ổn định

Ở phương Tây, trắc nghiệm khách quan (sau đây gọi là trắc nghiệm) theo Questin Stodola, Kamer Stordahl , các phương pháp đo lường và trắc nghiệm đầu tiên được tiến hành vào thế kỷ XVII – XVIII ở khoa vật lý- Tâm lý và sau đó lan dần sang ngành động vật học Phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên được Wichelm Weent thành lập tại Leipizig (Đức) năm 1879 Ban đầu, các nhà nghiên cứu chú trọng đến các phép đo liên quan đến thính giác, thị giác, tốc độ phản xạ, sau đó mới nghiên cứu đến thời gian nhận thức, tốc độ học tập

Francis Galton (người Anh) đã vận dụng những nguyên tắc của Darwin trong tác phẩm “Nguồn gốc các loài” (Origin of species – 1859) về sự khác nhau giữa các loài vào khảo sát sự khác biệt giữa các cá thể về tính chất sinh lý và tâm lý liên quan đến yếu tố di truyền Ông cho rằng các đặc điểm trí tuệ, thể lực và cả bản sắc cá nhân

Trang 6

cũng được di truyền Nhằm chọn lọc những người có thể làm cha mẹ tốt nhất, Galton

đã triển khai các trắc nghiệm khách quan để đo các đặc diểm con người liên quan đến trí tuệ

James Mackeen Cattell (người Mỹ, học tập ở châu Âu) mang nhiều ý tưởng của Galton cho rằng các chức năng trí tuệ đo được bằng trắc nghiệm

Karl Pearson, học sinh của Galton, tìm ra các kỹ thuật thống kê giúp xử lý nhanh các kết quả của Galton, trong đó phép đo về sự tương quan

Đến năm 1904, Alfred Binet, nhà Tâm lý học người Pháp, trong quá trình nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần, đã xây dựng một số bài trắc nghiệm của Alfred Binet ra tiếng Anh, từ đó trắc nghiệm trí thông minh

được gọi là trắc nghiệm Stanford- Binet Bài trắc nghiệm này được sửa chữa

một số lần vào các năm 1937, 1960, và những năm gần đây

Theo Trần Bá Hoành, vào đầu thế kỷ XX, E Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng trắc nghiệm khách quan (TNKQ) như là phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ học sinh, bắt đầu với môn Số học và sau đó là một số môn khác Hiện nay có hàng trăm triệu bài trắc nghiệm với mục đích khác nhau, có nhiều công ty trắc nghiệm với mục dích kinh doanh đem lại lợi nhuận hàng triệu USD mỗi năm

TNKQ hiện nay rất phổ biến trong trường học ở các nước Âu Mỹ Có rất nhiều nghiên cứu về kỹ thuật đo lường trong giáo dục bằng TNKQ như nghiên cứu kỹ thuật câu hỏi TNKQ, ưu và nhược điểm của chúng, đánh giá chính xác kết quả học tập kết hợp xử lý trên máy vi tính các số liệu về xây dựng và sử dụng nhanh chóng TNKQ, nghiên cứu tiêu chuẩn dùng để phân loại nhóm người của các tác giả: Lindquist E.F , Stodola Q và cộng sự, Ebel R.L., Howard B.L., Taylor C., Popham W.L., Glaser R nghiên cứu ưu diểm của trắc nghiệm tiêu chí, nguyên tắc, thủ tục, kỹ thuật xây dựng loại câu hỏi trắc nghiệm này, tính toán độ giá trị, độ tin cậy của câu trắc nghiệm, bài trắc nghiệm, giải thích các điểm số của bài trắc nghiệm

Nhiều công trình nghiên cứu đo lường, đánh giá kết quả học tập đã được công bố: Erwin T.D., Hopkins K.D., Stanley K.D., Mehrens W.A., Lehmann I.J các tác giả này đi sâu vào phương pháp đo lường từng lĩnh vực của mục tiêu giáo dục, phân

Trang 7

biệt rõ từng loại trắc nghiệm, xác định nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm S.J Osterlind nghiên cứu về xây dựng câu trắc nghiệm Về kỹ thuật xây dựng

và sử dụng MCQ (Multiple Choice Questions: câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng nhiều lựa chọn) trong kiểm tra đánh giá (KTĐG) và tự KTĐG, tôi nhận thấy rằng các tác giả Alexander L.G., Zolene Gear là mẫu mực Các bài đánh giá khách quan của họ được sử dụng rộng rãi trên thế giới và trong kiểm tra (KT) trình độ tiếng Anh Đã có nhiều công trình nghiên cứu quy trình xây dựng và lựa chọn cách sử dụng câu hỏi trắc nghiệm (CHTN) như thế nào để đảm bảo hiệu quả cao cho việc đo lường và đánh giá tuỳ theo yếu cầu của từng môn học và từng mục đích đánh giá Tuyển tập trắc nghiệm

sử dụng trước khi vào học giáo trình (Pre-test) của nhiều tác giả do Douglas Sawyer chủ biên về tế bào học, đề cập đến các lĩnh vực như cấu trúc và chức năng của màng tế bào, sự vận chuyển các chất qua màng Trong lĩnh vực di truyền học, đáng chú ý là công trình của Janice Finkeltein, Golder Wilson về Pre-test dùng cho sinh viên Y khoa

tự ôn tập, tự KTĐG khi họ di truyền người

Ở Liên xô cũ, một số nhà sư phạm ở Matxcơva, Kiep, Lêningơrat đã dùng TNKQ để chẩn đoán tâm lý nhân dân và kiểm tra kiến htức học sinh Nhưng do sử dụng TNKQ mà không thấy được nhược điểm của chúng, nên ngày 4/9/1936 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã phê phán việc sử dụng trắc nghiệm Mãi đến năm 1963, Nhà nước Liên xô mới cho phép sử dụng TNKQ trong đánh giá kết quả học tập Công trình đáng lưu ý nhất là của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô do E.I Monnetzen chủ trì Nhiều công trình nghiên cứu TNKQ về nhiều lĩnh vực khoa học giáo dục khác nhau được công bố

Các kỳ thi Olympic quốc tế Sinh học (IBO) trong nhiều năm qua đã áp dụng TNKQ trong phần lớn các đề thi lý thuyết và thực hành

Như vậy, dạng câu hỏi và bài tập được sử dụng nhiều cho kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong dạy học chủ yếu là câu hỏi tự luận và TNKQ

1.1.2 Ở Việt Nam

Lịch sử khoa cử ở Việt Nam được hình thành khá sớm, các cuốc thi chọn người tài, người có học vấn được tổ chức định kỳ năm 1070, vua Lý Thái Tông cho lập Văn

Trang 8

Miếu Từ khi thành lập Văn miếu Quốc tử giám, việc học hành có bài bản hơn Người

ta xem Văn miếu Quốc tử giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam

Khoa thi đầu tiên được tổ chức năm 1075 đời Lý Thái Tông Trên đại thể, chế

độ khoa cử thời phong kiến bắt buộc sĩ tử phải trãi qua ba kỳ thi để đạt học vị cao nhất: thi Hương, thi Hội, thi Đình

