BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ------NGUYỄN HOÀNG ANH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔĐUN TRANG BỊ ĐIỆN DỰA TRÊN NĂNG LỰC THỰC HIỆN CỦA SINH VIÊN NGHỀ ĐIỆN CÔNG N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -NGUYỄN HOÀNG ANH
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔĐUN TRANG BỊ ĐIỆN DỰA TRÊN NĂNG LỰC THỰC HIỆN CỦA SINH VIÊN NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH:LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHUYÊN SÂU: SƯ PHẠM KỸ THUẬT – KỸ THUẬT ĐIỆN
Hà Nội – 2018
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -NGUYỄN HOÀNG ANH
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔĐUN TRANG BỊ ĐIỆN DỰA TRÊN NĂNG LỰC THỰC HIỆN CỦA SINH VIÊN NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH:LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHUYÊN SÂU: SƯ PHẠM KỸ THUẬT – KỸ THUẬT ĐIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS THÁI THẾ HÙNG
Hà Nội – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan những gì tôi viết trong luận văn là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác, nếu có đều được trích dẫn cụ thể
Đề tài của luận văn chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ nào trên toàn quốc cũng như ở nước ngoài; và cho đến nay chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin truyền thông nào
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì đã cam đoan ở trên
Hà Nội, tháng 01 năm 2018 Người cam đoan
Nguyễn Hoàng Anh
Trang 4Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá kết quả học tập của sinh viên dựa
1.3 Phân tích nghề và phân tích nghề theo phương pháp Dacum 17
1.4 Đánh giá kết quả học tập theo năng lực thực hiện 25
Chương 2: Thực trạng đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Trường
2.1 Giới thiệu về nghề điện công nghiệp và trường cao đẳng nghề kinh tế
2.1.2 Vài nét về trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex 31 2.2 Phân tích nghề điện công nghiệp theo phương pháp Dacum 34
Trang 52.2.3 Thiết bị, dụng cụ 34 2.3 Thực trạng công tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên nghề Điện
công nghiệp tại Trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex 35 2.3.1 Nhận thức của giáo viên về kiểm tra đánh giá kết quả học tập 35 2.3.2 Thực trạng GV sử dụng các phương pháp KTĐGKQHT 36
2.3.4 Thực trạng phân tích và xử lý kết quả sau kiểm tra 39
Chương 3: Đánh giá kết quả học tập mô đun trang bị điện dựa trên năng
lực thực hiện của sinh viên Trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật
Vinatex
43
3.1 Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan mô đun Trang bị
3.2 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của việc đánh giá kết
quả học tập mô đun Trang bị điện dựa trên năng lực thực hiện 48 3.2.1 Lập kế hoạch đánh giá kiểm tra học tập mô đun Trang bị điện dựa
3.2.2 Thực hiện kế hoạch đánh giá kiểm tra học tập mô đun Trang bị điện
3.2.3 Lưu trữ hồ sơ đánh giá và báo cáo kết quả đánh giá 53 3.2.4 Thiết kế công cụ đánh giá kiểm tra học tập mô đun Trang bị điện
3.2.5 Tính khả thi của việc đánh giá kết quả học tập mô đun Trang bị điện
3.3 Đánh giá kết quả học tập bài dạy tích hợp của mô đun Trang bị điện 65 3.3.1 Xây dựng giáo án bài dạy tích hợp „„Mạch đảo chiều gián tiếp dùng
3.3.2 Kiểm tra, đánh giá kiểm tra học tập bài dạy tích hợp 72
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CĐN KTKT Vinatex Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex
Hình 1.2 Cấu trúc của năng lực thực hiện hoạt động chuyên môn 14
Hình 1.3 Sơ đồ về kết quả được mô tả chi tiết gồm các nhiệm vụ, công
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả nhận thức của GV về mục đích của việc KTĐG KQHT 35
Bảng 2.2 Kết quả trưng cầu ý kiến về việc thực hiện các yêu cầu sư
Bảng 2.3 Kết quả thăm dò GV về mục tiêu kiến thức mà GV yêu cầu đối
Bảng 2.4 Kết quả thăm dò GV về tỉ lệ sử dụng các phương pháp KTĐG 37
Bảng 2.5 GV nhận thức về hiệu quả của các phương pháp KTĐG KQHT 38
Bảng 2.6 SV nhận thức về hiệu quả của các phương pháp KTĐGKQHT 38-39
Bảng 2.7 Khoảng thời gian thông bảo kết quả đánh giá của GV 40
Bảng 2.9 GV sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy học 40-41
Bảng 3.1 Nội dung tổng quát mô đun Thực hành trang bị điện 43
Bảng 3.2 Phân tích các mục tiêu cần đánh giá mô đun Trang bị điện 44-46
Bảng 3.4 Bảng trọng số NLTH học phần điều chỉnh tốc độ động cơ điện 46
Bảng 3.5 Bảng trọng số NLTH học phần tự động khống chế truyên động
Bảng 3.6 Bảng trọng số NLTH học phần trang bị điện máy công nghiệp 47
Bảng 3.9 Thang đánh giá độ phân biệt của câu hỏi TNKQ 60
Bảng 3.10 Bảng thống kê kết quả làm bài trắc nghiệm của 25 SV 76
Bảng 3.11 Kết quả thử nghiệm 10 câu hỏi TNKQ với 25 SV 78-79
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, giáo dục đại học Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức mới Cùng với việc tăng quy mô đào tạo thì các loại hình đào tạo cũng được mở rộng Trong khi các nguồn lực tại các cơ sở đào tạo còn hạn chế, chưa đủ khả năng đáp ứng với việc tăng nhanh quy mô đào tạo thì vấn đề chất lượng đào tạo
là điểm nóng của toàn xã hội Chất lượng là vấn đề then chốt của các trường đại học
và cao đẳng Bởi vậy việc cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo luôn là nhiệm vụ hàng đầu của bất kỳ cơ sở đào tạo bậc đại học, cao đẳng nào Chất lượng đào tạo được tạo nên bởi rất nhiều thành tố như hoạt động học tập của sinh viên; hoạt động giảng dạy của giảng viên và công tác quản lý
Mục đích của giáo dục và đào tạo là đem lại sự thay đổi lâu dài về hành vi, thái độ cho học viên Hành vi và thái độ của học viên được xác định rõ ràng bằng kết quả học tập và bằng các tiêu chuẩn thực hiện của học viên Nhìn chung: kết quả học tập là kết quả đánh giá học viên có thể thực hiện công việc theo tiêu chuẩn yêu cầu tại nơi làm việc - có nghĩa là học viên có năng lực thực hiện công việc
Việc KTĐG tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của HV giúp GV xác định xem HV có lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống không; hoàn thiện tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đến mức độ nào, kết quả học tập ra sao khi kết thúc môn học Dựa trên các cơ sở đó
mà GV điều chỉnh kịp thời hoạt động học tập của HV, đồng thời tự hoàn thiện hoạt động dạy của bản thân GV Thông qua việc đánh giá cũng giúp cho HV có thói quen tự kiểm tra, tự đánh giá, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập và ý chí vươn lên đạt kết quả ngày càng cao
Để đào tạo ra những SV CĐKTCN đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn sản xuất thì cần phải xây dựng được hệ thống đào tạo tiên tiến với các tiêu chí, quy trình, công cụ và phương pháp có chất lượng, được kiểm chứng thông qua công nghệ đánh giá đủ mạnh Các SV CĐKTCN cần phải có khả năng thực hiện các công việc nghề nghiệp Mục tiêu năng lực là hết sức quan trọng trong đánh giá KQHT ở
