Với niềm say mê khoa học, tác giả quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em nam 6 tuổi tiểu học địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” Với mục đích chính là học
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kỹ thuật “ Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em nam 6 tuổi tiểu học địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong luận văn là số
liệu trung thực
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2012
Người cam đoan
PHẠM THỊ THÀNH Học viên cao học khóa 2010 Chuyên ngành: Công nghệ vật liệu dệt may Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và trường Cao đẳng Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Bích Hoàn, người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để hướng dẫn tôi tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo và Quý Thầy Cô trường mầm non Quận 7 đã tạo điều kiện để tôi có thể khảo sát và lấy được số liệu nghiên cứu Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến nhóm sinh viên đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình lấy số đo;
Chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo và các thầy cô đồng nghiệp nơi tôi công tác, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khoá học này
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự say mê và năng lực của mình, nhưng do kiến thức còn hạn chế nên chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2012
Học viên
PHẠM THỊ THÀNH
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Ý nghĩa các kích thước nhân trắc trong xây dựng hệ thống cỡ số Bảng 2.2 Vị trí các mốc đo nhân trắc
Bảng 2.3 Phương pháp đo cơ thể
Bảng 3.1 Các đặc trưng thống kê của kích thước chiều cao và vòng ngực Bảng 3.2 Phân nhóm chiều cao
Bảng 3.3 Phân nhóm vòng ngực
Bảng 3.4 Tổng hợp so sánh một số đặc trưng cơ bản
Bảng 3.5 Phân bố tần số lý thuyết và thực nghiệm theo chiều cao
Bảng 3.6 Phân bố tần số lý thuyết và thực nghiệm theo vòng ngực
Bảng 3.7 Kiểm định số lượng mẫu nghiên cứu theo chiều cao
Bảng 3.8 Kiểm định số lượng mẫu nghiên cứu theo vòng ngực
Bảng 3.9 Tần số và tần suất chiều cao theo từng nhóm
Bảng 3.10 Tần số và tần suất vòng ngực theo từng nhóm
Bảng 3.11 Tần số và tần suất vòng ngực theo từng nhóm chiều cao
Bảng 3.12 Tỷ lệ đáp ứng của cỡ số đối với từng nhóm chiều cao
Bảng 3.13 Phân bố các cỡ số theo phương án chiều cao cách 8 vòng ngực cách 6
Bảng 3.14 Hệ số tương quan giữa hai kích thước chủ đạo và các kích thước khác
Bảng 3.15 Hệ thống cỡ số
Trang 4DANH MỤC HÌNH ẢNH ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Dụng cụ đo nhân trắc
Hình 2.1 Các mốc đo nhân trắc
Hình 2.2 Minh họa phương pháp đo các kích thước
Hình 3.1 Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm của chiều cao
Hình 3.2 Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm của vòng ngực
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 4
MỞ ĐẦU 8
Chương I: TỔNG QUAN 9
1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NHÂN TRẮC 10
1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc trên thế giới 10
1.1.2 Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc ở Việt Nam 11
1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG CỠ SỐ 15
1.3 ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI CƠ THỂ TRẺ EM 6 TUỔI 16
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 1.4.1 Phương pháp nghiên cứu 17
1.4.2 Xác định đối tượng nghiên cứu 17
1.4.3 Các kích thước cơ bản thiết kế công nghiệp trong và ngoài nước 19
1.4.4 Chọn mẫu 23
1.4.5 Cách ước tính số lượng cỡ mẫu 24
1.4.6 Kích thước chủ đạo và bước nhảy 25
KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN 30
Chương II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2. 1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32
Trang 62.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.3 CHƯƠNG TRÌNH ĐO VÀ KỸ THUẬT ĐO 33
2.3.1 Xác định các thông số kích thước cần đo 33
2.3.2 Xác định các mốc đo 35
2.3.3 Xây dựng phương pháp đo 37
2.3.4 Xây dựng phương pháp đo 39
2.3.5 Xây dựng trình tự đo và phân chia bàn đo 43
2.3.6 Lập phiếu đo 43
2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 44
2.4.1 Các đặc trưng thống kê cơ bản 44
2.4.2 Lập phiếu đo 44
Chương III: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CỠ SỐ 47
3.1 XÁC ĐỊNH CÁC ĐẶC TRƯNG THỐNG KÊ CƠ BẢN 48
3.1.1 Tập hợp các số liệu - loại sai số thô bằng tay 48
3.1.2 Xác định các đặc trưng thống kê cơ bản 48
3.2 CHỨNG MINH KÍCH THƯỚC CHỦ ĐẠO LÀ PHÂN BỐ CHUẨN 50
3.3 CHỌN BƯỚC NHẢY ĐỐI VỚI CÁC KÍCH THƯỚC CHỦ ĐẠO 53
3.4 XÁC ĐỊNH SỐ LƯỢNG CỠ SỐ 55
3.5 XÂY DỰNG BẢNG HỆ THỐNG CỠ SỐ 57
3.4.1 Xác định các kích thước phụ 57
3.4.2 Xây dựng bảng hệ thống kích thước 61
KẾT LUẬN CHUNG 63
HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 7Rõ ràng rằng việc nghiên cứu về độ vừa vặn của trang phục cho người Việt
là cấp bách, từ đó xây dựng nên một nền tảng mẫu rập chuẩn cho người Việt nam, góp phần hoàn thiện hình thức ngoại quan trang phục cho người Việt, nâng cao chất lượng hàng thời trang cao cấp Việt Nam
Là một kỹ sư chuyên ngành may công nghiệp, tác giả mong muốn làm một việc thiết thực giúp ích cho quê hương mình Với niềm say mê khoa học, tác giả
quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em nam 6
tuổi tiểu học địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” Với mục đích chính là học hỏi để
