Nguyên nhân cơ bản của tồn tại trên là nội dung chương trình chưa phù hợp chưa gắn với thực tiễn sản xuất, phương pháp giảng dạy chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học.V
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
CHUYÊN SÂU: SƯ PHẠM KỸ THUẬT ĐIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ HUY TÙNG
Hà Nội – 2017
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên tác giả luận văn : Ngô Thị Thuý
Đề tài luận văn: M-learning cho giảng dạy môđun trang bị điện tại trường CĐN Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những gì tôi viết trong luận văn là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác, nếu có, đều được trích dẫn cụ thể
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì tôi đã cam đoan ở trên
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Ngô Thị Thuý
Trang 5
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Lê Huy Tùng - Viện sư phạm kỹ thuật - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội – người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới:
TS Trần Hoàng Hải – Phó Giám đốc trung tâm mạng – ĐHBK Hà Nội Các thầy, cô giáo trong Viện Sư phạm kỹ thuật trường ĐHBK Hà nội Các thầy, cô giáo
đã tham gia giảng dạy lớp cao học khoá 2015 - 2017; các bạn bè trong lớp Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo trong khoa Điện – Điện tử Trường CĐN Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh, đã tạo mọi điều kiện, động viên, giúp đỡ, chia sẻ để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù tác giả đã rất cố gắng nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp, của các bạn đọc quan tâm đến đề tài của luận văn để bổ sung cho đề tài được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Ngô Thị Thuý
Trang 6
3
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT 7
SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN 7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 8
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ 9
PHẦN MỞ ĐẦU 11
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TỔNG QUAN CỦA ĐỀ TÀI…… ………15
1.1 Đặt vấn đề 15
1.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 15
1.2.1 Lịch sử phát triển của e-learning 15
1.2.2 Tình hình phát triển và ứng dụng e-learning trên thế giới 17
1.2.3 Tình hình phát triển và ứng dụng e-learning ở Việt Nam 18
1.3 Lý luận dạy học dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông 19
1.3.1.Khái niệm dạy học dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông ……19
1.3.2 Khái niệm e-leaning 20
1.3.3 Phương pháp dạy học bằng e-learning 23
1.4 M – leaning và một số khái niệm cơ bản 28
1.4.1 M – learning là gì? 28
1.4.2 Sự phát triển của M-learning trên thế giới 28
1.4.3 Triển vọng ứng dụng M – learning ở Việt Nam 29
1.4.4 Cách tiếp cận M – learning 29
1.4.5 Những lợi ích từ M – learning 30
Trang 7
4
1.4.6 Những hạn chế của M-learning 31
1.5 Khai thác M-learning trong dạy học 31
1.5.1 Những thế mạnh của M-learning có thể khai thác trong dạy nghề 33
1.5.2 M-learning tạo ra môi trường thuận lợi cho việc tự học của SV 33
1.5.3 Sử dụng M-learning triển khai tự học có hướng dẫn trực tiếp của GV 34
1.5.4 Sử dụng M-learning trong tự học không có hướng dẫn trực tiếp của GV ……… 35
1.5.5 Sử dụng M-learning hỗ trợ SV tự học không có hướng dẫn của GV 36
1.5.6 Sử dụng M-learning hỗ trợ SV hình thành phương pháp tự học 37
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ DẠY HỌC MÔĐUN TRANG BỊ ĐIỆN TẠI TRƯỜNG CĐN KINH TẾ - KỸ THUẬT BẮC NINH……… 39
2.1 Khái quát về Trường CĐN Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh 39
2.1.1 Lịch sử phát triển Nhà trường 39
2.1.2 Công tác đào tạo, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức Nhà trường 39 2.1.3 Cơ sở vật chất cho đào tạo, đào tạo nghề Điện công nghiệp 41
2.2 Mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo nghề điện công nghiệp 42
2.2.1 Mục tiêu 43
2.2.2 Nội dung và kế hoạch đào tạo toàn khoá nghề ĐCN 45
2.3 Môđun trang bị điện 48
2.3.1 Vị trí và tính chất môđun 48
2.3.2 Mục tiêu của mô đun 48
2.3.3 Nội dung mô đun 48
2.3.4 Hướng dẫn thực hiện chương trình của môđun trang bị điện 49
2.4 Bài giảng và phương pháp dạy học môđun trang bị điện tại trường CĐN kinh tế - kỹ thuật Bắc Ninh 50
Trang 8
5
2.4.1 Bài giảng môđun trang bị điện nghề ĐCN hiện nay 50
2.4.2 Phương pháp dạy học môđun trang bị điện trong Nhà trường hiện nay ……… 50
2.4.3 Phương tiện, trang thiết bị cho dạy học môđun trang bị điện 52
2.4.4 Kiểm tra, đánh giá môđun trang bị điện 53
CHƯƠNG III: THIẾT KẾ MINH HOẠ BÀI GIẢNG MÔĐUN TRANG BỊ ĐIỆN THEO CHUẨN HTML5 57
3.1 Xây dựng M-learning cho môđun trang bị điện 57
3.1.1 Xây dựng cấu trúc website trang bị điện 57
3.1.2 Đăng nhập 58
3.1.3 Thiết lập các vai trò quản trị của khóa học 58
3.2 Chi tiết các chức năng tạo nội dung 65
3.2.1 Chức năng Thêm, sửa, xóa nội dung 65
3.2.2 Thêm sửa xóa Bài kiểm tra/bài thi 74
3.2.3 Theo dõi quá trình học của các thành viên 75
3.2.4 Phương pháp giảng dạy môđun trang bị điện bằng M-learning 81
3.3 Thực nghiệm sư phạm 84
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 84
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 84
3.3.3 Đối tượng thực nghiệm 84
3.3.4 Phương pháp và quy trình thực nghiệm 85
3.3.5 Kết quả thực nghiệm 86
3.3.6 Đánh giá chung 90
3.4 Những khó khăn, thuận lợi trong việc xây dựng bài giảng, thử nghiệm, ứng dụng bài giảng và phương hướng tiếp theo của bản thân 91
Trang 9
6
3.4.1 Những khó khăn 91
3.4.2 Những thuận lợi 92
3.4.3 Phương hướng tiếp theo của bản thân 92
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 98
Trang 10
7
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
CNTT: Công nghệ thông tin
CNTT&TT: Công nghệ thông tin và truyền thông
GD&ĐT: Giáo dục và đào tạo
ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHQG TP.HCM: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