Trang 10các trường đào tạo, cũng như việc tiếp nhận, tuyển dụng đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong các cơ sở sản xuất hiện nay
Hệ thống các trường CĐKTCN nói chung và trường CĐN KTKT Vinatex nói riêng là nơi cung cấp nguồn nhân lực đáng kể cho xã hội Trong đó nghề ĐCN là nghề được nhà trường cũng như xã hội hết sức quan tâm, chú trọng với mục tiêu đào tạo ra người lao động có kiến thức, tay nghề đáp ứng nhu cầu thực tiễn Các công cụ chủ yếu sử dụng để đánh giá KQHT của SV nghề ĐCN hiện nay tại trường phần lớn là dưới hình thức tự luận và bài thực hành theo chương trình đào tạo niên chế Quy trình và công cụ đánh giá còn bộc lộ nhiều hạn chế như chưa khách quan, chính xác, đặc biệt là chưa chú trọng vào kết quả và đầu ra, do đó ảnh hưởng đến chất lượng dạy học
Dạy học theo năng lực thực hiện là một chủ trương quan trọng để đổi mới đào tạo ở nước ta Trong dạy học theo năng lực thực hiện thì kết quả học tập của sinh viên là thước đo phản ánh chất lượng đào tạo
Với quan điểm dạy học tích cực hiện nay thì công tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên dựa trên năng lực thực hiện là một hướng đi mới, thiết thực và mang lại hiệu quả cao
Vấn đề tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá KQHT của SV nghề ĐCN
có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex Với quan điểm dạy học tích cực hiện nay thì công tác đánh giá KQHT của SV dựa trên năng lực thực hiện là một hướng đi mới, thiết thực và mang lại hiệu quả cao
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài:
“ Đánh giá kết quả học tập mô đun trang bị điện dựa trên năng lực thực hiện của sinh viên nghề điện công nghiệp tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex”
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 11Xây dựng tiêu chí, quy trình và công cụ đánh giá KQHT mô đun Trang bị điện của HV nghề điện công nghiệp dựa trên NLTH tại trường Cao đẳng nghề kinh
tế - kỹ thuật Vinatex nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đánh giá KQHT trên năng lực thực hiện
- Đánh giá KQHT mô đun trang bị điện
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá KQHT mô đun trang bị điện tại trường CĐN kinh tế - kỹ thuật Vinatex
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu tổng quan về dạy học theo năng lực thực hiện
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập dựa trên năng lực thực hiện
- Đánh giá kết quả học tập Mô đun Trang bị điện của sinh viên nghề điện công nghiệp tại Trường Cao đẳng nghề Kinh Tế - Kỹ thuật Vinatex
5 Giả thuyết nghiên cứu:
Nếu đánh giá kết quả học tập của mô đun trang bị điện của sinh viên nghề điện công nghiệp dựa trên năng lực thực hiện sẽ tác động tích cực đến quá trình dạy
và học góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng nghề kinh tế -
kỹ thuật Vinatex
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp:
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học, lý luận về kiểm tra, đánh giá, đo lường qua các tài liệu trong và ngoài nước
Nghiên cứu lý luận về năng lực thực hiện và phương pháp đánh giá kết quả học tập dựa trên năng lực thực hiện
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 12Phương pháp điều tra, khảo sát giáo dục: Điều tra khảo sát bằng các phiếu thăm dò để tìm hiểu các nhận định, thái độ của giáo viên và sinh viên về kết quả đánh giá, kết quả học tập
6.3 Phương pháp quan sát
6.4 Phương pháp chuyên gia
7 Cấu trúc luận văn
- Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá kết quả học tập của sinh viên dựa trên năng lực thực hiện
- Chương 2: Thực trạng đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Trường Cao Đẳng Nghề Kinh Kế - Kỹ Thuật Vinatex
- Chương 3: Đánh giá kết quả học tập mô đun trang bị điện dựa trên năng lực thực hiện của sinh viên Trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
DỰA TRÊN NĂNG ỰC THỰC HIỆN 1.1 Tổng quan về nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở ngoài nước
Dạy học theo NLTH đã được xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ trước, cùng với sự ra đời của thuyết hành vi trong dạy học Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như A.Pojoux, F.Skinner đã đề cập đến việc tổ chức huấn luyện các kỹ năng thực hành giảng dạy cho sinh viên dựa trên cơ sở các thành tựu tâm lý học hành vi và tâm lý học chức năng [2] Đại học StanFort (Mỹ), nhóm “Phi Delta Kapkar” đã đưa ra báo cáo “Khoa học và nghệ thuật đào tạo các thầy giáo”, phân tích công việc của thầy giáo thành các bộ phận, những hành động có thể dạy và đánh giá được cho người thầy giáo tương lai [5] Năm 1970 trường Đại học Ohio của Mỹ đã có những nghiên cứu triển khai trong việc xây dựng các bộ mô đun đào tạo giáo viên dạy nghề dựa trên sự thực hiện (Performance Based Teachers‟Education Modules - PBTE Modules) [2] Cuối thế kỷ 20, đào tạo theo NLTH (Competency Based Training - CBT) đã trở thành một xu thế phổ biến trong giáo dục nghề nghiệp trên thế giới và được nhiều nhà khoa học quan tâm Ở Hoa Kỳ có công trình “Sổ tay thiết kế chương trình đào tạo theo NLTH‟‟ của W.E.Blank; ở Anh có công trình “Thiết kế đào tạo theo NLTH” của S.Fletcher; ở Úc có công trình
“Thiết kế chương trình đào tạo theo NLTH” của Bruce Markenzie [16] Tổ chức Lao động thế giới đã khuyến cáo đào tạo nghề theo “Mô đun kỹ năng hành nghề” (MES), đã biên soạn gần 100 bộ chương trình đào tạo nghề ngắn hạn theo MES tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, học xong mỗi mô đun người học được cấp chứng chỉ để hành nghề [18]; và nhiều công trình khác nữa
1.1.2 Ở trong nước
Đào tạo theo NLTH xuất hiện ở nước ta chưa lâu Khái niệm về đào tạo nghề theo Mô đun và NLTH lần đầu tiên được Viện khoa học dạy nghề đề cập đến vào năm 1986 Sau đó, đào tạo nghề ngắn hạn theo Mô đun kỹ năng hành nghề (MES)
Trang 14và NLTH đã được một số nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu Nguyễn Minh Đường
đã có các công trình: “Mô đun kỹ năng hành nghề - Phương pháp tiếp cận hướng dẫn biên soạn và áp dụng” (1993) [2], “Phương pháp đào tạo nghề theo mô đun kỹ năng hành nghề” (1994) [4], “Đào tạo nghề theo năng lực thực hiện” (2004) [3]; Nguyễn Đức Trí đã có các công trình như: “Đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện - Khái niệm và những đặc trưng cơ bản” (1995) [12], “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề” (Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ năm 1996) [13]