Thi Hương, thí sinh thí đỗ trong kỳ thi này chia làm hai loại: loại thứ nhất có danh hiệu hương cống (còn gọi là cống cử, cống sinh), các ông cử này có quyền thi Hội Loại thhứ hai là sinh đồ không được thi Hội Người đỗ đầu được gọi là Giải nguyên Đến đời Minh Mạng (1820- 1840) hương cống được gọi là cử nhân, sinh đồ được gọi là tú tài Thi Hội, thi Đình cứ ba năm tổ chức một lần để chọn thái học sinh danh từ Thái học sinh xuất hiện từ khoa thi Nhâm Thìn (1232), đời Trần Thái Tông cho đến khoa Canh Thìn (1400)

Từ năm 1232, đã có quy định đỗ Thái học sinh (Tiến Sĩ) làm 3 loại: đệ nhất giáp, đệ nhị giáp và đệ tam giáp

Năm 1246 đặt danh hiệu Trạng nguyên cho người đỗ đầu, năm 1247 đặt thêm danh hiệu “Tam khôi” cho 3 người đỗ đầu là Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa

Từ năm 1442 đời Lê Thái Tông, Thái sinh học gọi là tiến sĩ cho đến năm 1919 Nhà Nguyễn sau này không lấy trạng nguyên, người đỗ đầu được gọi là Đình nguyên Thi Đình được tổ chức ngay trong sân nhà vua, thí sinh làm bài trong phòng riêng, nhận bút giấy trước mặt Vua và Vua chấm từng bài Chỉ người đậu cả hai kỳ thi mới nhận học vị Tiến sĩ

Từ năm 1829, có chủ trương lấy thêm đỗ phó bảng cho những ai không đủ diểm

để dự thi Đình

Khoa thi cuối cùng của Nho học vào năm 1919

Các kỳ thi đều được tổ chức bằng luận đề, người viết các bài luận của mình theo lối từ chương và có phát biểu ý kiến cá nhân, có đề thi thi Đình khá ngắn gọn như: “Người quân tử, kẻ tiểu nhân”, “Phong cảnh kinh thành mùa xuân”

Thi cử thời phong kiến Việt Nam có luật khá nghiêm ngặt, thể lệ khắc khe, bất công, nhưng cũng đào tạo tuyển chọn được hàng loạt trí thức tài giỏi góp phần quan

Trang 9

trọng trong xây dựng và bảo vệ đất nước Song, giáo dục Nho học không tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế

Từ năm 1920, chế độ thi cử ở Việt Nam đã chuyển sang chế độ tây học, tức là học và thi bằng tiếng Pháp theo chế độ giáo dục của Pháp Từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, việc học hành chủ yếu bằng chữ quốc ngữ Việc thi cử chủ yếu theo lối tự luận Sau năn 1954, trắc nghiệm khách quan được sử dụng ở miền Nam

Có thể nói ở miền Nam, trước năm 1975, TNKQ phát triển khá mạnh Từ năm

1956 đến những năm 1960 trong các trường học đã sử dụng rộng rãi hình thức thi TNKQ ở bậc trung học, sớm nhất là trong Sinh học Năm 1963, “Trắc nghiệm Vạn vật lớp 12” của Lê Quang Nghĩa được xuất bản Năm 1964, “Phương pháp thi Vạn vật lớp 12” của Phùng Văn Hướng được xuất bản Năm 1969, Dương Thiệu Tống đã giảng dạy “Trắc nghiệm thành quả học tập” cho các lớp Cao học và Tiến sĩ Giáo dục học tại ĐHSP Sài Gòn Như vậy, khoa học TNKQ chính thức được đưa vào chương trình đào tạo giáo viên và các nghiên cứu về TNKQ cũng khá phát triển lúc bấy giờ Nhà khảo thí ( trực thuộc Bộ giáo dục chế độ cũ) là nơi chuyên phát hành các đề thi TNKQ trong các kỳ thi cho các trường trung học Năm 1974, kỳ thi tú tài toàn phần đã được thi bằng TNKQ Sau năm 1975, một số trường vẫn áp dụng TNKQ song có nhiều tranh luận nên hay không nên áp dụng TNKQ trong thi cử

Thi cử ở miền bắc cho đến năm 1990 vẫn chủ yếu thi bằng hình thức tự luận Những nghiên cứu đầu tiên về TNKQ ở miề Bắc là của Trần Bá Hoành Năm 1971, ông công bố: “Dùng phương pháp test để kiểm tra nhận thức của học sinh về một số khái niệm trong chương trình Sinh học đại cương lớp 9” Năm 1996 – 1997, ông đã đề cập nhiều đến TNKQ trong tài liệu “Đánh giá trong giáo dục”, “Tài liệu bồi dưỡng sách giáo khoa lớp 12 cải cách giáo dục môn Sinh học” Năm 1986, khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp (ĐHSP Hà Nội I) đã tổ chức các hội thảo về “Phương pháp xây dựng hệ thống câu hỏi lực chọn đa phương án” do J P Herath trình bày và hướng dẫn, trong chương trình tài trợ của UNDP Nhiều giảng viên đã triển khai xây dựng và áp dụng vào KTĐG ở một số bộ môn

Từ năm 1990, TNKQ thực sự được quan tâm và ứng dụng ở nhiều cấp học

Trang 10

Năm 1990, Bộ Y tế với sự giúp đỡ của đề án “Hỗ trợ hệ thống đào tạo” của chương trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điền (03/SIDA) đã mở khoá tập huấn cho toàn

bộ giảng viên các trường y tế, đã xây dựng được bộ công cụ đánh giá bằng TNKQ các chuyên khoa, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường y dược, Nguyễn Quang Quyền và cộng sự ở Bộ môn Giải phẫu học trường Đại học Y dược Thành phố

Hồ Chí Minh đã xuất bản cuốn “Mục tiêu bài giảng và câu hỏi trắc nghiệm Giải phẫu học” Cuốn sách gồm 1000 câu hỏi (CH) TNKQ và đáp án, giúp học sinh tự học, tự KTĐG kiến thức Giải phẫu học của mình Năm 1994, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đổi mới KTĐG kết quả học tập, đã phối hợp với viện viện công nghệ Hoàng gia của Melbourne của Australia, tổ chức các cuộc hội thảo với chủ đề “Kỹ thuật xây dựng CH TNKQ”, tại các thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hà Nội Hội thảo

đã trang bị cho giáo viên các trường đại học và cao đẳng những lý luận cơ bản về TNKQ Năm 1995, với sự tài trợ của UNESCO ( thuộc Liên hiệp quốc) Đại học tổng hợp Hà Nội cũng đã mở những lớp tập huấn về phương pháp xây dựng TNKQ cho nhiều giảng viên Nhiều tài liệu về xây dựng và sử dụng TNKQ được xuất bản trong các năm này

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Kiểm tra

Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập là một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, thái độ học tập của người học Theo từ điển tiếng Việt, "Kiểm tra" được định nghĩa là "xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét"

Như vậy kiểm tra nhằm đánh giá một quá trình hoạt động sư phạm Chức năng kiểm tra không chỉ tiến tới xem xét, xếp loại, bình bầu mà còn nhằm xác định phương hướng, mục tiêu, điều chỉnh kế hoạch cho một quyết định mới