trở thành một nhà khoa học thực sự trong lĩnh vực ứng dụng phương pháp nhân trắc học vào việc nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số cơ thể người
Trang 8CHƯƠNG I TỔNG QUAN
Trang 91.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NHÂN TRẮC
1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc trên thế giới
Nhân trắc học (anthroponietria) là khoa học nghiên cứu về phương pháp đo trên cơ thể người và sử dụng toán học để phân tích những kết quả đo được nhằm tìm hiểu các qui luật về sự phát triển hình thái người, đồng thời vận dụng các qui luật đó vào việc giải quyết những vấn đề của khoa học, sản xuất và thực tiễn đời
sống
Ban đầu, nhân trắc học chủ yếu phục vụ cho việc nghiên cứu chủng tộc người Song từ cuối thế kỷ 19, ở nhiều nước phương Tây người ta đã vận dụng kỹ thuật nhân trắc vào việc thiết kế các sản phẩm công nghiệp
Trong khoảng thời gian mấy chục năm gần đây, nhân trắc học đã có những bước tiến đáng kể, với sự áp dụng kỹ thuật hiện đại của các ngành khoa học khác,
số người nghiên cứu vấn đề này trên thế giới ngày càng tăng cao
Các công trình đánh dấu sự phát triển của việc ứng dụng phương pháp nhân trắc học vào thực tiễn trên thế giới:
- Năm 1960, nhà nhân trắc học người Pháp Olivier, với kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu về nhân trắc ở một số nước Châu Á, Châu Phi, Châu Đại
Dương , đã cho ra đời cuốn “Thực hành Nhân trắc” Trong cuốn sách này,
ông đã phân tích, đưa ra những phương pháp nghiên cứu nhân trắc một cách khá đầy đủ và được các nhà nhân trắc trên thế giới ứng dụng rộng rãi
- Năm 1961 có hai công trình nghiên cứu lớn là: “Nghiên cứu ảnh hưởng của địa lý đến sự tăng trưởng chiều cao cơ thể và chứng minh những yếu tố ảnh hưởng đó là có thật của Nold và Volsuski” và đề tài “Nghiên cứu, thu thập số liệu và chứng minh tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật ảnh hưởng rõ rệt đến
sự gia tăng của các kích thước cơ thể, đặc biệt là chiều cao và cân nặng của Graef và Cone”
- Năm 1962, “Học thuyết về sự phát triển thể lực con người” của tác giả
Baskirop, bàn luận về các qui luật phát triển cơ thể người dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống
Trang 10- Năm 1964, F Vandervael, một thầy thuốc người Bỉ đã viết cuốn sách giáo khoa về Nhân trắc học, đưa ra những nhận xét toàn diện về các qui luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng các thang phân loại thể lực theo các chỉ số đánh giá thể lực với các đặc trưng thống kê trung bình cộng (tb) và độ lệch chuẩn (σ)
Đặc biệt đối với trẻ em, việc nghiên cứu nhân trắc học lứa tuổi được thế giới quan tâm và tiến hành sớm hơn, vào cuối thế kỷ 19, mặc dù trong thời kỳ này các công trình nghiên cứu còn hạn chế về số lượng và kích thước đo đạc, phương pháp nghiên cứu cũng chưa hoàn toàn thống nhất và các tính toán thống kê còn đơn giản Bước sang thế kỷ 20, nhân trắc học phát triển cùng với các môn khoa học khác
có liên quan như: di truyền học, sinh lý, sinh hoá, thống kê học v.v …Những hội, ban, ngành, viện nghiên cứu về nhân học được thành lập và đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu nhân trắc có giá trị thực tiễn cao Ở Liên Xô, chỉ trong vòng
50 năm đã có hàng trăm công trình Ở Đức, Hungari, Tiệp Khắc, Ba Lan, Pháp, Anh, Mỹ, Bỉ, Nhật v.v ….số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu đều vượt xa thế kỷ trước
1.1.2 Sơ lược lịch sử phát triển nhân trắc ở Việt Nam
Nhân trắc học ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 1930 của thế kỷ 20 Ở thời kỳ này, hầu hết các công trình nghiên cứu đều được thực hiện tại Ban Nhân học thuộc Viện Viễn đông bác cổ và Viện Giải phẫu học thuộc trường đại học Y khoa
Hà Nội Các kết quả nghiên cứu về kích thước cơ thể người các dân tộc Việt Nam
đã được công bố trong 9 tập tạp chí “Công trình nghiên cứu của Viện Giải phẫu học, Đại học Y khoa Đông Dương” xuất bản 1936 – 1944 do P Huard làm chủ biên
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu lúc bấy giờ cho kết quả còn rất hạn chế,
vì các kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu còn đơn sơ, xử lý thống kê toán học còn chưa triệt để và chính xác
Trang 11Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), giáo sư Đỗ Xuân Hợp đã cùng một số bác sĩ và sinh viên y khoa tiến hành những công trình nghiên cứu nhân trắc trên thanh niên để phục vụ cho việc tuyển quân và may quân trang cho bộ đội Sau khi đất nước được giải phóng, từ năm 1954 đến nay, các bộ môn nhân trắc học dần được thành lập ở một số viện nghiên cứu khoa học như Viện KHKT Bảo hộ lao động, Viện vệ sinh dịch tễ học, Viện đo lường tiêu chuẩn, ) và ở các trường đại học (Đại học Tổng hợp hà Nội, Đại học Sư phạm, Đại học Mỹ thuật, Đại học Văn hoá, Đại học Thể dục thể thao, ) để làm nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy Nhiều đối tượng người ở hầu hết các lứa tuổi của hầu hết các thành phần đã được điều tra nghiên cứu Số kích thước và thông số đo đạc cho mỗi đối tượng lên tới hàng trăm, các chỉ số thể lực và các thông số sinh học dần dần được thiết lập Toán thống kê cũng được vận dụng tối ưu để nhận định và đánh giá kết quả một cách chính xác hơn Có thể tạm khái quát các kết quả nghiên cứu nhân trắc theo các hướng chính như sau:
