Đến thời kỳ của Aristotle ông đã khám phá việc trộn lẫn hai màu sắc với nhau tạo ra màu thứ ba, ông đã phát hiện ra điều này nhờ ánh sáng xuyên qua và ông ta đã dùng những mảnh kiếng mà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỘ BỀN MÀU CỦA VẢI
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kỹ thuật “ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TẠI KHÂU HOÀN TẤT LÀ (ỦI) ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỘ BỀN MÀU CỦA VẢI” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong luận văn là số liệu
trung thực
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2012
Người cam đoan
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO Học viên cao học khóa 2010 Chuyên ngành: Công nghệ vật liệu dệt may Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội và trường Cao đẳng Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Bích Hoàn đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Huỳnh Văn Trí,
Ncs.Trần Thị Kim Phượng Khoa Dệt may và Thời trang - Trường Đại học Công
nghiệp, các thầy cô Khoa Công nghệ may và Thời trang của trường Đại học Sư phạm
kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm thí nghiệm
Nhân đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và các anh chị quản
lý phòng thí nghiệm của phân viện dệt may Thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn
và tạo mọi điều kiện cho tôi tiến hành đo màu và thử nghiệm
Tôi cũng chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo và các thầy cô đồng nghiệp nơi tôi công tác, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khoá học này
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình
và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2012
Học viên Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các thông số kỹ thuật của các mẫu vải nghiên cứu
Bảng 2.2: Kế hoạch thực nghiệm theo giá trị tự nhiên
Bảng 2.3: Ma trận quy hoạch thực nghiệm
Bảng 2.4: Kết quả thí nghiệm đối với mẫu vải 1
Bảng 2.5: Kết quả thí nghiệm đối với mẫu vải 2
Bảng 3.1: Giá trị của các hệ số hồi quy của phương trình (3.1)
Bảng 3.2: Giá trị của các hệ số hồi quy của phương trình (3.8)
Bảng 3.3: Giá trị độ sai lệch màu trung bình của mẫu vải 1 và mẫu vải 2 so với mẫu vải sau khi là ở các phương án thí nghiệm
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Tập màu Munsell
Hình 1.2 Bản màu CIEXYZ
Hình 1.3: Không gian màu CIEXYZ
Hình 1.4: Không gian màu CIELAB
Hình 1.5: Đường cong phản xạ của vật có màu vàng
Hình 1.6 Sơ đồ nguyên lý cấu tạo và hoạt động của máy đo màu
Hình 1.7: Góc quan sát chuẩn 20 và100
Hình 1.8: Bố trí bộ thu theo góc đo hình học 45/0 và 0/45
Hình 1.9: Bố trí bộ thu theo góc đo d/0 trong quả cầu
Hình 2.1: Các mẫu vải chọn để nghiên cứu
Hình 2.2: Bàn ủi ES-94A
Hình 2.3: Súng đo nhiệt độ
Hình 2.4: Máy đo màu quang phổ GretagMacbeth Color Eye 218UV
Hình 2.5: Hình vẽ mô tả mẫu thí nghiệm
Hình 2.6: Hình vẽ mô tả mẫu thí nghiệm
Hình 3.1: Biểu đồ so sánh giá trị độ sai lệch màu trung bình của mẫu vải 1
và mẫu vải 2
Trang 6MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 4
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 9
1.1 Lý thuyết đo màu 10
1.1.1 Vài nét về lịch sử màu 10
1.1.2 Bản chất của màu sắc trong tự nhiên 12
1.1.3 Đặc tính của màu 14
1.1.4 Nguồn sáng và vật chiếu sáng 15
1.1.5 Các hệ thống đo màu 16
1.1.6 Sự sai lệch màu 21
1.2 Các phương pháp đánh giá độ sai lệch màu trong ngành dệt may 23
1.2.1 Đánh giá độ sai lệch màu theo phương pháp chủ quan 23
1.2.2 Đánh giá độ sai lệch màu theo phương pháp khách quan 25
1.2.3 Những điền kiện đo màu 30
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền màu của vải tại khâu hoàn tất là (ủi) 33 1.3.1 Yếu tố công nghệ (thông số công nghệ) 34
1.3.2 Yếu tố thiết bị 35
1.4 Kết luận phần tổng quan 36
CH ƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 38
2.1 Nội dung nghiên cứu 39
2.2 Đối tượng nghiên cứu 40
Trang 72.2.1 Vải dùng trong nghiên cứu 40