Cũng đã có một số luận án Tiến sĩ và luận văn cao học nghiên cứu về đào tạo theo NLTH như: Luận án tiến sĩ “Các giải pháp đổi mới quản lý dạy học thực hành theo tiếp cận NLTH” của Nguyễn Ngọc Hùng (2005) [6], Luận văn thạc sĩ “Đổi mới dạy học thực hành nghề kỹ thuật điện tại trường Cao đẳng công nghiệp dệt may thời trang Hà Nội theo NLTH” của Vũ Văn Thảo, v.v
Hiện nay đào tạo dựa trên NLTH cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm và được sử dụng trong việc phát triển nguồn nhân lực trong xu thế mở cửa, hội nhập của đất nước Tuy nhiên phương thức đào tạo dựa trên NLTH chưa được vận dụng nhiều ở các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp nói chung và các trường dạy nghề nói riêng
1.2 Khái niệm về năng lực, năng lực thực hiện và kiểm tra đánh giá
1.2.1 Năng lực
Định nghĩa về năng lực
- Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” (Theo quan niệm trong chương trình giáo dục phổ thông của Quebec - Canada) - Năng lực được xây dựng trên cơ
sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck, 1998)
- Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa
Trang 15trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001)
Vậy, năng lực của sinh viên là khả năng sinh viên tiếp nhận các kiến thức mà nhà trường trang bị tập trung vào giá trị cốt lỗi là năng lực nhận thức và năng lực tư
duy, đây được xem là hai mặt của năng lực trí tuệ
1.2.2 Năng lực thực hiện
Định nghĩa
Năng lực thực hiện hay năng lực hành nghề trong một số tài liệu tiếng Việt
hiện nay được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh, thường là “Competence” hoặc
“Competency”, ví dụ “Competency Based Training” (CBT) có thể được hiểu là
“đào tạo theo năng lực thực hiện”
Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra[1]
Năng lực thực hiện được coi như là sự tích hợp của kiến thức – kỹ năng – thái độ để thực hiện một công việc sản xuất và được thể hiện trong thực tiễn sản xuất
Không chỉ là kỹ năng lao động tay chân mà kỹ năng trí tuệ cũng là thành phần kỹ năng tạo nên năng lực thực hiện Chẳng hạn kỹ năng nhận biết, kỹ năng phán đoán, kỹ năng xử lý và giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định v.v Tùy
Trang 16theo loại năng lực cần hình thành mà thành phần kỹ năng đượcnhận diện có thể khác nhau [1]
NĂNG LỰC THỰC HIỆN
Hình 1.1 Các thành tố cấu thành năng lực thực hiện
Trong năng lực thực hiện, người ta cũng phân biệt bốn loại chủ yếu sau:
Kỹ năng thực hiện công việc cụ thể, riêng biệt
Kỹ năng quản lý các công việc
Kỹ năng quản lý các sự cố
Kỹ năng hoạt động trong môi trường làm việc
Cấu trúc của năng lực thực hiện hoạt động chuyên môn
Trong đào tạo nghề người ta quan tâm đến năng lực thực hiện hoạt động chuyên môn (Professional Action Competency) Năng lực này được coi là tích hợp của bốn loại năng lực sau: năng lực cá nhân (Individual competency) – năng lực chuyên môn/kỹ thuật (Professional/Technical competency) – năng lực phương pháp luận (Methodical competency) và năng lực xã hội (Social competency) [1]
Năng lực phương pháp luận Năng lực chuyên môn
Năng lực hoạt động chuyên môn Năng lực xã hội
Năng lực cá nhân
Hình 1.2 Cấu trúc của năng lực thực hiện hoạt động chuyên môn
Trong đó:
Trang 17 Năng lực cá nhân là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi
Năng lực kỹ thuật/chuyên môn (professional/technical competency) là khả năng thực hiện, đánh giá các nhiệm vụ chuyên môn một cách chính xác, độc lập, có phương pháp Năng lực này thể hiện ở khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khả năng nhận biết các mối quan hệ trong hệ thống và quá trình
Năng lực phương pháp luận (methodical competency): là khả năng thực hiện hành động có kế hoạch, xác định mục đích và phương hướng giải quyết cácnhiệm
vụ chuyên môn, các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn Cốtlõi của năng lực phương pháp là những khả năng tiếp nhận, xử lý , đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức
Năng lực xã hội (social competency) là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác
Đặc trưng năng lực thực hiện
Năng lực thực hiện có thể được nhận biết qua các đặc trưng sau: [8]
Là các thuộc tính nhân cách (kiến thức, kỹ năng, thái độ) và các nguyên tắc cần thiết của người lao động để thực hiện toàn bộ một hoặc một số nội dung lao động nghề nghiệp cụ thể
Thể hiện thông qua việc đáp ứng được tiêu chuẩn yêu cầu của vị trí làm việc thực tế trong sản xuất đặt ra (Tiêu chuẩn đòi hỏi của nghề nghiệp chứ không phải tiêu chuẩn của đào tạo)
Có thể chứng minh được tại vị trí làm việc (Sự thực hiện phải đánh giá và xác định được)
Trang 18 Được đánh giá trong điều kiện và hoàn cảnh môi trường lao động xác định (Với toàn bộ các áp lực cũng như các tác động liên quan đến điều kiện và môi trường thực tế sản xuất)
Các mức độ của năng lực thực hiện
Theo Bruce Markenzie [16] có 5 mức năng lực thực hiện như sau:
Mức 1: Thực hiện tốt các hoạt động lao động thông thường, quen thuộc
Mức 2: Thực hiện tốt các hoạt động lao động quan trọng trong những
hoàn cảnh khác nhau Có thể tự mình thực hiện một số hoạt động lao động tương đối phức tạp hoặc các công việc ít gặp Có khả năng làm việc hợp tác, tham gia nhóm làm việc
Mức 3: Thực hiện các hoạt động lao động phức tạp, ít gặp, trong nhiều hoàn
cảnh khác nhau Có khả năng làm việc độc lập cũng như khả năng kiểm soát và hướng dẫn người khác
Mức 4: Có khả năng thực hiện một cách chắc chắn và độc lập các hoạt động
lao động kỹ thuật/chuyên môn phức tạp trong những tình huống (ca) khó Có khả năng tổ chức và quản lý công việc của nhóm và điều phối các nguồn tài nguyên
Mức 5: Ứng dụng các nguyên tắc trọng yếu và kỹ thuật phức tạp trong nhiều
hoàn cảnh lao động khác nhau; đảm đương những công việc thường xuyên đòi hỏi tính tự chủ cao, điều hành công việc của những người khác và kiểm soát các nguồn tài nguyên quan trọng Ngoài ra cũng có khả năng chuẩn đoán, thiết kế, lập kế hoạch, thực thi kế hoạch và đánh giá công việc
1.2.3 Kiểm tra đánh giá
Kiểm tra
Kiểm tra là một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu nhập thông tin để có được những phán đoán, xác định xem mỗi người học sau khi học đã biết gì (kiến thức), làm được gì (kỹ năng) và bộc lộ thái độ ứng xử ra sao [7]
Đánh giá
Trang 19Đánh giá là quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những kết luận đánh giá Người đánh giá căn cứ vào các yêu cầu được quy định bởi tiêu chuẩn năng lực của công việc để đưa ra kết luận đánh giá về tính chất và mức độ thực hiện [8]
Đánh giá kết quả học tập của người học trong đào tạo theo NLTH là một mặt quan trọng của quá trình dạy và học Đánh giá trong đào tạo theo NLTH là đánh giá các năng lực theo các tiêu chí thực hiện của các năng lực đó, thực chất là xem xét người học đã có thể làm được gì trước khi học, trong quá trình học và kết thúc khóa học đối với công việc mà họ phải thực hiện so với tiêu chuẩn đã được quy định Tất
