DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ MINH HỌA Hình 1.1 Bản chất của công nghệ dạy học Hình 1.2 Các thành phần của công nghệ dạy học Hình 1.3 Cấu trúc bài giảng điện tử Hình 1.4 Vị trí của phương tiện dạ
Trang 1CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM KỸ THUẬT CHUYÊN SÂU: SƯ PHẠM KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, được sự giúp đỡ và hướng dẫn tận
tình của GS.TSKH Nguyễn Minh Đường luận văn với đề tài: “Thiết kế bài giảng điện tử trong giảng dạy môn Tin học đại cương tại trường Cao đẳng nghề Việt -
Xô số 1, Vĩnh Phúc” đã hoàn thành
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
- GS.TSKH Nguyễn Minh Đường - người thầy đã định hướng, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này
- Bạn giám hiệu, các thầy giáo cô giáo trong Khoa sư phạm kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học
- Ban giám hiệu, Các thầy giáo cô giáo và các em học sinh - sinh viên Trường Cao đẳng nghề Việt - Xô số 1, Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình
- Toàn thể các bạn bè đồng nghiệp, gia đình và người thân đã quan tâm, động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã rất cố gắng tuy nhiên luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn đóng góp một phần nhỏ vào mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 9 năm 2013
Tác giả
Hà Văn Tình
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, những gì tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên
Hà Nội, ngày 16 tháng 9 năm 2013
Tác giả
Hà Văn Tình
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
2 BLĐ TBXH Bộ lao động thương binh xã hội
13 PTKT DH Phương tiện kĩ thuật dạy học
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ MINH HỌA
Hình 1.1 Bản chất của công nghệ dạy học
Hình 1.2 Các thành phần của công nghệ dạy học
Hình 1.3 Cấu trúc bài giảng điện tử
Hình 1.4 Vị trí của phương tiện dạy học trong dạy học kỹ thuật
Hình 1.5 Biểu đồ trình độ chuyên môn của của giáo viên môn học
“Tin học đại cương” (%) Hình 1.6 Trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên môn học Tin học
đại cương(%) Hình 2.1 Giao diện của phần mềm Ms- Powerpoint
Hình 2.2 Giao diện của phần mềm Microsoft Frontpage
Hình 3.1 Giao diện cửa sổ Frames pages
Hình 3.2 Giao diện cửa sổ thiết kế
Hình 3.3 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử
Hình 3.4 Giao diện trang chính của môn học
Hình 3.5 Giao diện trang lời nói đầu
Hình 3.6 Giao diện trang mục lục
Hình 3.7 Giao diện xuất hiện các tiều đề của Chương 5
Hình 3.8 Giao diện nội dung mục tiêu của chương
Hình 3.9 Giao diện xuất hiện mục 1 Giới thiệu về Turbo Pascal
Hình 3.10 Giao diện mục 2 Các kiểu dữ liệu
Hình 3.11 Giao diện mục 3 Khai báo biến, hằng,…
Hình 3.12 Giao diện mục 4 Lệnh nhập và xuất dữ liệu
Hình 3.13 Giao diện mục 5.3.1 Câu lệnh For dạng 1
Hình 3.14 Giao diện hoạt động, bài tập của lệnh For
Hình 3.15 Bài tập 1
Hình 3.16 Viết chương trình cụ thể
Trang 6Bảng 1.7 Nhận thức của CBQL, giáo viên về dạy học theo BGĐT
Bảng 1.8 Mức độ đáp ứng yêu cầu của trang thiết bị dạy học
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Chương 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT
KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
1.2.2 Bản chất và đặc điểm của công nghệ dạy học hiện đại 7
1.2.3 Các thành phần của công nghệ dạy học hiện đại 9
1.2.4 Những điểm lưu ý về công nghệ dạy học hiện đại 9
1.2.5 Bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại 10
1.3.4 Phân biệt giữa bài giảng điện tử và bài giảng truyền thống 14
Trang 81.4.3 Phương tiện dạy học 19
1.4.4 Vai trò của phương tiện dạy học 20
1.4.5 Một số nguyên tắc sư phạm trong việc tạo và sử dụng PTDH 22
1.4.6 Khả năng dạy học bằng máy tính điện tử 26
1.5 Thực trạng về dạy học môn Tin học đại cương ở trường Cao
đẳng nghề Việt Xô số 1, Vĩnh Phúc
31
1.5.1 Vai trò và vị trí môn Tin học đại cương trong chương trình đào
tạo nghề Kỹ thuật sửa chữa và lắp ráp máy tính ở trường Cao đẳng nghề
Việt Xô số 1, Vĩnh Phúc
31
1.5.4 Các điều kiện để dạy học môn Tin học đại cương ở trường Cao
đẳng nghề Việt Xô số 1, Vĩnh Phúc
36
1.5.5 Thực trạng về dạy học môn học Tin học đại cương ở trường
Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Vĩnh Phúc
2.1.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản của bài học, xác định đúng nội
dung trọng tâm, trọng điểm của bài, cấu trúc kiến thức cơ bản theo ý
định dạy học
47
2.1.5 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện 48
2.2 Lựa chọn phần mềm và các công cụ để xây dựng BGĐT cho
môn Tin học đại cương
49
2.3 Điều kiện để sử dụng hiệu quả BGĐT môn Tin học đại cương tại
Trường Cao đẳng nghề Việt xô số 1
53
Trang 92.3.1 Yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị 53
Chương 3 – THIẾT KẾ MINH HỌA VÀ THỰC NGHIỆM SƯ
PHẠM BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN TIN HỌC ĐẠI CƯƠNG CHO
NGHỀ SỬA CHỮA MÁY TÍNH HỆ CAO ĐẲNG NGHỀ
56
3.1 Các bước thiết kế xây dựng BGĐT trên Microsoft FrontPage
2003
56
3.1.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản và trọng tâm 56
3.1.3 Xác định cấu trúc của bản thiết kế BGĐT 57
3.1.4 Tạo Web Site cho bài và các trang Web cho các mục trong bài 57
3.1.5 Các lệnh hỗ trợ trong quá trình thiết kế BGĐT 60
3.1.7 Hoàn thiện và kiểm tra việc thiết kế bài giảng 62
3.2 Xây dựng BGĐT cho mục 5 chương NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH
3.3.2 Nội dung của thực nghiệm sư phạm 81
3.3.3 Cách tiến hành thực nghiệm sư phạm 81
3.3.5 Khảo sát ý kiến của giáo viên dự giờ 83
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
- Công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông (TT) với những ưu việt của
nó đang ngày càng thâm nhập rộng rãi vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có giáo dục CNTT tạo ra một bước đột phá trong việc cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá tư duy người học trong quá trình tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội kiến thức
- Ứng dụng CNTT&TT trong dạy học, đặc biệt là bài giảng điện tử được thiết kế với nội dung và phương pháp học tập theo một quá trình dạy và học một cách logic, khoa học sẽ tạo điều kiện cho người học có thể tương tác, chủ động và sáng tạo trong quá trình tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức, nhờ vậy nâng cao được chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Ngoài ra, ứng dụng CNTT&TT trong dạy học sẽ tạo thuận lợi cho người học có thể cần gì học nấy, học suốt đời, học mọi lúc mọi nơi Để đáp ứng được mong muốn “học suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi” này thì các khoá học trên nhà trường khó có thể đáp ứng nổi vì thời gian của người học rất hạn hẹp Điều đó tất yếu dẫn đến sự hình thành một phương thức giáo dục mới: giáo dục điện tử, khi có các bài giảng điện tử (BGĐT) sẽ là một trong các sự lựa chọn ưu tiên của người học Do vậy, CNTT đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong dạy học ở nhiều nước trên thế giới
- Ở nước ta, Nhà nước ta đang coi đổi mới phương pháp dạy học là một trong những trọng tâm của đổi mới giáo dục Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ
IX đã nêu rõ nhiệm vụ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp dạy học tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học…” Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI cũng nêu rõ chủ trương “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá, hội nhập quốc tế”; Theo hướng đó, hiện đại hoá nội dung và phương pháp dạy học là vấn đề bức thiết