ICT: Information and Communication Technologies
Trang 12Hình 3.1 Trang chủ website Trang bị điện
Hình 3.2a: Thiết lập vai trò
Hình 3.3a: Tạo chức danh
Hình 3.3b: Tạo chức danh
Hình 3.4b: Sửa chức danh
Hình 3.5a: Gắn quyền cho các thành viên
Hình 3.5b: Gắn quyền cho các thành viên
Hình 3.5c: Gắn quyền cho các thành viên
Hình 3.5d: Gắn quyền cho các thành viên
Hình 3.5e: Gắn quyền cho các thành viên
Hình 3.6a: Thêm, sửa, xoá Bài giảng
Hình 3.6b: Thêm, sửa, xoá Bài giảng
Hình 3.6c: Thêm, sửa, xoá Bài giảng
Hình 3.7: Tạo nội dung cho bài giảng
Hình 3.8a: Nhúng video vào bài giảng
Hình 3.8b: Nhúng video vào bài giảng
Hình 3.9: Sửa bài giảng đã tạo
Hình 3.10: Xoá bài giảng đã tạo
Hình 3.11a: Tạo bài tập
Hình 3.11b: Tạo bài tập
Hình 3.12a: Tạo câu hỏi
Hình 3.12b : Tạo câu hỏi
Hình 3.13 : Dạng file câu hỏi
Hình 3.14 : Sửa câu hỏi
Hình 3.15 : Xoá câu hỏi
Trang 13
10
Hình 3.16a: Tạo bài kiểm tra
Hình 3.16b: Tạo bài kiểm tra
Hình 3.17a: Theo dõi học viên
Hình 3.17b: Theo dõi học viên
Hình 3.17c: Theo dõi học viên
Hình 3.18a: Thảo luận trực tuyến
Hình 3.18b: Thảo luận trực tuyến
Hình 3.19a: Hỏi đáp
Hình 3.19b: Hỏi đáp
Hình 3.20a: Trò chuyện với các thành viên
Hình 3.20b: Trò chuyện với các thành viên
Hình 3.20c: Trò chuyện với các thành viên
Trang 14Trong khi đó, chất lượng đào tạo nghề hiện nay chưa đáp ứng được xu thế phát triển chung của kinh tế xã hội, đào tạo chưa gắn với sử dụng, phần lớn là đào tạo theo cái mà nhà trường có, chưa đào tạo theo cái mà khách hàng cần, do vậy chất lượng đào tạo thấp Điều đó dẫn đến nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học, tác phong công nghiệp còn yếu, thiếu năng động nên không xin được việc làm hoặc nếu được nhận thì nơi
sử dụng lao động thường phải đào tạo lại gây lãng phí về thời gian và tiền bạc Nguyên nhân cơ bản của tồn tại trên là nội dung chương trình chưa phù hợp chưa gắn với thực tiễn sản xuất, phương pháp giảng dạy chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học.Vì vậy để đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì nhiệm vụ đặt ra cho ngành giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng là phải đổi mới nội dung, phương pháp dạy học để nâng cao được chất lượng đào tạo
Bên cạnh đó, công nghệ thông tin phát triển, chúng ta cần biết tận dụng những thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT đã nêu rõ: “Phát triển các hình thức học tập từ xa phục vụ nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục
vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo.” Một trong những ứng dụng của CNTT&TT trong GD&ĐT chính là học tập điện tử E-leanrning Tiếp theo, với sự ra đời và phát triển của các thiết bị di động có khả năng truy cập Internet đã hình thành phương thức học tập di động M-learning Ngoài việc cung cấp một kho tàng kiến thức khổng lồ của nhân loại và tạo cơ hội
Trang 15đã chọn đề tài “M – learning cho giảng dạy mô đun trang bị điện tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn góp phần năng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và xây dựng bài giảng theo chuẩn HTML5, từ đó người học có thể sử dụng phần mềm trên smartphone để học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hình thức học tập trên smartphone
- Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu của Luận văn là Dạy học mô đun trang bị điện
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài hướng tới giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Xác định cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng về dạy học môđun trang bị điện tại Trường CĐN Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
- Thiết kế minh hoạ bài giảng môđun trang bị điện theo chuẩn HTML 5
Trang 16Kỹ thuật Bắc Ninh
6 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng kết hợp M-learning với phương pháp dạy học truyền thống một cách có hiệu quả sẽ giúp SV tiếp cận với phương thức học tập hiện đại, làm nền tảng cho việc xây dựng toàn bộ chương trình M-learning cho mô đun trang bị điện, góp phần nâng cao chất lượng học tập mô đun trang bị điện ở trường Trường CĐN Kinh tế - kỹ thuật Bắc Ninh nói riêng cũng như các trường đại học cao đẳng nói chung
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được một cách có hiệu quả các nhiệm vụ nghiên cứu trên, tác giả tiến hành sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Đọc và nghiên cứu về lý luận dạy học dựa trên CNTT&TT, hệ thống quản
lý học tập, nghiên cứu tài liệu về cách thức, phương pháp xây dựng chương trình learning
m-+ Đọc và nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học đại học, tâm lý học, đặc biệt tâm lý khi học bằng phương tiện máy tính và mạng internet và các tài liệu khoa học khác liên quan đến đề tài
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Dùng phiếu hỏi để thăm dò ý kiến chuyên gia, đồng nghiệp và học sinh về thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học ở trường và về hiệu quả của việc thực nghiệm sư phạm các bài học nêu trên theo dạy học tương tác
- Phương pháp toạ đàm: Đàm thoại, thảo luận, trao đổi rút kinh nghiệm
Trang 17ở Trường CĐN Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh bằng smartphone
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Sử dụng trong quá trình thẩm định kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn chia làm 3 phần chính:
* Phần mở đầu: Trình bày mục đích, lý do chọn đề tài, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu…
* Phần nội dung: Gồm 3 chương
- Chương 1: Cở sở lý thuyết tổng quan của đề tài
- Chương 2: Thực trạng về dạy học môđun trang bị điện tại Trường CĐN Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
- Chương 3: Thiết kế minh hoạ bài giảng môđun trang bị điện theo chuẩn HTML 5
* Phần kết luận và kiến nghị