cả mọi đánh giá nên nhằm để giúp người học đánh giá bản thân
Sau khi đánh giá, đánh giá viên thông báo cho người học về sự thực hiện của
họ và những gì mà người học chưa có năng lực Báo cáo của đánh giá viên sẽ nêu
cụ thể về những công việc tiếp theo mà người học cần phải tiếp tục thực hiện
Đánh giá kết quả học tập của người học là một phần không thể tách rời của đào tạo theo NLTH do đó, cần phải đảm bảo rằng người học nhận thức được đánh
giá là một phần của công tác đào tạo Nó mang tính xây dựng và tính tổng hợp và vì
vậy, người học không cần phải lo ngại về nó Những người học muốn được đánh giá sớm sẽ xác định được điểm mạnh và điểm yếu của mình là ở đâu Thông thường, đánh giá kết quả học tập của người học sẽ dựa trên một mẫu công việc, một hoạt động hạn chế hoặc một phần của một quá trình nào đó
1.3 Phân tích nghề và phân tích nghề theo phương pháp Dacum
1.3.1 Phân tích nghề
Phân tích nghề gồm 4 bước: (1) mô tả nghề; (2) Xác định danh mục các lĩnh vực nhiệm vụ và các công việc tương ứng, (3) phân tích các công việc, (4) Xác định chuẩn kỹ năng
(1) Mô tả nghề
Mô tả nghề là mô tả những nhiệm vụ của vị trí công việc mà người công nhân phải đảm nhiệm, những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ và điều kiện để hoàn thành công việc, nhiệm vụ đã chỉ ra
Trang 20Ví dụ như bảng mô tả nghề: Sửa chữa ô tô (trong dự án 15 trường hợp trọng điểm, do trường Trung học Công nghiệp Huế thực hiện năm 2004)
Nghề sửa chữa ô tô là nghề chuyên thực hiện các công việc như: kiểm tra, chẩn đoán, bảo dưỡng và sửa chữa các loại ô tô phổ biến theo đúng yêu cầu kỹ thuật chuyên ngành, đạt chất lượng, đảm bảo thời gian và an toàn
Để đáp ứng được yêu cầu của nghề trước mắt và hướng cho sự phát triển trong tương lai, người công nhân cân phải:
- Chọn và sử dụng thành thạo các loại dụng cụ tháo lắp, các loại thiết bị đo kiểm, cân chỉnh phù hợp cho từng công việc
- Chuẩn đoán và phát hiện các hư hỏng trong các cơ cấu, hệ thống của ô tô chính xác và đầy đủ
Thực hiện các công việc bảo dưỡng sửa chữa đúng quy trình, quy phạm và đảm bảo
- Tiến hành sửa chữa nhỏ các trang thiết bi điện trên ô tô
- Bồi dưỡng kèm cặp công nhân bậc thấp
- Tổ chức và quản lý quá trình bảo dưỡng sửa chữa tương ứng với trình độ của mình
Có đủ sức khoẻ, thần kinh vững và phản xạ tốt để làm việc với độ chính xác cao trong môi trường tiềm ẩn nhiều nguy cơ độc hại và mất an toàn do xăng dầu ngây nên Là nghề đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao vì nó liên quan đến tài sản và tính mạng của nhiều người
(2) Xác định danh mục các lĩnh vực/nhiệm và các công việc nghề
Như ở phần các khái niệm đã trình bày, mỗi lĩnh vực/ nhiệm vụ nghề tương ứng với một mô đun Khái niệm này phải hiểu một cách linh hoạt, không thể máy móc "là một phần của MKH, có mở đầu và kết thúc rõ ràng và về nguyên tắc không
Trang 21chia nhỏ hơn được" Bởi vậy có những trường hợp để đảm bảo cho một mô đun không quá bé, người ta có thể kết hợp một số nhiệm vụ lại thành một nhiệm vụ lớn hơn để hình thành một mô đun đơn vị Như vậy mô đun có thể chia nhỏ được
Tuy nhiên, trong quá trình phân tích nghề để xác định danh mục các công việc theo một trình tự logic, cần bảo đảm các tiêu chuẩn sau đây:
+ Có mở đầu và kết thúc rõ ràng
+ Có thể tồn tại độc lập
+ Có kết quả rõ ràng
+ Kết quả có thể đánh giá được theo các chuẩn quy định
+ Không trùng lặp với công việc khác của nghề
Danh mục các công việc của nghề diện rộng mang tính quốc gia, bảo tồn đủ các công việc chung của từng nghề diện hẹp mang đặc thù địa phương, xí nghiệp, còn những công việc không chung thì được xác định là phần mềm đặc thù của từng địa phương đối với nghề đó
Phân tích nghề ra các nhiệm vụ và công việc
- Một nghề bao gồm các nhiệm vụ, nhiệm vụ được chia ra thành các công việc, công việc có thể chia ra thành các phần việc
- Trong từng công việc và phần việc phải đạt được các mục tiêu trên cơ sở các
Trang 22- Có thể tồn tại độc lập (khi không ghép vào nghề hoặc công việc vẫn có giá trị độc lập)
Không cần quy định cho người lao động phải có những kiến thức, kỹ năng, thái độ hoặc công cụ cần thiết (nhiệm vụ không phải là phần tử nhỏ nhất của nghề)
b Công việc
Trong quá trình phân tích nghề, để xác định danh mục các công việc theo trình
tự logic, cần đảm bảo các tiêu chí sau đối với mỗi công việc:
+ Có mở đầu và kết thúc rõ ràng biểu thị bằng một động từ hành động
+ Có thể tồn tại độc lập, xác định cụ thể
+ Có kết quả rõ ràng
+ Kết quả có thể đánh giá được theo tiêu chuẩn quy định
+ Không trùng lặp với công việc khác của nghề
Khái niệm “công việc” phải hiểu một cách linh hoạt, không thể máy móc bởi vậy có những trường hợp để đảm bảo thuận lợi cho việc giảng dạy người ra có thể kết hợp một số công việc lại thành các công việc lớn hơn để hình thành mô đun hay một đơn vị học trình Ví dụ về công việc như chẩn đoán hệ thống làm mát, tiện trục bậc,
Bản phân tích nghề mang tính việc làm này chỉ thích ứng cho việc hành nghề trong xã hội, cho bản thân người học và thường là những nghề xã hội diện hẹp, mang tính đặc thù từng địa phương, từng xí nghiệp Nếu cần một nghề chuẩn cho phạm vi cả nước thì cần phân tích nghề ở nhiều xí nghiệp, nhiều địa phương khác nhau để có những đặc tính nghề diện rộng mang tính quốc gia Để có được bản đặc tính nghề như vậy cần có sự tham gia của những người sử dụng lao động và những giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong đào đào tạo Bộ ba “ nhà chuyên môn- người
sử dụng lao động- nhà giáo” sẽ đảm bảo cho việc phân tích nghề thể hiện được trình
độ hiện đại của khoa học công nghệ cần thiết, gắn được với yêu cầu của sản xuất, làm tiền đề cho việc biên soạn nội dung đào tạo nghề
Trong khi chưa có chuẩn kỹ năng quốc gia để có một bản đặc tính nghề của một nghề diện rộng mang tính quốc gia cần tiến hành khảo sát ở nhiều xí nghiệp,
Trang 23nhiều địa phương để có thể tập hợp được ở các mặt đa dạng của từng nghề diện hẹp của các xí nghiệp, các địa phương khác nhau
Sản phẩm: biểu đồ DACUM hoặc sơ đồ phân tích nghề
Ví dụ phân tích nghề giáo viên:
A- Chuẩn bị bài
giảng
A1- Viết giáo
án cho bài giảng
A2- Thu thập
phương tiện dạy học
A3- Chuẩn bị thiêt bị
và nguyên vật liệu cần thiết cho bài giảng
A4-
B- Giảng bài
B1- Diễn đạt nội dung bài giảng
B2- Trình bày bài giảng
B3- Sử dụng các thiết
bị phụ trợ
B4-
C- Kiểm tra, thi C1- Ra đề thi C2- Coi thi C3-Chấm thi C4-
D- Thực hiện các
nhiệm vụ/sự vụ D1- Trực BM
D2- Sinh hoạt học thuật
D3-
D4-
E- NCKH và tự bồi
dưỡng nâng cao trình
độ
E1 - Thực hiện các đề tài NCKH
E2- Viết báo
(3) Phân tích các công việc và kỹ năng nghề
Các lĩnh vực/ nhiệm vụ của một nghề có thể gọi là những mô đun của nghề