- Trong đổi mới PPDH theo hướng hiện đại hóa, việc phát triển và ứng dụng CNTT&TT, môi trường dạy học đa phương tiện vào quá trình dạy học đang là một
Trang 11xu thế của thời đại Với phương pháp dạy học mới này, SV sẽ đóng vai trò chủ động
và sáng tạo trong hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên Người học sẽ phải xác định việc học là cho mình, biến tri thức khoa học thành cái của chính mình, phục vụ cho tương lai của mình, nhở vậy, năng cao được chất lượng và hiệu quả dạy học
- Môn Tin học đại cương là môn học không thể thiếu cho nhóm ngành công nghệ thông tin trong đó có nghề kỹ thuật sửa chữa và lắp ráp máy tính, nó trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về tin học và làm tiền đề cho họ tiếp cận với CNTT, do đó là môn học bắt buộc đối với sinh viên học ngành này trước khi được học các môn học chuyên môn nghề Môn Tin học đại cương là môn học thuộc lĩnh vực tin học Vì vậy việc ứng dụng CNTT và bài giảng điện tử càng giúp cho người học dễ lĩnh hội kiến thức và năng động sáng tạo trong học tập
- Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1 cũng đang quan tâm nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy môn Tin học đại cương nói riêng, nhưng đang gặp nhiều khó khăn vì giáo viên còn thiếu kinh nghiệm Do vậy, thiết
kế bài giảng điện tử trong giảng dạy môn Tin học đại cương tại trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1 là cần thiết
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài : “Thiết kế bài giảng điện tử trong giảng dạy môn Tin học đại cương tại trường Cao đẳng nghề Việt -Xô số 1, Vĩnh Phúc” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cách thức xây dựng và sử dụng BGĐT trong đào tạo nghề Trên cơ sở đó, tiến hành thiết kế một số BGĐT môn học ”Tin học đại cương”, môn học cơ bản của nghề kỹ thuật sửa chữa và lắp ráp máy tính
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học Tin học đại cương
- Phần mềm thiết kế BGĐT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Đề tài tập trung nghiên cứu Xây dựng bài giảng điện tử cho mục 5.3 của chương 5 cho môn học Tin học đại cương trong chương trình khung hệ Cao đẳng nghề
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về Bài giảng điện tử
- Đánh giá thực trạng về dạy học môn Tin học đại cương hiện nay tại trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1
- Thiết kế một số giáo án điện tử cho môn học Tin học đại cương
- Thực nghiệm sư phạm để chứng minh tính khả thi và hiệu quả của việc ứng dụng bài giảng điện tử trong giảng dạy môn Tin học đại cương tại trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng BGĐT cho môn Tin học đại cương theo hướng dạy học hiện đại, đáp ứng yêu cầu sư phạm thì sẽ hỗ trợ tốt hoạt động dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tin học đại cương tại Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1
6 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng các phương pháp sau đây để nghiên cứu luận văn:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các văn kiện, tài liệu có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi
Tác giả đã sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi lấy ý kiến CBQL,
GV, HS để đánh giá thực trạng về dạy học môn tin học đại cương tại Trường Cao đẳng nghề Việt xô số 1
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
giả thuyết khoa học được đề ra và tính khả thi của việc thực hiện dạy học môn tin học đại cương tại Trường Cao đẳng nghề Việt xô số 1
- Phương pháp thống kê toán học
Trang 13Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu khảo
sát và thực nghiệm
7 Đ ng g p mới của tác giả
- Hệ thống hóa được một số vấn đề cơ sở lý luận về ứng dụng CNTT và bài giảng điện tử trong dạy học
- Đánh giá được thực trạng về dạy học môn Tin học đại cương hiện nay tại trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1
- Xây dựng được bài giảng và giáo án điện tử cho 2 mục của chương 5 để
minh họa
- Thực nghiệm sư phạm để minh chứng cho tính khả thi và hiệu quả của việc dạy học môn Tin học đại cương theo bài giảng điện tử tại trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1 cũng như tính đúng đắn của giả thuyết khoa học được đề ra
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
CNTT và truyền thông bắt đầu được sử dụng ở Hoa Kỳ vào năm 1995 và sau
đó bắt đầu được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới Ngày nay, công nghệ thông tin
đã và đang phát triển nhanh chóng với sự phổ cập của các phương tiện truyền thông như thư điện tử, Internet, cầu truyền hình cũng như công nghệ phần mềm vi tính và các phương tiện thông tin khác Công nghệ thông tin đã và đang tác động mạnh mẽ đến công nghệ dạy học Theo J Delors, công nghệ dạy học hiện đại được đặc trưng bởi việc sử dụng các phương tiện hiện đại như máy vi tính và các phần mềm hướng dẫn dạy và học, các thiết bị đa phương tiện và đa kênh truyền thông (multimedia) trao đổi thông tin tương tác, mạng thư viện điện tử, các hệ thống mô phỏng các quá trình hoạt động bằng vi tính, các hệ thống mô tả mùi, vị ảo v.v
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng CNTT và đa phương tiện trong dạy học như: Ứng dụng đa phương tiện trong dạy học của Anderson, B Bent
và Katia Van Den Brink [20], Hướng dẫn về đa phương tiện và phương pháp dạy học của James K Brown, B Levis [21], Lý thuyết học tập và thiết kế môi trường dạy học E-Learning của Gillani, B Bian [22], Lập chương trình đa phương tiện của Simon Gibbs, … Những công trình này đã đưa ra các hướng dẫn về ứng dụng đa phương tiện và bài giảng điện tử trong dạy học
1.1.2 Ở trong nước
Trong những năm gần đây, sự bùng nổ của CNTT nói riêng và Khoa học công nghệ nói chung đã tác động mạnh mẽ, có tính chất quyết định đến sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội Với xu thế chung như vậy, đối với ngành Giáo dục, việc ứng dụng CNTT vào dạy học là một trong những nhu cầu tất yếu của giáo viên và học sinh
Trong những năm qua, Bộ giáo dục & Đào tạo đã phát động phong trào ứng dụng CNTT vào dạy học nhằm đáp ứng mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học,
Trang 15nâng cao chất lượng đào tạo con người lao động mới Nhiều giảng viên đã nghiên cứu giới thiệu, phổ biến lý luận ứng dụng công nghệ thông tin và bài giảng điện tử trong dạy học ở Việt Nam như: Đỗ Mạnh Cường [2], Đỗ Ngọc Đạt [5], Phạm Xuân Hậu, Phạm Văn Danh [7], Nguyễn Xuân Lạc [9, 10], Đào Thái Lai [11], Nguyễn Thế Hùng [8], Lê Công Triêm [16,17], …Một số nhà khoa học cũng đã có các công trình nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin và bài giảng điện tử như: Quách Tuấn Ngọc [12], Hoàng Anh Quang, Phạm Thành Đông [14], Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng đã tổ chức Hội thảo quốc gia về “Giáo dục điện tử E-Learning” để trao đổi kinh nghiệm về ứng dụng CNTT và bài giảng điện tử trong dạy học Cũng
đã có một số luận án và luận văn nghiên cứu về ứng dụng CNTT và bài giảng điện
tử trong dạy học như các Luận án Tiến sĩ của Lê Thanh Nhu [13], Nguyễn Thanh Tùng [18], các Luận văn thạc sĩ của Đào Thế Dân [3], Ngô thị Thu Giang [6], Chữ Quang Vinh [19], …