Kiểm tra là một hoạt động khoa học, người kiểm tra cần phải có nghiệp vụ khoa học, có chuyên ngành, công việc kiểm tra cần có tổ chức, có kế hoạch

1.2.2 Đánh giá

Có nhiều định nghĩa về đánh giá trong giáo dục

Trang 11

Theo Becby C.E: Đánh giá là sự thu thập và giải lý một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hành động

Griffin P.E quan niệm: Đánh giá là đưa ra phán quyết về giá trị của một sự kiện, nó bao hàm việc htu thập thông tin sử dụng trong việc xác định giá trị của một chương trình, một sản phẩm, một tiến trình, một mục tiêu hay tiềm năng ứng dụng của một cách thức đưa ra nhằm đạt tới một mục đích nhất định

Glonlund N.E.: Đánh giá là một tiến trình có hệ thống của việc thu thập phân tích và giải thích thông tin nhằm xác định mức độ mà học sinh đã đạt được mục tiêu giảng dạy

Polonxki V.M cho rằng: Đánh giá là sự xác định trình độ lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh trong sự tương ứng với yêu cầu của chương trình học

Theo Trần Bá Hoành, đánh giá là: “Quá trình hình thành những nhận định, phán đoán kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tiến thực trạng, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc”

1.2.3 Đo lường

Đo lường là quá trình thực hiện lối mô tả bằng con số mức độ mà một cá nhân

đã đạt được (hay đã có một đặc điểm)

Đo lường là một phương thức dùng bài trắc nghiệm trong một dung sai để đạt một mức đo định lượng và tương đối khách quan về một hay nhiều tính chất nào đó Khi đo lường, người ta thường sắp xếp mỗi cá nhân HS theo cấp, bậc từ thấp đến cao hay ngược lại, dọc theo một thang đo nào đó Những mức độ đạt được, những thành quả khác nhau, biểu thị bằng điểm số chẳng hạn, sẽ giúp GV đo lường và đánh giá mức độ thành công của công việc giảng dạy, học tập

Nếu có sẵn kết quả thi một bài trắc nghiệm tương đương từ trước, GV có thể so sánh điểm của hai kỳ thi để ướcc định mức độ tiến bộ của HS

Thông thường, kết quả bài làm của HS được ghi nhận là một số đo (điểm số) Điểm số là ký hiệu gián tiếp phản ánh trình độ của HS về mặt định tính (giỏi, khá, trung bình, yếu, kém) và định hạng (thứ bậc cao thấp trong nhóm được kiểm tra đánh giá) Nhưng cần chú ý rằng điểm số không có ý nghĩa về mặt định lượng Ví dụ HS

Trang 12

được điểm 10 thì cũng không có nghĩa là có trình độ cao gấp đôi HS được điểm 5, hoặc HS bị điểm 0 thì cũng không có nghĩa là HS đó không biết một chút gì về môn học đó

Học tập xét về bản chất là hoạt động lĩnh hội của người học dưới sự hướng dẫn,

tổ chức của nhà sư phạm để tiếp thu tri thức văn hoá của nhân loại chuyển chúng thành năng lực tri thức, năng lực tinh thần của mỗi cá nhân người học

Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, được thể hiện ở nội dung môn học, bài học bằng hệ thống khái niệm khoa học, khái niệm môn học

Thành quả học tập – thành tích học tập hay kết quả học tập thể hiện chất lượng của quá trình dạy học, xuất hiện khi có những biến đổi tích cực trong nhận thức, hành

vi của người học, được hiểu theo khoa học và thực tế:

- Là mức độ mà người học đạt được so với các mục tiêu đã xác định (theo tiêu chí)

- Là mức độ mà người học đạt được so với những người cùng học khác (theo chuẩn)

1.2.5.2 Đánh giá kết quả học tập của HS - SV

Đánh giá ở các trường CĐ, trung học chuyên nghiệp bao gồm đánh giá tiến trình và đánh giá tổng kết (kết quả)

1 Đánh giá tiến trình: Gồm đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ

- Đánh giá thường xuyên bao gồm KTĐG đầu giờ và kiểm tra 15 phút

Kiểm tra đầu giờ và kiểm tra 15 phút cần áp dụng kiểu TNKQ, nhất là

Trang 13

câu hỏi dạng nhiều lựa chọn (MCQ) Bằng các câu hỏi được soạn sẵn, GV có thể phát cho học sinh phiếu làm bài, hoặc chiếu overhead khoảng 5- 10 câu, thời gian làm bài mỗi câu khoảng 1 phút Phiếu chấm là bảng có sẵn đã đục lỗ, GV nhanh chóng có kết quả của một số lớn học sinh, để nắm được nhiều thông tin ngược cho việc dạy học của mình, đồng thời học sinh cũng nhận ra kiến thức hỏng của mình để bổ sung kịp thời

Đánh giá này được sử dụng trong quá trình dạy học để nhận được các phản hồi

từ học viên, xem xét mức độ thành công của việc dạy và học, chỉ ra trở ngại và tìm cách khắc phục

2 Đánh giá tổng kết:

Thông thường đánh giá tổng kết thường được gọi là “thi” Hình thức đánh giá này thực hiện vào cuối mỗi giáo trình, cuối năm học, nhằm đánh giá kết quả chung, củng cố mở rộng chương trình toàn năm của mỗi môn học, chuẩn bị điều kiện để tiếp tục học chương trình của năm học sau

1.2.6 Sử dụng TNKQ trong đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.2.6.1 Khái niệm trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm (test) trong tiếng Anh nghĩa là “thử” hay “phép thử”, ‘sát hạch”; trong tiếng Hán: Trắc có nghĩa là “đo lường”, nghiệm là “suy xét”, “chứng thực”

Theo Dương Thiệu Tống: Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức - hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lới câu hỏi: Thành tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến

Gronlund N.E.: Trắc nghiệm là một công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà một cá nhân đã làm được trong một lĩnh vực cụ thể

1.2.6.2 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và kỹ thuật soạn thảo

Trang 14

Có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm ra làm 3 loại: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết

1 Loại quan sát: Giúp xác định những thái độ, những phản ứng vô ý thức, những kỹ năng thực hành và một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu

2 Loại vấn đáp: Có tác dụng tốt khi nêu các câu hỏi phát sinh trong một tình huống cần kiểm tra Trắc nghiệm vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người chấm và người học là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái độ phản ứng khi phỏng vấn

3 Loại viết thường được sử dụng nhiều nhất Trắc nghiệm viết được chia làm 2 nhóm chính:

Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm buộc trả lời theo dạng mở, thí sinh phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra Người ta gọi trắc nghiệm theo kiểu này là kiểu tự luận Phương pháp tự luận rất quen biết với mọi người chúng ta

Nhóm các câu trắc nghiệm mà trong đó đề thi thường gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu Người ta thường gọi nhóm phương pháp này là trắc nghiệm khách quan

Trong trắc nghiệm khách quan có thể phân chia ra nhiều câu hỏi khác nhau:

