Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 nhằm quán triệt và cụ thể hoá các chủ trương, định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
Trang 1Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành PGS TS Đặng Danh Ánh -
người đã trực tiếp hướng dẫn, dành nhiều thời than, công sức để chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn
Để hoàn thành luận văn, tôi xin ghi nhận và cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo, Phòng Tổ chức Hành chính – Quản trị, các đồng chí cán bộ quản lý, các đồng chí giáo viên và các em học sinh sinh viên Nhà trường, các đồng trí cán bộ quản lý ngoài doanh nghiệp, cùng bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu vừa qua;
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Lưu Văn Tiến
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Lưu Văn Tiến
Sinh ngày: 04/02/1980
Nghề nghiệp: Chuyên viên Phòng Đào tạo
Tôi xin cam đoan những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như những ý tưởng của tác giả khác nếu có được trích dẫn cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một Hội đồng bảo về luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Lưu Văn Tiến
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Nghề - Đào tạo nghề
1.1.2 Chất lượng - Chất lượng đào tạo nghề
1.1.3 Hiệu quả - Hiệu quả đào tạo nghề
1.1.4 Quản lý - Quản lý chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề
1.2 Đặc điểm đặc trưng của hiệu quả đào tạo nghề
1.2.1 Mối quan hệ giữa chất lượng đào tạo và hiệu quả đào tạo
1.2.2 Phân loại hiệu quả đào tạo
1.2.3 Hiệu quả đào tạo nghề là các chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá chất lượng
Trang 41.3.1 Quản lý mục tiêu và nội dung đào tạo
1.3.2 Quản lý giáo viên và học sinh, sinh viên
1.3.3 Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo
1.3.4 Quản lý chất lượng đào tạo
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo nghề
1.4.1 Yếu tố chủ quan
1.4.2 Yếu tố khách quan
Kết luận chương 1
Chương II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ
2.2 Thực trạng hiệu quả đào tạo nghề
2.2.1 Thực trạng chất lượng đầu vào, quá trình đào tạo và kết quả tốt nghiệp
2.2.2 Thực trạng hiệu quả đào tạo trong
2.2.3 Thực trạng hiệu quả đào tạo ngoài
2.3 Thực trạng hiệu quả quản lý công tác đào tạo nghề
2.3.1 Thực trạng quản lý mục tiêu, nội dung đào tạo
2.3.2 Thực trạng quản lý giáo viên và học sinh, sinh viên
2.3.3 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo
2.3.4 Kết quả đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ
Trang 52.3.5 Nguyên nhân của những hạn chế trong hiệu quả đào tạo nghề ở Trường
CĐN kỹ thuật công nghệ
Kết luận chương 2
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGHỀ
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ.
3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo
3.2.1 Xây dựng và thực hiện các chỉ tiêu về hiệu quả đào tạo
3.2.2 Đổi mới công tác quản lý mục tiêu, nội dung chương trình và đổi mới
phương pháp giảng dạy
3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác xây dựng bộ máy tổ chức, đội ngũ nhân
lực và nề nếp quản lý của Nhà trường
3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và hiệu quả sử dụng
3.2.5 Thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo
3.2.6 Xây dựng mối liên hệ Nhà trường và Doanh nghiệp nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề dáp ứng được nhu cầu của xã hội
3.3 Khảo nghiệm lấy ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên về mức độ cần
thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Trang 7Bảng 2.4 Chất lượng đầu vào của SV hệ CĐN Điện Công nghiệp niên
khóa 2011-2014
54
Bảng 2.5 Chất lượng học tập của sinh viên cao đẳng nghề Điện công
Bảng 2.6 Chất lượng tốt nghiệp của sinh viên cao đẳng nghề Điện công
Bảng 2.7 Bảng tỷ lệ sinh viên CĐN Điện công nghiệp niên khóa
2011-2014 có việc làm sau khi tốt nghiệp
60
Bảng 2.8 Bảng tỷ lệ sinh viên CĐN Điện công nghiệp niên khóa
2011-2014 có việc làm đúng nghề so với số lượng sinh viên tốt nghiệp có việc làm
61
Bảng 2.9 Bảng đánh giá của doanh nghiệp, người sử dụng lao động đối
với sinh viên CĐN Điện công nghiệp đang làm việc tại các doanh nghiệp
61
Bảng 2.10 Tình hình triển khai, thực hiện mục tiêu, kế hoạch và chương
Bảng 2.11 Số lượng và trình độ đội ngũ giáo viên 68
Bảng 2.12 Trình độ tin học, Ngoại ngữ, Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm
Bảng: 2.14 Học sinh đánh giá đội ngũ giáo viên 71
Bảng 2.15 Cán bộ quản lý đánh giá đội ngũ giáo viên 71
Bảng 2.18 Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo 76
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các giải pháp 105
Hình 3.1 Biểu đồ tổng hợp tính cấp thiết của các giải pháp 106
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp 111
Hình 3.2 Biểu diễn tổng hợp tính khả thi của các giải pháp 112
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt và giáo dục và đào tạo có
sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã định hướng: "Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược", [5] Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 nhằm quán triệt và cụ thể hoá các chủ trương, định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011
Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ, trong quá trình thành lập và hoạt động của mình, nhà trường đã góp phần cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội nói chung, trên phạm vi địa bàn huyện Đông Anh, Hà Nội và các vùng lân cận nói riêng Hiện nay Nhà trường muốn phát triển thành trường trong tương lai không xa trở
Trang 9thành trường trọng điểm quốc gia và là một trong 40 trường chất lượng cao và đạt chuẩn của khu vực
Trong những năm qua, mặc dù đại đa số học sinh sinh viên tốt nghiệp của trường đã được các doanh nghiệp chấp nhận, song một số bộ phận không nhỏ trong đó tay nghề chưa thành thạo, vi phạm quy trình công nghệ, năng xuất lao động thấp, còn thờ ơ với công việc, tác phong công nghiệp kém, tính mọi chi phí vào thì thấy hiệu quả đào tạo thấp do công tác quản lý còn hạn chế, lúng túng trong cách đánh giá chất lượng, hiệu quả đào tạo, mặc dù tỷ lệ tốt nghiệp có thể cao Vì những lí do này nên tác
giả đã chọn đề tài nghiên cứu "các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ"
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý công tác đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ
- Đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề
kỹ thuật công nghệ
4.2 Đối tượng nghiên cứu:
Các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ
Trang 105 Giả thuyết khoa học
Hiện nay công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ còn một số vấn đề tồn tại, hạn chế như đã nêu trên, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Nếu nghiên cứu đề xuất được các giải pháp quản lý đào tạo nghề phù hợp với đặc thù riêng của nhà trường thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Với đề tài trên, luận văn chỉ đề cập tới lĩnh vực quản lý giáo dục(không phải là lĩnh vực giáo dục học) nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề
+ Tính số sinh viên tốt nghiệp từ tháng 7/2014 đến tháng 02/2015
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, … các tài liệu, các văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sách, tài liệu về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, về quản lý giáo dục, quản lý đào tạo nghề, chủ trương đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ lao động thương
Trang 117.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Thông qua các phiếu thăm dò, tìm hiểu thực tế, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá để rút ra nhận xét, kết luận
- Quan sát cách thức tổ chức quản lý hoạt động đào tạo để nắm bắt tình hình thực tế, phân tích rút ra nhận xét, kết luận
- Phân tích và tổng kết kinh nghiệm để tìm ra các giải pháp hoàn hảo hơn, trên
cơ sở phân tích những giải pháp, kinh nghiệm đã có từ thực tiễn
- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu giúp cho việc nghiên cứu đúng hướng, đúng đích
7.3 Phương pháp thống kê, lập bảng, tổng kết đánh giá
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG LUẬN VĂN
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng hiệu quả quản lý công tác đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ
Chương 3: Các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghê
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 12Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Nghề - Đào tạo nghề
* Nghề
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghề
Theo nghĩa rộng, dưới góc độ hướng nghiệp, Nhà bác học Nga E.A.Climốp định
nghĩa như sau: “Nghề là nhóm các chuyên môn gần nhau Còn chuyên môn là một
dạng hoạt động mà trong đó con người dùng trí lực và thể lực cuả mình tạo ra những phương tiện cần thiết cho xã hội tồn tại và phát triển”, [1; tr49].