Những công trình nêu trên đã góp phần phát hiện, bồi dưỡng vụn đắp phát triển tiềm lực sáng tạo, tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ của người học
1.1.3 Ứng dụng CNTT trong giáo dục
Ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH: Triển khai áp dụng CNTT trong dạy
và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục Phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng internet của người học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xóa bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại Khuyến khích GV, giảng viên soạn bài trình chiếu, BGĐT và giáo án trên máy tính Khuyến khích GV, giảng viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy qua website của các cơ sở GD&ÐT và qua Diễn đàn giáo dục trên website bộ Triển khai mạnh mẽ công nghệ học điện tử (e-Learning) Tổ chức cho GV, giảng viên soạn BGĐT e-Learning trực tuyến; tổ chức các khóa học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn cơ hội học tập cho người học
1.2 Công nghệ dạy học hiện đại
Trang 161.2.1 Công nghệ dạy học
Theo nghĩa hẹp, công nghệ dạy học là quá trình sử dụng các phương pháp, phương tiện kỹ thuật và các phương tiện hỗ trợ vào việc dạy học nhằm nâng cao chất lượng học tập của SV
Theo nghĩa rộng, công nghệ dạy học là hệ thống những phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào người học hình thành một nhân cách xác định [7.tr4]
Từ định nghĩa trên có thể thấy rõ dạy học được xem là một công nghệ, trước hết là vì bản chất của nó tương ứng với nội hàm của khái niệm công nghệ, không phải vì hiện tượng những quy trình công nghệ hay những ứng dụng CNTT hoặc phương tiện kỹ thuật khác… trong dạy học
Như vậy, công nghệ dạy học là một quá trình khoa học trong đó nguồn nhân lực và vật lực được sử dụng để nâng cao hiệu quả dạy học Khi đó quá trình dạy học
có thể xem như quá trình công nghệ đặc biệt, một quá trình sản xuất những sản phẩm cao cấp, tinh vi nhất (con người) Nét độc đáo của quá trình này là ở chỗ SV không còn là đối tượng thụ động của quá trình tác động của GV mà họ vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình dạy học.[9.tr16]
Ngày nay, quá trình dạy học không chỉ được hiểu là một quá trình công nghệ
mà nó còn phát triển lên một tầm cao mới, đó là công nghệ dạy học hiện đại Công nghệ dạy học hiện đại được hiểu là công nghệ dạy học với phương tiện, phương pháp, kỹ năng trong thời đại này - thời đại của CNTT&TT Một cách vắn tắt, công nghệ dạy học là công nghệ dạy học bằng máy tính.[7.tr12]
1.2.2 Bản chất và đặc điểm của công nghệ dạy học hiện đại
Trang 17Đầu ra (mục tiêu)
Đầu vào (HS)
Điều kiện
PT dạy học Nội dung đào tạo
Hệ thống phương pháp
Tiêu chuẩn đánh giá
Đạt mục đích đào tạo với chi phí tối ưu
Hình 1.1: Bản chất của công nghệ dạy học
* Bản chất
Bản chất của công nghệ dạy học hiện đại [9.tr17] có thể được mô tả là sự kết hợp thành tựu của nhiều ngành khoa học công nghệ khác nhau trong việc tổ chức quá trình dạy học bao gồm: đầu ra, đầu vào, điều kiện phương tiện, nội dung đào tạo, phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá nhằm đạt được mục đích đào tạo với chi phí tối ưu
* Đặc điểm
Công nghệ dạy học hiện đại có những đặc điểm [9.tr18,19] sau:
- Tính hiện đại: Thường xuyên áp dụng cập nhật vào thực tiễn dạy học những đổi mới về giáo dục một cách có căn cứ khoa học
- Tối ưu hóa: chi phí ít nhất về thời gian và sức lực
- Tính tích hợp: Sử dụng thành tựu của nhiều khoa học vào việc đào tạo
- Tính lặp lại kết quả: Cùng một quá trình đào tạo phải đạt được những kết quả mong muốn gần giống nhau (trình độ SV ra trường phải đạt được một ngưỡng nào đó gần như nhau)
- Tính phương tiện: Sử dụng phương tiện truyền thông và đồ dùng dạy học
Trang 18- Tính khách quan: Có các tiêu chí đánh giá kết quả học tập rõ ràng, khách quan, kịp thời về định lượng và cả định tính
- Hệ thống hóa: Chương trình hóa hoạt động từ lúc thăm dò nhu cầu xã hội, tuyển sinh, học tập đều được tiến hành theo những quy trình
1.2.3 Các thành phần của công nghệ dạy học hiện đại
Công nghệ dạy học bao gồm 4 thành phần cơ bản: thiết bị, con người, thông tin, quản lý.[9.tr19]
Hình 1.2: Các thành phần của công nghệ dạy học
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa thiết bị: Bao gồm các phương tiện vật chất như thiết bị trường học, đồ dùng dạy học, xưởng trường…Đó là phần vật chất, phần cứng của công nghệ dạy học, giúp tăng cường năng lực hoạt động giáo dục
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa con người: Bao gồm năng lực công nghệ dạy học của thầy giáo và SV Cụ thể là các kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, sáng tạo, khả năng lãnh đạo,…Phần này phụ thuộc vào trình độ học vấn, vốn kinh nghiệm nghề nghiệp và lòng say mê với nghề
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa thông tin: Bao gồm tri thức giáo khoa đã được thể thức hóa thành tri thức tiền dạy học nghĩa là được sắp xếp theo một quy trình có thể diễn tả các lý thuyết, toát lên phương pháp luận Thông tin giúp cho con người rút ngắn thời gian tiếp nhận, xử lý và tái tạo hiệu quả Thông tin phải luôn được bổ sung và cập nhật trong quá trình nhận thức
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa tổ chức: Bao gồm các hoạt động thể chế, quyền hạn và mối liên hệ trong quá trình điều khiển Chức năng của tổ chức
là phối hợp tốt ba khâu ở trên của công nghệ dạy học
1.2.4 Những điểm lưu ý về công nghệ dạy học hiện đại
Trang 19Một công nghệ (phương tiện, phương pháp, kỹ năng) dạy học chỉ có tác dụng tốt khi được sử dụng theo quan điểm công nghệ và quan điểm hệ thống [7.tr16]:
* Theo quan điểm công nghệ
- Phải có phương tiện (máy tính, máy chiếu,…) thích hợp và điều kiện vận hành tương ứng
- Người dạy có tay nghề (kiến thức, phương pháp và kỹ năng về tin học cũng như chuyên môn,…) đủ để làm chủ quá trình dạy học như ứng tác linh hoạt khi phát hiện thiếu hoặc thừa thời gian dạy học so với kế hoạch đã định
- Người học phải có học liệu thích hợp và biết ứng xử ngang tầm với những thuận lợi do công nghệ hiện đại đem lại
* Theo quan điểm hệ thống
Công nghệ dạy học hiện đại là một hệ thống con trong hệ thống công nghệ dạy học nói chung, vì thế phải được sử dụng trong mối tương quan với công nghệ dạy học truyền thống, theo phương châm đúng lúc, đúng chỗ và đúng độ (trình độ, mức độ…), đảm bảo cho quá trình dạy học không chỉ khả thi mà còn hiệu quả
1.2.5 Bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại
Từ trước tới nay các GV thường quen soạn bài (chuẩn bị giáo án) như sau [5]:
* Phần chữ:
GV sáng tác một phần dựa vào học vấn và kinh nghiệm dạy học của mình, phần còn lại thường được biên soạn theo tài liệu tham khảo như sách, báo, bài giảng (thông thường chiếm tỷ lệ khá lớn) với phương tiện thông dụng là giấy, bút,…một
số người có dùng phương tiện sao chụp,…
* Phần hình:
GV sáng tác một phần theo khả năng của mình, phần còn lại được biên soạn theo tài liệu tham khảo (thông thường chiếm tỉ lệ khá lớn) với phương tiện thông dụng như giấy, bút, một số người có dùng các thiết bị can, in, sao, chụp,…các phương tiện nghe nhìn như tranh treo, phim, băng hình,…không phải là thành phần trực tiếp của bài soạn, thường được phối hợp trên lớp
Một bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại (công nghệ dạy học bằng máy tính) còn gọi là BGĐT, cần đáp ứng đồng thời hai yêu cầu cơ bản sau:
Trang 20- Là một bài giảng giáp mặt đạt chuẩn mực sư phạm