- Loại điền vào chỗ trống hay câu trả lời ngắn: Trong loại này HS-SV viết câu trả lời khoảng 1 - 8 hay 10 chữ Các câu trả lời thường đòi hỏi trí nhớ Tuy nhiên trong một số trường hợp khoa học tự nhiên, nó cũng đòi hỏi sự suy luận

* Ưu, nhược điểm của câu hỏi mở ngắn

Trang 15

• Nhược điểm

+ Dạng câu hỏi này chỉ kiểm tra được trí nhớ đơn thuần trừ khi GV phối hợp được với một tình hống thực tế Lúc đó câu trả lời của HS không chỉ đơn thuần là vận dụng trí nhớ mà là áp dụng kiến thức vào giải quyết một vấn đề thực tế

+ Khi soạn câu hỏi GV rất dễ sa vào các chi tết vụn vặt, ít bổ ích mà ít chú ý (hoặc có chú ý nhưng khó viết) đến các yếu tốt thiết yếu

+ Các câu trả lời do HS viết ra có thể sai lệch so với đáp án mặc dù về bản chất vẫn đúng Điều này làm cho cách chấm điểm cũng có phần kém tin cậy hơn so với một

số loại câu hỏi khác

- Loại đúng sai: Trong loại này, HS đọc những câu phát biểu và phán đoán xem, nội dung hay hình thức của câu đó đúng hay sai Loại câu này thường sử dụng cho việc khảo sát trí nhớ các sự kiện, hay nhận biết các sự kiện

* Ưu nhược điểm của câu trắc nghiệm đúng - sai

• Ưu điểm

+ Là dạng câu hỏi trả lời nhanh nên có thể hỏi trên diện rộng của chương trình + GV dễ viết câu hỏi và không mất thời gian để tìm cách đánh lạc HS, vì vậy có thể viết với số lượng lớn bao phủ chương trình

+ Nếu được viết đúng cách, loại câu hỏi này sẽ kiểm tra được nhiều khía cạnh liên quan đến nhau của một quá trình

+ Độ tin cậy cao thể hiện ở khía cạnh HS không phải viết câu trả lời như dạng

mở ngắn nên GV cho điểm rất dễ và thống nhất

Trang 16

* Ưu nhược điểm của câu ghép đôi

• Ưu điểm

+ Thích hợp với những câu hỏi bắt đầu bằng chữ "ai", "ở đâu", "khi nào", "cái gì" + Dễ viết và dễ dùng, đặc biệt rất thích hợp khi cần thẩm định các mục tiêu ở mức thấp

+ So với loại câu hỏi lựa chọn đa phương án, loại ghép đôi ít tốn giấy hơn khi in + Khi được soạn kỹ loại câu hỏi này đòi hỏi HS phải chuẩn bị tốt trước khi thi,

vì yếu tố đoán mò giảm đi nhiều Nếu số phần tử ở câu hỏi và câu trả lời khác nhau, yếu tố may rủi càng giảm đi nhiều

+ Có thể dùng loại trắc nghiệm này để đo các mức trí năng khác nhau, đặc biệt

là để đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức, hay lập những mối tương quan

• Nhược điểm

+ Khi muốn soạn câu hỏi để đo các mức kiến thức cao đòi hỏi nhiều công phu + Nêu số phần tử trong mỗi cột lớn HS sẽ mất nhiều thời gian để đọc cả cột mỗi lần muốn gép một đôi

- Loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để chọn Loại này gồm một câu phát biểu căn bản, gọi là câu dẫn hay câu hỏi, đi với nhiều câu trả lời để HS chọn lựa khi làm bài Các câu trả lời cho mỗi câu hỏi có dạng giống nhau, gồm một từ, một cụm từ hay một câu hoàn chỉnh HS phải chọn một câu đúng nhất hay hợp lý nhất Các câu loại này có thể dùng thẩm định trí nhớ, mức hiểu biết, khả năng áp dụng, phân tích, tổng hợp và cả khả năng phán đoán cao hơn

* Ưu nhược điểm của câu hỏi lựa chọn đa phương án

• Ưu điểm

+ Để trả lời câu hỏi lựa chọn đa phương án, HS phải suy nghĩ để chọn được câu trả lời đúng, tránh được các câu trả lời đánh lạc hướng chứ không chỉ sử dụng trí nhớ đơn thuần Như vậy câu hỏi chọn lựa đa phương án có thể kiểm tra được kiến thức ở mức cao hơn

+ Trong một bài thi có thể có nhiều câu hỏi lựa chọn đa phương án, mỗi câu lại

có thể đề cấp đến những vấn đề khác nhau, thời gian trả lời nhanh nên có thể kiểm tra trên diện rộng của chương trình, do đó có thể làm tăng độ giá trị

Trang 17

+ Chấm điểm nhanh, chính xác nên tiết kiện được thời gian chấm bài Thậm trí

có thể để trợ lý hoặc nhân viên chấm mà vẫn đảm bảo độ chính xác Vì vậy câu hỏi lựa chọn đa phương án thường có độ tin cậy cao nếu các câu trả lời "đánh lạc" không quá

"ngô nghê" để HS nhận biết một cách dễ dàng

• Nhược điểm

+ Vì mỗi câu hỏi lựa chọn đa phương án chỉ có một câu trả lời đúng, nên nếu

HS biết trước thì HS sẽ không cần đọc các câu trả lời khác Trong trường hợp này những câu "đánh lạc" hay việc lựa chọn sẽ không còn ý nghĩa

+ Câu hỏi lựa chọn đa phương án có ưu điểm trả lời nhanh nhưng soạn chúng lại mất rất nhiều thời gian Nhiều khi rất khó có thể tìm được những câu "đánh lạc" cho có vẻ hợp lý

+ Vì khó soạn nên nhiều khi câu hỏi lại dễ tập trung vào những kiến thức không quan trọng và do đó sẽ làm giảm tính giá trị của câu hỏi

1.2.6.2.2 Các chỉ số đánh giá câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Có 4 chỉ số đánh giá: độ tin cậy, độ giá trị, chỉ số khó và chỉ số phân biệt

1 Độ tin cậy

- Độ tin cậy là nói lên độ chính xác của phép đo, chỉ sự ổn định về phép đo

- Việc phân tích độ tin cậy là tìm xem học sinh có được đánh giá đúng hay gần đúng với năng lực của họ không, hay kết quả của học sinh có được các giáo viên đánh giá thống nhất không

D: số làm đúng của nhóm thấp

Trang 18

P > = 3,5: câu hỏi phân biệt rất tốt

P = 0,25 – 0,34: câu hỏi phân biệt tốt

P = 0,15 – 0,24: câu hỏi phân biệt không rõ

P < 0,15: không phân biệt được

P # 0 hoặc âm: câu hỏi có vấn đề về nội dung hoặc kỹ thuật

1.2.6.3 Quy trình xây dựng bộ đề trắc nghiệm khách quan tiêu chuẩn hoá

Gồm 9 bước

1 Xác định nội dung chi tiết của môn học và các mức trí năng tương ứng mong muốn thí sinh đạt được liên quan đến các phần nội dung đó Để thực hiện bước này, một trong các cách thông dụng là xây dựng một ma trận kiến thức đối với môn học