Trang 18Trong thời đại bùng nổ CNTT như hiện nay, phương thức đào tạo theo phương pháp M- learning có rất nhiều ưu thế để phát triển Đó là nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và các loại truyền thông đa phương tiện M-learning là bước phát triển tiếp theo của E-learning M - learning tập trung vào khai thác tính di động của người học vả khả năng tương tác với các công nghệ di động M-learning
là một hình thức học tập mà bản thân người học có thể thực hiện được việc học tập
ở mọi lúc, mọi nơi với sự hỗ trợ của các thiết bị di động như ĐTDĐ, PDA, PocketPC…[14]
Vì vậy yêu cầu đặt ra là phải đi tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết về lý luận dạy học dựa trên CNTT&TT, hệ thống quản lý học tập, nghiên cứu tài liệu về cách thức, phương pháp xây dựng chương trình e-learning để từ đó có thể phát triển cho người học học tập trên các thiết bị di động
1.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Lịch sử phát triển của e-learning
Thuật ngữ e-learning đã trở nên quen thuộc trên thế giới trong một vài thập
kỷ gần đây Cùng với sự phát triển của Tin học và mạng truyền thông, các phương thức giáo dục, đào tạo ngày càng được cải tiến nhằm nâng cao chất lượng, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho người học Ngay từ khi mới ra đời, e-learning đã xâm nhập vào hầu hết các hoạt động huấn luyện đào tạo của các nước trên thế giới Tập đoàn
Trang 19
16
dữ liệu quốc tế nhận định rằng sẽ có một sự phát triển bùng nổ trong lĩnh vực e- learning Và điều đó đã được chứng minh qua sự thành công của các hệ thống thống giáo dục hiện đại có sử dụng phương pháp e-learning của nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Nhật,…
Gắn với sự phát triển của công nghệ thông tin và phương pháp giáo dục đào tạo, quá trình phát triển của e-learning có thể chia ra thành 4 thời kỳ như sau [11], [19],[25]:
Trước năm 1983: thời kì này máy tính chưa được sử dụng rộng rãi, phương pháp giáo dục “Lấy GV làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các trường đại học
Giai đoạn 1984 – 1993: sự ra đời của hệ điều hành Windows 3.1, máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn Powerpoint, cùng các công cụ đa phương tiện khác
đã mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên đa phương tiện Những công cụ này cho phép tạo ra những bài giảng có tích hợp âm thanh và hình ảnh dựa trên công nghệ Computer Base Training (CBT) Bài học được phân phối qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm Vào bất kì thời gian nào, ở đâu, người học đều có thể mua và tự học Tuy nhiên, sự hướng dẫn của GV là rất hạn chế
Giai đoạn 1993 – 1999: khi công nghệ web được phát minh, các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến phương pháp giáo dục bằng công nghệ này Các chương trình: Email, Web, trình duyệt, Media player, kỹ thuật truyền Audio/Video tốc độ thấp cùng với ngôn ngữ hỗ trợ Web như HTML, JAVA bắt đầu trở nên thông dụng và đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện
Giai đoạn 2000 – đến nay: các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy cập mạng và băng thông Internet rộng, các công nghệ thiết kế web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục và đào tạo Ngày nay thông qua web, GV có thể hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học Càng ngày công nghệ web càng chứng tỏ
có khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hóa
Trang 20
17
các môi trường học tập Điều này đã tạo ra một cuộc cách mạng trong đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng cao và hiệu quả Đó chính là kỷ nguyên của e-learning
1.2.2 Tình hình phát triển và ứng dụng e-learning trên thế giới
learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ, tiếp đến là ở châu Âu, ở châu Á ít ứng dụng công nghệ này [26]
E-Tại Mỹ, e-learning đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90 Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000
Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến E-learning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ Có rất nhiều công ty thực hiện việc triển khai e-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu quả cao Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của e-learning nên hàng loạt các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về e-learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force
Trong những năm gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục Ngoài việc tích cực triển khai e-learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu
có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực e-learning Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE Đây là mạng e-learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty e-learning Docent của Mỹ nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các
SV đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu
Trang 21
18
Tại châu Á, e-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu Á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu Á Tuy vậy, đó chỉ là những rào cản tạm thời Do các cơ sở giáo dục truyền thống ngày càng không thể đáp ứng nhu cầu đào tạo, buộc các quốc gia châu Á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng to lớn mà e-learning mang lại Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển tại châu Á cũng đang có những nỗ lực phát triển e-learning như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc, Nhật Bản là nước
có ứng dụng e-learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực Môi trường ứng dụng e-learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp và dùng để đào tạo nhân viên
1.2.3 Tình hình phát triển và ứng dụng e-learning ở Việt Nam
Việt Nam bắt đầu quan tâm đến e-learning khoảng từ năm 2000 Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm
2001 đã có đề cập đến e-learning Tuy vậy, vào khoảng năm 2002 trở về trước các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về e-learning ở Việt Nam không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu e-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề e-learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như [26]:
- Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT&TT ICT/rda 2/2003, lần thứ hai là ICT/rda 9/2004, lần thứ ba là ICT/rda /2006
- Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa
Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
Trang 22Việt Nam đã gia nhập mạng e-learning châu Á (Asia E-learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách khoa, Bộ Bưu chính Viễn thông
Có thể thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng e-learning đang được quan tâm
ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu và để tiến kịp các nước còn rất nhiều việc phải làm
Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai learning Một số đơn vị đã triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ – ĐHQG Hà Nội, Viện CNTT – ĐHQG Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, ĐHQG TP.HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông, Gần đây nhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai cổng e-learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin e-learning trên thế giới
e-và ở Việt Nam
Tuy nhiên, phần lớn các chương trình e-learning được xây dựng ở các trường đại học nhằm phục vụ cho công tác đào tạo từ xa Hơn nữa, chương trình chủ yếu là các bộ môn thuộc chuyên ngành kinh tế, công nghệ thông tin hay ngoại ngữ Các chuyên ngành khác hay các bộ môn đại cương hầu như chỉ đang ở giai đoạn thử nghiệm Việc xây dựng chương trình e-learning dùng kết hợp giảng dạy với phương thức truyền thống hầu như rất ít
1.3 Lý luận dạy học dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông
1.3.1 Khái niệm dạy học dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông
CNTT&TT hay còn được viết là ICT (Information and Communication Technologies) là “Một tập hợp đa dạng các công cụ và tài nguyên công nghệ được
Trang 23
20
sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản lý thông tin Các công nghệ này bao gồm máy tính, điện thoại, internet, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh…” [24]
CNTT&TT được coi là những công cụ tiềm năng mạnh mẽ, có khả năng tạo ra những thay đổi và cải cách giáo dục Ở đó, những cơ cấu cứng nhắc theo truyền thống về mối quan hệ “không gian – thời gian – trật tự thang bậc” sẽ bị phá vỡ Chẳng hạn, việc phát sóng chương trình giáo dục trên đài hay vô tuyến không cần thiết phải có GV và học viên tại cùng một địa điểm vật lý Bài học, bài tập, bài giảng,… được ghi vào đĩa CD hoặc được đưa lên mạng internet, nhờ đó mọi người
có thể học bất kì khi nào Những diễn đàn trao đổi về mọi vấn đề, những buổi hội thảo trực tuyến sẽ giúp cho người học có thể học mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi, bất kì ai có khả năng và mong muốn đều học được
Với sự phát triển như vũ bão của CNTT&TT, những thành tựu và sản phẩm mới liên tục ra đời, trong đó thành tựu quan trọng nhất là mạng Internet thì việc tạo
ra, phổ biến, lưu giữ và quản lý, trao đổi thông tin là rất dễ dàng Vì vậy, trong những năm gần đây, người ta thường đặc biệt quan tâm đến việc làm thế nào để khai thác một cách hiệu quả nhất máy tính và Internet nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở mọi cấp độ, mọi cơ sở đào tạo và mọi hình thức đào tạo
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, việc dạy học dựa trên CNTT&TT được định nghĩa là việc ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông đặc biệt là máy tính và mạng Internet vào việc dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo E-learning là một trong những cách thức dạy học dựa trên CNTT&TT
1.3.2 Khái niệm e-leaning
Trang 24- Việc học tập được truyền tải, hỗ trợ qua công nghệ điện tử và qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh,
và việc đào tạo dựa trên máy tính CBT gọi là e-learning
- Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân gọi là e-learning
- "Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khả năng cá nhân" gọi là e-learning
- E-learning là tổ hợp của công nghệ Internet và Web nhằm tạo ra, cho phép, phân phối, và cung cấp các phương tiện phục vụ học tập
Việc triển khai áp dụng mô hình đào tạo e-learning khá đa dạng, đơn giản nhất là hình thức cung cấp các bài giảng điện tử trên đĩa CD cho học viên tự học, phức tạp hơn là những lớp học được tổ chức trên mạng Internet với sự quản lý một cách có
hệ thống Nhìn chung, hệ thống e-learning thường bao gồm nhiều thành phần chức năng được tích hợp trên môi trường mạng Internet, mỗi thành phần đều được tách riêng biệt và cung cấp các dịch vụ khác nhau, tuy nhiên tất cả các thành phần đó đều được tập trung trong một hệ thống thống nhất để cung cấp dịch vụ đào tạo cho người sử dụng
Về bản chất, đó vẫn là quá trình truyền tải kiến thức từ GV đến học viên dưới
sự giám sát của hệ thống quản lý, do đó nó cần phải tuân thủ các tiến trình cơ bản trong quá trình đào tạo và triển khai hệ thống E-learning luôn được hiểu gắn với quá trình học hơn là với quá trình dạy – học Lý do đơn giản là theo thời gian người
ta đã thay đổi từng bước cách nhìn trong mối quan hệ giữa dạy và học: từ lấy người
Trang 25hệ thống đào tạo bao gồm 4 thành phần, được chuyển tải tới người học thông qua các phương tiện truyền thông điện tử [11]
Hình 1.1 Mô hình e – learning Nội dung: Các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng các phương tiện truyền thông điện tử, đa phương tiện Ví dụ: một file hướng dẫn truy
Trang 26Quản lý: Quá trình quản lý học tập, đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, bằng tin nhắn SMS, việc theo dõi tiến độ học tập (điểm danh), thi kiểm tra đánh giá được thực hiện qua mạng Internet,
Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng được thông qua phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc trao đổi thảo luận thông qua email, chatting, forum trên mạng,…
Ngày nay, với sự hội tụ của máy tính và truyền thông, e – learning được hiểu một cách trực tiếp hơn là quá trình học thông qua mạng Internet và công nghệ Web
1.3.2.2 Đặc điểm của e-learning
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung e-learning có những đặc điểm sau [11], [15], [18]:
Dựa trên CNTT&TT Cụ thể là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
E-learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người
1.3.3 Phương pháp dạy học bằng e-learning
1.3.3.1 Phương pháp sư phạm tương tác trong e-learning
Quan điểm về dạy học ở đại học hiện nay [9], [11]:
- Học cách thức đi tới sự hiểu biết Coi trọng sự khám phá và khai phá trong học thuật
- Học kỹ năng thực hành và thái độ thực tiễn trong nghề nghiệp
Trang 27
24
- Học phong cách độc lập, sáng tạo, linh hoạt trong nhận thức và hành động
- Biết mềm hoá tư duy và tùy cơ ứng biến
- Học phương pháp nghiên cứu, đi từ phân tích đối tượng và môi trường để tìm giải pháp để giải quyết các tình huống
Có nhiều phương pháp dạy học và không có phương pháp dạy học nào là vạn năng Trong quá trình dạy học cần kết hợp các phương pháp một cách linh hoạt, phù hợp với đối tượng, nội dung và môi trường học tập Tuy nhiên, ở một số điều kiện nhất định sẽ có một phương pháp chính, được sử dụng nhiều hơn các phương pháp khác Với phương thức e-learning, phương pháp tương tác chính là phương pháp chủ đạo Phương pháp tương tác là phương pháp đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay, đó là đào tạo ra những người độc lập, chủ động, sáng tạo, có khả năng tự đào tạo tốt
Phương pháp sư phạm tương tác cơ bản dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa ba tác nhân Người học – Giáo viên – Môi trường Vai trò tích cực của người học được phát huy tối đa dựa trên sự trợ giúp của người giáo viên và sự chi phối của môi trường xung quanh Ba tác nhân này luôn quan hệ với nhau sao cho mỗi một tác nhân hoạt động và phản ứng dưới ảnh hưởng của hai tác nhân kia [9]
Bản chất của phương pháp sư phạm tương tác là người dạy đóng vai trò cố vấn cho quá trình học tập, là người tham gia vào quá trình học tập và là nhà nghiên cứu Với tư cách là cố vấn cho quá trình học tập, người dạy giúp cho người học có thể phát huy được vai trò chủ động, sáng tạo và dựa vào nguồn lực của chính mình để học tốt môn học Vai trò cố vấn còn giúp cho chính người dạy hiểu được những gì người học cần và những gì người học có thể tự làm được trong quá trình học tập Với tư cách là người tham gia vào quá trình học tập, người dạy hoạt động như một thành viên của lớp học, có điều kiện trở lại vị trí của người học, hiểu và chia sẻ những khó khăn, trách nhiệm học tập với người học Khi thực hiện được vai trò của người học, người dạy có thể phát huy được vai trò tích cực của người học, lựa chọn được phương pháp và kỹ năng giảng dạy thích hợp Với vai trò là người nghiên cứu,
Trang 28
25
người dạy là nguồn tham khảo có giá trị, bổ sung tri thức cho người học, giúp người học tháo gỡ những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu
Trong dạy học tương tác ở bậc đại học, cao đẳng người dạy và người học đều
có trách nhiệm tham gia trong đó người học có vai trò trung tâm, người dạy có vai trò hỗ trợ Trong phương thức đào tạo e-learning, người học phải cố gắng và phải được tạo điều kiện để thực sự trở thành người đàm phán tích cực và có hiệu quả với chính mình trong quá trình học tập, với mục tiêu học tập, với thành viên trong lớp học và với người dạy Người học trong phương thức e-learning còn phải đảm nhiệm thêm một vai trò quan trọng nữa đó là người tham gia vào môi trường cộng tác dạy học Họ đóng vai trò vừa là thành phần của quá trình dạy học vừa là cộng sự với người dạy trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp, vừa là người cung cấp thông tin phản hồi cho người dạy
Như vậy ta có thể thấy phương pháp dạy học tương tác rất phù hợp với phương thức e-learning E-learning có khả năng tạo ra một môi trường học tập với rất nhiều công cụ giúp giảng viên thực hiện vai trò cố vấn cho người học, tham gia vào quá trình học tập; giúp SV chủ động, sáng tạo trong học tập, dễ dàng trong việc tự đánh giá và đưa thông tin phản hồi về cho giảng viên
1.3.3.2 Kết hợp e-learning với cách học truyền thống
Không có một phương thức học tập nào là vạn năng Mỗi một phương thức đều có những ưu điểm và hạn chế, khó khăn và thuận lợi riêng Vì vậy, trong quá trình dạy học cần phải kết hợp nhiều phương pháp sao cho phù hợp với điều kiện cơ
sở vật chất, đặc điểm người dạy và người học để đạt hiệu quả Chúng tôi sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn khi dạy học bằng e-learning, từ đó đề xuất một phương pháp kết hợp mang lại hiệu quả cao trong giáo dục
Một số những thuận lợi và khó khăn khi dạy – học với e-learning:
Đối với cơ sở đào tạo:
Trang 29
26
Giảm chi phí tổ chức và quản lý
đào tạo Sau khi đã phát triển
xong, một khoá học E-learning
có thể dạy cho hàng ngàn học
viên với chi phí chỉ cao hơn một
chút so với tổ chức đào tạo cho
học trên mạng có thể đào tạo cấp
tốc cho một lượng lớn học viên
mà không bị giới hạn bởi số
lượng GV hướng dẫn hoặc lớp
học
Yêu cầu kỹ năng mới Những người có khả năng giảng dạy tốt trên lớp chưa chắc đã biết tới các kỹ thuật thiết kế, quản lý, giảng dạy một khóa học trong môi trường e-learning Phía cơ sở đào tạo có thể phải đào tạo lại một
số GV và phải bổ sung thêm những nhân viên mới cho việc này
Cần ít phương tiện hơn Các máy
chủ và phần mềm cần thiết cho
việc học trên mạng có chi phí rẻ
hơn rất nhiều so với chi phí của