• Các kết quả đi theo hướng tìm hiểu đặc trưng hình thái, chủng tộc của các cộng đồng người Việt Nam Những tác giả và tác phẩm tiêu biểu theo hướng
này phải kể đến Nguyễn Đình Khoa với hai chuyên khảo “Các dân tộc ở Việt
Nam” và “Nhân chủng học Đông Nam Á”; Cố giáo sư Nguyễn Quang Quyền
với các bài báo được đăng trong tạp chí Khảo cổ học và một phần trong tác
phẩm “Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam”
Những tác giả khác như Phó giáo sư Tiến sĩ Võ Hưng, Nguyễn Duy, Trịnh Hữu Vách… cũng có nhiều đóng góp trong hướng nghiên cứu này
• Các nghiên cứu nhằm khảo sát đánh giá thể lực, sự tăng trưởng, phát triển hình thái cơ thể với khá nhiều các tác giả tham gia Các nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự tăng trưởng, phát triển của trẻ em và thanh thiếu niên Liên tục trong các năm 1972, 1973 Đinh Kỷ và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu của mình về một số kích thước hình thái và thể lực của học sinh Thái Bình từ 7 đến 18 tuổi Trong công trình này, tác giả đã bàn về sự phát triển cơ thể học
Trang 12sinh và so sánh với các nhận định của Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền tiến hành nghiên cứu trên cơ thể học sinh Hà Nội cùng lứa tuổi năm 1959 Năm 1991, đề tài nghiên cứu đặc điểm hình thái kích thước, sự tăng trưởng và phát triển cơ thể trẻ em của Đào Huy Khuê đã khảo sát tới 50 chỉ tiêu nhân trắc trên 1478 em học sinh từ 6 đến 17 tuổi Đây là công trình nghiên cứu khá công phu tỉ mỉ để đánh giá về sức lớn của trẻ em Việt nam
cả về mặt sinh lý và hình thái
Năm 1992, đề tài “Đặc điểm hình Thái và thể lực học sinh một trường
phổ thông cơ sở Hà Nội” của Thẩm Thị Hoàng Điệp đã mang lại cho lĩnh
vực nghiên cứu nhân trắc học ở Việt Nam một bức phá mới khi lựa chọn phương pháp theo dõi dọc (Longgitudial study) để tiến hành theo dõi một nhóm học sinh trong 10 năm liên tục (1981 – 1992), từ đó đưa ra qui luật phát triển của trẻ em Đề tài này tác giả đã bảo vệ thành công để nhận học vị Phó tiến sĩ Khoa học Từ đó đến nay phương pháp này cũng đã được nhiều người quan tâm và ứng dụng
• Các công trình nghiên cứu về lao động ứng dụng ergonomics là một hướng mới trong nghiên cứu nhân trắc Từ những năm 1970, hướng nhân trắc ecgonomi đã được hình thành do yêu cầu của thực tiễn sản xuất và tổ chức lao đông khoa học Nhân trắc ecgonomi đã được ứng dụng ở Việt Nam trong các công trình nghiên cứu, đánh giá về mức độ phù hợp của các loại máy móc, thiết bị (đa số được nhập từ nước ngoài vào) với người lao động Việt Nam Những kiến nghị, đề xuất thay đổi kích thước máy, chỗ làm việc trên
cơ sở kết quả các dẫn liệu nhân trắc đã được đưa ra
Cho đến những năm đầu của thập kỷ 80, các công trình nhân trắc ở Việt Nam một mặt còn ít các dẫn liệu, mặt khác đối tượng, phạm vi khảo sát còn hẹp chưa đủ đại diện cho các lứa tuổi và các vùng miền Nhân trắc ecgonomi xây dựng các dẫn liệu theo qui định thống nhất trên một số đối tượng đủ lớn đại diện được cho các lớp người lao động, các lứa tuổi, các vùng dân cư khác nhau Để tạo tiền đề cho việc nghiên cứu về ecgonomi, Viện nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ Lao
Trang 13động dưới sự chỉ đạo của PGS TS Nguyễn An Lương và sự phối hợp của nhiều cán
bộ khoa học thuộc nhiều trường đại học, nhiều cơ quan khoa học đã nghiên cứu, xây dựng ba tập Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ
Tập “ Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” (1986) do
PGS TS Võ Hưng làm chủ biên là kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng ecgonomi vào bảo hộ lao động và áp dụng các dữ kiện nhân trắc học vào việc cải thiện điều kiện lao động cho công nhân” (mã số: 58.01.03.01) thuộc chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước về bảo hộ lao độngtrong giai đoạn 1982 – 1985 Atlas đã trình bày 138 dấu hiệu nhân trắc tĩnh được đo đạc trên 13.223 người đang trực tiếp lao động sản xuất trong nhiều ngành nghề khác nhau trên cả nước Công trình nghiên cứu đã tiến hành theo các phương pháp và dụng cụ đo theo tiêu chuẩn quốc tế Đó là công trình nhân trắc học đầu tiên của Việt nam được xử lý thống kê bằng máy tính điện tử
Trong giai đoạn 1986 – 1990, tập Atlas thứ hai “Atlas nhân trắc học người
Việt Nam trong lứa tuổi lao động - Dấu hiệu nhân trắc động về tầm hoạt động của tay” ra đời Đây cũng là kết quả của đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước “Nghiên cứu
xây dựng các chỉ tiêu nhân trắc học người lao động Việt Nam (phần dấu hiệu động)
và chỉ dẫn phương pháp luận đánh giá ecgonomi chỗ làm việc, phòng ngừa tai nạn,
sự cố do sai lầm của người điều khiển những hệ thống kỹ thuật phức tạp” mã số: 58A.01.02) Cuốn sách trình bày các số liệu thống kê về tầm hoạt động của tay trong không gian theo 9 mặt phẳng ngang của 1075 người lao động nam nữ từ 17 –
50 tuổi trong một số ngành công nghiệp phổ biến như cơ khí, dệt may, chế biến thực phẩm,… theo phương pháp của Kennedy (USA) và Eva Nowak (BaLan) Kết quả công trình nghiên cứu khoa học của đề tài cấp Bộ “nghiên cứu tầm hoạt động khớp và giới hạn thị trường bình thường của người lao động Việt nam”
(mã số: 93 – 19/TLĐ) đã cho ra đời tập Atlas thứ ba “Atlas nhân trắc học người
Việt Nam trong lứa tuổi lao động - Dấu hiệu nhân trắc động khớp và giới hạn trường thị giác”, 1997 Nội dung chủ yếu của cuốn Atlas nhân trắc này là trình bày
