1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phương pháp thiết kế vòng cổ vòng nách áo sơ mi trong sản xuất may công nghiệp

116 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Nhược điểm: Do đặc thù của sản xuất cơng nghiệp may, nên khi ứng dụng hệ thống công thức và phương pháp dựng hình trong cắt may đơn chiếc vào sản xuất may công nghiệp sẽ gặp một số hạ

Trang 1

BOÄ GIAÙO DUẽC VAỉ ẹAỉO T A O TRệễỉNG ẹAẽI HOẽC BAÙCH KHOA HAỉ NOÄI

-

LUAÄN VAấN THAẽC Sể KHOA HOẽC

NGAỉNH: COÂNG NGHEÄ VAÄT LIEÄU DEÄT MAY

NGHIEÂN CệÙU PHệễNG PHAÙP THIEÁT KEÁ VOỉNG COÅ, VOỉNG NAÙCH AÙO Sễ

MI TRONG SAÛN XUAÁT MAY COÂNG

NGHIEÄP

TRAÀN VAấN HOAẽT

Người hướng dẫn khoa học : TS NGÔ CHí TRUNG

HAỉ NOÄI 2007

Trang 2

1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến qua trình thiết kế 23

2 Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47

2.3.1 Nghiên cứu P.pháp thiết kế vòng cổ, vòng nách áo

sơ mi

48

2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của vải đến phương pháp

thiết kế

vòng cổ, vòng nách áo sơ mi

55

Trang 3

học

b Điều chỉnh thiết kế theo độ co vải 57 2.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của qui cách và phương pháp

2.4 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm sử dụng 63

3 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 66 3.1 Kết quả nghiên cứu phương pháp dựng hình thiết kế

Trang 4

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 3 - Năm 2007

3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của quy cách và

Bản tóm tắt tiếng Việt

Bản tóm tắt tiếng Anh

Phụ lục

Trang 5

học

MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, ngành may đã, đang và sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong xuất khẩu và giải quyết việc làm cho thanh niên, góp phần ổn định chính trị - kinh tế - xã hội Tuy nhiên, hàng may mặc hiện chủ yếu vẫn dừng lại ở hình thức gia công và đang dần từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa hàng xuất khẩu

Mặc dù đã chính thức gia nhập WTO nhưng ngành may mặc vẫn đang đứng trước những thách thức lớn vì sự cạnh tranh gay gắt của hàng dệt may Trung quốc, Ấn độ… và cả các nước Đông nam á, vì đe dọa chống bán phá giá tại thị trường Hoa kỳ, vì năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao và nhiều lý do khác mà chúng ta phải nhanh chóng giải quyết

Để có thể phát triển ổn định, một trong những yêu cầu cấp thiết của ngành là phải nhanh chóng nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Muốn vậy, chúng ta cần đổi mới thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ, nâng cao kỹ năng hành nghề cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân trực tiếp sản xuất

Một trong những yêu cầu đổi mới trong công nghệ sản xuất hàng may mặc là thiết kế các loại mẫu trong sản xuất Hiện nay,

ở hầu hết các công ty sản xuất hàng may, các kỹ thuật viên thiết kế mẫu đều đang áp dụng phương pháp thiết kế trong may đơn chiếc (may đo) để ra mẫu công nghiệp Vì vậy, sau thiết kế sản phẩm phải qua chế thử và điều chỉnh nhiều lần mới đạt tiêu chuẩn kỹ thuật theo yêu cầu của khách hàng Phương pháp thiết kế truyền thống, dù có nhiều ưu điểm và đã áp dụng rất thành công trong may đo nhưng áp dụng trong thiết kế mẫu công nghiệp có rất nhiều nhược điểm như:

Trang 6

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 5 - Năm 2007

- Tính chính xác không cao

- Tốn nhiều thời gian thiết kế và hoàn chỉnh bộ mẫu vì phải chỉnh lý nhiều lần

- Tốn kém nguyên phụ liệu

- Trong quá trình thiết kế ít tính đến sự ảnh hưởng của tính chất vải, đặc biệt là độ co giãn, qui cách may lắp ráp sản phẩm… và nhiều yếu tố ảnh hưởng khác làm thay đổi hình dáng và kích thước sản phẩm trong quá trình gia công cũng như sử dụng

- Giá thành sản phẩm tăng

Đây là vấn đề rất cần thiết, mang ý nghĩa quyết định tới chất lượng sản phẩm may, tuy nhiên chưa được nghiên cứu một cách tổng thể tại Việt Nam

Với mong muốn gĩp phần giải quyết những tồn tại trong cơng tác thiết

kế, em chọn luận văn với đề tài: Nghiên cứu phương pháp thiết kế vòng cổ, vòng nách áo sơ mi trong sản xuất may công nghiệp.

Trong khuơn khổ luận văn này, em sẽ tập trung nghiên cứu phương pháp thiết kế mẫu trong sản xuất may công nghiệp nhằm tìm ra giải pháp hợp lý, phù hợp với yêu cầu sản xuất thực tế,

tập trung chủ yếu vàøo “phương pháp thiết kế đường cong vòng cổ và vòng nách áo sơ mi” Đồng thời luận văn cũng quan tâm đến một số vấn đề như ảnh hưởng của một số tính chất của vải, thông số kích thước, quy cách lắp ráp và tìm phương pháp dựng hình nhanh, chính xác, hiệu quả cao khi thiết kế mẫu

Luận văn được thực hiện tại khoa Công nghệ dệt may và thời trang - trường Đại học Bách khoa Hà Nội; Khoa dệt may thời trang - trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II - TP Hồ Chí Minh Em xin chân thành cảm ơn thầy hướng dẫn TS Ngô Chí Trung;

Trang 7

học

cảm ơn các thầy, các cô khoa công nghệ dệt may và thời trang trường Đại học Bách khoa Hà Nội; cảm ơn các thầy, các cô khoa công nghệ dệt may và thời trang trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II - TP Hồ Chí Minh, và gia đình đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Trang 8

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 7 - Năm 2007

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ VÒNG CỔ,

VÒNG NÁCH ÁO SƠ MI 1.1 Phương pháp thiết kế áo sơ mi phổ biến hiện nay t ại Việt Nam