- Là một bài giảng từ xa qua mạng (LAN, WAN,…) người học có thể tái hiện đầy đủ những gì GV cung cấp
Chuẩn mực sư phạm được hiểu là những tiêu chí, yêu cầu cơ bản, đảm bảo cho quá trình dạy học và quá trình này thực hiện hai hoạt động tương tác: dạy của thầy và học của trò khả thi (dạy được và học được) và hiệu quả (dạy tốt và học tốt) Khi soạn bài trên máy tính (PC) để dạy học giáp mặt hoặc từ xa qua mạng, bài soạn của GV phải ở dạng sẵn sàng cho việc trình chiếu trên lớp và tải lên mạng, vì thế mỗi GV ít nhất phải làm được các việc sau:
* Phần chữ:
Tùy theo khả năng, GV có thể sáng tác một phần gõ thành file văn bản trong
PC, dưới dạng các trang web có đặc trưng của bài giảng giáp mặt, nhờ Ms FrontPage (dùng font Unicode) hoặc các phần mềm khác, như Macromedia
Dreamweaver MX… Phần còn lại được biên soạn theo tài liệu tham khảo
- Nếu tài liệu tham khảo là ấn phẩm, thường dùng máy quét (scanner) và lưu dưới dạng file pdf Nếu muốn biến thành file văn bản biên soạn được thì phải dùng các phần mềm nhận dạng (OCR), ví dụ: VnDOCR (Vietnamese Document Optical character Recognition), OmniPage,…(thực hành phòng thí nghiệm công nghệ dạy học)
- Nếu tài liệu tham khảo là các CDROM: với các file văn bản không hỗ trợ copy vào PC phải chụp (capture) bằng phần mềm thích hợp Kinh nghiệm cho thấy
có thể dùng Snaglt, HyperSnap,…rồi chuyển ảnh thành file văn bản bằng OCR (OmniPage,…)
* Phần hình tĩnh:
GV tùy khả năng có thể sáng tác một phần bằng công cụ Drawing trong Ms Office, Paint trong Windows hoặc các phần mềm đồ họa khác như Ms visio, Mathcad, Multisim, SolidWorks,… lưu dưới dạng ảnh thích hợp cho web như gif hoặc jpeg Phần còn lại được biên soạn theo tài liệu tham khảo:
- Nếu tài liệu tham khảo là các ấn phẩm: sử dụng máy quét ảnh
Trang 21- Nếu tài liệu tham khảo là CDROM, copy vào PC nếu có thể, nếu không thì chụp bằng các phần mềm như Snaglt,…(thực hành PTN CNDH)
* Phần hình động:
GV tùy khả năng có thể sáng tác một phần bằng các phần mềm hoạt hình sẵn
có trong PC như PowerPoint, hoặc cài đặt thêm như Mathcad, Flash, SolidWorks,…Các file hoạt hình có thể chuyển thành file gif, avi, hoặc mpg bằng các phần mềm GIF MovieGear, MPEG Encoder,… (thực hành PTNCNDH) Phần còn lại biên soạn theo tài liệu tham khảo
- Nếu tài liệu tham khảo là CDROM: copy vào PC nếu được hỗ trợ, nếu không thì cho chạy và chớp thành phim AVI bằng các phần mềm như Snaglt, HyperSnagDX, ScreenCam,… sau đó tách phim thành chuỗi frames bằng phần mềm thích hợp, để biên soạn lại hình ảnh và văn bản theo ý muốn (thực hành PTNCNDH)
- Nếu tài liệu tham khảo là băng hình,…thì cần cài đặt bản mạch chuyển đổi tương tự - số như VideoMagic chẳng hạn và các phần mềm tương ứng
1.3 Bài giảng điện tử
1.3.1 Khái niệm
Trong những năm gần đây, máy vi tính được sử dụng rộng rãi trong nhà trường với tư cách là PTDH với nhiều loại phần mềm được thiết kế dưới các quan điểm khác nhau Hình thức sử dụng máy vi tính vào dạy học rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, BGĐT là một hình thức sử dụng phổ biến hiện nay BGĐT có thể được viết dưới bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào tuỳ theo trình độ CNTT của người, có thể sử dụng phần mềm trình diễn sẵn như Frontpage, Publisher, PowerPoint Trong
đó thiết kế BGĐT trên Microsoft PowerPoint là đơn giản nhất Tuy nhiên nhiều nhà
sư phạm đã đưa ra các khái niệm khác nhau về bài giảng điện tử
Theo Lê Công Triêm, BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do GV điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra [17.tr20]
Theo cách hiểu này, BGĐT là một hình thức tổ chức dạy học Trong khi đó, hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy học có thời gian và
Trang 22địa điểm nhất định, với các phương pháp, PTDH cụ thể nhằm giải quyết các nhiệm
vụ dạy học Đặc biệt trong dạy nghề, không đơn thuần chỉ là bài giảng lý thuyết mà
là bài giảng tích hợp Trong bài giảng tích hợp, thời gian dành cho lý thuyết chỉ 45‟ hoặc 1 giờ, còn lại là thời gian thực hành Do vậy BGĐT không thể hiểu là một hình thức tổ chức dạy học
Theo tác giả, BGĐT là một chương trình dạy học có ứng dụng CNTT, hỗ trợ cho hoạt động dạy và học Sự hỗ trợ này tạo điều kiện để GV có thể tổ chức và điều khiển tốt hoạt động nhận thức của SV, để SV phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng
1.3.2 Cấu trúc cơ bản của BGĐT
Để có một BGĐT sáng sủa, khoa học, dễ theo dõi, nội dung chính được giữ từ đầu đến cuối giờ học, khi thiết kế BGĐT có thể thực hiện theo cấu trúc cơ bản sau:
Hình 1.3: Cấu trúc bài giảng điện tửVới cấu trúc như trên sẽ rất thuận lợi cho GV trong quá trình giảng dạy, chỉ ra mối liên hệ giữa các phần kiến thức với nhau (bài học có mấy phần, mỗi phần có mấy ý, nội dung cụ thể từng ý, mối liên hệ giữa các ý đó) và thuận lợi hơn trong việc hệ thống hóa kiến thức đã học cho SV
Đối với SV thì cũng sẽ dễ dàng tiếp thu các thành phần kiến thức
1.3.3 Các yêu cầu khi thiết kế BGĐT
Trang 23Để soạn được BGĐT đạt được mục tiêu đặt ra và phù hợp yêu cầu dạy học thì khi soạn bài, người GV phải chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:
- Nội dung: Chỉ đưa những nội dung kiến thức trọng tâm của bài Các kiến
thức liên quan GV có thể cung cấp cho SV bằng tài liệu phát tay hoặc cung cấp cho
SV giáo trình để họ nghiên cứu trước Điều này sẽ giúp cho SV học được ý chính, phát huy tính tự học và biết khai triển nội dung theo ý chính
- Cấu trúc: Đảm bảo tính logic Nội dung bài phải được chia nhỏ giúp SV dễ
tiếp thu và nội dung trước phải làm tiền đề cho nội dung sau Phải tạo được sự liên kết giữa các phần nội dung, điều này giúp GV tổng kết bài và khi cần giải thích lại cho SV sẽ dễ dàng và không mất thời gian
- PPDH: BGĐT phải khai thác triệt để các PPDH đa dạng và nhiều chiều, đặc
biệt tính tích cực của SV
- Tính sư phạm: Hình ảnh, cỡ chữ, phông nền phải tương thích, trong một
slide không được có quá nhiều dòng, nhiều chữ làm cho SV chỉ chú tâm đọc chữ mà không còn nghe giáo viên nói gì Hoặc khi có giáo án trình chiếu thì chỉ sử dụng một cách giảng là thuyết trình bảng chiếu mà không áp dụng nhiều phương pháp khác, tất nhiên lúc đó kết quả không cao
Từ sự nhìn nhận như trên, tác giả xin nêu ra một số việc cần làm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học thông qua giáo án điện tử: không đưa toàn bộ nội dung cần trình bày lên màn chiếu, không tạo hiệu ứng lòe loẹt, nhấp nháy liên tục làm cho người đọc mỏi mắt và khó chịu và cuối cùng phải xác định xây dựng giáo án điện tử
để giảng viên dạy học chứ không phải để cho SV đọc giáo án khi trình chiếu, còn giảng viên chỉ là kỹ thuật viên bấm máy
- Công nghệ: Kết hợp được các phần mềm mô phỏng để tạo giúp SV dễ hiểu
các nội dung mang tính chất trừu tượng Đặc biệt phải khai thác được “kênh hình”, chỉ khi khai thác được vấn đề này thì BGĐT mới có hiệu quả
1.3.4 Phân biệt giữa bài giảng điện tử và bài giảng truyền thống
- Sự giống nhau:
Trang 24Bài giảng là một phương tiện vô cùng quan trọng không thể thiếu với người giáo viên khi lên lớp làm nhiệm vụ dạy học Nó được xem như phương tiện bắt buộc đối với GV trong hoạt động dạy học
Bản thiết kế bài giảng truyền thống hay điện tử đều phải thực hiện rõ được hai loại hoạt động chủ yếu: Hoạt động của GV và hoạt động của HS.Nội dung của bài học được chia thành các đơn vị hoạt động: hoạt động 1, hoạt động 2, hoạt động 3,…