2.2.2 Thiết bị nghiên cứu 41
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 43
2.4 Mẫu thí nghiệm 45
2.5 Phương án thí nghiệm 46
2.5.1 Chọn phạm vi nghiên cứu của 3 yếu tố 47
2.5.2 Kế hoạch thực nghiệm 48
2.6 Tiến hành thí nghiệm 49
2.6.1 Tiến hành là (ủi) vải 49
2.6.2 Tiến hành đo màu 50
2.6.3 Kết quả thí nghiệm 51
CHƯƠNG 3:PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 53
3.1 Các yếu tố (nhiệt độ, thời gian, lực ép) tại khâu hoàn tất là (ủi) ảnh hưởng đến độ bền màu của vải 54
3.1.1 Phân tích kết quả nghiên cứu các yếu tố tại khâu hoàn tất là (ủi) ảnh hưởng đến độ bền màu đối với mẫu vải 1 (65% PES, 35% Cotton) 54
3.1.2 Phân tích kết quả nghiên cứu các yếu tố tại khâu hoàn tất là (ủi) ảnh hưởng đến độ bền màu đối với mẫu vải 2 (40% PES, 60% Cotton) 58
3.2 So sánh độ bền màu của mẫu vải 1 (65% Polieste, 35% Cotton) và mẫu vải 2 (40 % Polieste, 60 %Cotton) 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 68
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Sau 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), bất chấp tác động xấu do 2 cuộc đại suy thoái kinh tế toàn cầu (2008 và 2011), dệt may Việt Nam là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, đóng vai trò quan
trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Năm 2011 kim ngạch
xuất khẩu toàn ngành đạt 16 tỷ USD, xuất siêu trên 6,7 tỷ USD Trên bản đồ xuất khẩu dệt may thế giới, ngành Dệt May Việt Nam cũng đã vươn lên rất nhanh: Năm
1995 Dệt May Việt Nam chỉ xuất khẩu được 850 triệu USD và chưa có tên trong bản
đồ xuất khẩu dệt may thế giới, thì năm 2011 vẫn duy trì vị trí trong Top 5 thế giới (về kim ngạch xuất khẩu), trong đó Mỹ: hơn 7 tỷ USD, tăng 13% ; EU: đạt 2,4 tỷ USD, tăng 25% ; Nhật Bản: hơn 1,6 tỷ USD, tăng 43% ; Hàn Quốc: 904 triệu USD, tăng 109%; Xuất khẩu xơ sợi các loạ đạt trên 1,8 tỷ USD [9]
Theo định hướng phát triển trong vòng 20-30 năm tới, Chính phủ đã đặt mục tiêu ngành Dệt May Việt Nam nằm trong top 5 các nước sản xuất và xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới với kim ngạch xuất khẩu 25 tỉ USD và tỉ lệ nội địa hóa 60% vào năm 2015 [9] [10]
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, dự báo trong thời gian tới, cạnh tranh trên thị trường thế giới đối với hàng dệt may sẽ căng thẳng hơn Trong khi đó, khủng hoảng tài chính toàn cầu đang làm giảm đáng kể nhu cầu đối với hàng dệt may Để vượt qua các thách thức, tận dụng các cơ hội do việc gia nhập WTO và các cam kết
tự do hoá thương mại đem lại, thì các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ động nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, chủ động tìm kiếm nguyên phụ liệu và khách hàng cũng như thị trường tiêu thụ sản phẩm Và đặc biệt cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàng dệt may với chi phí thấp nhất
Các nghiên cứu cho thấy rằng 85% các khách hàng mua sản phẩm là do những động lực thúc đẩy nhất thời Theo một chuyên gia tư vấn về phối màu – Alain Chrisment: “Màu sắc chính là thông điệp đầu tiên của sản phẩm hướng đến người tiêu dùng và người tiêu dùng cũng sẽ cảm nhận được điều này ngay lập tức” Chính vì
Trang 9thế mà vấn đề màu sắc sản phẩm được các nhà sản xuất ngày càng coi trọng hơn Đặc biệt là đối với một số loại sản phẩm như sản phẩm dệt may và thời trang màu sắc là một trong những tính chất quyết định chất lượng sản phẩm Tuy màu sắc không phải
là toàn bộ chất lượng sản phẩm nhưng lại quyết định rất lớn đến khả năng thâm nhập thị trường, tạo nên một tác động tâm lý đến người tiêu dùng để họ quyết định có bỏ tiền ra mua sản phẩm hay không Vì vậy trong quá trình gia công và sử dụng hàng hóa, làm thế nào để màu sắc của chúng vẫn giữ được giá trị ban đầu luôn được các nhà sản xuất và người tiêu dùng quan tâm đặc biệt, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa mang tính cạnh tranh gay gắt như hiện nay