Trong thực tế sản xuất cơng nghiệp may tại Việt Nam hiện nay đang sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thiết kế áo sơ mi Tại rất nhiều cơng ty may, phương pháp thiết kế được xây dựng chủ yếu theo kinh nghiệm thiết kế may đơn chiếc, cộng với sự điều chỉnh theo từng đơn hàng Tuy vậy trên cơ

sở đánh giá những nét chính về cách lấy số đo kích thước cơ thể người, cơng thức tính, phương pháp thiết kế-dựng hình, cĩ thể xác định ba phương pháp thiết kế hay được sử dụng nhất

1.1.1 Phương pháp thiết kế thứ nhất

Phương pháp này được phát triển từ thiết kế đơn chiếc

Trang 9

học

b Phương pháp dựng hình:

Hình 1.1 Phương pháp dựng hình thân trước, thân sau, tay áo sơ mi

kiểu 1

* Vòng Cổ áo

• Vòng cổ thân sau: (Hình 1.1)

Chia 3 đoạn vào cổ (rộng ngang cổ) Nối điểm đầu vai trong

A2 với điểm 1/3 vào cổ (tính từ đường sống lưng) Vẽ đường trung tuyến A1A3 củatam giác AA1A2 và lấy: A3 A4 = 2/5 A1A3 Vẽ vòng

B C

H

2/5

1->1.5 I

P N

Trang 10

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 9 - Năm 2007

cổ thân sau qua các điểm: A 1/3AA1 A3 A2 theo đường cong, trơn đều

• Vòng cổ thân trước: (Hình 1.1)

Dựng hình chữ nhật theo kích thước vào cổ, hạ cổ cắt đường gấp nẹp tại A8

Nối A6A8 và lấy A9 là điểm giữa

Nối A9A7 và lấy A9A10 = 1/3 A9A7

Vẽ vòng cổ thân trước qua các điểm: A6 A10 A8 theo đường cong, trơn đều và vẽ đối xứng ra hết nẹp áo

* Vòng nách áo, vòng nách tay

• Vòng nách áo thân sau:

Đây là trường hợp thiết kế thân sau có đô (cầu vai) nên vòng nách thân sau gồm 2 phần: phần trên đô áo và phần trên thân sau áo

- Phần vòng nách trên đô áo được thiết kế sau khi vẽ

vòng cổ, vai con Chiều dài chân đô (ráp với thân sau áo) lấy bằng ½ rộng vai Nối điểm đầu vai ngoài với điểm ngoài chân đô hơi cong ta sẽ có vòng nách thân sau trên đô áo

- Phần vòng nách trên thân sau được thiết kế bằng cách:

Trên đường ngang nách lấy: CC2 = BB1 – 1,5

Nối B2C2 và lấy: B2C3 = C3C2

Nối C3C1 và lấy: C3C4 = C4C1

Nối C4C2 và lấy: C4C5 = 2/5C4C2

Vẽ vòng nách thân sau áo qua các điểm: B2 C3 C5

C1 theo làn cong trơn đều

• Vòng nách áo thân trước:

Trang 11

học

Vòng nách áo thân trước cũng được thiết kế sau khi vẽ vòng cổ, vai con Từ điểm đầu vai ngoài kẻ A8C8 vuông góc với

C6C7 Lấy C8C9 = 3 cm

Nối A8C9 và lấy: A8C10 = C10C9

Nối C10C7 và lấy: C10C11 = C11C7

Nối C11C9 và lấy: C11C12 = 2/5C11C9

Vẽ vòng nách thân sau áo qua các điểm: A8 C10 C12

C7 theo làn cong trơn đều

• Vòng nách tay:

Lấy AA1 = 2 cm Nối A1B1 và lấyB1B2 = 1/3A1B1

Vẽ vòng nách tay trước qua các điểm: A A1 B2

B1, giữa đoạn A1B2 vẽ cong lên 1,5 cm, giữa đoạn B2B1 vẽ cong xuống 0,5 cm sao cho trơn đều

Vẽ vòng nách tay sau song song, cách vòng nách tay trước 0,3

cm và nhỏ đều về 2 phía

c Ưu, nhược điểm của phương pháp thiết kế

- Các kích thước vào cổ (rộng ngang cổ), hạ cổ (hoặc cao cổ) thân trước, thân sau được tính toán trên cơ sở các bán kính vòng cổ trên cơ thể người nên khá chính xác

- Dễ dựng hình bởi số lượng điểm tựa để vẽ đã được xác định đủ lớn và rất cụ thể

Trang 12

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 11 - Năm 2007

- Có thể tính toán được lượng chồm vai trên cơ sở số đo vòng cổ và công thức thiết kế

- Có thể điều chỉnh công thức tính toán và phương pháp dựng hình thiết kế một cách hợp lý theo đặc điểm cơ thể cho những đối tượng mặc bị khuyết tật cụ thể

Phương pháp thiết kế này phù hợp với sản xuất may đơn chiếc theo số đo của đối tượng mặc, sản phẩm không đòi hỏi phải có độ chính xác cao về thông số kích thước mà chỉ cần đúng kiểu dáng, không sai hỏng và dài rộng đúng ý đối tượng là đạt yêu cầu

* Nhược điểm:

Do đặc thù của sản xuất cơng nghiệp may, nên khi ứng dụng hệ thống công thức và phương pháp dựng hình trong cắt may đơn chiếc vào sản xuất may công nghiệp sẽ gặp một số hạn chế sau:

• Thông số kích thước của sản phẩm

Thông số kích thước của sản phẩm được tính toán theo số

đo (lấy

trực tiếp từ đối tượng mặc) bằng hệ thống công thức thiết kế đã nghiên cứu nên chỉ có khả năng đáp ứng cho một nhóm nhỏ người sử dụng trong xã hội Nếu muốn đáp ứng được số đông phải thiết kế cho rất nhiều số đo gây phức tạp cho quá trình sản xuất, dễ nhầm lẫn, năng suất lao động thấp ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kinh doanh Hơn nữa, số đo lấy từ đối tượng mặc thường mang tính chủ quan, độ chính xác không cao vì phụ thuộc vào người lấy số đo, phương pháp và tâm lý của người lấy số đo tại những thời điểm khác nhau cũng như các đối tượng được chọn để lấy số đo Các kích thước dài, rộng của sản phẩm tính theo công thức có thể thiếu tính đồng nhất giữa những người thiết kế