Theo nghĩa hẹp, Đặng Danh Ánh cho rằng: “Nghề là làm một việc nào đó theo
sự phân công của xã hội, [1; tr49]. Nhưng ông lại khái quát rằng có hai loại chính:
nghề xã hội và nghề dào tạo “Nghề xã hội là nghề không phải đào tạo chuyên biệt”,
[1; tr49]; “nghề đào tạo là môt nghề theo nghĩa chung, nhưng để hoàn thành một nhiệm vụ theo sự phân công lao động xã hội thì người lao động phải được đào tạo theo một nội dung, trong một thời gian nhất định trước khi tham gia vào lao động xã hội”,
[1; tr117], “có thể là ngắn hạn tại cơ sở sản xuất , trung tâm dạy nghề, có thể là dài hạn tại trường”, [1; tr63” ].
Còn theo Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm
theo sự phân công lao động xã hội”, [20; tr654].
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như dạng lao động vừa mang tính xã hội(sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu xã hội) trong
đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân
Trang 13Nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại Nghề là cơ sở giúp cho con người có “nghiệp” – việc làm, sự nghiệp
Cũng có thể nói nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi con người phải có một quá trình đào tào chuyên biệt để có những kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo nhất định
Tóm lại, tác giả cho rằng: Nghề là một lĩnh vực hoạt động mà trong đó, nhờ
được đào tạo, con người có tri thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội Còn
chuyên môn là lĩnh vực lạo động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc ) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội
* Đào tạo:
Đào tạo là quá trình trang bị tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành nhân cách người lao động, chuẩn bị cho các cá nhân tham gia vào hoạt động lao động cụ thể, chuyên nghiệp trong xã hội
Nói cách khác, Đào tạo là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục cho học sinh, sinh viên Đây là công việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, tổ chức thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, giám sát, đánh giá, kiểm tra, tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp cùng các quy trình đánh giá khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng ở lĩnh vực đào tạo chuyên nghiệp ở các cơ sở đào tạo nghề nghiệp
* Đào tạo nghề
Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề (Dạy nghề) Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái niệm:
Trang 14Tác giả William Mc Gehee cho rằng: Dạy nghề là những qui trình mà các công
ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty
Ông Max Forter(1979) đưa ra khái niệm Dạy nghề là đáp ứng bốn điều kiện:
+ Gợi ra những giải pháp cho người học
+ Phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ
+ Tạo ra sự thay đổi trong hành vi
+ Đạt được những mục tiêu chuyên biệt
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: Dạy nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp được giao
Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số
76/2006/QH11.Trong đó viết: “ Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến
thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc từ tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [13, tr02]
Qua đó, ta có thể thấy Dạy nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc Dạy nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để từ đó họ
có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp, hoặc có thể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân
Hiện nay, Dạy nghề mang tính tích hợp giữa lí thuyết và thực hành Sự tích hợp thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi người học sinh hôm nay, người thợ trong tương lai phải vừa chuyên sâu về kiến thức, vừa phải thành thục về kỹ năng tay nghề Đây là điểm khác
Trang 15Dạy nghề cung cấp cho học sinh những kiến thức và kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết của một nghề Về kiến thức học sinh hiểu được cơ sở khoa học về vật liệu, dụng cụ, trang thiết bị, quy trình công nghệ, biện pháp tổ chức quản lí sản xuất để người công nhân kỹ thuật có thể thích ứng với sự thay đổi cơ cấu lao động trong sản xuất và đào tạo nghề mới Học sinh được cung cấp kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp như kỹ năng sử dụng công cụ gia công vật liệu, các thao tác kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán, thiết kế và khả năng vận dụng vào thực tiễn Đó là những cơ sở ban đầu để người học sinh- người cán bộ kỹ thuật tương lai hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát huy tính sáng tạo hình thành kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp
Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: Học đi đôi với hành; lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp của người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện
Dạy nghề hiện nay có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề Hình thức dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy, dạy nghề thường xuyên
*Đặc điểm của đào tạo nghề
- Đào tạo nghề là hình thành nhân cách người lao động mới Thông qua quá
trình đào tạo giúp người học có được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp nhất định để có thể làm việc theo nghề nghiệp đó sau khi ra trường; đồng thời giáo dục cho người học những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất
- Đào tạo nghề gắn liền với quá trình sản xuất Đây là đặc điểm cơ bản nhất
Trong quá trình dạy – học, người học muốn nắm được nội dung nghề nghiệp thì phải trực tiếp nhìn thấy quá trình sản xuất hay ít nhất thấy được mô hình của nó Muốn đào tạo nghề có kết quả phải có một số điều kiện cơ bản sau: Máy móc, thiết bị, nguyên vật
Trang 16liệu, quỹ thời gian để luyện tay nghề, có đội ngũ giáo viên dạy lý thuyết và thực hành vừa giỏi chuyên môn kỹ thuật, vừa giỏi nghiệp vụ sư phạm Ngoài ra phải tính đến việc
sử dụng các thành tựu kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất theo khoa học Thiếu những điều kiện này, đào tạo nghề không thể đạt hiệu quả cao
- Đào tạo nghề là đào tạo thực hành sản xuất Nội dung giảng dạy bao gồm cả
lý thuyết và thực hành, nhưng thời gian thực hành sản xuất giữ vai trò chủ đạo và chiếm khoảng 2/3 thời gian đào tạo Nội dung dạy lý thuyết và thực hành được phản ánh trong kế hoạch giảng dạy và chương trình môn học Hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, liên tục đổi mới công nghệ sản xuất Vì thế, trong vòng 5 đến 7 năm phải xây dựng danh mục nghề đào tạo một lần Đây là điểm khác biệt giữa đào tạo nghề với giáo dục phổ thông
1.1.2 Chất lượng - Chất lượng đào tạo nghề
1.1.2.1 Chất lượng
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các cơ sở đào tạo, việc phấn đấu nâng cao chất lượng bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở giáo dục đào tạo Mặc dù, có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng vẫn là khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường do hiểu của người này cũng khác với cahcs hiểu của người kia Khái niệm chất lượng là một vấn đề phức tạp,
đã có nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này diễn ra tại các diễn đàn khác nhau
mà nguyên nhân của nó là thiếu một cách hiểu thống nhất về bản chất của vấn đề Dưới đay là một số quan điểm về chất lượng trong giáo dục đào tạo
Theo quan điểm của Hồ Văn Vĩnh[21]:“Theo quan điểm triết học, chất được
hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật
và hiện tượng, là sự thống nhất của các thuộc tính, làm cho nó là nó và phân biệt nó với những cái khác Còn lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính vốn
Trang 17số lượng các thuộc tính của nó”
Theo từ điển Tiếng Việt: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một
con người, một sự vật, một sự việc” [20, tr139].