Trang 14các thông số thống kê cơ bản của 50 dấu hiệu hoạt động khớp, đo trên 2267 nam nữ lao động từ 17 – 59 tuổi ở hai miền Nam, Bắc, cùng với những phân tích nhận định tổng quát về tầm hoạt động khớp theo giới tính, lứa tuổi và vùng lãnh thổ
Các tập Atlas nhân trắc học được ứng dụng vào nhiều mục tiêu khác nhau, đặc biệt là trong nghiên cứu, thiết kế đánh giá ecgonomi Tính khoa học và tính thực tiễn của chúng không chỉ được các nhà khoa học trong nước đánh giá cao mà cả những nhà khoa học ở một số nước như Nga, Thuỵ Điển, Australia, Nhật bản, Philippin, Singapo, Thái Lan, Thụy Sĩ, đặc biệt quan tâm
1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG CỠ SỐ
Từ thế kỷ 19, trang phục may sẵn đã bắt đầu xuất hiện theo nhu cầu của công chức một số ngành nghề cao cấp như quân đội, ngân hàng,… và số đông người dân sành điệu sống ở thành thị Sự phát triển của thời trang may sẵn kéo theo sự ra đời của hàng loạt nhà may đo và nhiều phát triển khác như máy may công nghiệp, phương pháp thiết kế rập, phương pháp hình thành dáng quần áo và hệ thống cỡ số trang phục tiêu chuẩn
Tình hình chính trị xã hội giữa thế kỷ 19 có sự chuyển biến mạnh mẽ, sản xuất hàng loạt được công nghiệp hóa do nhu cầu đồng phục công sở, nhất là quân phục dùng cho quân đội Chính quyền Anh, Pháp và đồng minh có hẳn riêng một hệ thống xưởng sản xuất quân phục, và để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cấp bách trong khoảng thời gian nhanh nhất, các phương pháp, kỹ thuật và số liệu nhảy cỡ đã được nghiên cứu
Năm 1880, xưởng sản xuất trang phục may sẵn đầu tiên ở Mỹ đặt tại trung tâm New York đã xuất hiện với đầy đủ cỡ số tiêu chuẩn cho nam giới Mỹ Họ ứng dụng hệ thống cỡ số và công nghệ kỹ thuật vào trong sản xuất hàng loạt Năm 1890, 90% nam giới Mỹ mặc trang phục may sẵn Các tổ chức liên bang đã lấy số đo chiều cao, vòng ngực, vòng eo, dài chân của hàng triệu tân binh để làm tiêu chuẩn cho số đo trang phục Mỹ Lúc đầu, xưởng chỉ sản xuất một cỡ trung bình cho tất cả mọi người, đến đầu thế kỷ 20, các cỡ số được hoàn chỉnh, nhảy mẫu với độ chính xác cao hơn cả may đo đáp ứng được nhu cầu của xã hội
Trang 15Trang phục may sẵn cho nam giới có phần ổn định, trong khi trang phục may sẵn của nữ giới gặp rất nhiều vấn đề do có sự thay đổi nhanh chóng về hình thể và vóc dáng sau khi được giải phóng khỏi áo nịt ngực Đây là lí do chính giải thích vì sao trang phục phụ nữ TK 19 vẫn mang đậm dấu ấn của may đo Tuy nhiên một số phụ nữ Mỹ tiên tiến đã bắt đầu nhập cuộc với trang phục may sẵn, đặc biệt là áo jacket đơn giản mặc ngoài
Đến đầu TK 20, kiểu dáng trang phục trở nên thoải mái, và phụ nữ bắt đầu đi theo trào lưu mặc trang phục may sẵn để chứng tỏ mình sành điệu Hệ thống cỡ số đầu tiên được Hoàng gia Anh tài trợ để thiết lập là BS1445:1951, sau đó chuyển thể thành BS3666:1963 và áp dụng cho công chúng
Hiện nay, có nhiều hệ thống cỡ số đang được sử dụng trên thế giới Đối với vóc dáng người châu Á, 3 hệ thống cỡ số được chú ý nhiều nhất là JIS L 4005: 1997 của Nhật, KS K 0050- 1999 của Hàn Quốc, GB/T 1335.3-1997 của Trung Quốc Các nước Châu Âu như Đức, Pháp, Úc, New Zealand, và Bắc Âu đã làm lại hệ thống cỡ
số của họ để hòa hợp hơn với tiêu chuẩn thế giới ISO
1.3 ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI CƠ THỂ TRẺ EM 6 TUỔI
Cơ thể trẻ em nói chung và từng cơ quan nói riêng không hoàn toàn giống người lớn đã trưởng thành Cơ thể trẻ không phải là cơ thể người lớn thu bé lại theo một tỷ lệ nhất định mà giữa cơ thể trẻ em và người lớn có sự khác nhau về kích thước, cân nặng, cấu trúc cũng như về chức năng hoạt động
Trẻ em 6 tuổi nói chung có đặc điểm là phát triển nhanh về tâm sinh lý Sự phát triển này làm ảnh hưởng đến đặc điểm hình thái cơ thể trẻ Trẻ giảm dần tính
bụ bẫm của thời kỳ trước đó mà phát triển nhanh về chiều cao Thân bắt đầu có dáng dấp người lớn: ngực bè ngang, bụng bé lại, vai nở, chi dưới dài ra
Tóm lại hình thái trẻ em trong giai đoạn này là chuyển tiếp từ giai đoạn bụ bẫm ngây thơ của đứa trẻ sang giai đoạn cứng cáp biết suy nghĩ của người lớn
Trang 161.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu
Có nhiều phương pháp để nghiên cứu các qui luật phát triển của hình thái cơ thể con người Qua các công trình nghiên cứu nhân trắc đã trình bày ở trên, ta nhận thấy rõ có hai phương pháp nghiên cứu nhân trắc học chính như sau:
- Phương pháp nghiên cứu dọc (longitudinal study):
Thực hiện nghiên cứu trên một số đối tượng cùng tuổi và theo dõi các đặc điểm nghiên cứu từng năm một của các đối tượng đó trong suốt thời gian dài Nghiên cứu dọc khó thực hiện, tốn nhiều thời gian, đòi hỏi sự kiên nhẫn và chuẩn
bị kỹ thuật cao, đặc biệt đối với tốc độ tăng trưởng (sai số sẽ gấp đôi, vì so sánh giữa hai lần đo) Tuy nhiên, nghiên cứu này lại cho phép đánh giá tốc độ tăng trưởng trong quá trình lớn và phát triển của trẻ từ lúc mới sinh cho đến lúc trưởng thành, ngoài ra số lượng đối tượng nghiên cứu có thể ít hơn so với phương pháp nghiên cứu ngang Ngoài ra, nó cũng được sử dụng trong lâm sàng để đánh giá kết quả điều trị, đặc biệt với hóc môn tăng trưởng
- Phương pháp nghiên cứu ngang (Cross – sectional study)