đó và trong quá trình hành nghề, mỗi công việc được tiến hành theo một quy trình với những bước hoạt động được phân tích sắp xếp một cách logic Phân tích công việc là xác định:
- Các bước thực hiện của từng công việc trong sơ đồ DACUM
- Các tiêu chuẩn thực hiện của từng bước công việc (theo tiêu chuẩn của ngành nghề trong thực tiễn)
- Các dụng cụ, trang bị, vật liệu cần thiết để thực hiện từng bước công việc
- Các kiến thức HS cần thiết để thực hiện từng bước công việc
- Các vấn đề về an toàn trong từng bước công việc
Trang 24- Các quyết định, các lỗi thường gặp trong từng bước công việc
Sản phẩm: Các phiếu phân tích công việc
Phân tích các bước công việc và kỹ năng nghề là một việc hết sức phức tạp, tốn nhiều thời gian và công sức, nhưng là bước hết sức quan trọng vì nó quyết định nội dung và thời gian đào tạo hợp lý để hình thành các kỹ năng đó Việc phân tích này cần có sự tham gia của một nhóm gồm các nhà phân tích, các nhà chuyên môn cùng nghề, các công nhân có kinh nghiệm, đồng thời phải có phương pháp phân tích khoa học để có thể loại trừ được những thao tác thừa không hợp lý, thiếu logic
Kết quả của việc phân tích các công việc là hình thành được một danh mục các kỹ năng chuẩn của nghề để làm cơ sở cho việc thiết kế nội dung các đơn nguyên học tập, các bài dạy và giúp người thiết kế có cơ sở khoa học để thiết kế một nội dung đào tạo hợp lý thông thường cũng như không bị bỏ sót các khâu trong việc hình thành những kỹ năng cần thiết
(4) Xác định chuẩn kỹ năng
- Phân tích hoạt động các hệ thống phát, truyền tải, đặc biệt là phân phối và tiêu thụ điện; hệ thống chiếu sáng; hệ thống chống sét; hệ thống an ninh, an toàn điện Thiết kế, triển khai, xây dựng, vận hành và bảo trì hệ thống phân phối điện năng khu công nghiệp, khu dân cư; mạng động lực phân xưởng, xí nghiệp; hệ thống chiếu sáng dân dụng và công nghiệp; hệ thống chống sét và nối đất; hệ thống bảo vệ-an ninh, an toàn điện;
- Tính toán, thiết kế, sửa chữa, phát huy hết năng suất và đảm bảo tính năng tối ưu của thiết bị trong hệ thống và tiết kiệm năng lượng;
- Sửa chữa, vận hành và kiểm tra các loại thiết bị điện, máy điện ba pha, máy điện một pha, máy điện một chiều và máy biến áp trong công nghiệp và dân dụng
1.3.2 Phân tích nghề theo phương pháp Dacum
DACUM là từ viết tắt của phát triển một chương trình (Developing A Curriculum), là một phương pháp được nhận thức toàn cầu/một kỹ thuật phân tích nghề được sử dụng rộng rãi bởi các nhà hoạt động công nghiệp, các nhà giáo dục,
và các nhà tư vấn nhằm xác định một cách có hiệu quả về nhiệm vụ, công việc, và
Trang 25những thông tin liên quan cần thiết đối với một nghề nào đó DACUM cũng cung cấp nguồn dữ liệu xác đáng để đưa ra những quyết định trong quản lý, phát triển chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, lập kế hoạch nghề nghiệp, thiết kế lại nghề, đánh giá kết quả thực hiện và lập kế hoạch giám sát chất lượng nghề
Làm thế nào các bạn có thể xác định được những gì sẽ được dạy ở cơ sở đào tạo của bạn hoặc các chương trình đào tạo? Liệu có khoảng cách giữa cái mà người học được dạy ở trường lớp và các phòng thí nghiệm so với cái mà đang diễn ra trên thế giới công việc thực tế? Có nhiều khảo sát đã tính được khoảng cách ấy là khoảng 50% hoặc cao hơn với một vài chương trình đào tạo Cho dù không đề cập tới điều kiện của các cơ sở đào tạo, thì việc xác định kỹ năng, kiến thức và thái độ của người làm việc sẽ được dạy đối với các trường cao đẳng, các nhà kinh doanh, các nhà công nghiệp, các tổ chức chính phủ là một công việc rất nghiêm túc
Không xác định chính xác nội dung thì lỗi cơ bản gây tốn kém đáng kể sau đây có thể xảy ra Đó là lỗi về “nội dung chương trình” dẫn đến hệ quả là không dạy cái đáng ra nên dạy (như các kỹ năng và kỹ thuật cập nhật) và dạy cái không nên dạy (những thông tin và kỹ năng đã lạc hậu) (Norton.1997)
Đối với các lỗi này đều có ảnh hưởng nghiêm trọng và tiêu cực đối với sinh viên cũng như công nhân sắp hành nghề Dạng lỗi đào tạo này có thể làm mất cơ hội tuyển dụng của các cá nhân và ảnh hưởng tới sự thành công của doanh nghiệp, thậm chí có thể làm giảm đi phúc lợi và thu nhập kinh tế của cộng đồng
Hiện nay có một phương pháp ít tốn kém, vừa nhanh, lại hiệu quả mà có sẵn nhằm giảm đi một cách có ý nghĩa những “sai sót (lỗi) của chương trình đào tạo” đồng thời lại phòng ngừa được việc “đánh lừa người học” Phương pháp đó được gọi là DACUM (phát triển một chương trình)
Vì thế DACUM được sử dụng rộng rãi như một phương pháp rất hiệu quả, đổi mới và duy nhất của phân tích nghề hay công việc Nó cũng rất hiệu quả trong hướng dẫn phân tích quá trình cũng như các khái niệm nghề Phân tích DACUM thường bao gồm một người hướng dẫn và thúc đẩy DACUM được đào tạo bao gồm 5-12 người sinh viên nghề nghiệp hoặc lĩnh vực phân tích khác nhau
Trang 26Hình 1.3 Sơ đồ về kết quả được mô tả chi tiết gồm các nhiệm vụ, công việc được trình bày
Thêm nữa, đối với các nhiệm vụ quan trọng, danh mục về kiến thức và các kỹ năng, về thái độ của người học, các công cụ/thiết bị/vật liệu/ phụ tùng, và xu hướng công việc phát triển trong tương lai cũng được xác định
DACUM được đề xuất dựa trên ba tiên đề logic (Norton, 1997) như sau:
- Những người thợ lành nghề có thể mô tả và xác định nhiệm vụ công việc chính xác hơn bất kỳ người nào khác Những người làm nghề toàn thời gian ở vị trí của họ
là những chuyên gia thực sự đối với nghề đó Mặc dù những người quản lý và phụ trách thường biết rất nhiều những công việc bổ trợ nhưng họ cũng thường xuyên thiếu chuyên môn cần thiết đối với các phân tích chất lượng cao
- Một phương pháp hiệu quả để xác định nghề nghiệp và công việc chính là mô tả tỉ
mỉ các công việc mà người công nhân tiến hành Một người công nhân thường thực hiện các công việc khác nhau mà khách hàng và nhà tuyển dụng cần Có thái độ tích cực và kiến thức là chưa đủ Vì vậy, cần phải tìm ra những gì mà người công nhân lành nghề hàng đầu thực hiện (người công nhân giỏi nhất) sẽ cho chúng ta cơ hội đào tạo các công nhân lành nghề khác
- Tất cả các công việc, để được thực hiện một cách chính xác phải có yêu cầu đối với kiến thức, kỹ năng, công cụ nhất định và thái độ tích cực của người công nhân Trong khi kiến thức, kỹ năng, công cụ và thái độ không phải là các công việc cụ thể,
mà chúng là những điều kiện thúc đẩy để làm cho các công việc trở thành có thể đối với một người công nhân Vì bốn yếu tố thúc đẩy cần thiết này là quan trọng, nên được quan tâm chú ý để nêu ra trong DACUM nhằm xác định danh mục của mỗi công việc (Nói cách khác mỗi công việc cần được nêu tách bạch với kiến thức, kỹ năng, thái độ đi kèm với nó)
Trang 271.4 Đánh giá kết quả học tập theo năng lực thực hiện
Đánh giá toàn diện sự thực hiện