Trang 13

học

khác nhau, giữa các công ty may mặc khác nhau vì lượng cử động

trong công thức tính toán do nhà thiết kế lựa chọn theo suy nghĩ chủ quan của mình, thiếu sự nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng nên mức độ phù hợp với đối tượng mặc không cao, sản phẩm khó tiêu thụ dẫn đến phá sản

Lượng chồm vai của áo phụ thuộc vào cao cổ sau Cao cổ sau càng lớn thì lượng chồm vai càng nhiều Kích thước này, được tính toán theo công thức thiết kế, phụ thuộc vào vòng cổ: số đo vòng cổ thay đổi thì cao cổ sau cũng thay đổi theo, dẫn đến lượng chồm vai của áo thay đổi theo kích thước vòng cổ (thay đổi theo cỡ số trong sản xuất may công nghiệp) Muốn ổn định lượng chồm vai này đối với các cỡ số khác nhau nhà thiết kế phải mất công đoạn chế biến mẫu sau khi thiết kế gây tốn thời gian, giảm tính chính xác, dễ nhầm lẫn

Đặc biệt, vòng cổ áo, đường chân cổ lắp ráp với cổ áo và đường chân lá cổ may cặp lá ba với chân cổ khi dựng hình đã tính đến lượng cử động đương nhiên để tránh bị nghẹt cổ khi mặc nên chiều dài lớn hơn số đo thực

tế trên cơ thể

Trong sản xuất may công nghiệp, sản phẩm được thiết kế theo tài liệu kỹ thuật Theo tài liệu này, các thông số kích thước được xác định chính xác tại các vị trí đo cụ thể mà các nhà thiết kế mẫu phải tuân thủ Trong quá trình tính toán, dựng hình thiết kế, các thông số kích thước này phải đúng như tài liệu kỹ thuật đã ấn định, nhà thiết kế không được phép cộng thêm bất cứ lượng cử động nào làm sai lệch thông số kích thước sản phẩm Các thông số này phải được đảm bảo cho đến khi sản phẩm may đã hoàn tất

Trang 14

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 13 - Năm 2007

Do đó, công thức tính và phương pháp dựng hình thiết kế theo phương pháp cắt may đơn chiếc nêu trên không còn phù hợp trong điều kiện sản xuất may công nghiệp như hiện nay

• Phương pháp dựng hình:

 Vòng cổ:

Trong quá trình dựng hình thiết kế, vòng cổ thân trước và thân sau áo được vẽ rời nhau một cách độc lập mà công thức thiết kế lại không chỉ rõ được chiều dài vòng cổ thân trước, thân sau chiếm tỷ lệ bao nhiêu so với tổng chiều dài cả vòng cổ nên không thể kiểm soát được thông số kích thước Muốn kiểm tra thông số này phải thiết kế hoàn chỉnh cả vòng cổ thân trước và vòng cổ thân sau áo Khi đó, nếu thông số kích thước vòng cổ không đảm bảo theo yêu cầu phải điều chỉnh lại Việc làm như thế rất mất thời gian, giảm độ chính xác, tốn kém nguyên vật liệu, nâng cao giá thành sản phẩm

Ngoài ra, do kích thước vòng cổ áo được tính toán theo công thức:

- Vào cổ trước = 1/6 Vòng cổ + 0,5 cm (tính từ đường giao khuy)

- Vào cổ sau = 1/6 Vòng cổ + 1,5 cm

nên nếu vai con thân trước và thân sau bằng nhau thì vẫn đảm bảo sự ăn khớp khi lắp ráp nhưng khi đặt thân trước lên thân sau sao cho đường giao khuy (giữa thân trước) và đường sống lưng (giữa thân sau) trùng nhau và gấp cao cổ thân sau lại theo đường gập vai (đường giữa vai) thì vòng cổ trước và vòng cổ sau không khớp

thành vòng tròn cổ áo (Hình I.2) và sản phẩm sau khi may hoàn

tất, để áo trên bàn, vuốt phẳng ta thấy phần cổ áo nằm không

êm, thấy rõ nhất khi mặc

Trang 15

học

Hình 1.2 Vòng cổ trước và sau không khớp nhau khi gập vai

Đối với lượng chồm vai, như trên đã trình bày, phụ thuộc vào số đo vòng cổ Khi số đo vòng cổ thay đổi thì lượng chồm vai cũng thay đổi theo Tuy nhiên, trong sản xuất may công nghiệp, lượng chồm vai đã được ấn định sẵn trong tài liệu kỹ thuật Khi đó, muốn thay đổi thông số này phải thay đổi hệ thống công thức thiết kế rất phức tạp, dễ tạo nên sai hỏng trên sản phẩm, độ chính xác thiết kế không cao Để đơn giản hóa và tăng tính chính xác trong thiết kế có thể dựng hình cả thân trước lẫn thân sau trên cùng một vị trí giấy vẽ sao cho đường sống lưng trùng với đường giao khuy rồi cắt phần vai con thân trước ráp vào thân sau là có được thân sau với chồm vai chính xác, đảm bảo khi mặc

phần chồm vai nằm êm, phẳng và vòng cổ không bị nhăn (Hình

Trang 16

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 15 - Năm 2007

Hình 1.3 Lắp ráp cổ với thân trước và thân sau

 Vòng nách:

Vòng nách áo chỉ được xác định sau khi vẽ đường ngang nách và đường vai con mà lượng hạ nách lại được tính theo vòng ngực có cộng thêm một lượng cử động nách nhất định theo ý tưởng của nhà thiết kế mẫu Như vậy, chiều dài của vòng nách áo phụ thuộc vào số đo vòng ngực, chiều rộng vai và lượng xuôi vai Giả thiết số đo vòng ngực là như nhau, vòng bắp tay như nhau, lượng cử động rộng ngang nách chọn như nhau thì số đo nào có lượng xuôi vai lớn hơn, chiều rộng vai lớn hơn sẽ có chiều dài vòng nách áo nhỏ hơn và do đó khi thiết kế tay áo vòng bắp tay sẽ nhỏ hơn khi tính toán theo công thức Rõ ràng, mặc dù chọn