- Sự khác nhau:
Bài giảng truyền thống Bài giảng điện tử
Nội dung dạy học bao gồm toàn bộ tri
thức trong giáo trình, sách giáo khoa
hiện hành Được diễn đạt dưới dạng
văn bản là chủ yếu, đôi khi sử dụng mô
hình, sơ đồ, hình vẽ,…
Nội dung dạy học bao gồm toàn bộ tri thức cô đọng, chủ yếu của chương trình đại trà và tri thức mở rộng, được diễn đạt dưới dạng văn bản, bảng biểu, sơ
đồ, hình vẽ, âm thanh, video-clip,…
Kế hoạch hoạt động của thầy và trò
được GV ghi ra giấy
Kế hoạch hoạt động của thầy và trò được đưa vào máy vi tính dưới dạng một chương trình, trong đó có sử dụng siêu liên kết nhằm kết nối giữa các mục với nhau, giữa bài mới và bài cũ có liên quan, giữa lý thuyết với bài tập, giữa nội dung kiến thức cơ bản và mở rộng, giữa các mục và trợ giúp,…
Thời lượng dành cho truyền đạt lý
thuyết là nhiều hơn
Thời lượng dành cho truyền đạt lý thuyết giảm, tăng thời gian cho thực hành
Phần kiểm tra, đánh giá sau khi kết thúc
bài học có thể là câu hỏi vấn đáp, hoặc
viết, khó có thể kiểm tra được toàn lớp
và cho biết kết quả tức thời Có thể
dùng trắc nghiệm khách quan bằng trên
giấy
Bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan, được số hoá và đưa vào máy vi tính, cho biết kết quả tức thời về kết quả học tập, những sai sót, ưu nhược điểm…để kịp thời điều chỉnh trong quá trinh dạy và học
Trang 251.3.5 Các yêu cầu khi sử dụng BGĐT
Khi sử dụng BGĐT không ít GV đã lạm dụng quá mức làm mất tính tích cực của HS Vì vậy khi sử dụng cần chú ý các yêu cầu:
- Kết hợp các phương pháp, PTDH để phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo của người học, nó có khác ý nghĩa dạy học bằng phương pháp truyền thống kết hợp phương tiện hiện đại
- Việc trình chiếu của GV phải kết hợp với tự nghiên cứu có hướng dẫn, thảo luận nhóm GV phải thực sự đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo trong quá trình dạy học nhằm giúp SV tìm tòi tri thức, hình thành cho họ kỹ năng tự học,
tự nghiên cứu Giảm thời gian truyền đạt tri thức lý thuyết, tăng thời gian thực hành luyện tập
- Phải đảm bảo phù hợp giữa lời giảng, sự trình diễn của GV và sự theo dõi của SV BGĐT không phải là đoạn phim chỉ trình chiếu một chiều mà trong quá trình giảng dạy GV vẫn sử dụng các phương pháp giảng dạy đặt vấn đề, SV thảo luận, SV trả lời, mô phỏng, làm nhóm Sau khi giải quyết xong vấn đề, một kiến thức nào đó, thay vì phải ghi bài lên bảng thì GV lại cho hiện kiến thức cần ghi ra,
để một khoảng thời gian cho SV ghi bài
- Màn hình của BGĐT phải chia thành 4 phần: Phần trên cùng chứa tiêu đề của bài giảng xuất hiện từ đầu tới cuối giờ học Phần bên trái là các đề mục của bài giảng Phần bên phải chiếm phần lớn diện tích của màn hình là nơi lần lượt xuất hiện nội dung bài giảng theo đúng kịch bản của quá trình dạy học Phần dưới cùng
là nơi để viết giải thích các cụm từ chuyên dụng hoặc thông tin chi tiết hơn chú thích cho một vấn đề nào đấy Như vậy, với cách thiết kế trên thì BGĐT đóng vai trò chủ đạo, vừa là bảng ghi bài vừa là nơi trình chiếu các ví dụ mô phỏng trong bài học
1.3.6 Đặc điểm bài giảng điện tử
1.3.6.1 Ưu điểm
- Ở mỗi tiết học có sử dụng BGĐT, SV được tiếp thu một lượng lớn kiến thức
và hình ảnh trực quan sinh động
Trang 26- Sử dụng BGĐT, GV có thể thực hiện đầy đủ các kênh chữ, kênh hình, kênh
tiếng trong quá trình dạy học, qua đó không chỉ rèn luyện cho SV các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết mà còn quan sát và cảm nhận được các sự kiện, hiện tượng
- Các tiết học có sử dụng BGĐT trở nên hấp dẫn, lôi cuốn, sinh động hơn SV hứng thú, tích cực hơn trong giờ học
- Sử dụng BGĐT, GV có thể tiết kiệm được thời gian lên lớp, thay vì trước đây GV phải mất nhiều thời gian viết bảng hay mất thời gian để treo tranh, ảnh hay các thao tác hoạt động thí nghiệm, thì nay chỉ bằng một cái click chuột, bài giảng
đã hiện ra và SV có thể theo dõi bài giảng bằng những hình ảnh sống động và những đoạn phim minh họa ngắn gọn, xúc tích SV có nhiều thời gian hơn để thảo luận về những vấn đề liên quan đến bài học
- BGĐT có thể lưu lại giúp cho việc chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật hoá kiến thức ở bất kì đoạn nào, mục nào một cách dễ dàng
- HS có thể tương tác qua hình ảnh, đoạn video, nội dung bài giảng một cách
dễ dàng
1.3.6.2 Hạn chế
- Khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là cơ sở vật chất, trang thiết bị nghe nhìn, PTDH Hiện nay, nhiều trường không đủ phòng học cho SV, đặc biệt là phòng dành cho multimedia, kinh phí đầu tư lại luôn thiếu Để có 1 phòng học multimedia đơn giản, cũng phải tốn cả trăm triệu đồng Chưa kể việc nếu cả trường chỉ có một phòng multimadia thì việc thực hiện ứng dụng CNTT vào giảng dạy nhiều khi chỉ mang tính hình thức
- Để việc thiết kế và giảng dạy BGĐT có hiệu quả, đòi hỏi GV phải có kiến thức sâu về tin học, ứng dụng tốt hơn các phần mềm công cụ Điều này là quá mới
mẻ với đại đa số GV hiện nay
- Hơn nữa, muốn "click" chuột trong một tiết học thì GV phải vất vả gấp nhiều lần so với cách dạy truyền thống Ngoài kiến thức căn bản về tin học, sử dụng thành thạo các phần mềm, người GV cần phải có niềm đam mê thực sự với việc thiết kế vốn đòi hỏi sự sáng tạo, sự nhạy bén, tính thẩm mỹ để săn tìm tư liệu từ nhiều nguồn
Trang 27- Một hạn chế nữa trong việc sử dụng BGĐT là: để một BGĐT thực sự có hiệu quả, người GV cần phải đảm bảo sao cho BGĐT đó vừa là một giáo án vừa là một loại hình thiết bị dạy học hiện đại, sao cho BGĐT đó vừa sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn nhưng lại không được lạm dụng CNTT trong quá trình dạy học Để làm được điều này là rất khó đối với mỗi GV hiện nay
Vì vậy, vấn đề được đặt ra đối với các chuyên gia, các cấp quản lí giáo dục hiện nay là phải xây dựng được tiêu chí đánh giá một BGĐT như thế nào cho có hiệu quả để đạt được là tiết dạy học tích cực có ứng dụng CNTT
Nhìn chung, BGĐT không thể thay thế việc soạn giáo án truyền thống hay thay thế hẳn thao tác sử dụng phấn trắng, bảng đen, trình bày miệng của GV trong quá trình lên lớp BGĐT được quan niệm như là phương tiện kĩ thuật hỗ trợ, giúp
Phương tiện là một cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín hiệu nhằm chuyển giao nội dung nhất định giữa người gửi và người nhận bằng hệ thống các tín hiệu thông qua các giác quan cảm nhận của con người
1.4.2 Đa phương tiện (Multimedia)
Năm 1994, Charles B Wang, chuyên gia máy tính, xem Đa phương tiện là
“một trong những từ gây nhiều bàn cãi” Đa phương tiện thực sự là một thuật ngữ cho việc kết hợp các khả năng trong công nghệ Đa phương tiện liên kết với máy tính cá nhân các chức năng kết nối các yếu tố như văn bản, đồ họa, âm thanh, hình ảnh tĩnh và động sử dụng trong đào tạo hay thông tin Nói một cách ngắn gọn, theo Robert S Tannenbaum, đó là việc trình bày có tương tác với máy tính bao gồm ít nhất hai trong số các yếu tố: văn bản, âm thanh, hình ảnh đồ họa tĩnh, đồ họa động
và cả sự chuyển động
Trang 28Theo Fenrich (1997): “Multimedia là sự tích hợp lý thú giữa phần cứng và phần mềm máy tính, cho phép tích hợp các tài nguyên video, audio, hoạt hình đồ họa và trắc nghiệm để xây dựng và thực hiện một trình diễn kết quả nhờ một máy tính có cấu hình thích hợp”
Theo (Philip,1997): “Multimedia đặc trưng bởi sự hiện diện của văn bản hình ảnh, âm thanh, mô phỏng và video được tổ chức chặt chẽ trong một chương trình máy tính.”