có thể vẫn ngần ngại khi bỏ ra một chi phí tương đương cho một khoá học trên mạng thậm chí còn hiệu quả hơn Phải chứng tỏ được rằng đầu tư vào việc học qua mạng sẽ mang lại kết quả lớn
Đối với người học:
Có thể học bất cứ lúc nào, tại bất kỳ
nơi đâu: Dù đang ở đâu và vào lúc nào,
nếu cần, học viên có thể tham gia ngay
Kỹ thuật phức tạp: Rất nhiều học viên mới tham gia khoá học trên mạng cảm thấy bối rối và nản lòng Trước khi có
Trang 30
27
vào khoá học mà không phải chờ tới
khi lớp học khai giảng
thể bắt đầu khoá học, họ phải thông thạo các kỹ năng mới
Không phải đi lại nhiều và không phải
nghỉ việc: Học viên có thể tiết kiệm chi
phí đi lại tới nơi học Đồng thời, họ có
thể dễ dàng điều chỉnh thời gian học
phù hợp với thời gian làm việc của
mình
Chi phí kỹ thuật cao: Để tham gia học trên mạng, học viên phải cài đặt các phần mềm công cụ trên máy tính của mình, tải và cài đặt các chức năng cắm
và chạy (plug and play), và kết nối vào mạng
Có thể tự quyết định việc học của
mình: Học viên chỉ học những gì mà
họ cần Họ có thể bỏ qua, học lướt và
học lại những gì cần thiết với các cấp
độ và tốc độ thích hợp với họ Việc
học tuỳ theo yêu cầu của học viên đem
lại hiệu quả rất cao
Việc học có thể buồn tẻ: Một số học viên sẽ cảm thấy thiếu quan hệ bạn bè
và sự tiếp xúc trên lớp
Khả năng truy cập được nâng cao:
Việc tiếp cận những khoá học trên
mạng được thiết kế hợp lý sẽ dễ dàng
hơn đối với những người không có khả
năng nghe, nhìn; những người học
ngoại ngữ hai; và những người không
có khả năng học như người bị mắc
chứng khó đọc
Yêu cầu ý thức cá nhân cao hơn: Việc học qua mạng yêu cầu bản thân học viên phải có trách nhiệm hơn đối với việc học của chính họ Một số người sẽ cảm thấy khó khăn trong việc tạo ra cho mình một lịch học cố định
Việc kiểm tra tính xác thực: Các nhà
thiết kế có thể tạo ra những bài mô
phỏng có tính xác thực cao Rất nhiều
học viên trực tuyến ưa thích việc tự ôn
tập và kiểm tra trình độ “mà không có
ai giám sát và cho điểm”
Trang 31
28
Từ những ưu nhược điểm được phân tích như trên, có thể thấy rằng e-learning
có nhiều ưu điểm hơn phương pháp dạy học truyền thống E-learning tạo được một môi trường rất tốt phục vụ cho phương pháp dạy học tương tác, cá nhân hóa được người học Tuy vậy, với những nhược điểm nêu trên, e-learning vẫn không phải là một giải pháp hoàn hảo và cũng không thể thay thế hoàn toàn cách học truyền thống Vì vậy, dạy và học cần thiết phải kết hợp cả 2 phương thức sao cho hạn chế được điểm yếu và phát huy được thế mạnh của mỗi phương thức nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong giảng dạy [7], [18], [19], [20]
Một giải pháp là kết hợp sử dụng e-learning và phương pháp giảng dạy truyền thống song song Giảm giờ lên lớp của giảng viên và tăng giờ tự học của học viên thông qua chương trình e-learning Học viên sẽ thực hiện mọi hoạt động học tập có thể trên e-learning, tham gia như đang học một khóa học trực tuyến thực sự Trừ giờ thực hành, thí nghiệm, thực tập sẽ đến phòng thí nghiệm hay đến môi trường thực tập để tiếp cận thực sự với thực tế công việc Ngoài ra, học viên sẽ gặp GV một số buổi để thảo luận, trao đổi và giải quyết một số vấn đề nhằm mục đích rèn luyện kỹ năng giao tiếp xã hội
Kết luận: trên đây là phần trình bày tổng quan về e-learning Phần tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày tổng quan về M-learning và cách khai thác M-learning trong dạy học
1.4 M – leaning và một số khái niệm cơ bản
1.4.2 Sự phát triển của M-learning trên thế giới
- Nhật Bản, Đài Loan và Nam Phi là những nước đi đầu trong việc ứng dụng M-learning
Trang 32
29
- Hàn Quốc và Trung Quốc là những nước có tiềm năng lớn
- Australia, Canada, Ấn Độ cũng đang bắt đầu với các thử nghiệm về learning
M-Tiềm năng của M-learning là rất lớn, nó tạo ra nhu cầu chuyển giao từ các dự
án thử nghiệm hiện nay sang xu hướng mới trong giáo dục và đào tạo M-learning nâng cao sự hợp tác, cộng tác và học tập tích cực Công nghệ mobile đang cung cấp những cơ hội để tối ưu hoá sự tương tác và trao đổi thông tin giữa giáo viên và người học, giữa các người học trong cộng đồng học tập Chính vì vậy, M-learning
sẽ trở thành một xu hướng mới của giáo dục từ xa
1.4.3 Triển vọng ứng dụng M – learning ở Việt Nam
- Ngày càng có nhiều địa điểm làm việc di động
- Số ĐTDĐ tăng nhanh về số lượng (gấp 3 lần số lượng máy vi tính) và chất lượng (khoảng 70% số ĐTDĐ này có khả năng kết nối Internet)
- Số PDAs và SmartPhones cũng tăng nhanh về số lượng (số lượng bán nhiều hơn máy vi tính)
- Có nhiều công ty phát triển các phần mềm trên ĐTDĐ
- Hệ thống viễn thông phát triển nhanh, giảm giá thành sử dụng
- E-learning đang phát triển rất mạnh Đây là tiền đề thuận lợi để phát triển M-learning
- Xu hướng gắn M-learning với tính di động của người học: Khác với xu hướng trên, một số chuyên gia như Oloruntoba (2006), Rebecca-rjhogue… lại cho
Trang 33
30
rằng M-learning là hình thức dạy học mà việc học tập được tổ chức, thực hiện qua thông tin di động giữa người với người (M-learning is learning as it arises in the course of person-to-person mobile communication)[17] Ở Việt Nam khái niệm M-learning là một thuật ngữ mới xuất hiện trong thời gian gần đây nên cũng chưa có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau Trong nội dung văn bản số 1790 /QĐ-BGDĐT, ngày 14 tháng 5 năm 2012 ban hành Thể lệ cuộc thi “Thiết kế bài giảng điện tử E-Learning” năm học 2011- 2012 cho khối Tiểu học của Bộ GD&ĐT cho thấy Bộ GD&ĐT quan niệm M-learning (Mobile learning) là việc thực hiện học tập qua việc sử dụng các phương tiện thiết bị di động cá nhân như PDA, ĐTDĐ có công nghệ kết nối 3G, 4G
1.4.5 Những lợi ích từ M – learning
- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: sự phổ cập rộng rãi của Internet đã dần xoá đi khoảng cách về thời gian và không gian cho m-learning Một khoá học M-learning được chuyển tải qua mạng tới thiết bị di động của người học, điều này cho phép các học viên học bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu Cả người dạy lẫn người học đều có cơ hội thảo luận vấn đề mà không bị ràng buộc bởi thời gian, không gian