Thực hiện nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau cùng lứa tuổi ở cùng môt thời điểm Nghiên cứu loại này ít tốn thời gian, không cần đợi thời gian theo dõi, nhưng số đối tượng nghiên cứu cần phải nhiều hơn phương pháp nghiên cứu dọc đề các nhận xét thống kê đủ tin cậy Nghiên cứu ngang cho phép tìm ra số trung bình chuẩn của các đại lượng như chiều cao, cân nặng, chu vi các vòng v.v Nếu được tiến hành từng thời kỳ sẽ cho phép đánh giá được tình trạng dinh dưỡng, sức khoẻ của con ngừơi, cũng như điều kiện kinh tế xã hội của một nước , nhưng không nêu lên được tốc độ và các thời điểm đặc biệt của quá trình tăng trưởng
1.4.2 Xác định đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu phải tương đối thuần nhất, nghĩa là phải cùng chủng tộc, cùng điều kiện xã hội, hoàn cảnh địa lý cùng độ tuổi và giới tính Với người trưởng thành, ngoài 25 tuổi trở đi, việc phân nhóm có thể không cần thiết , nhưng
Trang 17đối với tuổi rất nhỏ, từ 3 – 7 tuổi, việc xếp nhóm từng năm một lại chưa đủ thuần nhất, mà phải xếp theo từng 6 tháng một, vì các kích thước thay đổi rõ ràng trong khoảng thời gian này,v.v…Vấn đề xếp theo nhóm tuổi để đảm bảo tính thuần nhất có thể xếp như sau:
- Sơ sinh – 1 tháng : 15 ngày/nhóm
Phương pháp đo trực tiếp
Tiến hành đo trực tiếp trên cơ thể người bằng bộ dụng cụ đo nhân trắc Phương pháp này dễ thực hiện, ít tốn kém kinh phí nhưng độ chính xác của kết quả đo phụ thuộc nhiều vào việc xác định chính xác các mốc đo, mức độ thành thạo của người đo Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, ánh sáng,… cũng ảnh hưởng nhiều đến kết quả đo
Phương pháp đo gián tiếp
Phương pháp chụp ảnh tự động 3D bằng thiết bị điện tử sử dụng tia hồng ngoại Phương pháp này giúp người nghiên cứu có thể có được tất cả các kích thước cơ thể một cách chính xác trong khoảng thời gian ngắn Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là giá thành của thiết bị đo rất cao
Ở nước ta, phương pháp đo gián tiếp trên cơ thể người bằng thiết bị chụp ảnh 3D chưa được ứng dụng nhiều vào các công trình nghiên cứu nhân trắc liên quan đến việc thu thập các kích thước cơ thể con người do kinh phí đầu tư cho thiết bị này vượt quá khả năng của các cơ quan thực hiện công trình nghiên cứu Phổ biến hiện nay ở nước ta vẫn đang sử dụng phương pháp đo trực tiếp trên cơ thể người, còn ở một số nước tiên tiến như Anh, Pháp, Mỹ,
Trang 18Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, họ đã và đang ứng dụng phương pháp này rộng rãi
1.4.4 Các kích thước cơ bản thiết kế công nghiệp trong và ngoài nước
Để tạo ra được một sản phẩm trang phục vừa vặn với kích thước cơ thể, phù hợp với kiểu dáng thiết kế nhưng vẫn phải đảm bảo tính chất phổ biến, không phức tạp, không phân tán của sản xuất công nghiệp, ta không chỉ nghiên cứu, phân tích kỹ về hình dáng, màu sắc, cách thức mặc sản phẩm, mà còn phải lưu ý đến yếu tố văn hóa và thị hiếu của người tiêu dùng
Việc lựa chọn số lượng kích thước để thiết kế thỏa mãn nhu cầu là tùy thuộc vào mỗi quốc gia, căn cứ vào hình dáng cơ thể người, kết cấu sản phẩm
và công thức thiết kế quần áo của mỗi nước Đây chính là cơ sở để lựa chọn số lượng thông số kích thước thiết kế Số lượng thông số kích thước thiết kế càng nhiều thì càng thuận lợi cho việc tạo mẫu với nhiều kết cấu sản phẩm đa dạng nhưng thời gian, kinh phí cho nghiên cứu thu thập số liệu bằng phương pháp
đo trực tiếp càng cao Sau đây là bảng liệt kê sơ lược các kích thước dùng để thiết kế quần áo của một số nước:
Bảng 1.1 Kích thước để thiết kế quần áo học sinh theo TCVN 5782 – 1994
Stt Tên kích thước Stt Tên kích thước
Trang 19Bảng 1.2 Các kích thước cơ bản thiết kế quần áo công nghiệp của Mỹ [26]
Stt Tên kích thước Stt Tên kích thước
1 Vòng đầu (Head Circumference) 22 Chiều dài bên trong cánh
tay (Inside Arm Length)
2 Vòng ngực (Bust) 23 Vòng bắp tay khi co
6 Vòng giữa cổ ( Mid – Neck) 27
Chiều dài từ eo đến gối theo đường cong cơ thể (Waist to Knee)
7 Vòng chân cổ (Neck at Base) 28 Chiều cao đến eo (Waist
11 Chiều rộng lưng ngang nách
to Waist)
33 Chiều cao đến khớp gối (Knee Height)
Trang 2013 Chiều dài từ lõm cổ đến vòng eo
( Center Front Neck to Waist) 34
Chiều cao đến mắt cá chân (Ankle Height)
14 Chiều dài 2 đầu ngực qua cổ
(Bust Points Around Neck) 35 Vòng đùi (Thigh)
15 Chiều rộng 2 đầu ngực (Bust
16 Vòng nách tay (Armhole) 37 Vòng bắp chân (Caft)
17
Chiều dài từ ngực đến eo theo đường cong cơ thể (Side Upper Torso)
38 Vòng mắt cá chân (Ankle)
18 Chiều dài tay tính từ vai (Arm
Length from shoulder) 39
Vòng bắp đùi khi ngồi (Seat spread)
19
Chiều dài tay tính từ gốc cổ vai (Arm Length from High Point of Shoulder)
40 Vòng toàn thân (Total Torso)
20 Chiều dài cánh tay (Upper Arm
Chiều cao đến đốt sống cổ thứ 7 ( CB Neck height)
21 Chiều dài cẳng tay (Forearm
Bảng 1.3 Các kích thước cơ bản thiết kế quần áo công nghiệp của Nga
Stt Tên kích thước Stt Tên kích thước
6 Cao mỏm cùng vai 27 Dài chân đo bên ngoài
Trang 217 Cao nách 28 Dài chân đo phía trước
Bảng 1.4 Các kích thước cơ bản thiết kế quần áo công nghiệp của Úc[14]
Stt Tên kích thước Stt Tên kích thước
1 Chiều cao cơ thể 10 Hạ mông khi ngồi
tay
9 Chiều dài eo trước
Trang 221.4.5 Chọn mẫu
Mẫu trong điều tra chọn mẫu hết sức quan trọng, vì trong quá trình nghiên cứu chúng ta không có điều kiện để thu thập thông tin từ toàn bộ tổng thể, do vậy, chúng ta phải thu thập số liệu từ những người mang tính đại diện cho nhóm mà chúng ta nghiên cứu Một mẫu tốt là phải mang tính đại diện cho tổng thể về các đặc trưng quan trọng nhất của tổng thể đó