Đa phương tiện được hiểu nôm na là sự tổ hợp của nhiều phương tiện Khi nói đến đa phương tiện, người ta thường nói đến máy tính, đến CNTT Đa phương tiện còn được hiểu là một tổ hợp các công nghệ dựa trên nền tảng máy tính để tạo cho người dùng khả năng truy nhập và thao tác những văn bản, âm thanh và hình ảnh
Đa phương tiện trong dạy học là sự kết hợp các đối tượng mang thông tin khác nhau (văn bản, âm thanh, hình ảnh) thành một hệ thống nhất để truyền thông tin giữa thầy
và trò [8.trang 25]
Ứng dụng Multimedia trong dạy học là yếu tố của quá trình nâng cao chất lượng dạy học Multimedia là sự phối hợp một cách có tính toán những phương tiện truyền thống khác nhau trong dạy học (như âm thanh, đồ họa, phim ảnh, video,…) cũng như các phương tiện tương tự nhờ máy tính để thực hiện mục tiêu dạy học
Sự tích hợp của văn bản (Test), hình ảnh (Image), âm thanh (Sound), hình động (animation) và phim (video)…trong phương tiện được sử dụng đã tạo nên tính hiệu quả của multimedia trong dạy học, tạo ra môi trường, phương tiện và điều kiện thuận lợi cho người dạy và người học nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học Ứng dụng Multimedia trong dạy học không phủ nhận hoặc giảm nhẹ vai trò người dạy mà phải làm tăng hiệu quả vai trò của người dạy trong tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động nhận thức của người học
1.4.3 Phương tiện dạy học
Như chúng ta đã biết, quá trình dạy học gồm có hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó diễn ra quá trình tái sản xuất những kinh nghiệm xã hội của nhân loại Cũng như bất kỳ một quá trình sản xuất nào, quá trình dạy học cũng phải sử dụng những phương tiện lao động nhất định Phương tiện lao động sư phạm rất đa dạng
Trang 29Nó bao gồm những phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ Ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu PTDH vật chất với ý nghĩa là công cụ lao động của người dạy và người học và được nói gọn là PTDH Song, khi đề cập đến các PTDH với cách sử dụng chúng thì phần nào đã nói đến phương tiện thực hành Từ cách hiểu PTDH như vậy, có thể đi tới định nghĩa của nó như sau:
PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học,
là phương tiện nhận thức của người học, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm
vụ dạy học.[8.tr7]
1.4.4 Vai trò của phương tiện dạy học
Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu Hiện nay các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng qui mô, nâng cao tính tích cực trong dạy học và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan, trong đó phương tiện dạy
và học là một thành tố quan trọng
Vị trí PTDH của phương tiện trong dạy học kỹ thuật: PTDH đóng một vai trò quan trọng trong dạy học, đặc biệt là trong dạy học kỹ thuật Sơ đồ vị trí của PTDH trong dạy học kỹ thuật [9.tr30] đã cho ta thấy, dạy học có các yếu tố bên trong là hoạt động thống nhất của mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và các yếu
tố bên ngoài là điều kiện về con người, văn hóa, xã hội Nội dung bài giảng là yếu
tố quyết định cấu trúc của PTDH PPDH và phương tiện có quan hệ chặt chẽ với nhau, phương pháp khác nhau thì phải chọn phương tiện khác nhau Việc sử dụng PTDH hợp lý giúp cho PPDH phát huy hơn nữa hiệu quả của nó
Trang 30ĐK con người
ĐK văn hóa, xã hội
Tác động đến văn hóa
xã hội
Tác động đến con người
Phương tiệnPhương pháp
Trường
Dạy học
Lĩnh vực điều kiện
Lĩnh vực quyết định
Hình 1.4: Vị trí của phương tiện dạy học trong dạy học kỹ thuật
- Trong tài liệu nhập môn công nghệ dạy học hiện đại [6.tr8] định nghĩa “quá trình dạy học là một quá trình xã hội Về hình thức, đó là quá trình hoạt động tương tác giữa người dạy (hoạt động dạy) và người học (hoạt động học)” Từ định nghĩa quá trình dạy học, chúng ta nhận thấy rằng hoạt động dạy là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của SV, mà một trong những nhiệm vụ tổ chức điều khiển nhận thức đó của GV là việc tổ chức, điều khiển quá trình tri giác cảm tính những hiện tượng hoặc đối tượng được nghiên cứu của SV Song, những hiện tượng, đối tượng đó không phải bao giờ cũng được hiện ra một cách trực tiếp ở ngay phòng học Trong trường hợp đó PTDH tạo khả năng tái hiện chúng một cách gián tiếp thông qua hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, mô hình v.v Nhờ chúng mà tạo nên trong ý thức của người SV những hình ảnh trực quan cảm tính của những hiện tượng và sự vật Nhiệm vụ của dạy học là làm sao để từ những hình ảnh trực quan cảm tính dẫn SV hiểu bản chất của hiện tượng hoặc sự vật Việc chuyển hoá đó có liên hệ với tư duy trừu tượng, với việc đưa vào và sử dụng những khái niệm trừu tượng Với điều đó, những hình ảnh trực quan đảm bảo mối liên hệ thường xuyên giữa tư duy với hiện tượng hoặc đối tượng nghiên cứu khi cung cấp cho tư duy tài liệu thông tin cần thiết
Trang 31Đối với GV, PTDH là trợ thủ không thể thay thế được của người GV ở giai đoạn hình thành tư duy trừu tượng cho SV Ở giai đoạn này những hình ảnh trực quan cảm tính bao giờ cũng là thành phần và tiền đề bắt buộc của tư duy Tư duy dù đạt đến mức độ cao như thế nào ít nhiều nó cũng vẫn cần đến trực quan cảm tính, cần đến hình ảnh Ở giai đoạn kết thúc sự nghiên cứu hiện tượng hoặc sự vật cần phải chỉ cho SV sự vận dụng trong thực tiễn của nó Điều đó cũng sẽ khó đạt được nếu thiếu sử dụng những PTDH Vì vậy, ở cả giai đoạn trực quan cảm tính, giai đoạn tư duy trừu tượng và ở cả giai đoạn giới thiệu cho SV sự vận dụng thực tiễn những hiện tượng hoặc sự vật nghiên cứu cũng cần phải sử dụng những PTDH Đối với người học, PTDH là công cụ nhờ nó mà họ nhận thức được thế giới xung quanh Những điều trình bày ở trên đã nói lên vai trò và tác dụng của PTDH không chỉ trong hoạt động nhận thức của SV mà cả trong việc thực hiện những chức năng quan trọng đối với hoạt động dạy của người GV, khi làm tăng khả năng của họ như
là nhà giáo dục, như là một nguồn thông tin, nhà tổ chức và người kiểm tra, kiểm soát Trong trường hợp tổ chức vận dụng đúng đắn về mặt sư phạm, PTDH đóng vai trò như là nguồn thông tin và giải phóng người GV khỏi nhiều công việc có tính chất thuần tuý kỹ thuật trong tiết học, chẳng hạn như thông báo thông tin, để có nhiều thời gian hơn cho công tác sáng tạo trong hoạt động với SV PTDH tạo khả năng vạch ra một cách sâu sắc hơn, trình bày rõ ràng dễ hiểu, đơn giản hơn nội dung tài liệu học tập, tạo điều kiện hình thành cho họ động cơ học tập đúng đắn Như vậy, PTDH là một trong những thành phần của quá trình dạy học Nó có vai trò quyết định hiệu quả của quá trình dạy học Điều quan trọng là phải lựa chọn những phương tiện phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ trong cả quá trình dạy và học
1.4.5 Một số nguyên tắc sư phạm trong việc tạo và sử dụng PTDH
PTDH có ý nghĩa to lớn như trên đã trình bày, song không phải tự thân nó có toàn bộ ý nghĩa đó Nói cách khác là không phải cứ sử dụng PTDH là có tác dụng dạy học - giáo dục mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc người GV sử dụng nó như thế nào, vào cách nghiên cứu, chế biến tài liệu dạy học với việc sử dụng phương tiện đó mà họ sẽ tiến hành
Trang 32Tiết học với việc sử dụng những phương tiện kỹ thuật dạy học đó là một kiểu tiết học mới mà trong đó bắt buộc người GV phải sử dụng PPDH phù hợp với chúng Những PTDH, đặc biệt là những phương tiện kỹ thuật dạy học, làm thay đổi cấu trúc và cả nhịp điệu tiết học và kết quả dẫn tới là làm thay đổi vị trí người GV trong tiết học Đồng thời điều đó đòi hỏi trình độ lành nghề của người GV cao Hiệu quả sử dụng những PTDH càng lớn khi họ có trình độ nghiệp vụ càng cao Để sử dụng PTDH có hiệu quả, GV phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
1.4.5.1 Nguyên tắc an toàn
Các PTKT DH thường được sử dụng với điện áp cao, cường độ ánh sáng lớn