Do năng lực gồm các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để làm việc an toàn và hiệu quả nên đánh giá theo năng lực là đánh giá theo công việc và mang tính tổng thể nó không trừu tượng như đánh giá truyền thống Mặc dù đánh giá năng lực sẽ dựa vào mẫu thực hiện công việc, nhưng đánh giá đó có trọng tâm mang tính thực tế, tức là tập trung vào việc người học có thể làm gì chứ không phải việc người học biết gì Mẫu thực hiện công việc có liên quan được lấy trong bối cảnh tại nơi làm việc bằng cách sử dụng một nhiệm vụ công việc và trong điều kiện làm việc
Đánh giá truyền thống chủ yếu dựa vào việc đánh giá kiến thức thông qua các bài kiểm tra, các nhiệm vụ mà người học được nhận từ người dạy và được tiến hành tại nơi học tập (lớp học), những điều này khác xa so với những áp lực từ bối cảnh công việc Tại bối cảnh công việc thì kết quả thực hiện công việc còn bị ràng buộc rất lớn về việc sử dụng tối ưu các nguồn lực để hoàn thành công việc
Đào tạo truyền thống thường sử dụng mục tiêu học tập làm cơ sở cho việc đánh giá và chủ yếu dựa vào những gì mà người người học biết và người học sẽ
được xếp thứ tự theo điểm số Cách đánh giá này gọi là đánh giá theo chuẩn tương
đối Nếu người học được xếp vào trong tốp 10% dẫn đầu của lớp thì đó chính là
đánh giá theo chuẩn tương đối Tương tự như vậy, đánh giá theo kiểu người học đạt được khoảng 65% hay đạt chứng chỉ trong một kỳ thi tại trường đại học hay việc so sánh người học này với người học khác căn cứ vào khối lượng kiến thức mà phạm
vi và độ sâu của kiến thức đó được xác định qua bài thi
Các yếu tố của đánh giá dựa vào năng lực
- Tiêu chí đánh giá: là sự chỉ định các kết quả thực hiện công việc của sinh viên được xác định tại nơi làm việc Tiêu chí đánh giá được xác định bằng các câu hỏi: Các kết quả chính là gì?; Chất lượng của các kết quả đó như thế nào?; Mong đợi của việc tổ chức thực hiện, sự an toàn tại nơi học tập, làm việc để thực hiện năng lực là gì? Các tiêu chí bắt buộc sử dụng trong đánh giá là: thời gian, hiệu quả và an toàn
Trang 28- Tiêu chí sử dụng: để đánh giá năng lực của sinh viên trong quá trình đào tạo là tiêu chí tối thiểu trong công nghiệp
- Phát triển các tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực: là việc xác định các kết quả cần đạt được trong thực hiện các kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên theo chuẩn Tiêu chuẩn đánh giá: Tiêu chuẩn đánh giá là mức độ yêu cầu và điều kiện mà sinh viên phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Tiêu chuẩn đánh giá dựa vào năng lực khác với các tiêu chuẩn đánh giá khác đó là chỉ có 2 mức đánh giá: đạt hoặc không đạt vì thế đây cũng được coi là tiêu chuẩn tuyệt đối Sinh viên chỉ được công nhận là đạt tiêu chuẩn – có năng lực (competency) khi đã thực hiện được toàn bộ các kỹ năng cơ bản nhất cần phải có, nếu thiếu một trong số những kỹ năng đó coi như sinh viên chưa đạt được theo chuẩn đề ra và không được công nhận là có năng lực thực hiện (NYC – Not Yet Competency) Bằng chứng tốt nhất: Là kết quả của những công việc mà sinh viên thực hiện để trình diễn kỹ năng của mình, kết quả của những công việc được thực hiện đó chính là bằng chứng chứng minh cho kỹ năng sinh viên đạt được Ta cũng có thể coi bằng chứng tốt nhất
là bằng chứng đánh giá cho việc đánh giá dựa vào năng lực Thể hiện các dấu hiệu, chỉ số hoặc tài liệu, văn bản thể hiện khả năng đạt được các tiêu chí thực hiện của một thành tố năng lực Vì không thể quan sát trực tiếp được năng lực nên cần phải
có một số chỉ dấu hay chỉ số gián tiếp có thể hàm ý hay biểu hiện được năng lực đó Chỉ dấu và chỉ số là những dấu hiệu hay số liệu phản ánh cụ thể số liệu hay phản ánh chất lượng của kết quả thực hiện Muốn sử dụng được tiêu chí đánh giá thì tiêu chí phải kèm theo các chỉ số
Các giai đoạn đánh giá kết quả học tập của người học
Hai giai đoạn đánh giá kết quả học tập của người học trong đào tạo theo năng lực thực hiện:
Thu thập thông tin về cách một người thực hiện một hoạt động cụ thể
Đánh giá và thông báo về kết luận đánh giá dựa trên thông tin thu thập được
Phương thức đánh giá kết quả học tập của người học
Trang 29Đánh giá kết quả học tập của người học theo NLTH có 2 phương thức: đánh giá quá trình, hay còn gọi là đánh giá phát triển (formative) và đánh giá tổng kết, hay còn gọi là đánh giá phán xét, đánh giá kết thúc (summative) Tuy nhiên, trước khi tiến hành đào tạo người ta còn đánh giá đầu vào để xác định những năng lực đã
có
Đánh giá đầu vào:
Đánh giá đầu vào giúp người dạy ghi nhận được những kỹ năng người học
đã có và do đó sẽ không phải dạy lại
Trong đánh giá đầu vào, những gì người học đã được đào tạo mà hồ sơ năng lực đã nêu sẽ được thừa nhận nếu kết quả của trung tâm đánh giá kết luận là đạt thông qua đánh giá năng lực thực hiện Nếu hồ sơ năng lực của người nhập học không nêu những gì đã được đào tạo nhưng kết quả đánh giá theo năng lực thực hiện của trung tâm đánh giá kết luận là đạt thì cũng được cấp chứng nhận về sự thừa nhận năng lực đó cho dù họ đã học ở đâu, học bao lâu và làm thế nào để họ phát triển được năng lực đó
Đánh giá quá trình:
Đánh giá quá trình giúp cho người học ghi nhận được về sự phát triển về năng lực của mình, từ đó phát huy kết quả và khắc phục tồn tại, tạo cơ hội tốt để người học tự đánh giá bản thân
Kết luận đánh giá cần tập trung về tính chất và mức độ mà người hành nghề thực hiện
Mục đích của đánh giá kết quả học tập của người học
Trang 30Việc đánh giá có hai mục đích: đánh giá mang tính xây dựng và đánh giá mang tính tổng hợp
“Khi người học báo cáo kết quả học tập (Lý thuyết hoặc thực hành), đó là đánh giá mang tính xây dựng Khi giáo viên nghiệm thu kết quả, đó là đánh giá mang tính tổng hợp”
Đánh giá mang tính xây dựng là để phục vụ cho sự phát triển và tập trung vào
việc dạy và học thông qua việc cung cấp:
Phản hồi cho người học về sự tiến bộ của họ và các công việc tiếp theo;
Phản hồi cho giáo viên về những gì cần được cải thiện;
Là động lực cho cả giáo viên và người học
Đánh giá mang tính tổng hợp là để đưa ra phán quyết và nó sẽ cung cấp:
Một thước đo cho những gì mà người học đã đạt được,
Một hồ sơ về sự thực hiện tương đối,
Một cơ sở để quyết định việc đạt hay không đạt sự thực hiện,
Một cơ sở để quyết định về việc cấp văn bằng, chứng chỉ
Trang 31Kết luận chương 1
Đào tạo theo NLTH là một xu thế đang ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và cũng đang là một chủ trương về đổi mới đào tạo nhân lực ở nước ta Trong giáo dục đào tạo nói chung, đặc biệt là trong đào tạo dựa trên NLTH nói riêng, đánh giá và xác nhận KQHT (NLTH) là thành phần đặc biệt quan trọng, là một trong những khâu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả đào tạo