Điể m cổ trướ c và cổ sau khớ p khi lắ p rá p

Đường gaäp vai

Trang 17

học

lượng cử động và tính toán chính xác nhưng nhà thiết kế mẫu không thể kiểm soát được độ rộng của nách áo, nách tay theo ý muốn nếu không điều chỉnh thiết kế Nhược điểm này sẽ được khắc phục nếu số đo có thông số kích thước vòng nách áo Tuy nhiên, cũng như đối với vòng cổ áo, kể cả khi có số đo vòng nách thì trong quá trình thiết kế cũng không thể kiểm soát được thông số kích thước vòng nách áo Muốn kiểm tra kích thước này phải thiết kế hoàn chỉnh vòng nách thân trước, thân sau áo rồi mới đo và điều chỉnh lại nếu phát sinh sự khác biệt so với thông số tài liệu kỹ thuật đã cho trước, do đó cũng dẫn đến sự lãng phí thời gian, công sức và nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất Việc hạ nách áo tính theo vòng ngực cũng không cho biết rõ hạ nách bao nhiêu là vừa vì với lượng hạ nách theo công thức đó không thể biết cụ thể kích thước chiều dài vòng nách áo Nhược điểm thiết kế này sẽ được khắc phục nếu thiết kế theo tài liệu kỹ thuật vì thông số vòng nách được xác định cụ thể theo một trong hai trường hợp là thông số kích thước vòng nách đo thẳng và vòng nách đo cong Đây là cơ sở để xác định hạ nách một cách chính xác và có thể kiểm tra thông số dễ dàng

Điểm nữa, yêu cầu kỹ thuật thiết kế vòng nách áo là sau khi ráp vai con thân sau và thân trước áo lại với nhau đường cong vòng nách áo phải tròn, trơn không được gãy Yêu cầu này phụ thuộc vào vị trí tương đối giữa đường vòng nách và đường vai con, chính xác hơn là góc hợp bởi đường vòng nách và đường vai con trên thân áo Vậy góc này ở thân trước là bao nhiêu độ, thân sau bao nhiêu độ? Phương pháp thiết kế không chỉ ra được và cũng không kiểm tra được do thiết kế độc lập hai thân áo Sai hỏng này

Trang 18

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 17 - Năm 2007

chỉ được khắc phục sau khi ráp đường vai con nhưng có thể sẽ làm sai hỏng các thông số kích thước khác

Khi thiết kế vòng nách tay áo, hạ nách tay và rộng bắp tay được tính theo công thức:

Hạ nách tay = 1/10 vòng ngực + 1 Rộng bắp tay = ¼ vòng ngực + 3 Như vậy, thông số kích thước vòng nách tay cũng phụ thuộc vào số đo vòng ngực Thực tế, sau khi thiết kế độ chính xác khi ráp tay áo vào thân áo rất thấp và rất khó kiểm soát vì khi thay đổi lượng cử động ngang nách thì chiều dài vòng nách áo thay đổi nhưng chiều dài vòng nách tay là thông số cứng, lệ thuộc vào công thức, hơn nữa không thể xác định được độ rộng của bắp tay theo công thức này với đối tượng mặc có hợp lý hay không Muốn thay đổi các kích thước này phải thay đổi công thức thiết kế rất phức tạp vì không biết thay đổi bao nhiêu là chính xác Để khắc phục nhược điểm này trong thiết kế cần sử dụng thông số kích thước rộng bắp tay và chiều dài vòng nách tay theo tài liệu kỹ thuật đã ấn định và khi đó có thể thay đổi hạ nách tay tùy ý

• Quy cách lắp ráp:

Có thể nói, phương pháp may lắp ráp sản phẩm rất đa dạng, tùy theo

kiểu mẫu định sản xuất Với mỗi phương pháp may ráp khác nhau thì cách chừa đường may khác nhau Tuy nhiên, với phương pháp thiết kế áo sơ mi kiểu thứ nhất đã trình bày trên thì cách chừa đường may chỉ có một, rất đơn giản, mang nặng tính chất may đo nên thiếu tính chính xác, gây khó khăn cho nhà thiết kế Cách chừa đường may cụ thể như sau:

Trang 19

học

- Vòng cổ áo, xung quanh lá cổ, chân cổ: 0,7 cm

- Vòng nách áo, vòng nách tay: 0,8 cm

- Sườn áo, sườn tay, vai con: 1 cm

Cách chừa đường may như vậy chỉ thích hợp khi sử dụng đường may can để ráp các chi tiết lại với nhau bằng máy may bằng

1 kim, các mép cắt của chi tiết được vắt sổ bán thành phẩm hoặc vắt sổ chập sau khi đã can ráp các chi tiết Trong sản xuất may công nghiệp, tài liệu kỹ thuật mô tả rất kỹ và qui định rõ kiểu đường may, loại máy may được sử dụng để gia công trên đường may đó nên nhà thiết kế phải phân tích kỹ sản phẩm để xác định cụ thể các dạng đường may được sử dụng trên sản phẩm đó và tính toán chừa đường may đối với từng chi tiết sao cho sản phẩm may hoàn tất đảm bảo thông số và kiểu dáng đúng yêu cầu

Ngoài ra, để sản phẩm may hoàn tất đảm bảo về thông số kích thước

đúng tài liệu kỹ thuật thì nhà thiết kế cần phân tích được các tính chất của nguyên phụ liệu như độ co của vải trong quá trình gia công nhiệt ẩm, tính giãn đàn hồi của vải, mức độ xổ sợi của vải Đây là vấn đề không được đề cập đến ở phương pháp thiết kế này

1.1.2 Phương pháp thiết kế thứ hai

Phương pháp này được phát triển từ thiết kế đơn chiếc

a Một số thơng số chính:

Vịng cổ, vịng ngực, vịng bụng, hạ ngực, hạ eo, dài lưng

Nội dung cơng thức tính được nêu trong phụ lục 2

b Phương pháp dựng hình: Hình 1.4

* Cổ áo:

Trang 20

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 19 - Năm 2007

• Vòng cổ thân sau:

Kẻ đường phân giác góc 0-9-10 và lấy đoạn 9-9’ = 2/3 đoạn 9-10

Vẽ vòng cổ thân sau qua các điểm: 0 ½ (0-9) 9’

10 theo đường cong, trơn đều

Hình 1.4 Phương pháp dựng hình thân trước, thân sau áo sơ mi kiểu 2

• Vòng cổ thân trước:

Phương pháp dựng hình vòng cổ tương tự kiểu thứ nhất

* Vòng nách áo, vòng nách tay

• Vòng nách áo thân sau:

Các điểm tựa để vẽ vòng nách được xác định ở phần công thức tính

Trang 21

học

Kẻ đường phân giác góc 11 và lấy đoạn 11-11’ = 3 cm

Vẽ vòng nách áo thân sau qua các điểm: 15 12 11’

23 theo làn cong, trơn đều

• Vòng nách áo thân trước:

Các điểm tựa để vẽ vòng nách được xác định ở phần công thức tính

Kẻ đường phân giác góc 16 và lấy đoạn 16-16’ = 1,75 cm

Vẽ vòng nách áo thân trước qua các điểm: 15 12 11’

23 theo làn cong, trơn đều, Độ cong vòng nách tại điểm 22 là 1,25

cm

• Vòng nách tay:

Phương pháp dựng hình thiết kế vòng nách tay tương tự như đối với phương pháp thiết kế thứ nhất nhưng lấy hạ nách tay sâu hơn (1/10VN + 3) và rộng bắp tay nhỏ hơn (¼VN + 1) do đó độ cong của vòng nách tay trong trường hợp này cũng lớn hơn

c Ưu, nhược điểm của phương pháp thiết kế

* Ưu điểm:

Ưu điểm của phương pháp dựng hình này tương tự như đối với phương pháp thiết kế thứ nhất nhưng có điểm mới là sản phẩm sau khi hoàn tất không có lượng chồm vai và trong công thức thiết kế có cộng thêm phần chừa đường may nên mẫu sau thiết kế là mẫu bán thành phẩm

* Nhược điểm:

So với các phương pháp thiết kế thứ nhất thì phương pháp thiết kế này được trình bày bởi hệ thống công thức tính toán dài, khó nhớ, dễ nhầm lẫn và quá trình dựng hình phải xác định các điểm tựa để vẽ khá phức tạp nhưng độ chính xác không cao

Trang 22

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 21 - Năm 2007

Sản phẩm sau thiết kế không có lượng chồm vai Muốn có lượng chồm vai cũng phải đặt thân trước lên thân sau và cắt dán theo đường vai con từ thân trước sang thân sau như đối với phương pháp thiết kế thứ nhất

1.1.3 Phương pháp thiết kế thứ ba

Phương pháp này được sử dụng trong cơng nghiệp, xây dựng từ hệ cơng thức thiết kế khối SEV [14]

a Một số thơng số chính:

Cĩ 38 thơng số kích thước cơ thể Nội dung chi tiết được trình bầy trong phụ lục 3

b Thi ết kế - dựng hình:

Trang 24

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 23 - Năm 2007

hơn nữa rất khĩ khăn khi thiết kế sản phẩm theo thơng số cho trước hoặc sản phẩm cho trước

- Độ đồng đều của đường cong trên tồn bộ vùng chân cổ, vùng nách chưa được tính đến

- Sự liên quan giữa “độ xuơi vai” với gĩc cổ-vai chưa được tính đến, vì vậy độ trơn đều của đường cong thân sau-thân trước tại chân vịng cổ chưa cao

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thiết kế:

1.2.1 Hình dáng cơ thể người:

Bản chất của quá trình thiết kế quần áo là khai triển hình trải bề mặt cơ thể, vốn có cấu trúc không gian 3 chiều, trên mặt phẳng Đó là cơ sở để xây dựng hệ thống công thức thiết kế và phương pháp dựng hình Hệ thống công thức thiết kế và phương pháp dựng hình chỉ hoàn hảo khi nó phản ánh đúng hình dạng bề mặt cơ thể Đây là một việc làm hết sức khó khăn vì hình dạng bề mặt cơ thể người vốn có cấu trúc phức tạp Để gia tăng độ chính xác trong thiết kế, người ta chia cơ thể thành nhiều khu vực khác nhau gọi là những vùng thiết kế cơ bản như: vùng đầu, vùng cổ, vùng vai, vùng nách, vùng ngực, vùng mông, vùng eo.v.v để xây dựng hệ thống công thức tính và phương pháp dựng hình Tuy nhiên, việc xây dựng như vậy cũng chỉ có thể đáp ứng cho số đông những người phát triển bình thường, không bị khuyết tật Khi đặc điểm cơ thể thay đổi thì hệ thống công thức thiết kế và phương pháp dựng hình đã thiết lập không còn phù hợp nữa vì đặc điểm này thay đổi theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, vùng miền… cũng như sự phát triển của từng con người cụ thể Khi đó, nhà thiết kế phải điều chỉnh lại công thức và phương pháp dựng

Trang 25

- Quan sát đối tượng đo từ phía trước

- Quan sát đối tượng đo từ phía sau

- Quan sát đối tượng đo từ bên hông

Trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu những biến đổi của cơ thể liên quan đến việc thiết kế vòng cổ và vòng nách áo sơ mi

* Hình dáng cơ thể người nhìn từ phía trước hoặc phía sau

Trong thiết kế, vùng vai có ảnh hưởng lớn đến vòng nách áo về thông số kích thước và độ êm phẳng của sản phẩm khi mặc Đây là phần được tính từ vị trí tiếp giáp cổ, ngang đốt sống cổ 7 đến mỏm cùng vai (điểm gốc để đo chiều rộng vai) Độ lệch

của mỏm cùng vai so với đốt sống cổ 7 gọi là độ xuôi vai Độ

xuôi vai có thể khác nhau tùy theo cơ thể và giơiù tính Căn cứ vào độ xuôi vai này người ta chia cơ thể ra làm3 dạng là vai trung bình, vai ngang và vai xuôi (Hình 1.5)