2 Phân công cho các giáo viên, mỗi người chế tác một số câu trắc nghiệm theo các yêu cầu cụ thể về nội dung và mức trí năng đã xác định, tuỳ theo sở trường của từng người, sao cho tổng số câu hỏi chế tác được sẽ phủ kín ma trận kiến thức (bảng trọng số)

3 Trao đổi trong nhóm đồng nghiệp Kinh nghiệm cho thấy việc trao đổi này rất quan trọng, giúp tác giả phát hiện và sửa chữa được nhiều sai sót mà bản thân không cảm thấy vì những đường mòn trong suy nghĩ của người chế tác

4 Tổ chức đọc duyệt, biên tập và đưa các câu hỏi trắc nghiệm lưu vào kho dữ liệu trong máy vi tính

Trang 19

5 Lập các đề trắc nghiệm thử và tổ chức trắc nghiệm thử trên các nhóm thí sinh, các nhóm này là các mẫu đại diện cho tổng thể đối tượng thiết kế

6 Chấm và phân tích thông kê các kết quả trắc nghiệm thử để định cỡ các câu hỏi trắc nghiệm

7 Xử lý các câu hỏi trắc nghiệm chất lượng kém: hoặc là sửa đổi tu chỉnh, hoặc

là loại bỏ nếu chất lượng quá kém không thể sửa đổi được

8 Khi đã yên tâm về số lượng và chất lượng các câu hỏi trong ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, có thể thiết kế các đề trắc ngiệm cho các kỳ thi chính thức

9 Sau khi tổ chức thi chính thức cũng tiến hành phân tích kết quả trắc nghiệm như ở kỳ thi trắc nghiệm thử Quá trình này nhằm hai mục tiêu Một là thu được kết quả của kỳ thi Hai là phát hiện các câu hỏi trắc nghiệm xấu để tu chỉnh và tiếp tục đưa vào ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

1.2.6.4 Sử dụng TNKQ trong đánh giá KQHT

Vì đặc thù của TNKQ nên ngoài những yêu cầu khi đánh giá nói

chung cần có những biện pháp riêng khi sử dụng phương pháp đánh giá này trong nhà trường

Lưu ý sự khác nhau của các khái niệm trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá và trắc nghiệm cho lớp học

- Trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá: được xây dựng dựa trên nội dung và mục tiêu giáo dục đối với môn học hay chương trình học của cả nước hoặc của một vùng nào

đó, thường do các chuyên gia trắc nghiệm soạn thảo, được thử nghiệm và phân tích công phu theo bố cục nội dung và mục tiêu đo lường cũng như các yêu cầu của kỳ thi,

có phân bố hàm thông tin của đề trắc nghiệm theo yêu cầu cụ thể nào đó và đạt độ tin cậy cao

- Trắc nghiệm cho lớp học được xây dựng dựa vào nội dung, mục tiêu và theo một chủ đề cụ thể nào đó của lớp học, thường được giáo viên tự soạn thảo hoặc sưu tầm tập hợp, phần lớn câu hỏi chưa được thử nghiệm, phân tích chỉnh sửa các đề trắc ngiệm cho lớp học không nhất thiết phải được thiết kế theo phân bố mục tiêu nghiêm túc, cũng không đòi hỏi có độ tin cậy cao

Trang 20

Trong nhà trường, kiểu trắc nghiệm cho lớp học nên được dùng cho các đánh giá trong tiến trình, gắn liền việc đánh giá với người dạy và với quá trình giảng dạy, để tạo các thông tin phản hồi hỗ trợ cải tiến việc dạy và học Còn đối với đánh giá tổng kết cuối môn học, cuối kỳ hay năm học, được triển khai trong phạm vi nhiều lớp, thì nên sử dụng trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá hoặc trắc nghiệm được thiết kế theo kiểu tiêu chuẩn hoá

- Sử dụng trắc nghiệm lớp học để thực hiện việc đánh giá trong tiến trình:

Mỗi giáo viên nên tự soạn thảo hoặc sưu tầm một kho câu hỏi trắc nghiệm phục

vụ cho môn học mà mình phụ trách Từ kho các câu hỏi trắc nghiệm đó giáo viên lựa chọn các câu hỏi liên quan đến các nội dung và mục tiêu đã học nhằm soạn các đề trắc nghiệm thích hợp để kiểm tra nhanh học sinh sau một số chủ đề được giảng dạy hoặc

để kiểm tra giữa kỳ Mục tiêu quan trọng nhất của các đề trắc nghiệm này là cung cấp các thông tin phản hồi về việc học của học sinh cho cả giáo viên và học sinh Các thông tin đó có thể cung cấp cho giáo viên những đầu mối để xem xét nên thay đổi cách giảng dạy như thế nào, và cũng xác định những nội dung và kỹ năng học sinh cần được tiếp tục trang bị

Với đánh giá trong tiến trình không nên dùng kiểu đánh giá theo chuẩn mực, vì không có nhu cầu phân chia học viên theo thứ bậc Không nên lưu ý đến việc xếp loại nhất là đối với những học sinh kém, vì điều đó sẽ làm họ nản lòng, làm mất động lực hhọc tập của họ, vì rằng dù họ học rất kém nhưng có thể kết quả học tập của họ vẫn đạt theo tiêu chí Do đó với đánh giá trong tiến trình chỉ nên dùng kiểu đánh giá theo tiêu chí Khi sử dụng đánh giá theo tiêu chí, điều lý tưởng nhất là mọi học viên đều đạt yêu cầu theo tiêu chí đề ra Không nên sử dụng các đề trắc nghiệm quá dài để đánh giá

và không nên tạo ấn tượng là đề trắc nghiệm đó có tác dụng quyết định trong việc xếp hạng học sinh, làm cho học sinh quá lo lắng, tìm cách đối phó hoặc tránh né Nên xem các trắc nghiệm đó như là một khâu của quá trình giảng dạy Muốn vậy nên dùng nhiều đề trắc nghiệm ngắn, chỉ bao trùm một ít đơn vị bài giảng, nên tổ chức trắc nghiệm thường xuyên và nên chọn một số câu hỏi trắc nghiệm tiêu biểu hoặc có vấn

đề để giáo viên cùng với học sinh phân tích một số câu hỏi ở lớp

Trang 21

Việc phân tích kết quả trắc nghiệm ở lớp sẽ rất hấp dẫn đối với học sinh nếu giáo viên sử dụng một phần mềm phân tích trắc nghiệm để cung cấp cho lớp các bảng phân tích trắc nghiệm kết quả trả lới theo từng câu hỏi và cung cấp cho mỗi học sinh

sơ đồ làm bài của bản thân họ (chẳng hạn

phần mềm VITESTA [10] của công ty EDTECH- VN xây dựng có thể giúp

làm việc đó) Bảng phân tích kết quả trả lời theo từng câu hỏi cho biết bao nhiêu học sinh làm đúng từng câu hỏi, bao nhiêu học sinh lựa chọn từng phương án trả lời Có thể yêu cầu một học sinh làm đúng một câu hỏi khó nào đó lý giải vì sao họ đã chọn phương án đó chứ không chọn các phương án khác, lý giải đó làm cho học sinh kém sáng tỏ và hiểu sâu sắc hơn chủ đề liên quan Nếu sự phân tích cho thấy một câu hỏi nào đó gây nhiều khó khăn làm cho ít người trả lời đúng thì có thể thêm nhiều thời gian hơn để giảng dạy chủ đề mà câu hỏi đó đề cập