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng thì: chất lượng là tổng thể những tính chất,
thuộc tính cơ bản của sự vật(sự việc).v.v làm cho sự vật(sự việc) này phân biệt với sự vật(sự việc) khác”.
Theo bài giảng môn Quản lý chất lượng giáo dục nghề nghiệp[22] của PGS.TS Ngô Tứ Thành – Viện Sư phạm Kỹ thuật – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thì:
Khái niệm hiện nay:
Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn
Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn
Theo tiêu chuẩn NFX 50(CH Pháp): Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ thỏa mãn nhu cầu người sử dụng
Theo TQM: chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo các mục tiêu đề ra
Như vậy, chất lượng được xem là khái niệm tổng hợp, được thể hiện ở sự phát
triển, sự phân biệt, sự thể hiện phẩm chất hay giá trị, sự tuyệt vời, sự thích hợp, sự
Trang 18thoả mãn nhu cầu, cũng như sự biến đổi về chất
Theo tác giả Lê Đức Ngọc và Lâm Quang Thiệp (ĐHQGHN): “chất lượng đào
tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo”
Theo tác giả Trần Khánh Đức [8] “Chất lượng giáo dục là kết quả của quá trình
đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể”
Hiện nay, còn có cách hiểu khác nhau về khái niệm chất lượng đào tạo, do từ
“chất lượng” được dùng chung cho cả hai quan niệm: Chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối
Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “Chất lượng” được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được Nó được dùng với nghĩa chất lượng cao, hoặc chất lượng hàng đầu
Với quan niệm chất lượng tương đối thì được hiểu theo hai khía cạnh: thứ nhất
là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề ra, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “Chất lượng bên trong” Thứ hai, chất lượng được xem là sự thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi của người tiêu dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”
Tóm lại: Chất lượng là một khái niệm động nhiều chiều và nhiều học giả cho
rằng không cần thiết phải tìm cho nó một định nghĩa chính xác Tuy vậy, việc xác định một số cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này là điều nên làm và có thể làm được
Trang 191.1.2.2 Chất lượng đào tạo nghề
Theo quan điểm của Nguyễn Cảnh Hồ:“Chất lượng đào tạo là kết quả tổng
hợp của nhiều hoạt động thuộc hai quá trình: quá trình giảng dạy – giáo dục và quá trình các hoạt động bảo đảm (tức là các hoạt động nhằm tạo điều kiện về chính trị, tinh thần về tổ chức quản lý, và cung cấp các phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết cho quá trình giảng dạy – giáo dục) Mỗi quá trình nói trên bao gồm nhiều quá trình
bộ phận, và mỗi quá trình bộ phận lại bao gồm những quá trình nhỏ hơn”[9, tr23]
Theo khái niệm truyền thống: “Một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm được
làm ra một cách hoàn thiện bằng các vật liệu qúy hiếm và đắt tiền Nó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho người sở hữu nó”
Còn nếu để xét chất lượng của một khóa học nghề cụ thể thì chất lượng đào tạo
sẽ được xem xét trên góc độ là khối lượng kiến thức, kỹ năng thái độ mà khóa học đã cung cấp, mức độ tiếp thu, sử dụng các kiến thức và kỹ năng, thái độ của HSSV sau
khóa học mà cụ thể: “ Chất lượng đào tạo là mức độ đạt được các yêu cầu của mục
tiêu đào tạo, tức là mức độ đạt được trong sự chuyển biến nhân cách của học sinh, theo các nội dung yêu cầu quy định trong mục tiêu đào tạo của từng nghề học”, [9, tr
73]; và “Chất lượng đào tạo được biểu hiện ở kết quả của quá trình đào tạo những
khóa học sinh”, [9, tr73]
Quan niệm chất lượng đào tạo nghề là hiệu quả của việc đạt mục đính của nhà trường
Một quan niệm khác coi: “chất lượng đào tạo là sự đáp ứng nhu cầu của khách
hàng – chính là người sử dụng lao động sau đào tạo” Điều này đòi hỏi khi thiết kế
một sản phẩm hay dịch vụ, yếu tố quyết định là xác định nhu cầu của khách hàng, để sản phẩm có được những đặc tính mà khách hàng mong muốn và với giá cả mà họ sẽ hài lòng trả
Trang 20Chất lượng đào tạo nghề được hiểu là một tiêu thức phản ánh các mức độ của kết quả hoạt động giáo dục và hoạt động đào tạo có tính liên tục từ khởi đầu quá trình đào tạo nghề đến kết thúc quá trình đó
Chất lượng đào tạo nghề không được xem ở khâu cuối cùng, ở kết quả cuối cùng của quá trình đào tạo Theo lí thuyết điều khiển học, nếu xem chất lượng đào tạo là
“đầu ra” thì “đầu ra” không tách khỏi được “đầu vào” mà nó được nằm trong hệ thống với khâu giữa là quá trình đào tạo(hoạt dộng dạy và hoạt động học) của thầy và trò
Khái niệm chất lượng đào tạo nghề liên quan chặt chẽ với khái niệm hiệu quả đào tạo nghề, nếu hiệu quả đào tạo chỉ các mục tiêu đã đạt đến mức độ nào đó, sự đáp ứng kịp thời các yêu cầu của nhà trường và sự chi phí tiền của, sức lực, thời gian sao
cho ít nhất, nhưng đem lại hiệu quả cao nhất Vì thế chất lượng đào tạo nghề có thể
xem là sản phẩm mà quá trình dạy học – giáo dục mạng lại lợi ích cho xã hội, nhà trường, gia đình và xã hội Chất lượng đào tạo là một khái niệm tương đối, nó phụ
thuộc vào yêu cầu khách quan của người sử dụng lao động chứ không do ý chí của người làm công tác đào tạo quy định
Như vậy, theo tác giả: “chất lượng đào tạo nghề là mức độ đạt được so với mục
tiêu của từng nghề mà nhà trường đã đề ra trong chương trình đào tạo”
Chất lượng đào tạo là tạo ra năng lực và phẩm chất cá nhân nơi người học, còn hiệu quả đào tạo tập trung nhắm đến kết quả học tập và rèn luyện đặt ra trong và sau quá trình đào tạo Chất lượng đào tạo nghề càng cao thì hiệu quả đào tạo nghề càng được cải thiện
1.1.3 Hiệu quả - Hiệu quả đào tạo nghề
1.1.3.1 Hiệu quả
Hiệu quả: “Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại” [14, tr440], “Hiệu quả
phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa chi phí và kết quả mang lại trong những điều kiện
Trang 21về không gian và thời gian xác định, quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hay một giải pháp nào đó” [9, tr572] Như vậy ta thấy, giống như khái niệm
chất lượng, khái niệm hiệu quả cũng cần phải xem xét ở nhiều mức độ khác nhau
Theo TS Lê Đình Sơn thì hiệu quả được xem: “là đại lượng cho biết giá trị của
kết quả đạt được ở đầu ra so với mục tiêu và so với giá trị của nguồn lực đầu vào của chu trình hoạt động”, [16, tr119]
Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong thời gian nhất định
Theo tác giả thì, “Hiệu quả là chỉ tiêu để phân tích, đánh giá các phương án