- Tính hấp dẫn: với sự hỗ trợ của công nghệ multimedia, những bài giảng tích hợp text, hình ảnh minh họa, âm thanh tăng thêm tính hấp dẫn của bài học Người học giờ đây không chỉ còn nghe giảng mà còn được xem những ví dụ minh họa trực quan, thậm chí còn có thể tiến hành tương tác với bài học nên khả năng nắm bắt kiến thức cũng tăng lên
- Tính linh hoạt: một khoá học M-learning được phục vụ theo nhu cầu người học, chứ không nhất thiết phải theo một thời gian biểu cố định Vì thế người học có thể tự điều chỉnh quá trình học, lựa chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình
- Dễ tiếp cận và truy cập ngẫu nhiên: bảng danh mục bài giảng sẽ cho phép học viên lựa chọn đơn vị tri thức, tài liệu một cách tuỳ ý theo trình độ kiến thức và
Trang 34- Tâm lý dễ chịu: mọi rào cản về tâm lý giao tiếp của cả người dạy và người học đều bị xoá bỏ, mọi người tự tin hơn trong việc trao đổi quan điểm
- Các kỹ năng giao tiếp, làm việc hợp tác, tự điều chỉnh để thích ứng của người học sẽ được hoàn thiện không ngừng
- Sự tương tác giữa người dạy và người học vẫn được duy trì thông qua các diễn đàn (forum), hội thoại trực tuyến (chat), thư từ (e-mail), hội nghị truyền hình (video conferencing)
Dựa trên phương tiện truyền thông là mạng internet, có sự hỗ trợ của multimedia, mỗi người học khi tiếp cận với M-learning có thể có cách thích nghi riêng, cách hiểu riêng về một vấn đề Do đó, khi đến với M-learning, mọi thành phần không phân biệt trình độ, giới tính, tuổi tác… đều có thể tìm cho mình một hướng tiếp cận khác nhau với vấn đề mà không bị ràng buộc trong một khuôn khổ
cụ thể nào (cá nhân hóa người học)
1.5 Khai thác M-learning trong dạy học
Điều đặc biệt trong M-learning, thay vì phương pháp mặt đối mặt truyền thống sẽ là phương pháp học có GV hướng dẫn từ xa Mô hình không gian học tập
Trang 35Internet Trường học
Lớp học
SV
Chương trình đào tạo
nguyên về nội dung và chương trình đào tạo
Trang 36
33
việc thiết lập môi trường học tập để tăng cường tính linh hoạt cho SV M-learning cũng đòi hỏi phương pháp dạy học và cách tiếp cận mới M-learning giúp người học một cách tuyệt vời bằng cách cung cấp các lớp học ảo trên các thiết bị di động của
họ GV dành nhiều thời gian để giao và theo dõi SV hơn so với mô hình lớp học truyền thống Ngoài ra, GV còn có trách nhiệm cung cấp nguồn tài nguyên và môi trường học tập phong phú do SV, do đó, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
1.5.1 Những thế mạnh của M-learning có thể khai thác trong dạy nghề
Điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng dạy nghề là:
- Người học có cơ hội tiếp cận với nhiều nguồn học liệu để chắt lọc ra những thông tin cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ học tập
- Phải tổ chức được việc tự học của SV một cách có hiệu quả Căn cứ vào những thế mạnh của M-learning, ta có thể khai thác M-learning trong dạy nghề theo các hướng sau:
+ Hỗ trợ việc kiểm tra, đánh giá
+ Triển khai nhiệm vụ từ GV đến SV và nhận phản hồi thông qua tin nhắn SMS
+ Hỗ trợ việc tự học của SV
+ Hỗ trợ chức năng sổ tay tri thức trên ĐTDĐ
+ Tạo trang web trên ĐTDĐ hỗ trợ SV tự học
+ Tạo ra môi trường học tập cá thể hoá
+ Tạo ra môi trường học tập hợp tác
+ Tạo ra môi trường học tập trên lớp và học tập ngoài lớp
1.5.2 M-learning tạo ra môi trường thuận lợi cho việc tự học của SV
Các mô đun kiến thức được tải lên các trang web sẽ trợ giúp SV tự học hoàn thành nhiệm vụ chiếm lĩnh kiến thức và có điều kiện phát triển tối đa năng lực của bản thân Mặt khác, việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mỗi SV không làm ảnh hưởng tới các SV khác, những SV hoàn thành sớm nhiệm vụ học tập có thể tiếp tục tiếp cận với các nội dung mới, nhiệm vụ mới để phát huy hết khả năng của bản thân Các thông tin dạng đa phương tiện tạo ra một môi trường thuận lợi, một thế
Trang 37
34
giới sinh động thu nhỏ để kích thích trí tò mò, gợi nhu cầu tìm hiểu, khám phá giúp SV chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức SV chủ động lên kế hoạch, triển khai việc tự học của mình tại bất kỳ một thời điểm nào mà bản thân có nhu cầu nhờ và truy cập các chương trình hướng dẫn qua thiết bị di động Song song với việc khai thác M-learning nhằm “cá nhân hoá” việc học tập của mỗi SV, ta có thể khai thác M-learning để góp phần hình thành và phát triển năng lực lập kế hoạch, hoạt động hợp tác giữa các SV trong nhóm khi cùng tham gia một diễn đàn Như vậy, M-learning đã làm cho quá trình dạy học không còn bị ràng buộc bởi không gian và thời gian SV có thể học ở mọi nơi, học mọi lúc, học suốt đời Việc học tập trở nên uyển chuyển, linh hoạt, căn cứ vào nhu cầu của SV
SV được phép lựa chọn những phương thức học tập có hiệu quả, lựa chọn nội dung bài giảng và các tài liệu có liên quan phù hợp với năng lực bản thân SV chủ động trao đổi và khai thác các thông tin trên Internet nhằm đáp ứng nhu cầu về kiến thức liên quan đến nội dung học tập của mình M-learning cũng đã tạo ra một môi trường tương tác để người học hoạt động và thích nghi trong môi trường đó Như vậy, M-learning tạo điều kiện cho người học độc lập với mức độ cao và hỗ trợ cho người
học vươn lên trong quá trình học tập
1.5.3 Sử dụng M-learning triển khai tự học có hướng dẫn trực tiếp của GV
Trong môi trường dạy học truyền thống, tự học có hướng dẫn trực tiếp của
GV được hiểu là trong quá trình SV tự học luôn có GV ở bên cạnh để đưa ra các hỗ trợ khi cần thiết Như vậy, GV chỉ có thể hướng dẫn trực tiếp SV qua các giờ lên lớp Tuy nhiên thời lượng dành cho lên lớp của GV đã được cố định và chủ yếu để giảng giải kiến thức mới nên rất khó để dành ra một thời lượng cho việc hướng dẫn