Một điều cần lưu ý là nên trả bài trắc nghiệm càng sớm càng tốt sau khi học sinh làm bài, vì tâm lý học sinh muốn biết đáp án đúng ngay sau khi họ trả lời các câu hỏi Có thể cung cấp đáp án cho đề trắc nghiệm ngay sau khi học sinh làm bài xong để

họ tự đối chiếu kiểm tra bài làm của mình Sau khi đối chiếu học sinh thường tự tìm lập luận để giải thích các phương án đúng, và nhận ra khiếm khuyết trong suy nghĩ của bản thân trước đây Càng sớm càng tốt, giáo viên nên tạo cơ hội thảo luận các câu hỏi rắc rối, có thể là ngay ở buổi học kế tiếp của môn học Sự phản hồi nhanh chóng này

có thể cho học sinh một kinh nghiệm thú vị và bổ ích về học tập Một số giáo viên có thể cho rằng tổ chức nhiều buổi thảo luận như vậy sẽ mất nhiều thời gian, nhưng nếu quan niệm đây là một khâu để tăng cường quá trình học tập có tương tác theo phương pháp sư phạm tích cực thì thời gian chi phí đó sẽ đưa lại hiệu quả lớn Học tập, trắc nghiệm, học tập tiếp, trắc nghiệm tiếp sao cho học sinh nắm vững hơn môn học sẽ là một tiến trình cần thiết, làm cho học sinh không ngại trắc nghiệm mà xem đó là phương tiện để nâng cao hiệu quả học tập Hiện nay các công cụ hỗ trợ (phần mềm trắc ngiệm và máy quét chấm trắc nghiệm) có thể giúp giáo viên chuẩn bị nhanh chóng các đề trắc nghiệm và thu được nhanh chóng các kết quả chấm và phân tích trắc ngiệm

để phục vụ cho quá trình học tập đó

Trang 22

Nói chung quá trình giảng dạy qua việc phân tích các bài trắc nghiệm ở lớp là một quá trình giúp học sinh để họ làm tốt các bài trắc nghiệm nó không phải là việc phổ biến các “kỹ năng” làm trắc nghiệm, mà là việc phân tích để hiểu sâu sắc hơn nội dung môn học Quá trình này cũng giúp học sinh làm tất các đề trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá cuối môn học hoặc cuối khoá học

- Sử dụng trắc nghiệm kiểu tiêu chuẩn hoá để thực hiện việc đánh giá tổng kết: Việc sử dụng trắc nghiệm để đánh giá tổng kết có một điểm khác biệt so với sử dụng trắc nghiệm trong tiến trình Đề trắc nghiệm cho các đánh giá này phải được thiết

kế theo kiểu trắc nghiêm tiêu chuẩn hoá, tức là các câu hỏi hợp thành đề trắc nghiệm phải được lấy từ một NHCHTN với mọi câu hỏi đã được thử nghiệm và định cỡ Đề trắc nghiệm phải được xây dựng, một mặt, phù hợp với ma trận kiến thức quy định, bao gồm số lượng câu hỏi theo các nội dung và mức trí năng xác định, mặt khác, mọi câu hỏi phải có các tham số thích hợp và đề trắc ngiệm phải cho một đường cong hàm thông tin đạt các yêu cầu của việc đánh giá

Như vậy, trước hết phải có một bộ phận quản lý NHCHTN ( trung tâm khảo thí của một trường, một khoa ở đại học, một nhân viên kỹ thuật giúp hiệu trưởng ở một trường phổ thông ) Bộ phận này có trách nhiệm tìm mua các NHCHTN tiêu chuẩn hoá thích hợp và tổ chức thẩm định sự phù hợp của các NHCHTN với các chương trình các môn học của nhà trường, hoặc tổ chức tự xây dựng các NHCHTN cho các môn học mà nhà trường có đủ năng lực theo một quy trình chặt chẽ như đã được nêu ở trên NHCHTN phải thường xuyên được bổ sung, điều chỉng trong tiến trình sử dụng

Từ NHCHTN, tuỳ theo yêu cầu cụ thể của một kỳ thi cuối môn hay cuối khoá mà thiết

kế một đề trắc nghiệm thích hợp Để có thể so sánh các đề thi cuối môn hay cuối khoá khác nhau qua nhiều năm, nên thiết kế các đề trắc nghiệm tương cho các kỳ thi Sau khi có đề thi trắc nghiệm thì tổ chức triển khai kỳ thi trên các đối tượng quy định theo một tiến trình chặt chẽ, tổ chức chấm thi, phân tích kết quả thi và báo cáo kết quả cuối cùng Hiện có các phần mềm và công cụ hỗ trợ cho các công đoạn nêu trên

Một điều lưu ý là trong lúc các kho CHTN mà giáo viên lưu trữ cần được sử dụng công khai ở các lớp học khi giảng dạy thì các NHCHTN kiểu tiêu chuẩn hoá phải được giữ bí mật Lý do là các NHCHTN này được mua khá đắt hoặc được xây dựng

Trang 23

rất công phu nên giá thành rất cao, phải giữ bí mật để có thể sử dụng lâu dài Nhà trường cần đưa ra các thể chế để có thể giữ bí mật khi quản lý các NHCHTN đó và phải thu lại đề trắc nghiêm không để thất thoát sau mỗi lần kiểm tra

Việc cho điểm các bài trắc nghiệm dùng ở lớp học có thể dùng điểm thô và chuyển đổi theo các phép biến đổi tuyến tính đơn giản, hoặc chuyển đổi theo đường cong điểm thực

1.3 CHẤT LƯỢNG ĐÁNH GIÁ KQHT CỦA HS – SV BẰNG HÌNH THỨC TRẮC NGHIỆM

1.3.1 Khái niệm chất lượng

- Là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước.(viện nghiên cứu giáo dục)

- Chất lượng: Quan niệm chất lượng vẫn thường dùng từ trước đến nay mang hàm ý là tổng thể các đặc điểm và đặc tính của một sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn các nhu cầu của người sử dụng

- Chất lượng là cái tốt nhất

- Chất lượng tự bản thân nó hàm chứa cả hai: chuẩn mực và sự tuyệt hảo

1.3.2 Chất lượng đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hình thức trắc nghiệm

Theo nghiên cứu của tôi, chuẩn đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hình thức trắc nghiệm dựa vào các tiêu chuẩn sau:

- Quy trình soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm khách quan

- Các tham số đặc trưng cho một câu hỏi trắc nghiệm và một đề trắc nghiệm:

Độ khó, độ phân biệt, độ giá trị, độ tin cậy

- Việc tổ chức, thực hiện kiểm tra - đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm

1.4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HS – SV BẰNG HÌNH THỨC TRẮC NGHIỆM

1.4.1 Khái niệm giải pháp

Theo tự điển tiếng Việt giải pháp là: Phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó” [ ,tr 387] Như vậy nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động