hành động, kết quả công việc, từ đó đề ra các chỉ tiêu, giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các phương án, kết quả công việc nói chung”
1.1.3.2 Hiệu quả đào tạo nghề
Có nhiều loại hiệu quả khác nhau như hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường, hiệu quả đạo đức Trong khoá luận này, tác giả tập trung vào “hiệu quả đào tạo nghề” Chủ thể được hưởng hiệu quả của hoạt động đào tạo nghề chính là toàn bộ xã hội mà người đại diện cho nó là nhà nước Vì vậy, lợi ích và chi phí của đào tạo nghề được xem xét dưới góc độ toàn bộ nền kinh tế – xã hội
Theo UNESCO: "Khái niệm efficiency nói về mối liên hệ giữa đầu vào của một
hệ thống và đầu ra của hệ thống đó Một hệ thống GD được gọi là có hiệu suất cao nếu với một đầu vào xác định lại thu được đầu ra tối đa, hoặc thu được một đầu ra xác định với một đầu vào nhỏ nhất có thể Tuy nhiên, đo lường hiệu suất của GD cũng là vấn đề lớn do những khó khăn trong việc đo lường đầu ra cũng như lượng hóa mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra"
Trang 22Theo TS Lê Đình Sơn: “hiệu quả của nhà trường/CSGD thường được xem xét
dựa trên 3 tiêu chí cơ bản: Chất lượng đào tạo; Mức độ đáp ứng mục tiêu kinh tế xã hội; Hiệu suất sử dụng các nguồn lực trong đào tạo” [16, tr119]
- Hiệu quả đào tạo nghề là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện mọi mục tiêu đào tạo nghề mà chủ thể (Nhà nước) đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi phí để có được những kết quả đó
- Mục tiêu của đào tạo nghề là đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động của những công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có trình độ, năng lực hành nghề thể hiện ở các kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp được trang bị trong quá trình đào tạo Đội ngũ lao động được đào tạo phải đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề
- Hiệu quả đào tạo nghề được đánh giá dựa trên kết quả đào tạo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội
+ Kết quả đào tạo: là mức độ hoàn thành khoá học, năng lực đạt được và khả năng thích ứng của HSSV ngoài doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp
- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả đào tạo nghề:
+ Số lượng học sinh được đào tạo
+ Cơ cấu ngành nghề được đào tạo
+ Kết quả tốt nghiệp của HSSV
+ Mức độ phù hợp và thích ứng của HSSV tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau khi tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc, khả năng phát triển nghề nghiệp
Nâng cao hiệu quả đào tạo là yếu tố khách quan vì:
- Nâng cao hiệu quả đào tạo sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và tăng năng
Trang 23thì xét về mặt kinh tế (giá thành) đào tạo một học sinh tốt nghiệp càng hạ và ngược lại”, [9, tr126]
- Hiệu đào tạo nghề có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đào tạo “chất lượng
luôn là thước đo không thể thiếu khi xem xét hiệu quả”, [16, tr120]; Do đó nâng cao hiệu quả đào tạo cũng chính là nâng cao chất lượng đào tạo Trong sự nghiệp đổi mới
và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước và hội nhập kinh tế với thế giới và khu vực, chúng ta rất cần có nguồn lao động chất lượng cao để tạo nên những sản phẩm xã hội có chất lượng, giá thành hạ, có khả năng cạnh tranh tốt, điều đó lại càng có ý nghĩa quan trọng
1.1.4 Quản lý - Quản lý chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề
1.1.4.1 Quản lý
“Quản lý” là từ Hán Việt được ghép giữa từ “Quản” và từ “Lý” “Quản” là sự
trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển Như vậy “Quản lý” là trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó
ổn định và phát triển
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và của mọi thời đại Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ khi sơ khai của loại người để tồn tại và phát triển con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để trống lại thú dữ và thiên nhiên
Do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người xã hội, giữa con người với bản thân mình Trong quá trình ấy đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được người khác, họ điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều này đã làm nẩy sinh nhu cầu về quản lý Như vậy, quản lý xuất hiện từ rất sớm và tồn tại, phát triển đến ngày nay
Trang 24Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan,làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức
Theo từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Quản lý là chông coi, gìn giữ theo
những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [20, tr772]
Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì quan niệm rằng: “Quản lý là một
quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [24, tr17]
Theo tác giả Nguyễn Đức Trí và Phan Chích Thức cho rằng: “Quản lý là hoạt
động có ý thức của con người, đảm bảo cho đối tượng quản lý được bảo tồn, sử dụng, phát triển theo những quá trình và mục tiêu xác định, bằng những công cụ, phương pháp phù hợp”[18, tr17]
Tóm lại: Các quan niệm trên đây, tuy mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay
mặt khác, nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định Hay nói cách khái quát nhất: Quản
lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra
Khái niệm quản lý bao hàm một ý nghĩa chung là:
- Quản lý là những tác động có tính hướng đích
Trang 25- Hoạt động Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
- Quản lý là các hoạt động nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức
- Quản lý là hoạt động tất yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm
- Quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một quốc gia
- Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, thông qua các cơ chế quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định
Trong công tác quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, khách thể quản lý quan
hệ với nhau bằng tác động quản lý Quá trình quản lý phải có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung Khi thực hiện nhiệm vụ quản lý, chủ thể quản lý luôn hướng theo mục đích quản lý đã xác định để điều khiển đối tượng bị quản lý thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm quản lý bao hàm các khía cạnh:
Hệ thống quản lý bao gồm hai hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý Khi tìm ra chủ thể quản lý thì phải chỉ ra đối tượng quản
lý và ngược lại