Trang 26

Nếu ta gọi góc hợp bởi cổ và vai là góc số 1, góc hợp bởi

vai và nách (theo đường sườn cơ thể) là góc số 2 (Hình 1.6) thì sự

thay đổi đặc điểm hình dáng cơ thể theo sự thay đổi của các góc này sẽ ảnh hưởng đến thiết kế như sau:

• Xét góc số 1:

1

2

Trang 27

học

Hình 1.6 Góc hợp bởi vai với cổ và nách

Góc số 1 phản ánh độ xuôi vai của cơ thể người sử dụng sản phẩm Người có độ xuôi vai trung bình, góc này là 1110 ở nam giới và 1140 ở nữ giới Tùy thuộc vào sự thay đổi của góc này để nhà thiết kế nhận biết người vai ngang hoặc vai xuôi: góc số 1 tăng thì cơ thể người mặc thuộc dạng vai xuôi và ngược lại, góc số 1 giảm thì cơ thể người mặc thuộc dạng vai ngang

Hình 1.7 Các hình dạng độ cong chân cổ

đổi góc số 1 (Hình 1.7 )

V ai trung bình

V ai xuô i

V ai ngang O

X

D

Trang 28

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 27 - Năm 2007

Hình 1.8.Hình dạng chân cổ ráp với thân áo Thông thường, đối với trường hợp vai xuôi, góc số 1 lớn thì chân cổ thiết kế cong hơn chân cổ thiết kế cho vai trung bình 1 cm Trường hợp vai ngang, góc số 1 nhỏ thì chân cổ thiết kế có độ cong nhỏ hơn so với chân cổ thiết kế cho vai trung bình 1 cm

Xét trên mẫu, khi ta đưa chân cổ vào đường cong vòng cổ trên thân áo thì khoảng cách I càng nhỏ (đường cong chân cổ lớn) sẽ tương ứng với cổ đứng khi mặc dành cho người vai xuôi và ngược lại khoảng cách I càng nhỏ (đường cong chân cổ thẳng)

thì cổ áo sẽ nằm hơn dành cho người vai ngang (Hình 1.8)

• Xét góc số 2:

Sự thay đổi của độ xuôi vai trên cơ thể cũng dẫn đến sự thay đổi độ lớn của góc số 2 Người vai càng xuôi thì góc số 2 càng lớn và ngược lại Sự thay đổi của góc số 2 ảnh hưởng đến độ cong của vòng nách (vị trí tương đối giữa đường vòng nách và

Trang 29

học

đường gập vai) Trường hợp thiết kế cho những người vai xuôi

(góc số 2 lớn) phải đánh cong vòng nách thân khi dựng hình sao cho góc hợp bởi vòng nách thân và đường gập vai tại điểm M’ lớn hơn 900 (khoảng 950) Khi đó góc số 3 (hợp bởi vòng nách tay và đường sống tay) trong thiết kế tay áo phải thu nhỏ lại để bảo đảm sau khi may ráp tay vào thân vòng nách tay tròn, không bị

gãy tại điểm M’ (điểm giữa tay)

Đối với những người có độ xuôi vai nhỏ hơn (vai trung bình, vai ngang), góc số 2 nhỏ, vòng nách thân áo khi dựng hình được đánh cong hơn, góc hợp bởi vòng nách thân và đường gập vai tại điểm M’ khoảng gần 900 và khi đó góc số 3 trên tay áo sẽ thiết

kế lớn hơn (Hình 1.9)

M ’ 2 3

Trang 30

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 29 - Năm 2007

Hình 1.9: Mô tả trường hợp xuôi vai

Trong thiết kế, lượng hạ xuôi vai phải được xác định phù hợp với đặc điểm cơ thể người mặc Nếu lượng hạ xuôi vai lấy lớn hơn hoặc nhỏ hơn thực tế thì khi mặc sẽ sinh ra hiện tượng tạo nếp xếp hoặc déo vải tại vùng cổ, vùng nách như mô tả dưới đây

(Hình1.10,1.11)

Hình 1.10 Trường hợp hạ xuôi vai ít

Trang 31

học

Hình 1.11 Trường hợp hạ xuôi vai nhiều

* Hình dáng cơ thể người nhìn từ bên hông

Lưng nằm giữa đốt sống cổ 7 và xương cùng Hình dáng của lưng phụ thuộc vào vị trí cột sống và mức độ phát triển của các

cơ Quan sát hình dáng cơ thể người từ bên hông, căn cứ vào

dáng nghiêng của lưng có thể chia ra 3 dạng chính (Hình1.12), là:

- Cơ thể bình thường,

- Cơ thể gù

- Cơ thể ưỡn

Hình 1.12 Các dạng cơ thể theo dáng nghiêng của lưng

• Cơ thể gù:

Cổ á o bị hở

Thâ n sau bị nhă n, đu

Dá ng lưng thẳ ng, ngực ưỡ n Dá ng lưng trung bình Dá ng lưng trung bình

Dá ng lưng gù

Trang 32

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 31 - Năm 2007

Hình 1.13:Dạng sai hỏng của áo khi mặc cho cơ thể gù

Cơ thể gù là cơ thể có ngực phẳng, vai và tay đưa về phía trước, lưng dài, rộng và cong, xương bả vai nhô rất cao, cơ bắp thường kém phát triển, các số đo ở phần lưng lớn hơn, các số đo

ở phần ngực nhỏ hơn

Người lưng gù sẽ làm ảnh hưởng đến độ đứng của áo Khi mặc, thân sau áo bị nhăn dúm và bị đu, cổ áo bị hở (cổ ngửa) vì

vai và tay đưa về phía trước (hình 1.13) Vì vậy khi thiết kế áo cho cơ

thể gù nhà thiết kế phải điều chỉnh công thức thiết kế và phương pháp dựng hình sao cho phù hợp, đặc biệt là điều chỉnh cao cổ sau và lượng hạ nách