Nội dung chương 1 đã đề cập đến:
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Khái niệm về năng lực, năng lực thực hiện và kiểm tra đánh giá
Phân tích nghề và phân tích nghề theo phương pháp Dacum
Đánh giá kết quả học tập theo năng lực thực hiện
Từ đó, nhận thấy trong đào tạo theo NLTH thì việc đánh giá kết quả người học nghề điện công nghiệp vẫn còn là một vấn đề nan giải và gặp nhiều khó khăn Nhiệm vụ đặt ra ở đây là làm sao phải xác định được tiêu chí, quy trình đánh giá hợp lý nhất đảm bảo cho phần kiến thức lý thuyết thu được của người học sát thực với các nhiệm vụ hoàn thành mục tiêu kỹ năng Đặc biệt trong phần đánh giá kỹ năng cần đảm bảo tính giá trị, độ tin cậy, công bằng và linh hoạt
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX 2.1 Giới thiệu về nghề điện công nghiệp và trường cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex
2.1.1 Giới thiệu về nghề điện công nghiệp
Nghề Điện công nghiệp là nghề chỉ các công việc liên quan đến điện trong công nghiệp Trong công nghiệp, nghề điện bao gồm các công việc từ lắp đặt, sửa chữa hệ thống cung cấp điện cho các phân xưởng, máy sản xuất và vận hành, sửa chữa các thiết bị điện, dây truyền sản xuất Nhà máy xí nghiệp nào cũng cần đến người có chuyên môn nghề điện công nghiệp
Từ đó, nghề điện công nghiệp là nghề trọng yếu trong đào tạo nghề trên thế giới và Việt Nam Hầu hết các trường nghề đều đào tạo nghề điện công nghiệp Theo báo cáo của Tổng cục dạy nghề năm 2008, điện công nghiệp là nghề có số lượng trường đăng ký đào tạo nhiều nhất (52 trường) với 6685 chỉ tiêu (chiếm 11,8% tổng chỉ tiêu tuyển sinh năm 2008)[14] Điều đó đã cho thấy nhu cầu đào tạo cũng như sử dụng nhân lực nghề này đang ở mức cao
Hiện nay tất cả các doanh nghiệp sử dụng lao động đều mong muốn HS tốt nghiệp nghề điện công nghiệp tại các cơ sở đào tạo có thể hành nghề trong một thời gian ngắn nhất
Đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của nghề điện trong lĩnh vực công nghiệp, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cụ thể:
Trang 33 Lắp đặt, bảo dưỡng, sử dụng và sửa chữa được các thiết bị và hệ thống điện công nghiệp và dân dụng
Phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp xử lý/thay thế cải tiến mới, cải tiến tương đương trong phạm vi nghề nghiệp Có khả năng ứng dụng các thành tựu Khoa học và Kỹ thuật công nghệ vào thực tế
Phối hợp tốt về chuyên môn với các công nhân trung cấp nghề và sơ cấp nghề
Có tính độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân Có khả năng hướng dẫn, giám sát được công việc của những người trong nhóm công tác do mình phụ trách Có khả năng tự học để nâng cao năng lực chuyên môn Kèm cặp, hướng dẫn các bậc thợ thấp hơn
Tổ chức sản xuất nhằm phục vụ cho việc tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất của một phân xưởng, một tổ kỹ thuật, một cửa hàng bảo trì, bảo dưỡng hoặc sản xuất, sửa chữa, lắp đặt các thiết bị điện dân dụng và công nghiệp
2.1.2 Vài nét về trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex
Đến nay Nhà trường đã đào tạo trên 60 nghìn lao động lành nghề, kỹ thuật viên cung cấp nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh và đào tạo hàng nghìn lao động xuất khẩu sang các nước;
Trang 34Nhiều thế hệ HS – SV của trường đã trở thành thợ giỏi ưu tú cấp Bộ, Ngành, Quốc gia, cán bộ quản lý điều hành sản xuất của các doanh nghiệp trên phạm vi cả nước
Trong suốt chặng đường ngót nửa thế kỷ qua cùng với sự biến động thăng trầm của lịch sử, Nhà trường luôn giữ vững và phát huy vai trò tiên phong trong sự nghiệp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho đất nước
Cơ quan chủ quản: Tập đoàn Dệt May Việt Nam
2 Chiến lược phát triển
Tập trung xây dựng thương hiệu và quảng bá hình ảnh Trường, mở rộng quy
mô đào tạo, đảm bảo chất lượng đào tạo theo TCVN ISO 9001:2008 đã xây dựng, triển khai năm 2010; đưa lưu lượng HS-SV đến năm 2015 là 15.000; đến năm 2020
là 20.000 HS - SV
Xây dựng kế hoạch và lộ trình cụ thể về việc bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đủ năng lực để nâng cấp Trường thành Trường Đại học Công nghệ Vinatex vào năm 2012-2017
Khai thác và phát huy mọi nguồn lực, đầu tư trọng điểm trang thiết bị, phương tiện dạy học hiện đại; nhanh chóng hoàn thiện dự án xây dựng cơ sở II để đưa vào hoạt động, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển Trường
Mở rộng liên doanh, liên kết trong nước và nước ngoài, xây dựng Trường có 3 nghề trọng điểm quốc gia và khu vưc về đào tạo ngành công nghiệp Dệt - May
Coi trọng công tác NCKH, xây dựng chương trình, giáo trình, học liệu đạt tiêu chuẩn quốc gia; từng bước tiếp cận với trình độ quốc tế
Đẩy mạnh hợp tác với các Doanh nghiệp, khối Viện, Trường nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo và năng lực cạnh tranh
3 Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất
Cơ cấu tổ chức:
Bao gồm 28 đơn vị trực thuộc bao gồm: 9 phòng, 6 trung tâm, 8 khoa, 2 văn phòng đại diện, 2 xưởng sản xuất thực nghiệm và 1 ban dịch vụ
Cơ sở vật chất:
Trang 35 Cơ sở 1: Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ với tổng diện tích là 6.500 m2 bao gồm lớp học, thư viện, khu vui chơi giải trí đáp ứng tốt cho công tác đào tạo cho Nhà trường
Cơ sở 2: Nhà trường đầu tư gần 180 tỷ đồng, với tổng diện tích gần 5 ha, khuôn viên rộng rãi gồm khu hiệu bộ 5 tầng, 70 phòng học lý thuyết, 20 xưởng thực hành được đầu tư trang thiết bị hiện đại và 2 khu ký túc xá 5 tầng để phục vụ các học sinh, sinh viên ở xa Ngoài ra cơ sở 2 còn có nhà ăn sinh viên, nhà giáo dục thể chất, cùng hệ thống sân đường cây xanh được qui hoạch thiết kế đồng bộ, tạo cảnh quan hài hoà, thông thoáng, sạch đẹp
Đội ngũ giáo viên:
Tổng số cán bộ giáo viên của trường hiện tại khoảng hơn 370 người: Giáo viên là 268 người trong đó tỉ lệ nghiên cứu sinh khoảng 5%, thạc sĩ khoảng 40%, còn lại là trình độ đại học và cao đẳng
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NHÀ TRƯỜNG
BAN GIÁM HIỆU (HIỆU TRƯỞNG VÀ CÁC PHÓ HIỆU TRƯỞNG)
ĐẢNG BỘ CÔNG ĐOÀN ĐOÀN TNCS HCM
TRUNG TÂM GDTX & KHCB
KHOA DỆT - SỢI - NHUỘM
KHOA CÔNG NGHỆ MAY
KHOA ĐIỆN-ĐIỆN TỬ
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
KHOA KINH TẾ KHOA CƠ KHÍ
CÁC TRUNG TÂM, DỊCH VỤ
BỘ PHẬN CHỨC NĂNG
PHẬN CHUYÊN MÔN
CÁC ỚP HỌC SINH – SINH VIÊN
TT HỢP TÁC ĐT - BD
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex
Trang 362.2 Phân tích nghề điện công nghiệp theo phương pháp Dacum
2.2.1 Vị trí, phạm vi của nghề
Nghề điện công nghiệp là nghề chuyên lắp đặt, kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống điện công nghiệp đạt yêu cầu kỹ thuật và đảm bảo an toàn Người hành nghề điện công nghiệp trực tiếp tham gia lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống điện công nghiệp là cán bộ kỹ thuật, cán bộ thiết kế trong các cơ sở sản xuất, cơ quan, đơn vị kinh doanh điện; Tự tổ chức và làm chủ cơ sở sản xuất, sửa chữa thiết bị điện công nghiệp