Nếu ta trả lời được câu hỏi: Ai quản lý? Thì ta đã xác định được chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức do người cụ thể lập nên Cá nhân làm chủ thể quản lý được gọi chung là CBQL
Trang 261.1.4.2 Quản lý chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề
Quản lý đào tạo nghề (quản lý dạy nghề) là công tác chúng ta phải xác định rõ các vấn đề: đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý và nội dung quản lý Mục tiêu của công tác quản lý đào tạo nghề là bảo đảm hoàn thành các kế hoạch và chương trình giảng dạy đúng kế hoạch đạt chất lượng cao
Quản lí đào tạo là một quá trình tổ chức lập kế hoạch, điều khiển, kiểm tra, đánh giá các hoạt động đào tạo của toàn hệ thống theo kế hoạch và chương trình nhất định nhằm đạt được các mục tiêu của toàn hệ thống
Quản lý đào tạo nghề là hoạt động trực tiếp lên các mặt chủ yếu của quá trình đào tạo (từ mục tiêu, nội dung chương trình đến phương pháp) nhằm đạt được mục tiêu đào tạo
Để đạt được các mục tiêu đào tạo theo tác giả Nguyễn Cảnh Hồ quan niệm:
“công tác quản lý đào tạo phải thực hiện được 4 nội dung (gọi là quản lý bộ phận) và quản lý chất lượng đào tạo Các nội dung quản lý bộ phận là: Quản lý mục tiêu đào tạo, kế hoạch và chường trình giảng dạy (thường nói gọn là quản lý mục tiêu, nôi dung đào tạo) Quản lý giáo viên và học sinh Quản lý nền nếp dạy học Quản lý công tác phương pháp” [9, tr 281]
Nếu quản lý đào tạo có 4 nội dung nêu trên thì quản lý chất lượng đào tạo có
phạm vi lớn hơn nhiều:“Quản lý chất lượng đào tạo nghề là một hoạt động nhằm phát
hiện và xử lý những tiêu cực nảy sinh trong quá trình đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo” [7, tr293] Phát hiện là tìm ra những bức xúc, yếu kém cản trở quá trình
đào tạo, tìm ra những học sinh yếu kém, cá biệt để giáo dục em tiến bộ Xử lý là đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những yếu kém kể trên
“Để thực hiện hai khâu phát hiện và xử lý phải trải qua 5 bước công việc là: kiểm tra, đánh giá, tìm nguyên nhân, đề xuất biện pháp và tổ chức thực hiện” [9,
Trang 27Quản lý hiệu quả đào tạo nghề là hoạt động quản lý trước, trong và sau quá trình đào tạo: từ việc khảo sát nhu cầu nguồn nhân lực, yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng đầu vào(công tác tuyển sinh), kết quả đào tạo(quá trình đào tạo), chất lượng đầu ra(HSSV tốt nghiệp ra trường có việc làm) Trên cơ sở đó để xây dựng các tiêu chí nâng cao hiệu quả đào tạo hàng năm, từng khóa học đồng thời cũng là nâng cao chất lượng đào tạo
1.2 Đặc điểm đặc trưng của hiệu quả đào tạo nghề
1.2.1 Mối quan hệ giữa chất lượng đào tạo và hiệu quả đào tạo
Theo TS Huỳnh Quốc Thắng, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM: Nói đến chất lượng và hiệu quả đào tạo là nói đến mục đích chính và kết quả thực tế của mọi quá trình đào tạo tại bất kỳ cơ sở đào tạo nào, nói rộng ra là của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo là việc làm thường xuyên, liên tục của mọi cơ sở đào tạo trong ngành giáo dục tại Việt Nam Nó được tiến hành bằng nhiều cách và cuối cùng thường được lượng hóa thành những con số kèm theo các nhận định về thành tựu hoặc tồn tại; trên cơ sở đó các mục tiêu, biện pháp được đề ra nhằm nâng cao ngày càng nhiều hơn chất lượng và hiệu quả ấy
“Chất lượng và hiệu quả đào tạo có nội dung, vị trí riêng đồng thời có mối quan
hệ thống nhất với nhau, đặc biệt là ở tính mục đích của chúng: cả hai đều lấy người học (tức đối tượng đào tạo) làm trung tâm, là thước đo thể hiện kết quả cao nhất của quá trình đào tạo trong đó mục đích của CHẤT LƯỢNG là tạo ra năng lực và phẩm chất cá nhân nơi người học (yếu tố chủ quan), còn HIỆU QUẢ tập trung nhắm đến kết quả học tập và rèn luyện, mà cụ thể nhất là khả năng thích ứng cao và đáp ứng tốt các yêu cầu nghề nghiệp, các điều kiện và hoàn cảnh thực tế (yếu tố khách quan) đặt ra trong và sau quá trình đào tạo”, [24]
Trang 28Tuy bên ngoài chất lượng đào tạo là cái có trước, là tiền đề - điều kiện của hiệu quả đào tạo, nhưng bên trong giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng và thống nhất với nhau Có thể tóm tắt mối quan hệ ấy như sau: đi tìm hiệu quả đào tạo phải bắt đầu
từ chất lượng đào tạo; ngược lại, vì hiệu quả mà phải có chất lượng Nói cách khác,
nếu không có chất lượng thì chắc chắn sẽ không thể nói tới hiệu quả đào tạo vì hiệu quả chính là biểu hiện cụ thể của chất lượng Hiệu quả vừa là mục tiêu cuối cùng
mang tính định hướng vừa là một tác nhân mang tính động lực,thường xuyên góp phần tạo nên chất lượng cho mọi quá trình giáo dục-đào tạo trong nhà trường
Trong thực tế chất lượng và hiệu quả đào tạo trở thành hệ thống những chuẩn mực và nguyên tắc chung chi phối xuyên suốt trong mọi hoạt động khác nhau diễn ra trong trường, làm cho các hoạt động đó vừa trở nên có tính tự giác cao hơn vừa tạo ra động lực mạnh mẽ để tất cả cùng nhất quán hướng về mục tiêu chung Từ khâu tuyển sinh, một tiết dạy và học trên lớp cho đến kỳ thi tốt nghiệp, lúc nào cũng có rất nhiều yêu cầu đặt ra với những động tác nhất thiết phải được thực hiện để tạo ra chất lượng
và hiệu quả thực sự cho một khóa học nào đó Nói rộng ra, mọi hoạt động trong trường với nội dung và hình thức khác nhau, được thực hiện bằng các điều kiện vật chất-kỹ thuật khác nhau nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm là dạy, học, nghiên cứu khoa học và quản lý-phục vụ dạy và học, suy cho cùng vẫn là nhằm đạt được chất lượng đào tạo cụ thể để cuối cùng có được những hiệu quả đào tạo nhất định nào đó, những cái góp phần làm nên thành tích và sự nghiệp đào tạo đích thực của trường
1.2.2 Phân loại hiệu quả đào tạo
Dựa vào mục tiêu về chất lượng, đánh giá hiệu quả của CSGD thường là so sánh giữa các giải pháp/phương án nâng cao chất lượng với chi phí bỏ ra, người ta có thể
phân loại thành hiệu quả trong và hiệu quả ngoài “Xem xét sự đóng góp của CSGD
vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội là so sánh giữa mức độ phát triển kinh
tế - xã hội đạt được nhờ đào tạo và chi phí đầu tư Đó là hiệu quả kinh tế - xã hội,
Trang 29trong đào tạo được xem là tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá hiệu quả của CSGD và thường được gọi là "hiệu quả trong" (efficiency)”, [16, tr119]
1.2.2.1 Hiệu quả đào tạo trong
Hiệu quả đào tạo trong phản ánh kết quả đào tạo trong quá trình đào tạo, qua các tỷ lệ lưu ban, bỏ học, số năm đào tạo tính trung bình cho một học sinh, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp với những chi phí nhất định về đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên
1.2.2.2 Hiệu quả đào tạo ngoài
Hiệu quả đào tạo ngoài là mức độ của sự phù hợp giữa phẩm chất và năng lực của các học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường, với yêu cầu của các nhiệm vụ sản xuất hay công tác mà họ được phân công Nếu mức độ phù hợp này là cao thì hiệu quả đào tạo là cao, và ngược lại
Hiệu quả đào tạo ngoài phản ánh mức độ hay khả năng thích ứng của người tốt nghiệp với đời sống xã hội và thị trường lao động, những giá trị sử dụng và đóng góp thực tế của cá nhân cho xã hội, sự thăng tiến của người tốt nghiệp trong quá trình hành nghề.v.v Hiệu quả đào tạo ngoài chịu sự tác động của môi trường xã hội như chính sách lao động – việc làm, tiền lương, tiền công, quan hệ cung – cầu lao động
Hiệu quả đào tạo ngoài phản ánh thông qua các tiêu chí sau:
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp có việc làm trong vòng 1 năm sau khi ra trường
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp có việc làm đúng ngành nghề và trình độ đào tạo
- Khả năng làm việc của học sinh tốt nghiệp có đáp ứng nhu cầu người sử dụng lao động
1.2.3 Hiệu quả đào tạo nghề là các chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá chất lượng đào
tạo nghề, [9, tr126 131]
1.2.3.1 Hiệu quả đào tạo chung
Trang 30Hiệu quả đào tạo chung là tỷ lệ % số học sinh tốt nghiệp cuối khóa trên số học sinh được tuyển vào để đào tạo lúc đầu khóa
Gọi hiệu quả đào tạo chung là hđt, số học sinh tuyển vào đầu khóa là Tv, số học sinh tốt nghiệp ra trường là t thì số học sinh hao hụt toàn khóa là Tv – t và hiệu quả đào tạo chung là:
và tỷ lệ hao hụt chung là:
Hiệu quả đào tạo chung phản ánh kết quả về số lượng của quá trình đào tạo một khóa học sinh, từ khi tuyển sinh cho tới khi tốt nghiệp
1.2.3.2 Hiệu quả tốt nghiệp
Hiệu quả tốt nghiệp là tỷ lệ % số học sinh tốt nghiệp trên số học sinh được
dự thi cuối khóa Gọi số học sinh dự thi cuối khóa là Tck thì hiệu quả tốt nghiệp là:
Hiệu quả tốt nghiệp phản ánh kết quả về số lượng của một khóa học sinh ở giai đoạn cuối cùng khi tốt nghiệp
Kết quả về số lượng của hiệu quả đào tạo chung và hiệu quả tốt nghiệp phản ánh đã bảo đảm một trình độ chất lượng toàn diện về các nội dung quy định trong mục tiêu đào tạo với mức độ từ trung bình trở lên
1.2.3.3 Hiệu quả đào tạo trước khi tốt nghiệp
Hiệu quả đào tạo trước khi tốt nghiệp là tỷ lệ % số học sinh được dự thi cuối khóa trên số học sinh tuyển vào đầu khóa, ký hiệu là httn Chúng ta có:
Trang 31Hiệu quả đào tạo trước khi tốt nghiệp phản ánh phản ánh mức độ lựa loại học sinh, tính từ khi tuyển sinh cho đến khi thi tốt nghiệp
Gọi gttn là tỷ lệ hao hụt học sinh trước khi tốt nghiệp thì ta có:
Chúng ta thấy giữa các chỉ tiêu nói trên có mối quan hệ:
Nếu không tính theo % thì hđt = htn httn, tức là: Hiệu quả đào tạo chung bằng tích số của hiệu quả tốt nghiệp nhân với hiệu quả đào tạo trước khi tốt nghiệp
Các chỉ tiêu và mối quan hệ giữa các chỉ tiêu nói trên sẽ giúp chúng ta trong việc phân tích hoạt động của trường dạy nghề
1.3 Quản lý hoạt động đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề
1.3.1 Quản lý mục tiêu và nội dung đào tạo
Công tác quản lý mục tiêu, kế hoạch và chương trình giảng dạy thường nói gọn
là quản lý mục tiêu và nội dung đào tạo
Trang 32Luật dạy nghề 2006, tại điều 4 có nêu: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực
kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ’’, [13, tr08]
Mục tiêu đào tạo là những yêu cầu về biến nhân cách người học mà quá trình đào tạo phải đạt được Mục tiêu đào tạo chính là mục đích của quá trình đào tạo, mục đích này sẽ quy định nội dung và phương pháp đào tạo, đồng thời là căn cứ để kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo
Nội dung đào tạo là nội dung của sự chuyển biến nhân cách trên các mặt chính trị - đạo đức, văn hóa – kỹ thuật, tay nghề và sức khỏe, nói chung là sự chuyển biến về phẩm chất và năng lực, nhằm thực hiện các yêu cầu của nội dung đào tạo Việc xác định nội dung đào tạo một mặt phải tuân theo các nguyên tắc sư phạm, mặt khác phải bám sat các yêu cầu của mục tiêu đào tạo
Nội dung đào tạo nghề là những yêu cầu đặt ra để mang lại cho người học có được những kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết
Về yêu cầu của nội dung đào tạo nghề, Luật giáo dục năm 2005, tại điều 34,
khoản 1 có ghi: “Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo năng lực thực
hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo”,
[12, tr31]
Theo quan điểm của Nguyễn Cảnh Hồ: “Quản lí mục tiêu đào tạo, kế hoạch và
chương trình giảng dạy – giáo dục của các giáo viên sao cho các kế hoạch và chương trình giảng dạy được thực hiện đúng nội dung, thời gian và quán triệt được các yêu
Trang 33Theo Nguyễn Đức Trí và Phan Chính thức:“Quản lý việc thực hiện mục tiêu
chương trình nội dung giáo dục được tiến hành trong suốt quá trình đào tạo thực tế của nhà trường, thông qua việc quản lý hoạt động dạy và hoạt động học sao cho các kế hoạch, nội dung chương trình đào tạo được thực hiện một cách đầy đủ, đúng về nội dung, tiến độ, kế hoạch đào tạo nhằm đạt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo”,
[18, tr256]
“Công cụ chủ yếu của công tác quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình nội dung giáo dục chính là các chương trình khung, chương trình chi tiết các môn học/mô đun, giáo trình, sách giáo khoa và hệ thống các văn bản pháp quy hiện hành khác”, [18, tr256]
Để đảm bảo các kế hoạch, chương trình giảng dạy được thực hiện đúng về nội dung và thời gian cần phải yêu cầu và hướng dẫn giáo viên trước khi vào năm học mới phải tiến hành lập lịch trình giảng dạy Lịch giảng dạy là căn cứ để các giáo viên tiến hành chuẩn bị các đê cương bài giảng và giáo án để không xảy ra tình trạng thiếu hay thừa thời gian Tuy nhiên lập đề cương bài giảng, giáo án phải dựa trên lịch giảng dạy mới chỉ là điều kiện cần để thực hiện đúng kế hoạch và chương trình giảng dạy, chưa phải là điều kiện đủ để mục tiêu đào tạo thực hiện đầy đủ
Việc bảo đảm cho các kế hoạch và chương trình giảng dạy thực hiện theo đúng thời gian và nội dung là một yêu cầu rất quan trọng trong quản lý đào tạo, nhưng chưa
đủ để mục tiêu được đào tạo thực hiện đầy đủ Do đó cần có vấn đề quản lý mục tiêu đào tạo, với các yêu cầu bảo đảm việc thực hiện các kế hoạch và chương trình giảng dạy quán triệt các yêu cầu của mục tiêu đào tạo