• Cơ thể ưỡn:

Cơ thể ưỡn là cơ thể có ngực và vai rộng, lưng phẳng và hơi cong về phía sau, xương bả vai không nhô cao, phần thắt lưng phía sau lõm vào, mông phát triển hơn so với bình thường, các số đo phần ngực lớn hơn, các số đo phần lưng nhỏ hơn

Cơ thể ưỡn khi mặc áo sẽ có hiện tượng thân sau bị đổ, thân trước thì bị đu, bị hếch lên, phía sau cổ, dưới chân cổ tạo nếp

xếp ngang áo (hình 1.14) Để khắc phục những sai hỏng này khi

thiết kế phải điều chỉnh vòng cổ thân sau (gia tăng cao cổ sau) và điều chỉnh lượng hạ nách cho phù hợp

Thâ n trướ c hế ch, treo

Trang 33

học

Hình 1.14:Dạng sai hỏng của áo khi mặc cho cơ thể ưỡn

1.2.2 Tính chất của vải

Áo sơ mi là sản phẩm được sử dụng phổ biến hiện nay Vải may áo sơ mi là loại vải nhẹ, mỏng hoặc mỏng vừa và thường chỉ mặc ngoài áo lót hoặc mặc sát cơ thể Yêu cầu đối với vải là phải mát, thoáng khí, dễ thấm mồ hôi, bề mặt vải đẹp, vải có khả năng chống nhàu tốt, không tích điện tĩnh Hiện nay, chất liệu vải để may áo sơ mi thông dụng nhất là vải cotton 100% và vải pha PET/CO theo tỷ lệ 67% cotton và 33% polyester Tùy thuộc vào thành phần, cấu trúc, chi số sợi dệt; kiểu dệt, mật độ sợi dệt; phương pháp hoàn tất… mà vải thành phẩm các tính chất sử dụng và độ co giãn đàn hồi khác nhau Tuy nhiên, nhà thiết kế rập (mẫu bán thành phẩm) quan tâm đặc biệt đến tính chất co giãn của vải vì tính chất này ảnh hưởng trực tiếp đến thông số kích thước của mẫu thiết kế nhằm đảm bảo các thông số kích thước thành phẩm không bị thay đổi so với tài liệu kỹ thuật sau quá trình gia công và hoàn tất sản phẩm, đặc biệt là sau gia công nhiệt ẩm hoặc giặt, ủi (đối với hàng giặt)

Vì vậy, nhiệm vụ của nhà thiết kế mẫu là phải nắm rõ độ

co giãn của vải trong môi trường gia công sản phẩm theo chiều dọc, chiều ngang để tính toán, gia giảm thông số kích thước trong

Trang 34

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 33 - Năm 2007

quá trình thiết kế mẫu bán thành phẩm sao cho chính xác để sản phẩm hoàn tất đảm bảo thông số kích thước và các yêu cầu kỹ thuật thiết kế khác

1.2.3 Quy cách và phương pháp lắp ráp:

Quy cách và phương pháp lắp ráp cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thông số kích thước của sản phẩm hoàn tất Đối với mỗi loại vải, tùy thuộc vào cấu trúc, chi số sợi dệt; kiểu dệt, mật độ sợi và phương pháp dệt, mà vải thành phẩm có độ dày, mỏng khác nhau Tính chất này là nguyên nhân làm thay đổi thông số kích thước của sản phẩm may hoàn tất khi tiến hành may ráp sản phẩm theo quy cách và phương pháp khác nhau Do đó, trong quá trình thiết kế, tùy theo quy cách và phương pháp may; tùy thuộc vào độ dày, mỏng của vải mà nhà thiết kế mẫu phải tính toán gia, giảm thông số kích thước trong công thức thiết kế đối với từng chi tiết cụ thể sao cho phù hợp để sản phẩm sau may hoàn tất đảm bảo đúng thông số đã ấn định

a Quy cách và phương pháp may vòng cổ

Để thực hiện việc may lắp ráp chân cổ vớivòng cổ trên

thân áo có thể thực hiện theo một trong 2 phương pháp sau (hình

1.15)

Thâ n á o

L á cổ keo

Châ n cổ keo

K eo Đườ ng may

Thâ n á o

L á cổ keo

Châ n cổ keo

K eo Đườ ng may

Tra cổ

k ï

Trang 35

học

Hình 1.15: Kí hiệu đường may tra cổ

* Tra cổ kẹp: (Hình 1.16)

Hình 1.16: hình dáng và cấu trúc cổ áo sơ mi tra kẹp

Phương pháp tra cổ kẹp (tra cặp) được thực hiện sau khi đã gia công hoàn chỉnh cổ áo, may ráp xong đường vai con và ủi định hình chân cổ bằng cách: Úp mặt phải thân áo, chân cổ lót xuống bàn máy, luồn vòng cổ thân áo vào giữa chân cổ chính và chân cổ lót May mí cặp đường may ráp cổ và mí vòng quanh chân cổ sao cho các đường sang dấu trên chân cổ và thân áo trùng nhau

Ở phương pháp tra cổ kẹp, đường cong chân cổ kẹp lấy đường cong cổ áo do đó 2 đường cong có dạng đồng tâm Vì vậy,

Tra lộn, diễu

Trang 36

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 35 - Năm 2007

trong quá trình may có thể dễ dàng quan sát và điều chỉnh độ phẳng của thân áo

Ưu điểm lớn của phương pháp tra cổ kẹp là thao tác dễ dàng, tiết kiệm chỉ may và thời gian gia công, đường may tra êm phẳng, kích thước chiều dài vòng cổ rất ít bị thay đổi sau khi may

Tuy nhiên với phương pháp tra cổ kẹp có nhược điểm là đường may tra không bền vì chỉ may một lần chỉ và có thể bị sụp

mí hoặc bị dư chân cổ lót khi may hoặc đường may mí ở lần lót không đều, làm mất tính mỹ quan Để tra kẹp được chính xác, trước khi may phải thêm công đoạn ủi định hình chân cổ lót