Cách thức chọn mẫu rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng tới khả năng đại diện của mẫu cho tổng thể Cách thức chọn mẫu hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất của tổng thể đó là đồng nhất hay có sự khác biệt
Các phương pháp chọn mẫu được chia làm hai nhóm: chọn mẫu ngẫu nhiên
và chọn mẫu phi ngẫu nhiên
• Chọn mẫu ngẫu nhiên cung cấp các thông tin thống kê về tính đại diện mẫu của tổng thể Trong chọn mẫu ngẫu nhiên, mỗi một cá thể được xác định là
có cùng xác suất lựa chọn
• Chọn mẫu phi ngẫu nhiên là sự lựa chọn mẫu phụ thuộc vào đặc tính của tổng thể và nhu cầu của điều tra Với cách thức này một vài cá thể của tổng thể có cơ hội cao hơn được lựa chọn làm mẫu điều tra, trong khi đó những cá thể khác lại không có cơ hội cao Như vậy, khả năng ứng dụng những kết quả điều tra nhằm suy rộng cho cả tổng thể có thể không áp dụng được Mỗi cách chọn mẫu được tiến hành khác nhau, nó tùy thuộc vào tính chất của tổng thể Nếu tổng thể là đồng nhất thì chọn mẫu ngẫu nhiên là cách đơn giản nhất
và mẫu mang tính đại diện cao nhất
Mẫu ngẫu nhiên đơn giản được lựa chọn một cách ngẫu nhiên từ tổng thể Có nhiều cách khác nhau, ví dụ có thể lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên không theo một quy luật nào hoặc cũng có thể lựa chọn dựa trên danh sách và có khoảng cách cố định giữa các mẫu Việc lựa chọn này phải đảm bảo rằng nó không phụ thuộc vào ý chủ quan của người nghiên cứu
Trang 231.4.6 Cách ước tính số lượng cỡ mẫu
Độ chính xác của kết quả nghiên cứu phụ thuộc vào tính chất đại diện của mẫu Phải chọn mẫu sao cho số lượng mẫu ấy đảm bảo được tính chất đại diện cho tổng thể đối tượng nghiên cứu Nếu số lượng đối tượng không đủ thì kết luận rút ra không có độ chính xác cao, thậm chí không thể kết luận được gì Ngược lại, nếu số lượng đối tượng quá nhiều thì sẽ làm tốn kém chi phí
Vấn đề là phải đảm bảo số lượng đối tượng nghiên cứu sao cho kết quả nghiên cứu nằm trong khoảng tin cậy chấp nhận được Điều này có liên quan trực tiếp đến số lượng mẫu được đo (số quan trắc n), vì n càng lớn thì tính đại diện của mẫu càng tăng
Thông thường thì các nhà nghiên cứu mong muốn có một quy mô mẫu nhỏ bởi vì nó có ưu điểm là chi phí thấp, tốn ít thời gian hơn Nhưng bên cạnh đó thì một nhược điểm lớn của số mẫu nhỏ đó là sai số mẫu lớn và vì vậy, số mẫu tối ưu là khi chúng ta chấp nhận mức một mức sai số nhất định nào đó gọi là mức tin cậy
(xác suất P) Mức tin cậy càng hẹp thì khả năng tiếp cận của kết quả thử nghiệm với
- m: là sai số trong việc chứng minh ước tính cỡ mẫu n Chọn m = 1%
(có nghĩa là sai số trong việc chứng minh ước tính cỡ mẫu n không lớn hơn hoặc nhỏ hơn 1%)
Về mức độ xác suất tin cậy thì quy định các trường hợp sau: đối với đa số nghiên cứu sinh học thì sử dụng mức xác suất p1= 0.95, ứng với t1= 1.96 Đối
Trang 24với các công trình nghiên cứu để kiểm tra giả thiết, các công trình liên quan tới các vấn đề kinh tế quốc dân thì thì dùng mức xác suất p2 = 0.99 ứng với
t2= 2.58 Đối với các công trình nghiên cứu đòi hỏi độ chính xác cao trong kết luận thì dùng mức xác suất p3= 0.999, ứng với t3= 3.30 Như vậy, mức xác suất tin cậy càng cao thì n càng lớn, thì tính đại diện của mẫu càng tăng, lúc
đó các đặc trưng thống kê của mẫu tiến gần với các đặc trưng của tập hợp Điều đáng chú ý là khi tiến hành ước tính cỡ mẫu thì cần thông số độ lệch chuẩn và nếu thông số này không có thì không thể ước tính được cỡ mẫu Thông thường trong thực tế, một mẫu rất nhỏ (5-10 quan sát) được lấy ra
để kiểm tra cơ chế thu thập thông tin và từ đó thu được thông tin ban đầu cho việc chọn mẫu Ta cũng có thể tham khảo nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước để ước tính cỡ mẫu tương đối cho nghiên cứu của mình, và sau khi đã
có những số liệu chính xác ta đi kiểm định lại số lượng mẫu nghiên cứu
1.4.7 Kích thước chủ đạo và bước nhảy
* Kích thước chủ đạo
Sau khi có được giá trị của số lượng các kích thước thiết kế, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất để xây dựng hệ thống cỡ số cơ thể người là phải xác định được các kích thước chủ đạo trong số những kích thước đó Kích thước chủ đạo có thể được hiểu là kích thước cơ bản nhất mà chỉ cần nhờ vào nó mà người tiêu dùng cũng như nhà sản xuất có thể lựa chọn và phân biệt được cỡ số phù hợp với nhu cầu của mình Chọn kích thước chủ đạo không phải chỉ thỏa mãn yêu cầu
sử dụng của đại đa số người sử dụng với yêu cầu chung nhất mà còn có yêu cầu phụ thuộc khác Đó là yêu cầu tăng số lượng cỡ số để thỏa mãn nhiều dạng người khác Tuy nhiên số lượng cỡ số càng nhiều càng khó cho các cơ sở sản xuất Số lượng cỡ số trước tiên phụ thuộc vào thông số kích thước chủ đạo; kích thước chủ đạo phải xuất phát từ thực tế vì sự ra đời của một thông số kích thước chủ đạo mới làm tăng phương án cỡ số mới Vì vậy, việc chọn chỉ có 1 kích thước
Trang 25chủ đạo không đủ đại diện mà phải thêm các kích thước chủ đạo khác nữa, hệ thống cỡ số mới có ý nghĩa đại diện cho các dạng cơ thể khác nhau
Các nhà nhân trắc đã chỉ rõ việc nghiên cứu hệ số tương quan giữa các kích thước có giá trị nhất định trong cùng 1 mặt phẳng > 0.5 đồng thời giữa các kích thước khác cùng mặt phẳng <0.5.Mối quan hệ tương quan giữa các kích thước trong một mặt phẳng giúp chúng ta có thể chọn được một kích thước chủ đạo Lựa chọn kích thước chủ đạo càng khách quan và đúng bao nhiêu thì chúng ta càng có hệ thống cỡ số với độ chính xác cao, làm cơ sở tăng số lượng cỡ số thõa mãn đa dạng người sử dụng đồng thời phù hợp với sản xuất công nghiệp bấy nhiêu