SV tự học trong các giờ chính khóa Trong điều kiện có sự hỗ trợ của M-learning, khái niệm tự học có hướng dẫn được mở rộng Hình thức tự học có hướng dẫn là hình thức học tập, trong đó SV nhận được sự hỗ trợ trực tiếp của GV trên lớp học hay được thực hiện qua mạng Internet M-learning sẽ giúp GV “mở rộng thời gian” hướng dẫn SV tự học dưới nhiều hình thức, chẳng hạn:
- GV giao nhiệm vụ, hướng dẫn SV tự học thông qua tin nhắn MMS
Trang 38
35
- GV và SV cùng online để sử dụng chức năng “chat” trao đổi thông tin
- Sử dụng chức năng “chat video” truyền tải thông tin đa phương tiện thì không khác gì GV đang lên lớp hướng dẫn cho SV, chỉ khác ở chỗ lớp học được tổ chức trực tuyến qua Inernet
- Sử dụng chức năng “Group” cho phép nhiều SV cùng nghe GV hướng dẫn bạn tự học, qua đó cũng có thể đồng hành cùng bạn tự học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV Như vậy mọi khó khăn của SV đều nhận được sự hướng dẫn trực tiếp của GV một cách kịp thời và chắc chắn SV sẽ có nhiều cơ hội hơn để hoàn thành nhiệm vụ tự học
1.5.4 Sử dụng M-learning trong tự học không có hướng dẫn trực tiếp của GV
Trong điều kiện truyền thống, để SV có thể tự học trong điều kiện không có
sự hướng dẫn trực tiếp của GV, thì GV phải biên tập và chuyển tới tay SV các tài liệu học tập Hạn chế lớn nhất của hình thức này là tài liệu chỉ có thể trình bày kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiến thức,
để hình thành kĩ năng Bởi vậy SV rất bị động, đọc đến dòng nào trong thì biết đến dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và sau khi đọc xong cũng không thể tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc để vận dụng cho các nhiệm vụ sau Để kịp thời hỗ trợ SV trong việc tự học ở hình thức này, GV hoàn toàn có thể sử dụng M-learning để tạo ra một “GV ảo” luôn ở bên cạnh SV, cụ thể:
- GV thiết kế các tài liệu điện tử có tương tác để cài đặt nhiệm vụ và dự kiến trước các hướng dẫn để SV hoàn thành nhiệm vụ tự học cũng như các câu hỏi dạng trắc nghiệm để kiểm tra kết quả tự học của HV Ta có thể hình dung nội dung kiến thức SV cần chiếm lĩnh được cấu trúc dưới dạng lặp không biết trước số lần Nội dung tự học được thiết kế thành các “liều” Chỉ khi nào SV hoàn thành nhiệm vụ đang thực hiện thì tài liệu mới mở ra nhiệm vụ mới Với mỗi nhiệm vụ tự học (liều) tùy vào sai lầm của SV, tài liệu sẽ đưa ra các hướng dẫn tương ứng
- SV truy cập vào website nhận nhiệm vụ, nghiên cứu tài liệu và trả lời các câu hỏi Trong quá trình tự học, SV sẽ tương tác với tài liệu để nhận nhiệm vụ,
Trang 39tự học và sẽ giúp đỡ điều chỉnh nhịp độ học tập của SV sau đó Như vậy, mặc dù không cần có mặt trực tiếp, nhưng GV vẫn có thể dẫn dắt SV kĩ năng tự học từ thấp lên cao, tự học từng phần cho đến tự học hoàn toàn
1.5.5 Sử dụng M-learning hỗ trợ SV tự học không có hướng dẫn của GV
Đây là hình thức SV tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có sách và sự hướng dẫn của giáo viên Hình thức này gần với việc tự nghiên cứu của các nhà khoa học Kết quả của quá trình tự học này đi đến sự sáng tạo và tri thức khoa học mới (đối với SV tại thời điểm đó) Dạng tự học này đòi hỏi SV có một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu Ta sẽ phân tích rõ vai trò của M-learning trong hình thức tự học này
- M-learning làm nảy sinh động cơ tự học của SV: Internet sẽ đưa SV vào siêu sa lộ thông tin, trong vô vàn vấn đề sẽ có những vấn đề gây được sự chú ý của
SV, hoặc khi SV truy cập các diễn đàn, sẽ đọc được những thắc mắc, những kết quả của các SV khác đưa lên diễn đàn… dẫn đến việc nảy sinh động cơ muốn tìm hiểu, làm sáng tỏ vấn đề
- M-learning cung cấp các thông tin để giúp SV rút ra kết luận của bản thân mình: Đứng trước một vấn đề, SV hoàn toàn tìm được các thông tin liên quan Việc nghiên cứu các thông tin này sẽ từng bước giúp SV tích lũy kiến thức và giải quyết thỏa đáng nhiệm vụ tự học mà SV đã tự đặt ra cho mình
- M-learning giúp SV chia sẻ, kiểm chứng kết quả tự học của mình: Trước hết trong quá trình tìm tòi, khám phá kiến thức, SV có thể đưa vấn đề mình đang nghiên cứu lên các diễn đàn để chia sẽ và nhận được các thông tin hỗ trợ từ các SV
Trang 40Phương pháp tự học của SV được thể hiện qua một số đặc trưng sau:
- Biết cách xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học hợp lý
- Biết cách thức làm việc độc lập, bao gồm: Biết đọc tài liệu một cách có hệ thống, biết phân chia dung lượng kiến thức hợp lý để tiến hành học tập cho có hiệu quả, biết liên hệ, vận dụng lý thuyết để giải quyết các bài tập trong quá trình học ở trên lớp và trong thực tiễn
- Biết cách phân tích, tổng hợp, so sánh
- Biết ôn tập, tổng hợp kiến thức một cách tự giác, thường xuyên nhằm đánh giá được sự tiến bộ của bản thân
- Biết tranh luận và biết trình bày quan điểm của mình
- Biết tập trung tư tưởng, tiết kiệm thời gian học tập
- Biết tự kiểm tra, tự đánh giá trình độ của bản thân… Với các nội dung đã chỉ ra ở phần trên, ta thấy rõ nếu SV tự học trong môi trường có sự hỗ trợ của M-learning thì các đặc trưng trên sẽ được hình thành và phát triển một cách hoàn tự nhiên, đơn cử:
- Với sự phát triển của các tài liệu điện tử có tính tương tác cao, SV sẽ luôn làm chủ được quá trình tiếp cận, chiếm lĩnh tri thức cũng như liên hệ, vận dụng kiến thức vào thực tiễn học tập của bản thân
- M-learning cho phép việc tự học diễn ra mọi lúc, mọi nơi, không phụ thuộc vào không gian, thời gian Như vậy, mỗi SV đều có thể lên được một kế hoạch tự học phù hợp với điều kiện bản thân mình
- Việc tham gia các diễn đàn cho phép SV dễ dàng trao đổi, trình bày quan điểm, kết quả với các thành viên dưới hình thức online hoặc offline Kết hợp việc trao đổi thông tin với việc tự kiểm tra kiến thức qua hình thức kiểm tra qua mạng,
SV sẽ tự đánh giá mình và đưa ra những sự điều chỉnh hợp lý và kế hoạch tự học tiếp theo cho bản thân