và độ khuyếch đại âm thanh có thể lớn hơn mức cần thiết, vì vậy cần chú ý các nội dung an toàn sau:
An toàn về điện
- Những người sử dụng và bảo dưỡng PTDH cần phải có kỹ năng an toàn và
sơ cứu điện giật
- Các thiết bị nghe nhìn cần có dây cắm nguồn tiếp địa để tránh điện giật do điện áp cao rò ra vỏ thiết bị
- Cần chú ý đặc biệt những khu vực có ghi ký hiệu điện cao áp
- Không tự động mở vỏ bảo vệ thiết bị Trong trường hợp cần mở, cần rút phích cắm điện
- Khi không dùng PTKT DH trong thời gian dài cần rút phích cắm ra khỏi ổ điện
An toàn thị giác
- Một số PTDH (như máy chiếu qua đầu, slide ) có cường độ chiếu sáng rất lớn có thể gấp nhiều lần cường độ ánh sáng mà mắt người có thể chịu đựng trong thời gian ngắn Vì vậy, tránh để cho ánh sáng các phương tiện trên chiếu thẳng mắt
GV và SV trong khoảng cách gần
- Một số thiết bị như thiết bị chiếu vật thể (sử dụng theo nguyên tắc phản quang) có tấm phủ bảo vệ lọt sáng Khi sử dụng cần sử dụng tấm phủ và tuân thủ qui trình sử dụng
An toàn thính giác
Trang 33- Một số PTKT DH có thể có hệ thống khuyếch đại ngoài rất lớn, tuỳ theo kích thước của phòng học và vị trí học viên, cần điều chỉnh âm lượng (volume) đủ nghe Cường độ âm thanh vượt quá 55dBA (đối với phòng học, phòng hội họp)
- Các điều kiện về kích thước bảng, bàn ghế, ánh sáng, độ ẩm, an toàn điện trong phòng học có sử dụng PTDH cần tuân thủ các tiêu chuẩn về nhân trắc và đồ dùng, thiết bị dạy học của Việt Nam
1.4.5.3 Nguyên tắc hiệu quả
Hiệu quả sư phạm và hiệu quả kinh tế cần được cân nhắc khi sử dụng PTDH
Trang 34- Cố gắng sử dụng tối đa khả năng kiểm tra đánh giá của PTDH
Lựa chọn sử dụng phương tiện khi biết rõ việc sử dụng nó có hiệu quả
- Phương tiện kỹ thuật dạy học được lựa chọn phải đảm bảo nâng cao chất lượng của giờ dạy học, hỗ trợ hoạt động của GV và SV
Quản lý
- Cần có phòng hoặc nơi chuyên cất giữ, bảo quản PTKT DH Các phòng này cần có nội qui sử dụng
- Cần có cán bộ chuyên trách về phòng PTKT DH như cán bộ chịu trách nhiệm quản lý phòng máy tính, phòng ngoại ngữ, phòng cất giữ bảo quản, thiết bị, phương tiện nghe nhìn…
- Cần có kế hoạch sử dụng PTDH Kế hoạch này cần được xây dựng trên nguyên tắc thống nhất giữa nhu cầu hiện tại, dự báo tương lai và khả năng hỗ trợ của cơ sở đào tạo Kế hoạch cần được thể hiện thành văn bản và có sự chấp thuận
và hỗ trợ của lãnh đạo cơ sở đào tạo
Khuyến khích sử dụng tối đa PTDH trong điều kiện cho phép
Công việc lập kế hoạch, tổ chức và triển khai sử dụng PTKT DH trong một cơ
sở đào tạo xây dựng các bước triển khai cũng như khuyến khích GV trong cơ sở sử
Trang 35dụng PTDH; xây dựng tiến trình cho giờ giảng hoặc khoá học; lập dự trù mua sắm
vật liệu
Ngoài ra, còn phải đảm bảo nguyên tắc: đảm bảo tính sẵn sàng của các loại phương tiện, đồng thời GV phải tự sưu tầm, tìm kiếm thêm hoặc khuyến khích người học mang tài liệu đồ dùng học tập đến lớp; nguyên tắc đảm bảo yêu cầu học tập; nguyên tắc nắm vững nội dung học tập
1.4.6 Khả năng dạy học bằng máy tính điện tử
1.4.6.1 Các khả năng cơ bản của MTĐT
Trong CNTT, MTĐT là một bộ phận chính đóng vai trò chủ đạo trong việc giao tiếp và thu nhận thông tin Do vậy, nó đã có ở hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Sở dĩ như vậy vì nó có khả năng ưu việt sau:
- MTĐT là thiết bị tạo ra, lưu trữ trong máy và hiển thị lại lên màn hình một khối lượng thông tin vô cùng lớn dưới dạng văn bản, hình ảnh,… mà con người có thể tiếp nhận được Hơn nữa, việc truy cập thông tin hết sức dễ dàng, nhanh chóng, chính xác, tiện lợi và rẻ tiền hơn ở mọi phương tiện thông thường khác
- MTĐT có khả năng tính toán, xử lý cực nhanh các phép tính với độ chính xác cao Chức năng ưu việt này, giúp cho con người thực hiện những khối lượng công việc tính toán vô cùng lớn trong khoảng thời gian vô cùng nhỏ Mặt khác, các
dữ liệu thu thập được qua tính toán, xử lý, cho ra các kết quả được hiển thị dưới dạng chuẩn như: biểu bảng, biểu đồ, đồ thị,…tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu
- MTĐT còn tạo ra xã hội mới với đặc thù đặc biệt – xã hội nối mạng (Networking Social) Với xã hội được nối mạng, mọi thành viên đều được nối với nhau bằng mạng máy tính toàn cầu Mọi cá nhân đều có thể liên lạc với nhau bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu Thành tựu tạo ra sự thay đổi đó chính là Internet Internet
là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn thế giới
- MTĐT còn có thể tạo ra được một thế giới ảo Thế giới ảo trong đó không chứa đựng các đối tượng vật lý cụ thể mà chỉ là những biểu tượng về những đối tượng vật chất Thế giới ảo đang ngày càng phát triển và tác động sâu sắc tới từng
Trang 36thành viên của nhân loại, nó làm phong phú và đa dạng hơn môi trường sống của con người
- Nhờ phần mềm thông qua MTĐT có thể điều khiển hoàn toàn tự động các quá trình theo chương trình cài đặt sẵn
1.4.6.2 Các khả năng hỗ trợ của máy tính điện tử trong dạy học
Nhờ những ưu điểm nổi trội, hiện nay, MTĐT đã được ứng dụng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đối với ngành giáo dục đào tạo, khi khai thác có hiệu quả, nó có thể hỗ trợ được tất cả các khâu của quá trình dạy học như truyền đạt tri thức, rèn luyện kỹ năng, ôn tập củng cố, kiểm tra, đánh giá
Vậy, MTĐT có những khả năng hỗ trợ cơ bản nào trong quá trình dạy học?
* Khả năng hỗ trợ khâu truyền đạt và lĩnh hội tri thức mới
Trong hoạt động dạy học, hoạt động dạy là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của SV, mà một trong các nhiệm vụ tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của SV là việc tổ chức điều khiển SV tri giác trực tiếp những hiện tượng, đối tượng được nghiên cứu Điều này bắt nguồn từ vai trò của nhận thức cảm tính trong quá trình nhận thức Nhận thức cảm tính cung cấp tài liệu cho quá trình tư duy, tư duy phải dựa trên những tài liệu cảm tính, trên những kinh nghiệm trên cơ
sở trực quan sinh động Nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệ trực tiếp giữa tư duy với hiện thực, là cơ sở của những khái quát kinh nghiệm dưới dạng các khái niệm, các quy luật Do đó, Lê nin đã đưa ra công thức nổi tiếng về quá trình nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan” Xét toàn bộ quá trình nhận thức chung của loài người cũng như của
SV đều thể hiện theo công thức đó, song trong từng giai đoạn cụ thể, tùy theo điểm xuất phát trong quá trình nhận thức mà có thể đi từ cụ thể đến trừu tượng hoặc từ trừu tượng đến cụ thể
MTĐT tạo ra môi trường đa phương tiện với nhiều hình thức biểu diễn khác nhau như: văn bản, hình ảnh (biểu bảng, biểu đồ, ảnh tĩnh, động,…) và âm thanh được trình bày theo một kịch bản đã dựng sẵn, nhằm đạt hiệu quả tối đa qua quá trình học tập đa giác quan Nó được lưu giữ lại và trình diễn cho SV, làm cho nội
Trang 37dung tri thức trở nên dễ nhớ, dễ hiểu và nhớ lâu hơn, vì độ bền vững của tri thức chỉ
có thể đạt được khi người học tiếp thu chúng bằng nhiều con đường khác nhau dưới nhiều hình thức khác nhau Trong công tác nghiên cứu, với những đối tượng không thể quan sát trực tiếp được như các hệ vi mô, vĩ mô, các quá trình biến đổi quá nhanh hoặc quá chậm, sự nguy hiểm hoặc không có thiết bị,… thì con người thường
sử dụng phương pháp mô hình hóa để mô tả một cách đơn giản, gần đúng cấu trúc vật chất Sau đó cho mô hình vận động theo những quy luật của đối tượng thật Quá trình này gọi là sự mô phỏng Nhờ việc xây dựng chính xác các mô hình đó trên máy tính dưới sự trợ giúp của các phần mềm điều khiển, người ta có thể mô phỏng một cách sinh động, trung thực và đầy thuyết phục các đối tượng thực cần nghiên cứu như: sự chuyển động của một hành tinh trong hệ mặt trời, của một điện tử quay xung quanh hạt nhân, sự vận hành của hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, sự phát triển của một loài cây từ khi gieo hạt tới khi ra hoa kết quả,…làm cho nội dung của nó trở nên dễ hiểu, dễ nhớ