Quản lý mục tiêu đào tạo là hướng dẫn và yêu cầu các giáo viên khi soạn giáo
án phải tiến hành phân tích đối tượng, xác định nội dung sư phạm của bài giảng để xá định mục đích giáo dục và phát triển, từ đó đề ra các biện pháp kết hợp thực hiện trong khi truyền đạt các kiến thức hoặc hướng dẫn học sinh sinh viên thực tập kỹ năng Có kế
Trang 34hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ sư phạm, nâng cao tinh thần trách nhiệm của giáo viên, hướng dẫn để giáo viên có thể xác định và thực hiện các mục đích giáo dục qua các bài giảng Sau từng tiết giảng, từng môn học/mô đun các giáo viên cần xêm xét rút kinh nghiệm cho bài giảng sau Sau từng học kỳ, các tổ chuyên môn cần tiến hành sơ kết, đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm việc thực hiện các yêu cầu về giáo dục và phát triển của giáo viên Nhà trường cần thông qua công tác phương pháp
để tổ chức các hội nghị chuyên đề, các buổi hội giảng về thực hiện các yêu cầu giáo dục và phát triển qua các bài giảng và có những nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện các yêu cầu nói trên
1.3.2 Quản lý giáo viên và học sinh sinh viên
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Hồ thì “công tác quản lý giáo viên và học sinh sinh
viên là quản lý thực hiện các nhiệm vụ của giáo viên và học sinh sinh viên”, [9, tr286]
1.3.2.1 Quản lý giáo viên
Người giáo viên trong các trường dạy nghề có các nhiệm vụ giảng dạy-giáo dục học sinh sinh viên và bản thân phải học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ về mọi mặt, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác, giảng dạy-giáo dục
“Công tác quản lý giáo viên có nhiệm vụ theo dõi, đánh giá được các kết quả thực hiện nhiệm vụ giảng dạy-giáo dục, hiểu rõ được các ưu, khuyết và nhược điểm, đánh giá được sự tiến bộ về mặt chính trị-tư tưởng, đạo đức, trình độ chuyên môn và sư phạm của từng giáo viên”, [9, tr286]
Biện pháp để thực hiện các yêu cầu nói trên là:
+ Các cơ sở đạy nghề phải thường xuyên có kế hoạch tập huấn, bồi dường nâng cao chuyên môn nghiệp vụ đối với các giáo viên trong từng kỳ học, năm học Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ giáo viên chương trình, mục tiêu phát triển của nhà trường, nhằm đáp ứng được yêu cầu đội ngũ giáo viên trong thời kỳ mới
Trang 35+ Kết hợp với việc đẩy mạnh các phong trào thi đua dạy tốt, hướng dẫn các giáo viên lập kế hoạch thi đua phấn đấu trở thành giáo viên dạy giỏi đối với từng tiết giảng, từng môn học/mô đun, từng kỳ học, năm học thông qua việc tự kiểm điểm và góp ý của tập thể để đánh giá thành tích, ưu điểm cũng như những tồn tại và khuyết điểm của từng giáo viên
+ Tổ chức và hướng dẫn học sinh sinh viên góp ý kiến nhận xét về đạo đức tác phong của giáo viên Việc sử dụng các thông tin thu thập được từ phía học sinh sinh viên cần được phân tích và chọn lọc để đảm bảo tính khách quan và chính xác
+ Biện pháp quan trọng để quản lý giáo viên là định kỳ tổ chức dự lớp, theo dõi hoạt động của giáo viên trong công tác phương pháp, công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khoa học sư phạm
+ Tổ chức kiểm điểm, nhận xét, đánh giá, bình bầu thi đua dạy tốt thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật ở các cấp vào cuối năm học
1.3.2.2 Quản lý học sinh sinh viên
“Quản lý học sinh sinh viên là quản lý việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện của từng học sinh sinh viên”, [9, tr287] Mỗi học sinh sinh viên khi được tuyển
vào trường, phải có những tiêu chuẩn nhất định về các mặt của nhân cách, chủ yếu là
về phẩm chất, năng lực và sức khỏe (thể hiện ở các tiêu chuẩn tuyển sinh) Nhưng như vậy không có nghĩa là toàn bộ các biểu hiện mặt chủ thể của nhân cách tất cả học sinh sinh viên tuyển vào trường trong từng năm học đều giống nhau, mà bao giờ cũng có sự khác nhau về khía cạnh này hoặc khía cạnh khác: cùng được phân công vào một nghề,
có học sinh sinh viên xác định được động cơ, thái độ học tập đúng đắn, nhưng có học sinh lại không yên tâm, với những mức độ khác nhau (có học sinh sinh viên không thích nhưng vẫn học, có học sinh chán nản nên lười học, thậm trí bỏ học ), có những học sinh sinh viên tiếp thu bài nhanh nhưng tính không cẩn thận, có học sinh sinh viên tiếp thu kiến thức lý thuyết chậm nhưng khả năng thực hành lại khá Chính những sự
Trang 36khác nhau này làm cho tình hình và kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học sinh sinh viên cũng khác nhau Bản thân chủ thể nhân cách của học sinh lại biến đổi do chính tác động của sự giảng dạy-giáo dục của nhà trường và do tác động của môi trường xung quanh (gia đình, xã hội) Tình hình này làm cho sự chuyển biến nhân cách của từng học sinh sinh viên trở nên đa dạng: có học sinh sinh viên luôn chăm chỉ học tập, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, kỷ luật, có học sinh chăm chỉ mốt thời gian, có học sinh lúc đầu lười học về sau lai chịu khó về sự phát triển năng lực, tính cách của học sinh sinh viên cũng tương tự: có học sinh sinh viên lúc đầu học kém,
rụt rè nhưng dần dần trở nên khá, mạnh dạn “Nhiệm vụ của công tác quản lý học
sinh chính là làm sao nắm được những sự biến đổi của mặt chủ thể của nhân cách của từng học sinh, phát huy các yếu tố tích cực, nhằm thúc đẩy và giúp đỡ các em học tập
và rèn luyện đạt kết quả ngày càng cao”, [9, tr287]
Để đạt được các yêu cầu nói trên, nội dung quản lý hoạt động học tập, rèn luyện của từng học sinh bao gồm quản lý những hoạt động sau:
+ Tiến hành điều tra cơ bản về nhân cách học sinh sinh viên, để làm rõ phẩm chất, năng lực của từng học sinh sinh viên
+ Hướng dẫn học sinh sinh viên lập kế hoạch phấn đấu cho từng thời kỳ, năm học theo mục tiêu đào tạo
+ Tổ chức các hoạt động ngoại khóa có nội dung giáo dục cao nhằm thu hút, lôi cuốn học sinh sinh viên tham gia
+ Phối hợp, chỉ đạo các đoàn thể, chủ thể giáo dục trong nhà trường trong giáo dục và quản lý học sinh sinh viên
+ Xây dựng mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường với gia đình học sinh sinh viên, các tổ chức xã hội để phối hợp trong công tác quản lý giáo dục học sinh sinh viên
Trang 37+ Phát huy vai của giáo viên trên lớp theo mô hình tổng thể của người giáo hiện nay trong nền giáo dục hiện đại: giáo viên là chuyên gia – Nhà giáo dục – nhà hoạt động xã hội – Nhà quản lý, để giáo dục mọi lúc mọi nơi