Theo Nguyễn Quang Quyền: Kích thước nào có khoảng phân phối rộng nhất, nói một cách khác, có độ tản mạn lớn nhất (biểu hiện ở sự biến đổi C.V lớn), sẽ được chọn làm kích thước cơ sở Như vậy, khoảng nhảy bậc mới đủ để quần áo mặc vừa cho mọi cỡ Với nguyên tắc này, đối với người Việt Nam, chúng ta chọn chiều cao làm kích thước cơ sở [6]
Trước năm 1990 hệ thống cỡ số cơ thể người Việt Nam chỉ dựa trên 2 kích thước chủ đạo là chiều cao và vòng ngực Sau năm 1990, chúng ta mới bắt đầu
nghiên cứu 3 kích thước chủ đạo là chiều cao, vòng ngực và vòng mông
Theo TCVN 5782 – 1994 : “Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo”
kích thước chủ đạo của thanh thiếu niên tuổi học sinh là chiều cao cơ thể, vòng ngực, vòng mông
Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân trang
theo phương pháp nhân trắc học” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hà Châu [7] cũng đã
nêu ra kích thước chủ đạo của thanh thiếu niên tuổi học sinh bao gồm 2 kích thước : chiều cao và vòng ngực
Để lựa chọn kích thước chủ đạo phải tuân thủ những điều sau:
− Là đại lượng thuộc phân phối chuẩn
− Là đại lượng có giá trị trung bình lớn nhất hoặc gần tuyệt đối lớn nhất trong các dãy thông số kích thước
Trang 26− Là kích thước có ý nghĩa nhất trong dãy thông số kích thước
− Kích thước chủ đạo có tương quan lớn nhất đối với các kích thước khác trong cùng một mặt phẳng
− Kích thước chủ đạo có tương quan nhỏ nhất đối với các kích thước khác không cùng một mặt phẳng
− Cần thiết sử dụng kích thước chủ đạo trong thiết kế sản phẩm và lựa chọn sản phẩm
* Bước nhảy
Có kích thước chủ đạo làm cơ sở, một vấn đề đặt ra là xây dựng bao nhiêu cỡ
là vừa Chọn bước nhảy phù hợp giữa các kích thước chủ đạo chính là nhiệm vụ
kế tiếp giúp tối ưu hệ thống cỡ số “Bước nhảy được xác định từ sự phụ thuộc cảm quan của người tiêu dùng đối với dao động của cỡ khi sử dụng sản phẩm” [7] Bước nhảy được biểu thị từ giá trị gần với giá trị trung bình của các kích thước chủ đạo Thông thường, ta chọn giá trị nằm trong khoảng ± 2/3δ Ngoài
ra, chọn bước nhảy cần thõa mãn các tiêu chí sau:
− Tính hiệu quả kinh tế: bước nhảy càng nhỏ số lượng cỡ càng nhiều thõa mãn đa dạng các dạng người tiêu dùng nhưng lại gây nhiều khó khăn ( như cần nhiều thời gian chi phí cho khâu thiết kế, khâu giác sơ đồ, khâu cắt, quản lý chuyền với số lượng cỡ số lớn.v.v ) trong sản xuất công nghiệp
− Kết cấu, hình dáng sản phẩm : với áo sơ mi thì chỉ cần ít cỡ số nên bước nhảy có thể lớn nhưng đối với áo kiểu hoặc đầm thời trang thì cần thiết bước nhảy nhỏ để sản phẩm thiết kế được chuẩn xác và đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng tốt hơn
− Chất liệu vải và kiểu dệt: vải dệt thoi ít co dãn và đàn hồi thì bước nhảy nhỏ và số lượng cỡ số sẽ lớn hơn so với vải dệt kim
Kinh nghiệm khi thiết kế quần áo may sẵn , tài liệu [7] đưa 3 phương án bước nhảy theo chiều cao cơ thể cách 6, 5, 3 cm Đối với 5 cm có nhiều cỡ số và đáp ứng được nhiều dạng người nhưng quá lớn đối với những cỡ nhỏ và nhỏ đối với
Trang 27một số cỡ lớn Bước nhảy 3cm có rất nhiều cỡ và khó trong sản xuất cũng như công tác bảo đảm đồng thời không kinh tế Bước nhảy 6cm có thể chấp nhận được vì giữa các cỡ sản phẩm đáp ứng với giới hạn chiều dài áo từ 1 – 2cm và quần từ 3 – 4cm Bước nhảy với áo sơ mi không nên nhỏ hơn 6cm, sản phẩm quần khi dao động lớn hơn 3 không nên lớn hơn 6cm, với sản phẩm chung là quần áo bước nhảy tối ưu là 6cm đáp ứng 1 trong hai sản phẩm Nếu chọn bước nhảy riêng thì có hai hệ cỡ số Kết quả nghiên cứu chọn bước nhảy cho các cỡ số quần áo người Việt Nam đối với quần áo thường (có tính đến các điều kiện thực tế) như sau: với kích thước chủ đạo chiếu cao cơ thể là 6cm, vòng ngực – bụng – mông là 4cm Với bước nhảy chiều cao là 6cm, độ dài áo chênh lệch ± 1 đến 2cm, dài quần 3 đến 4cm Do đó, đối với thiết kế quần không nên chọn bước nhảy giữa các cỡ số > 6cm
Với trẻ em trong 1 lứa tuổi, sự phát triển cơ thể không giống nhau Khoảng cách thay đổi chiều cao cơ thể và vòng ngực của trẻ em lớn và nhỏ đều khác nhau Nếu xác định cùng cỡ theo các nhóm lứa tuổi sẽ xác nhận được bước nhảy với các đặc điểm như nhau Có nghĩa là số lượng cỡ và hệ thống cỡ số rất phức tạp Do vậy không thể phân cỡ theo lứa tuổi mà cần thiết phân theo chiều cao và vòng ngực
* Tần suất các dạng thường gặp
Tần suất thường gặp là chỉ số các dạng người nằm trong cỡ số của hệ thống cỡ số Tần suất này có ý nghĩa khi xác định tổng hợp tỷ lệ từng cỡ số cho sản xuất công nghiệp sản phẩm quần áo may sẵn và xác định tỷ lệ % trong quan hệ giữa các cỡ số
Tần suất được xác định theo các kích thước chủ đạo cho ta tỷ lệ các loại
cỡ của dân cư nằm trong hệ thống cỡ số
Tần suất này có ý nghĩa quan trọng để xác định số lượng cỡ thường gặp
giúp các xí nghiệp may sản xuất lượng cỡ hợp lý nhất, nhưng lại thỏa mãn
cao nhất cho đại đa số người sử dụng Thông số này được tính toán bằng số
liệu thực tế đo đạc được
Trang 28Tóm lại, kích thước chủ đạo và bước nhảy vừa ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng cỡ số thoã mãn đại đa số các dạng phát triển của cơ thể người, vừa ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cho người sản xuất hàng may công nghiệp Số lượng