Hình 1.17: Sự ăn khớp giữa chân cổ và vòng cổ trên thân

* Tra cổ lộn và diễu mí (hình 1.18)

Đây là phương pháp may được sử dụng phổ biến trong công nghiệp may hiện nay Quá trình may tra cổ cũng được thực hiện sau

A = đườ ng thà nh phẩ m trê n cổ

A Đườ ng thà nh phẩ m trê n thâ n

Trang 37

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 36 - Năm 2007

khi đã gia công hoàn chỉnh cổ áo, may ráp xong đường vai con nhưng không phải ủi định hình chân cổ trước khi tra Trình tự tra cổ theo phương pháp này diễn ra theo 2 bước:

- Tra lần lót chân cổ vào thân áo: Úp mặt phải lần lót chân cổ lên mặt phải thân áo và may tra chân cổ vào thân áo sao cho các đường sang dấu trên chân cổ và thân áo trùng nhau

- Lộn về mặt trái thân áo, lật đường may về phía chân cổ và may mí lần chính chân cổ vào mặt trái thân áo sao cho các đường sang dấu trên chân cổ và thân áo trùng nhau

May tra cổ theo phương pháp này, trong quá trình may tra lộn lần lót chân cổ vào thân áo thì độ cong của đường chân cổ và độ cong của đường vòng cổ trên thân áo ngược nhau, khó thao tác hơn đòi đỏi người gia công phải khéo léo hơn

Phương pháp may này có ưu điểm lớn là đường may bền, chắc, không mất thời gian ủi định hình chân cổ khi may tra, không

bị sụp mí lần lót… nhưng thao tác khó khăn hơn, tốn chỉ may và thời gian gia công hơn, thông số kích thước đường may thành phẩm dễ bị co ngắn so với yêu cầu vì thực hiện 2 đường may tại 1 vị trí

Trang 38

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 37 - Năm 2007

Hình 1.18 Tra cổ lộn diễu mí

b Quy cách và phương pháp may vòng nách

Trong sản xuất may công nghiệp, đối với áo sơ mi, quá trình may ráp tay vào thân theo đường vòng nách được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu kỹ thuật của mỗi đơn hàng Để vòng nách êm phẳng, không nhăn và đảm bảo đúng thông số kích thước sau khi gia công thì yêu cầu về độ cong, độ lớn đường may… ở vòng nách phải thay đổi theo phương pháp may Các nhà thiết kế mẫu phải phân tích và tính toán chính xác những thay đổi này để điều chỉnh kích thước và hình

dáng vòng nách sao cho phù hợp

Trong thiết kế, những kiểu dáng sơ mi mặc bó sát độ cong của đường vòng nách thường lớn hơn kiểu dáng mặc rộng Nếu vòng nách áo, vòng nách tay có độ cong lớn mà lại sử dụng

Trang 39

học

phương pháp may diễu khi tra tay thường sinh ra hiện tượng nhăn trên đường may sau khi gia công Nguyên nhân chính gây ra hiện tượng

này chủ yếu do cách chừa đường may không hợp lý (Hình 1.19)

Hình 1.19 Chừa đường may vòng nách áo

A : Là đường thành phẩm của vòng nách

B : Là đường chừa đường may

B’: Là đối xứng của B sau khi lật về thân để diễu

Quan sát hình vẽ có thể nhận thấy: khoảng cách 2 đường A,

B là độ

lớn của đường may Độ lớn này sẽ được lật về phía thân áo khi may diễu Để đường may êm phẳng, không nhăn, vặn thì khi lật đường may về phía thân áo yêu cầu B phải trùng với B’(hai đường phải đối xứng nhau qua A) Đây là điều không thể xảy ra vì A là đường cong, B’ luôn lớn hơn B Độ cong của A và khoảng cách 2

đường A, B càng lớn thì chênh lệch giữa B và B’ càng nhiều Độ

A B’

B

Trang 40

học

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - 39 - Năm 2007

chênh lệch này chính là nguyên nhân làm cho vòng nách áo bị nhăn, vặn và thay đổi về kích thước sau khi may diễu Mức độ

nhăn, vặn và thay đổi về kích thước nhiều hay ít tùy thuộc vào độ chênh lệch giữa B và B’, tức là tùy thuộc vào độ cong vòng nách và độ lớn của đường may Vậy, để giảm thiểu về độ nhăn, vặn và sự thay đổi về thông số kích thước sau khi may đối với vòng nách áo thì nhà thiết kế mẫu phải tìm cho được giải pháp thiết kế sao cho chiều dài của B tiến gần tới B’ càng sát càng tốt Có thể thực hiện việc này một cách đồng bộ hoặc theo một trong các cách sau:

- Giải pháp 1: Sử dụng chất liệu vải có độ co giãn cao

Khi đó trong quá trình may B sẽ giãn ra đủ lớn so với B’

- Giải pháp 2: Giảm bớt độ cong của đường vòng nách thành phẩm A để vòng nách A thẳng hơn so với yêu cầu của thiết kế Khi đó khoảng cách B và B’ không thay đổi nhưng bán kính cong của 2 đường này tăng lên rất lớn dẫn đến độ chêch lệch giữa B và B’ giảm đi Mức độ giảm nhiều hay ít tùy thuộc vào độ thẳng của vòng nách A

- Giải pháp 3: Giảm bớt độ lớn của đường may tới mức tối đa có thể Khi đó, tuy bán kính cong của 2 đường B và B’ không thay đổi nhưng khoảng cách giữa chúng giảm tới mức nhỏ nhất làm cho độ chêch lệch giữa B và B’ giảm đi Mức độ giảm nhiều hay ít tùy thuộc vào độ lớn của đường may

Trong 3 giải pháp nêu trên thì giải pháp thứ nhất và thứ hai rất khó thực hiện vì chất liệu sản xuất sơ mi phổ biến là vải hầu như không co giãn hoặc có độ co giãn rất thấp còn độ cong vòng nách nếu thay đổi nhiều sẽ dẫn đến hỏng sản phẩm, chỉ có thể thay đổi chút ít đối với sơ mi nam mặc rộng chứ không thể làm

Ngày đăng: 28/02/2021, 13:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w