1.3.3 Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập là một công việc hết sức khó khăn của các nhà giáo dục Chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục vừa phải được định lượng khách quan, vừa đêm lại thông tin phản hồi cho các nhà giáo dục về mức độ đạt được theo mục tiêu đặt ra
Kiểm tra đánh giá có quan hệ hữu cơ với quá trình dạy và học Nhờ hoạt động kiểm tra đánh giá mà xác định được năng lực của từng học sinh sinh viên trước khi vào học, thúc đẩy học sinh sinh viên học tập, thông báo kịp thời cho học sinh sinh viên biết tiến bộ của họ Kiểm tra đánh giá giúp nhà quản lý điều chỉnh, cải tiến nội dung, chương trình đào tạo, điều chỉnh kế hoạch, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập phải đảm bảo những yêu cầu tính quy chuẩn, khách quan, phát triển, công khai, toàn diện
Đối với giáo viên cần xác định thành tích và thái độ học tập của từng học sinh sinh viên và của toàn bộ lớp học, thông qua kết quả học tập để đề ra biện pháp cải tiến nội dung, phương pháp cho phù hợp
Đối với học sinh sinh viên: cần tự xác định được mức độ hiểu biết và nằng lực nghề nghiệp của mình so với các mục tiêu, tiêu chuẩn đã xác định của chương trình giáo dục nghề nghiệp
Đối với cán bộ quản lý: cần xác định những trọng tâm giáo dục – đào tạo nghề của nhà trường để từ đó có biện pháp trong công tác tổ chức, quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động đào tạo của nhà trường Kịp thời năm bắt các văn bản pháp quy, các quy định của Nhà nước để xây dựng riêng cho phù hợp với nhà trường về công tác này
Trang 38Đối với cơ sở đào tạo nghề phải thường xuyên tập huấn, bồi dường nâng cao công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập cho đội ngũ giáo viên Kiểm tra đôn đốc việc thực hiện công tác này một cách chặt chẽ, xay dựng nề nếp ổn định, thường xuyên
1.3.4 Quản lý chất lượng đào tạo
Quản lý chất lượng là quá trình có tổ chức nhằm đảm bảo các sản phẩm trước khi đưa vào sử dụng phải đạt được các tiêu chuẩn đề ra và phù hợp với các yêu cầu của người sử dụng Quản lý chất lượng bao gồm các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng Việc quản lý chất lượng bao hàm trong
nó sự cam kết không ngừng nâng cao chất lượng
Các phương thức quản lý chất lượng
Hiện nay trên thế giới có 3 phương thức quản lý chất lượng chính, ở 3 cấp độ khác nhau Đó là: Kiểm soát chất lượng, Đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng toàn diện
- Kiểm soát chất lượng:
Đối tượng quản lý là các sản phẩm Mục tiêu là ngăn ngừa việc tạo ra, sản xuất
ra các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn Trong trường học, sản phẩm đào tạo là những học sinh, sinh viên với những tri thức mà họ lĩnh hội được Để ngăn ngừa việc có những học sinh yếu, kém, phải kiểm soát các yếu tố như đội ngũ giảng viên, phương pháp giảng dạy, chất lượng đầu vào, trang thiết bị dạy học và yếu tố môi trường Những bộ phận chuyên trách như phòng đào tạo, khoa, tổ bộ môn, là hội đồng thi tốt nghiệp phải phối hợp chặt chẽ làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện, loại ra những học sinh yếu, kém trước khi ra trường Hoạt động quản lý chất lượng của cơ quan cấp trên đối với cơ sở là hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng bao gồm các hoạt động chính:
Trang 39+ Xác định mục tiêu và định ra các tiêu chuẩn cần đạt được
+ Đối chiếu các tiêu chuẩn cần đạt với kết quả thực hiện
+ Đảm bảo và cải tiến để có kết quả tốt hơn
Việc định hướng và kiểm soát chất lượng đào tạo được theo dõi qua sơ đồ sau:
- Đảm bảo chất lượng:
Khác với phương thức kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng làm nhiệm vụ phòng ngừa sự ra đời của những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn Quá trình này diễn ra trước và trong suốt quá trình với mục đích ngăn chặn ngay từ đầu những lỗi có thể mắc
để khắc phục kịp thời, đảm bảo rằng các sản phẩm ở cuối quá trình không bị lỗi Việc quản lý chất lượng tập trung vào việc đảm bảo đầy đủ các điều kiện cho việc thực hiện quá trình và hệ thống các thủ tục giám sát việc thực hiện quá trình Để làm được điều này, nhà trường cần xây dựng công tác quản lý chất lượng thành một hệ thống hoàn chỉnh, có cơ chế vận hành nghiêm ngặt – Đó chính là hệ thống đảm bảo chất lượng
Hiện nay trên thế giới, việc quản lý chất lượng đào tạo thường áp dụng phương thức này với các mô hình khác nhau, tùy theo đặc điểm của từng cơ sở Việc quản lý chất lượng trong các cơ sở đào tạo tập trung vào việc xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng có hiệu quả cao
Việc đánh giá chất lượng của một cơ sở đào tạo hoặc một chương trình đào tạo thường dùng biện pháp Kiểm định và công nhận nhằm đánh giá và xác nhận rằng cơ sở
ĐẦU RA -Sự phát triển của người học
-Sự phát triển của người dạy
-Lợi ích của xã hội
Trang 40đào tạo hoặc chương trình đào tạo đó đã có một hệ thống đảm bảo chất lượng đủ tin cậy và hoạt động có hiệu quả Chứng chỉ ISO là một ví dụ
- Quản lý chất lượng toàn diện:
Quản lý chất lượng toàn diện là hình thức nâng cao của phương thức đảm bảo chất lượng Chất lượng sản phẩm được thấm nhuần trong ý thức của mọi thành viên của cơ sở, mỗi người lao động là một mắt xích quyết định trong cả hệ thống quản lý chất lượng Mọi người đều tự giác nhận thấy trách nhiệm của mình trước khách hàng
và luôn có ý thức không ngừng cải thiện chất lượng sản phẩm để thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng So với cấp độ đảm bảo chất lượng thì phương thức này có sự khác nhau về chất Điều này thể hiện ở mức độ đảm bảo chất lượng cao của sản phẩm được cung cấp cho xã hội
Đối với nhà trường đây chính là sự nỗ lực, tự hoàn thiện bản thân của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, luôn phải học tập cập nhật kiến thức, áp dụng những phương pháp mới trong giảng dạy, những phương pháp mới trong quản lý
Theo phương thức này, việc quản lý chất lượng không chỉ dừng ở việc xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng có hiệu quả, mà còn xây dựng nên văn hóa của nhà trường
“Quản lý chất lượng đào tạo nghề là một hoạt động nhằm phát hiện và xử lý những tiêu cực nảy sinh trong quá trình đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo”,
[9, tr293] Phát hiện là tìm ra những bức xúc, yếu kém cản trở quá trình đào tạo, tìm ra những học sinh yếu kém, cá biệt để giáo dục em tiến bộ Xử lý là đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những yếu kém kể trên
Để thực hiện hai khâu phát hiện và xử lý phải trải qua 5 bước công việc là: kiểm tra, đánh giá, tìm nguyên nhân, đề xuất biện pháp và tổ chức thực hiện [9,tr293]