cỡ số nhiều thì thoã mãn nhiều dạng cơ thể người nhưng gây khó khăn và lãng phí công sức cho nhà sản xuất và ngược lại số lượng cỡ số giảm tuy tiết kiệm được cho sản xuất hàng loạt nhưng có thể không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong lựa chọn kích cỡ phù hợp
Trang 29KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN
Cùng với sự phát triển không ngừng của môn khoa học nhân trắc học trên thế giới, nhân trắc học tại Việt Nam cũng đã có những bước tiến vượt bậc Tuy nhiên, ở nước ta các công trình nghiên cứu nhân trắc học chủ yếu tập trung nghiên cứu ứng dụng cho ngành Y (nghiên cứu đặc trưng hình thái, chủng tộc các cộng đồng người Việt; nghiên cứu, đánh giá thể lực, sự tăng trưởng, phát triển về hình thái cơ thể người ), kế đến là nghiên cứu ứng dụng cho Ecgonomi (nghiên cứu, đánh giá về mức độ phù hợp của các loại máy móc, thiết bị, đồ gia dụng, với tầm vóc cơ thể người Việt Nam Riêng đối với ngành May công nghiệp thì các công trình nghiên cứu nhân trắc học ứng dụng cho còn rất sơ khai so với bề dầy nghiên cứu nhân trắc của hai lĩnh vực trên
Để xây dựng hệ thống cỡ số, trước hết cần xác định số lượng các kích thước thiết kế Việc lựa chọn số lượng các kích thước thiết kế không chỉ phục vụ cho việc thiết kế quần áo công nghiệp, kết cấu sản phẩm mà còn thể hiện những nghiên cứu
cơ bản đặc điểm người sử dụng, giới tính và sự phát triển cơ thể theo thời gian trong cùng một lứa tuổi
Trẻ em nam 6 tuổi có đặc điểm là phát triển nhanh về tâm sinh lý Trẻ giảm dần tính bụ bẫm của thời kỳ trước đó mà phát triển nhanh về chiều cao Thân bắt đầu có dáng dấp người lớn: ngực bè ngang, bụng bé lại, vai nở, chi dưới dài ra Các đề tài xây dựng hệ thống cỡ số ứng dụng phương pháp nhân trắc phục vụ ngành May còn rất hạn chế, lại cách nhau từng khoảng thời gian dài (từ 1975 đến 1994; 2001), đặc biệt hệ thống cỡ số mới nhất cho trẻ em thì hầu như không có Trong khi đó, do sự phát triển ở trẻ em diễn ra rất nhanh nên đòi hỏi cần 5 năm thay đổi hệ thống cỡ số trẻ em một lần Việc xây dựng hệ thống cỡ số cơ thể người cho trẻ em cần rất nhiều thời gian, công sức, cũng như kinh phí thực hiện Vì điều kiện
về thời gian, kinh phí và đặc biệt là kiến thức về lĩnh vực này của tác giả còn rất hạn
chế nên tác giả chỉ chọn “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em
nam 6 tuổi tiểu học địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 30CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Trang 312.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em nam 6 tuổi, đề tài chọn
đối tượng nghiên cứu là các bé nam 6 tuổi (sinh năm 2005), cơ thể bình thường
(không bị dị tật)
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Với mục đích khảo sát số đo nhân trắc trẻ em nam 6 tuổi và để thuận tiện cho việc đi lại, tác giả quyết định chọn 2 trường mầm non công lập trên địa bàn quận
7, Thành phố Hồ Chí Minh là địa điểm để tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu Đây là khu vực có dân cư ổn định, mặt bằng kinh tế đồng đều phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu được tiến hành vào tháng 05/2011 Đây là khoảng thời gian nhà trường đã hoàn tất chương trình năm học, các cháu lớp lá (6 tuổi) sắp nghỉ hè
để chuẩn bị bước vào lớp một, hoạt động chủ yếu của các cháu trong ngày là vui chơi nên khá thuận lợi để thực hiện việc đo đạc Quá trình đo diễn ra liên tục trong khoảng một tuần để đảm bảo độ tin cậy của số liệu
2.1.3 Số lượng đối tượng nghiên cứu
Số lượng mẫu đo càng nhiều thì kết quả càng chính xác Tuy nhiên, vì thời gian và kinh phí có hạn, dựa trên số lượng đối tượng ước lượng được từ điều tra
thí điểm chiều cao đứng của 20 bé là n = 46.186 (σ = 3.398, P = 95%, t = 2);
186 46 1
398 , 3 2
2
2 2
2
2 2
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đo và xác định một số kích thước cơ bản trên cơ thể để xây dựng hệ thống cỡ số quần áo, tôi quyết định chọn phương pháp
Trang 32theo dõi ngang: Thực hiện đo hàng loạt cùng một lúc các bé nam 6 tuổi trong cùng một khoảng thời gian xác định
Đo trực tiếp trên cơ thể của trẻ bằng các dụng cụ đo nhân trắc như thước dây, thước đo chiều cao, cân sức khỏe, một số dây buộc phụ trợ để giới hạn các mốc đo…
Sử dụng toán xác suất thống kê với sự hỗ trợ của 2 phần mềm Excel và SPSS để
xử lý số liệu, kiểm định các giả thiết và chứng minh kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao
2.3 CHƯƠNG TRÌNH ĐO VÀ KỸ THUẬT ĐO
Chương trình đo bao gồm:
• Xác định các thông số kích thước cần đo
• Xác định các mốc đo
• Quy định dụng cụ đo, nguyên tắc và tư thế đo đối với từng kích thước
• Xây dựng phương pháp đo
• Xây dựng trình tự đo và phân chia bàn đo
• Lập phiếu đo
2.3.1 Xác định các thông số kích thước cần đo
Để đảm bảo sự vừa vặn của sản phẩm, các thông số kích thước đo cần phải đầy
đủ và đáp ứng được cho công thức thiết kế quần áo công nghiệp Vì thế, ngoài những kích thước chính dùng để thiết kế, ta cần đo một số thông số kích thước khác
để kiểm tra độ chính xác của thiết kế và để tạo dáng sản phẩm đẹp hơn
Hơn nữa, mục tiêu của đề tài là xây dựng hệ thống cỡ số quần áo trẻ em nam 6 tuổi – một đối tượng chưa cần nhiều những mẫu thiết kế quá phức tạp Vì vậy đề tài chọn nghiên cứu 27 kích thước được thể hiện ở bảng 2.1