2.2.2 Các nhiệm vụ chính của nghề: Người hành nghề Điện công nghiệp
cần:
- Phân tích được các bản vẽ, tài liệu kỹ thuật của thiết bị điện;
- Sử dụng thành thạo các dụng cụ, thiết bị nghề điện công nghiệp
- Tính chọn được vật tư, phụ kiện phù hợp với yêu cầu công việc;
- Bảo dưỡng, sửa chữa vận hành được các dụng cụ, thiết bị nghề điện công nghiệp
- Thiết kế hệ thống điện công nghiệp, hệ thống chống sét phù hợp với điều kiện thực tế và đảm bảo yêu cầu kỹ thuật
- Giám sát và xử lý được các sự cố trong quá trình lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống điện công nghiệp
- Thực hiện tốt các biện pháp an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp, phòng chống cháy nổ
- Có khả năng làm việc và giải quyết các công việc một cách chủ động, phối hợp làm việc theo tổ, nhóm, tổ chức và quản lý quá trình sản xuất, bồi dưỡng kèm cặp được công nhân bậc thấp hơn
2.2.3 Thiết bị, dụng cụ
Thiết bị chính của nghề điện công nghiệp là: Động cơ, máy biến áp, máy phát điện, máy lạnh, các thiết bị điện trong gia đình…Khi làm việc cần sử dụng các dụng cụ như: đồng hồ VOM, Ampe kìm, bút thử điện, mỏ hàn, kìm, tuôc-nơ-vít, búa, cờ-lê, mỏ lết, cưa, đục, dũa …
Trang 372.3 Thực trạng công tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên nghề Điện công nghiệp tại Trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex
Hiện nay nhà trường đang đào tạo nghề điện công nghiệp dựa theo chương trình khung trình độ cao đẳng nghề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và tiến hành đánh giá kết quả học tập của SV theo quy chế số 14 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Việc KTĐG KQHT của SV luôn là vấn đề được nhà trường quan tâm đặc biệt
Để đưa ra được một phương pháp KTĐG vừa khách quan, vừa chính xác đáp ứng được các nhu cầu của cả người dạy và người học, tác giả đã tiến hành điều tra lấy ý kiến của GV và SV khoa Điện về thực trạng công tác đánh giá kết quả học tập thông qua các câu hỏi trong phiếu điều tra Mẫu khảo sát gồm 20 GV, 100 SV của khoa Điện - Điện tử Trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Vinatex Kết quả tổng hợp được trình bày trong phụ lục 2.1 và 2.2
2.3.1 Nhận thức của giáo viên về kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Nhận thức của GV về mục đích của việc KTĐG KQHT
Bảng 2.1 Kết quả nhận thức của GV về mục đích của việc KTĐG KQHT
Rất quan trọng
Quan trọng
Không quan trọng
2 Xác định trình độ của HS so với yêu cầu 60% 40% 0%
6 Điều chỉnh, cải tiến nội dung chương trình 85% 15% 0%
Nhận thức của GV về các yêu cầu sư phạm đã được GV thực hiện trong KTĐG
KQHT của HS
Trang 38Bảng 2.2 Kết quả trưng cầu ý kiến về việc thực hiện các yêu cầu sư phạm trong KTĐG của GV
TT Các yêu cầu sư phạm trong KTĐG
KQHT
Rất quan trọng
Quan trọng
Không quan trọng
3 Đảm bảo tính xác nhận và tính phát triển 35% 65% 0%
Mục tiêu về kiến thức cần đạt được của HS mà GV yêu cầu
Bảng 2.3 Kết quả thăm dò GV về mục tiêu kiến thức mà GV yêu cầu đối với HS trong quá trình KTĐG KQHT
TT Mục tiêu kiến thức yêu cầu đối với HS trong quá trình KTĐG Kết
quả
1 Theo hướng giảm yêu cầu về trí nhớ và thuộc lòng 70%
Từ các số liệu thống kê trên, ta thấy:
Các GV đã có nhận thức đúng về mục đích của việc KTĐG KQHT cũng như các yêu cầu sư phạm khi tiến hành KTĐG
Các GV đều mong muốn KTĐG phải đảm bảo tính khách quan, chính xác và kịp thời
Nội dung KTĐG đã được GV chú trọng đến yếu tố hiểu bài và vận dụng sáng tạo của HS
2.3.2 Thực trạng GV sử dụng các phương pháp KTĐGKQHT
Trang 39Bảng 2.4 Kết quả thăm dò GV về tỉ lệ sử dụng các phương pháp KTĐG
5 Kiểm tra viết với câu tự luận truyền thống 60%
Kết quả điều tra cho thấy giáo viên trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex thường sử dụng phương pháp KTĐG là viết (tự luận), vấn đáp, và đánh giá sản phẩm để ĐG KQHT của sinh viên Phương pháp kiểm tra vấn đáp thường được
sử dụng trong quá trình giảng dạy Phương pháp kiểm tra dùng câu hỏi trắc nghiệm khách quan ít được sử dụng Trong khi đó phương pháp kiểm tra viết với câu hỏi tự luận truyền thống được sử dụng nhiều nhất Điều này được lý giải là do các giáo viên ngại thay đổi hoặc chưa nắm được kỹ thuật xây dựng bộ câu hỏi TNKQ Trong thực tiễn thì phương pháp tự luận đã bộc lộ nhiều nhược điểm như: nảy sinh nhiều kiểu gian lận của sinh viên trong khi kiểm tra, khó xác định tiêu chí đánh giá, điểm
số có độ tin cậy thấp do ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan của người chấm bài, dẫn tới kết quả kiểm tra thiếu khách quan, công bằng
Mặt khác trong giảng dạy thực hành, đa số các giáo viên đều ít quan tâm tới đánh giá quy trình thực hiện kỹ năng mà chú trọng phần lớn vào đánh giá trên sản phẩm cuối cùng Giáo viên coi sản phẩm cuối cùng là cơ sở để nhận xét người học Như vậy kết quả đánh giá đã không phản ánh được một cách trọn vẹn năng lực của người học Một điều cần chú ý là cùng một môn giảng dạy nhưng với mỗi giáo viên lại có cách thức đánh giá quá trình khác nhau Trong chương trình khung nghề Điện công nghiệp với mỗi học phần có ghi số lượng bài kiểm tra chứ không có hướng dẫn cụ thể cần chú trọng kiểm tra vào những nội dung nào Đây chính là yếu tố tạo nên tính chủ quan riêng trong mỗi bài kiểm tra của các giáo viên
Một thực tế đang diễn ra là bài kiểm tra thường chỉ ở một dạng đơn thuần, hoặc lý thuyết hoặc thực hành mà không có sự kết hợp giữa hai phương pháp Điều
Trang 40này dễ tạo nên tâm lý chủ quan cho người học Người học nếu biết kiểm tra lý thuyết thì chỉ quan tâm, chú trọng vào học lý thuyết mà không để ý tới thực hành và ngược lại Hiện nay với xu hướng đào tạo theo mô đun năng lực thực hiện thì sự đánh giá yêu cầu phải đạt được về cả kiến thức (lý thuyết) và kỹ năng (thực hành) thì cách kiểm tra như trên là không còn phù hợp
2.3.3 Hiệu quả của các phương pháp KTĐG KQHT
Giáo viên: Tất cả giáo viên đều đồng ý rằng khi họ lựa chọn một phương pháp KT,
ĐG nào đó đều có liên quan đến mục tiêu của môn học và họ đều nhận thức được hiệu quả của phương pháp đó
Bảng 2.5 GV nhận thức về hiệu quả của các phương pháp KTĐGKQHT
(%)
Vấn đáp (%)
Quan sát luyện tập (%)
TNKQ (%)
Thông số trong bảng 2.5 cho thấy, các GV đều nhận thức rằng nếu muốn đánh giá
kỹ năng người học thì nên tăng cường sử dụng phương pháp quan sát luyện tập kết hợp với đánh giá sản phẩm cuối cùng Sử dụng phương pháp TNKQ giúp GV đánh giá kiến thức một cách tốt nhất
Sinh viên: Phân tích phiếu điều tra thu được kết quả sau:
Bảng 2.6 SV nhận thức về hiệu quả của các phương pháp KTĐGKQHT
(%)
Vấn đáp (%)
Quan sát luyện tập
TNKQ (%)