Trang 24

nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định , tựu trưng lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động giải pháp càng thích hợp, càng tối

ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra Tuy nhiên, để có được những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy

1.4.2 Cơ sở để đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của sinh viên bằng hình thức trắc nghiệm

Xuất phát từ thực trạng bộ đề thi trắc nghiệm khách quan của Bộ môn Khoa học

cơ bản trường CĐ y tế Ninh Bình

1.4.3 Nguyên tắc xây dựng các giải pháp

Việc xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học

tập của sinh viên cần dựa trên những nguyên tắc sau đây:

1.4.3.1 Nguyên tắc mục tiêu ( Đảm bảo tính mục tiêu)

Nguyên tắc này đòi hỏi các giải pháp được đề xuất hướng vào việc nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của sinh viên, gắn chất lượng đánh giá kết quả học tập với việc nâng cao chất lượng đào tạo

1.4.3.2 Nguyên tắc hiệu quả

Nguyên tắc này đòi hỏi các giải pháp được đề xuất phải đem lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của sinh viên

1.4.3.3 Nguyên tắc khả thi

Nguyên tắc này đòi hỏi các giải pháp được đề xuất phải phù hợp với điều kiện phát triển của nhà trường hiện tại và trong tương lai

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KTĐG KQHT TẠI BỘ MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN TRƯỜNG CĐ Y TẾ NINH BÌNH

2.1 CHỦ TRƯƠNG ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KTĐG KQHT CỦA HS-SV

- Năm 1994, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng hình thức trắc nghiệm

- Năm 1990, Bộ Y tế với sự giúp đỡ của đề án “Hỗ trợ hệ thống đào tạo” của chương trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điển (03/SIDA) đã mở khoá tập huấn cho toàn

bộ giảng viên các trường y tế, đã xây dựng được bộ công cụ đánh giá bằng TNKQ các chuyên khoa, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường y dược

- Bộ Y tế gửi đến các trường “Bản quy định tạm thời để chuẩn hoá đánh giá học viên trong các trường Y - Dược” Bản quy định này gồm 7 chương 25 điều Được ban hành ngày 14 tháng 8 năm 1997 Chương III có quy định đánh giá kiến thức bằng hình thức nghiệm

Chương III: Đánh giá kiến thức bằng câu hỏi trắc nghiệm

Bộ câu hỏi trắc nghiệm kèm theo đáp án được định hướng chuẩn như sau:

- Bộ câu hỏi phải bao hàm mọi mục tiêu của toàn bộ chương trình học tập, không được bỏ sót các mục tiêu học tập

- Mỗi giờ học chuẩn phải có không dưới 5 câu hỏi cho chương trình trung học

và không dưới 10 câu hỏi cho chương trình đại học, cao đẳng Điều này áp dụng cho từng bài học/ chủ đề và cho toàn bộ môn học/ học phần

- Khi sử dụng câu hỏi trắc nghiệm cho bất kỳ một hình thức kiểm tra, đánh giá nào (kiểm tra hằng ngày, chương, định kỳ ) số lượng tối thiểu phải

sử dụng là 30 câu TẠI SAO LẠI CÓ PHẦN NÀY?

- Năm 2002, Hiệu trưởng trường CĐ y tế Ninh Bình chủ trương đổi mới kiểm tra - đánh giá kết quả học tập bằng hình thức trắc nghiệm

- Công văn số 9743/BGDĐT-KT&KĐ ngày 12/9/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc “Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ khảo thí và kiểm định CLGD năm học 2007-2008”

Trang 26

- Qui chế đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy, ban hành kèm theo quyết định 40/2007/QĐ- BDGĐT, ngày 01 tháng 08 năm 2007, có quy định việc đánh giá kết quả học tập bằng hình thức trắc nghiệm

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KTĐG KQHT CỦA HS – SV BẰNG HÌNH THỨC TNKQ TẠI BỘ MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN TRƯỜNG CĐ Y TẾ NINH BÌNH

Để đánh giá thực trạng công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, tôi đã xây dựng bộ công cụ đánh giá và đã tiến hành điều tra, khảo sát 20 giáo viên,

150 học sinh trung cấp ngành Dược và 10 cán bộ quản lý phòng khảo khí của trường

Trang 27

Đề thi Ngoại ngữ và Tin học tuân theo đúng qui định tỉ lệ nêu trên, còn lại đa số các đề thi số câu Đ-S nhiều, số câu TLN theo đúng tỉ lệ khoảng 30% còn số câu NLC thì ít

Bảng 2: Tỉ lệ chỉ số khó các đề thi, kiểm tra STT Môn Khó (%) Trung bình (%) Dễ (%)

Hình 2.1 Biểu đồ tỉ lệ chỉ số khó các đề thi, kiểm tra

Theo tài liệu kỹ thuật đánh giá học sinh khuyến cáo phân bố câu theo chỉ số khó trong một đề thi như sau:

Trang 28

Bảng 3: Tỉ lệ chỉ số phân biệt các đề thi

Hình 3.1 Biểu đồ phân biệt các đề thi

Nhìn vào biẻu đồ ta thấy các đề đều có tỷ lệ số câu hỏi đạt ở mức phân biệt rất tốt ở mức cao như: Chính trị (42,14%); Tin học (40,06%); Ngoại ngữ (32,86%) Các

đề có tỷ lệ số câu hỏi đạt ở mức phân biệt tốt cũng tương đối cao ( 18,39% - 41,23%) Các đề có tỷ lệ số câu hỏi phân biệt không rõ cao nhất là môn Pháp luật (45,58%)

Các đề có tỷ lệ số câu hỏi không phân biệt được tương đối thấp; thấp nhất là Tin học 4,74% và cao nhất là Pháp luật 18,89% Nhìn chung, trung bình tỷ lệ chỉ số phân biệt tất cả các đề nghiên cứu có chỉ số phân biệt rất tốt, tốt chiếm ứu thế hơn, kế đến là số câu hỏi phân biệt không rõ và số câu hỏi bị loại bỏ là thấp nhất

Về việc chỉ số khó và Chỉ số phân biệt theo dạng câu các đề thi

Trang 29

Bảng 4: Chỉ số khó và Chỉ số phân biệt theo dạng câu TLN các đề thi

Khó (%)

Trung Bình (%)

DỄ (%)

PBRT (%)

PBT (%)

PBKR (%)

KPBĐ (%)

Hình 4.1 Biểu đồ chỉ số khó theo dạng câu trả lời ngắn các đề thi

Hình 4.2 Biểu đồ chỉ số phân biệt theo dạng câu trả lời ngắn

Trang 30

Nhìn vào biểu đồ hình 4.1 và hình 4.2 ta thấy tỷ lệ câu khó dạng câu TLN ở các

đề thi tương đối là đồng đều, tỷ lệ số câu hỏi trung bình và rễ còn khá cao Như vậy ở dạng câu TLN chỉ số khó chưa phân bố đồng đều

Tỷ lệ phân biệt rât tốt và phân biệt tốt cũng tương đối đồng đều ở các đề thi: phân biệt rất tốt cao nhất là ở môn Tin học (40,025%) và thấp nhất ở môn Pháp luật (21,32%)