Trên cơ sở tri giác tài liệu trực quan (tri giác mô hình, hình ảnh tĩnh, động, âm thanh,… từ MTĐT), SV xây dựng biểu tượng chính xác làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm, SV tiến hành các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa để hình thành khái niệm, phán đoán, suy lý và qua đó, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện hơn
* Khả năng điều khiển, kiểm tra
MTĐT tự động lưu giữ và đánh giá kết quả học tập của SV bao gồm cả mặt mạnh, mặt yếu và ghi lại thời gian SV trả lời câu hỏi, kịp thời đưa ra các thông tin phản hồi bao gồm các yêu cầu, hướng dẫn, những nội dung kết quả trả lời của SV,… Như vậy, MTĐT cho GV và SV là bức tranh chính xác về sự tiến bộ của SV trong quá trình tiếp thu tri thức Qua đó, giúp GV kịp thời điều khiển phương pháp giảng dạy và sửa chữa cho từng SV, giúp SV tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình cho phù hợp và hiệu quả
Việc kiểm tra kiến thức của SV bằng MTĐT luôn đảm bảo được tính công bằng, chính xác, khách quan, nhờ đó mà tính trung thực của SV cũng được rèn luyện Dạy học bằng MTĐT đã góp phần giáo dục nhân cách người lao động mới
Trang 38Như vậy, MTĐT được xem là một phương tiện kiểm tra có nhiều thế mạnh hơn các phương tiện truyền thông khác, luôn đảm bảo mối liên hệ ngược trong, ngược ngoài, điều khiển, điều chỉnh kịp thời hoạt động học tập của SV
MTĐT tạo điều kiện cho người học hoạt động độc lập tới mức độ cao, tách xa thầy giáo trong khoảng thời gian dài mà vẫn đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học Do đó, việc sử dụng MTĐT trong quá trình dạy học dẫn tới kiểu dạy học mới – dạy học cá thể hóa Mỗi SV ngồi trước màn hình có thể học theo tiến độ riêng, không cần sự giám sát trực tiếp của GV, người này không phụ thuộc vào người kia
Với dạy học bằng MTĐT, SV không bị hạn chế học tập theo một thời khóa biểu, theo không gian học tập ở trên lớp Các em có thể học ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ lúc nào, có thể ở nhà máy, ở xưởng trường, vườn trường, có thể đặt máy vi tính ở phòng nghỉ trong giờ ra chơi, SV có thể tìm kiếm tri thức, rèn luyện kỹ năng, giải trí thông qua các trò chơi học tập
Như vậy, dạy học bằng MTĐT là hình thức dạy học theo nhu cầu Sự hòa nhập giữa CNTT&TT dẫn tới hình thành những mạng máy tính, đặc biệt là Internet cung cấp những thông tin và tri thức khổng lồ GV và SV có thể sử dụng cơ sở dữ liệu của mạng, tra cứu sách, tư liệu ở ngân hàng dữ liệu trung tâm, trích đọc, trích in những phần cần thiết một cách nhanh chóng và thuận tiện Nhờ có MTĐT, người học có thể giao lưu với nhau không bị hạn chế bởi thời gian và khoảng cách, có thể dạy học từ xa và mang tính chất giao tiếp chủ động MTĐT tạo điều kiện cho việc thực hiện những ý tưởng vĩ đại trong giáo dục như học mọi nơi, mọi lúc, học suốt đời, nâng cao tính nhân văn, dân chủ của nên giáo dục MTĐT có thể giúp người học ở mọi lúc, mọi nơi đều có khả năng chinh phục khoảng cách, tiếp thu nội dung giáo dục hiện đại nhất ở địa điểm tùy ý Họ có thể tùy chọn chương trình học, chọn thầy dạy, có thể học không chỉ một thầy giỏi, có thể giao lưu với nhiều bạn học ở những nơi khác nhau Vì thế mọi SV trên lãnh thổ đều có điều kiện tiếp thu chương trình học, thậm chí thầy học như nhau
Với MTĐT, GV có thể cài đặt trên mạng những bài dạy mẫu, có thể dạy học cho cả lớp hoặc chia lớp thành nhiều nhóm hội thoại với nhau Thông qua mạng,
Trang 39GV có thể hướng dẫn, kiểm tra từng nhóm, từng SV Mạng cho phép hội thoại giữa
GV với SV và SV với nhau
Khả năng liên lạc của MTĐT được sử dụng nhiều trong các trường hợp mà mối liên lạc trực tiếp giữa người dạy và người học gặp nhiều khó khăn Khi đó, các bài học, bài tập, bài kiểm tra,…được gửi và nhận được dạng các thư điện tử Với sự phát triển rộng rãi của mạng Internet và hệ thống đa phương tiện thì khả năng này của MTĐT càng được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết
* Khả năng hỗ trợ công tác luyện tập và rèn luyện kỹ năng
MTĐT với các phần mềm dạy học để luyện tập thông qua hệ thống các bài tập, hệ thống bài tập có thể lặp lại vô hạn cho đến khi SV nắm vững tri thức, rèn luyện và củng cố vững chắc kỹ năng, kỹ xảo cần hình thành
Trong quá trình SV làm việc trên máy tính, máy thu nhận những thông tin về diễn biến của kết quả học tập Do đó, SV có thể rèn luyện kỹ năng với nhịp độ hoàn toàn phù hợp với khả năng của mình, tránh trường hợp SV khá mất thời gian chờ đợi SV kém hoặc SV kém phải cố gắng gượng bỏ qua những thao tác mà mình chưa nắm vững để theo kịp SV khá,…
Luyện tập hình thành kỹ năng trên MTĐT giúp SV có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với thực tiễn như: quan sát các thí nghiệm thực, các tiết học cụ thể, các hoạt động ngoại khóa… đã được chụp ảnh hoặc quay phim trước khi làm việc với đối tượng thực, giúp tiết kiệm được thời gian chuẩn bị của thầy và nghiên cứu của trò Việc tạo ra các vi thế giới chỉ tồn tại trên MTĐT mà quy luật vận động của chúng tuân theo quy luật vận động của thế giới thực đã tạo ra những khả năng tốt phát huy tính độc lập, tự giác, chủ động, sáng tạo của SV Các sự vật hiện tượng cần được tái tạo, khảo sát quá trình vận động của chúng, nêu các giả thuyết để giải thích kiểm tra, khẳng định tính đúng đắn hay bác bỏ giả thuyết, rút ra kết luận là những tri thức khoa học mới và sau đó vận dụng vào thực tiễn,… SV có thể tiến hành cả quá trình
đó trên môi trường vi thế giới Bên trong khả năng này là tư tưởng, là những cơ sở tâm lý của việc sử dụng các PPDH hiện đại: dạy học nêu và giải quyết vấn đề, dạy học thông qua hoạt động Đó cũng chính là một trong các hướng của việc đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay
Trang 40* Những khả năng khác
Ngoài những khả năng trên, MTĐT còn được dùng để tạo ra những trò chơi hết sức phong phú, giúp cho SV có thể vừa giải trí, vừa học tập Qua đó có thể hình thành động cơ học tập, gây hứng thú, làm giàu hoặc củng cố nhận thức cho SV, rèn luyện tốc độ phản ứng, khả năng phán đoán, phát triển năng lực trí tuệ,…MTĐT còn được dùng như công cụ phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và công tác quản
lý trong ngành giáo dục
1.4.6.3 Những mặt hạn chế của máy tính điện tử trong dạy học
Nếu SV chỉ giao tiếp với máy, tách rời hoàn toàn với bạn bè và GV thì nó đã xóa bỏ quan hệ SV và xã hội nên được coi là dạy học phi nhân cách, phi xã hội Như vậy theo quan điểm Tâm lý học và Giáo dục học Mác xit thì dạy học bằng MTĐT có thể làm phương hại đến sự hình thành nhân cách của SV Mặt khác, sử dụng MTĐT trong dạy học có hiệu quả không những đòi hỏi GV phải có năng lực
sư phạm cao, mà còn đòi hỏi SV phải có thói quen học theo kiểu CNTT (nên phải cần thời gian dài cho việc hình thành thói quen đó) Thậm chí, nếu lạm dụng việc sử dụng MTĐT trong dạy học thì sẽ làm phân tán chú ý của SV Chính vì vậy, chỉ nên coi MTĐT là phương tiện hỗ trợ trong quá trình dạy học, chứ không thể thay thế hoàn toàn GV
Tóm lại: Do khả năng thu nhận, lưu trữ, xử lý, cung cấp và trình diễn thông
tin dưới nhiều hình thức khác nhau (văn bản, hình ảnh, âm thanh,…) nên khả năng được coi là nổi bật và có tính đặc thù của MTĐT là khả năng hỗ trợ công tác truyền đạt và lĩnh hội tri thức mới Khả năng của MTĐT đối với quá trình dạy học ngày càng được mở rộng, hỗ trợ tốt cho mọi giai đoạn của tiến trình dạy học và trở thành phương tiện tạo nên một “Môi trường giáo dục có tính tương tác cao”, đáp ứng được yêu cầu mới của “Nền giáo dục điện tử”, của “Một xã hội học tập”
1.5 Thực trạng về dạy học môn Tin học đại cương ở trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Vĩnh Phúc
1.5.1 Vai trò và vị trí môn Tin học đại cương trong chương trình đào tạo nghề Kỹ thuật sửa chữa và lắp ráp máy tính ở trường Cao đẳng nghề Việt Xô số
1, Vĩnh Phúc