Tỷ lệ câu không phân biệt được cao nhất là môn Pháp luật với 19,35% và thấp nhất là môn Chính trị với 4,19%

Bảng 5: CSK và CSPB theo dạng câu Đ - S các đề thi

Khó (%)

Trung bình (%)

DỄ (%)

PBRT (%)

PBT (%)

PBKR (%)

KPBĐ (%)

Trang 31

Hình 5.2 Biểu đồ chỉ số phân biệt theo dạng câu Đ - S

Nhìn vào biểu đồ hình 5.1 và 5.2 ta thấy tỷ lệ câu hỏi dễ ở dạng câu đúng sai rất

là cao (39,98% - 58,40%), tỷ lệ câu hỏi khó thấp (7% - 15,97%) Như vậy ở dạng câu

Đ – S tỷ lệ chỉ số khó phân bố chưa đồng đều

Các đề thi có số câu phân biệt rất tốt cao như môn Ngoại ngữ 50,17%; môn Chính trị 45,00%, Tỷ lệ các câu không phân biệt được thấp trong đó thấp nhất là môn Ngoại ngữ với 1,12% Các đề thi dạng câu hỏi Đ – S được phân biệt rõ ràng

Bảng 6: Chỉ số khó và chỉ số phân biệt theo dạng câu NLC

Khó (%)

Trung bình (%)

DỄ (%)

PBRT (%)

PBT (%)

PBKR (%)

KPBĐ (%)

1 Tin học 9,63 27,81 62,56 24,55 30,21 32,39 12,85

2 Ngoại ngữ 13,76 24,41 61,83 14,52 20,19 49,04 16,25

3 Pháp luật 25,71 27,50 46,79 11,7 14,29 40,00 34,01

4 Chính trị 28,90 30,06 41,04 32,29 21,59 28,64 17,48

Trang 32

Hình 6.1 Biểu đồ chỉ số các đề thi ở dạng câu nhiều lựa chọn

Hình 6.2 Biểu đồ chỉ số phân biệt theo dạng câu nhiều lựa chọn

Nhìn vào biểu đồ hình 6.1 và 6.2 ta thấy chỉ số khó ở dạng câu nhiều lựa chọn

số câu hỏi rễ tương đối cao (41,04% - 62,56%), số câu hỏi khó và trung bình thấp Như vậy sự phân bố chỉ số khó trong câu hỏi NLC chưa đồng đều

Tỷ lệ các câu phân biệt không rõ cao (28,64% - 49,04%) và câu không phân biệt được còn nhiều như môn pháp luật (34,01%)

Trang 33

Bảng 7: Tính tin cậy của các đề thi

STT Môn KQ chấm 2 vòng tách biệt KQ chấm phúc tra

Nhận định bảng 7: Kết quả chấm của các đề thi qua 2 vòng tách biệt và chấm

phúc tra là không có sự sai lệch giữa 2 giáo viên Như vậy độ tin cậy ở đây chấp nhận

được, học sinh được đánh giá đúng với năng lực và các giáo viên cùng đánh giá thống

Không (%)

Tốt (%)

Không (%)

Tốt (%)

Không (%)

2 Ngoại ngữ 55,02 44,98 100 0,00 100 0,00

4 Chính trị 40,58 59,42 100 0,00 100 0,00

Nhận xét chung bảng 8: Tất cả các câu hỏi đều phù hợp mục tiêu học tập của

từng bài học Kỹ thuật viết câu hỏi đều đạt yêu cầu: dễ hiểu, rõ ràng, mạch lạc, xúc

Ngày đăng: 28/02/2021, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Nghiêm Xuân Nùng (biên dịch) (1996), Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục, dịch từ “Basic educational test and Measurement” của Quentin Stodola Ph.D, Kalmer Strudahl Ph.D. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Đại học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basic educational test and Measurement
Tác giả: Nghiêm Xuân Nùng (biên dịch)
Năm: 1996
31. Trịnh Đức Tâm (biên dịch), Dạy tốt học tốt, dịch từ “ Fres Abbaltt”, ĐA- 03/SIDA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fres Abbaltt
1. Hoàng Hoà Bình (2008), Trắc nghiệm khách quan trong môn tiếng Việt. Tạp chí giáo dục (18), trang 18 Khác
2. Nghiêm Xuân Đức (1998) , Kỹ thuật đánh giá học viên, Nhà xuất bản y học Khác
3. Nguyễn Phụng Hoàng (12-1996), Vấn đề thi tuyển và phương pháp trắc nghiệm khách quan, tạp chí đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Bộ giáo dục và Đào tạo Khác
4. Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan (1996), Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá thành quả học tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
5. Trần Bá Hoành (1997), Đánh giá trong giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
6. Vũ Đình Luận (2008), Trắc nghiệm trong dạy sinh học, bài giảng chuyên đề cao học, Đại học Vinh Khác
7. Bùi Thị Hạnh - Trần Mai Huê - Trần Trung Ninh, Phần mềm thi trắc nghiệm khách quan Lotus và ứng dụng trong dạy học hoá học. Tạp chí số 178/12-2007 Khác
8. Đặng Bá Lãm (1995), Các phương pháp kiểm tra đánh giá trong giáo dục Đại học, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội Khác
9. Vũ Đình Luận (2005), Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan MCQ để nâng cao chất lượng dạy học môn Di truyền học ở trường Cao đẳng sư phạm, Luận án Tiến sĩ Giáo dục, ĐHSP Hà Nội Khác
10. Lê Phước Lượng (2000), Tìm hiểu năng lực học tập vật lý của sinh viên nhờ trắc nghiệm tiêu chí theo mô hình Rasch với chương trình Quest, tạp chíNCGD(6), trang 25 Khác
11. Lê Phước Lượng (8-2002), Dự báo kết quả học tập của bộ môn sinh bằng phương pháp mô hình tương quan hồi quy của các điểm số trắc nghiệmkhách quan từ kiểm tra - đánh giá. Tạp chí giáo dục (38), trang 25 Khác
12. Lê Phước Lượng (1998) , Thử nghiệm một hình thức kiểm tra – đánh giá môn học bằng trắc nghiệm khách quan trong đào tạo. Tạp chí ĐH và GDCN (8), trang 28 Khác
13. Nguyễn Văn Khải - Phạm Thị Ngọc Dung (5-2003), Vận dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong việc kiểm tra- đánh giá kiến thức vật lý. Tạp chí giáo dục (57), trang 28 Khác
14. Trần Xuân Mai (1998), Chỉ số khó và chỉ số phân biệt trong xác định chất lượng các câu hỏi lượng giá Khác
15. Lưu Xuân Mới (1996), Trắc nghiệm với việc cải tiến phương pháp đánh giá thành quả học tập, tạp chí phát triển giáo dục số 6/1996, Hà Nội Khác
16. Lưu Xuân Mới (1998), Kiểm tra - Thanh tra - Đánh giá trong giáo dục, Hà Nội Khác
18. Lê Đức Ngọc (2-2003), Bài giảng đo lường và đánh giá thành quả học tập, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Khác
19. Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Tự điển tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng, tr 387 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w