Trong quá trình gia công sản phẩm may sự thay đổi màu săc phụ thuộc vào nhiều yếu tố công nghệ, thiết bị Dưới tác động của quá trình hoàn tất là (ủi), làm sản phẩm may dễ thay đổi màu sắc Đó là hiện tượng thường hay gặp ở các công ty may
Chính vì vậy, đề tài “ Nghiên cứu các yếu tố tại khâu hoàn tất là ( ủi) ảnh hưởng đến độ bền màu của vải ”, nhằm đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu phần nào về
lĩnh vực này
Trong phạm vi thời gian và điều kiện thực tế, đề tài chỉ tập trung thực hiện những nội dung chính được trình bày trong ba chương cơ bản như sau:
- Chương 1: Nghiên cứu tổng quan
- Chương 2: Nghiên cứu thực nghiệm
Thực nghiệm trên các mẫu vải đã chọn dưới sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng để có hướng đánh giá và kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền màu vải
- Chương 3: Đánh giá kết quả thực nghiệm và xây dựng phương án tối ưu nhằm giảm tối đa hiện tượng không bền màu của vải để nâng cao chất lượng sản phẩm
Trang 10CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
Trang 111.1 Lý thuyết đo màu
1.1.1 Vài nét về lịch sử màu
Vạn vật quanh ta đều có màu sắc, từ cỏ cây hoa lá đến nước, mây trời …Màu sắc phong phú, tới mức ta không thể đặt tên cho mọi màu trong tự nhiên Sự biến ảo của màu sắc làm cho thế giới xung quanh ta phong phú, huyền dịu biết bao Những nghiên cứu về màu sắc đã bắt đầu từ những năm trước công nguyên Khoảng năm
1550 trước Công nguyên, những người thợ xây dựng của Ai Cập đã biết sử dụng màu sắc trong xây dựng đền đài Hai màu họ dùng lúc bấy giờ là xanh lá cây và xanh da
trời Đến thời kỳ của Aristotle ông đã khám phá việc trộn lẫn hai màu sắc với nhau
tạo ra màu thứ ba, ông đã phát hiện ra điều này nhờ ánh sáng xuyên qua và ông ta đã dùng những mảnh kiếng màu vàng và màu xanh lam để có màu xanh lá cây.[4]
Hệ thống màu sắc lâu đời nhất được biết đến đó là giá trị đặt tên xuất phát từ
A S Forsius người Phần Lan, ông đã có ý tưởng giới thiệu bốn sắc màu cơ bản, áp dụng cho mỗi mô hình màu xám mà chạy từ sáng đến tối dọc theo trục trung tâm của hình cầu Các màu sắc trên bề mặt hình cầu là được sắp xếp theo cách ba cặp đối lập được tạo ra: màu đỏ và màu xanh, màu vàng và xanh lá cây, trắng và đen
Trong thời cổ đại còn có rất nhiều công trình thí nghiệm, nghiên cứu về màu tiếp theo vào thế kỷ 15 Thời kỳ phục hưng, Leonardo da Vinci đã đưa ra một số khái niệm về quá trình cảm nhận màu, hệ thống màu, ông cũng đưa ra một số quy luật màu tương phản (Đen – Trắng, Đỏ cờ - Xanh lục, Vàng - Xanh tím) Những nghiên cứu của ông cũng ảnh hưởng đến những nghiên cứu sau này.[4]
Năm 1666 Isaac Newton đã phát triển vòng màu rất hữu dụng với công trình
“phân tích ánh sáng trắng” Ông đã thực hiện một thí nghiệm trên những lăng kính và ánh sáng Khi chiếu một chùm ánh sáng liên tục qua một lăng kính, nó sẽ xuất hiện bảy màu khác nhau đỏ, cam, vàng, xanh, lam, chàm và tím ở cạnh bên kia của lăng kính, sau đó ông nối hai màu này bằng màu tím để ghép hai đầu của phổ màu lại với nhau Khám phá của ông đã đặt nền tảng cho sự biểu diễn màu sắc, dẫn đến các chuẩn màu của vật lý dựa trên đo sự bức xạ, đó là phép đo màu (colorimetry) ngày nay.[4]
Trang 12Năm 1801 Thomas Young đã đưa ra “lý thuyết ba màu”, ông suy luận rằng trong mắt người có 3 thành phần cảm nhận màu khác nhau và chúng nhạy cảm với ba màu cơ bản: Đỏ, lục, lam Khoảng 50 năm sau lý thuyết màu này được kiểm định bởi Hermann von Helmholtz, ông đã nghiên cứu ra các thuyết cảm nhận màu, các thuyết này còn được gọi là lý thuyết Young-Helmholtz [4],[10]
Năm 1860, James Clerk Maxwell đã khảo sát việc sử dụng ba thành phần cơ bản của màu và nhận ra rằng không có sự kết hợp giữa 3 thành phần cơ bản của màu để tái tạo lại toàn bộ vùng màu nhận biết được Maxwell nhận thấy rằng ngoài tông màu
và độ bão hoà màu còn có độ sáng Những nghiên cứu ông có thể xem những nền móng cơ bản của các máy đo màu hiện đại [4],[10]
Vào những năm 1890 Ewald Hering đã phát triển lý thuyết về sự cảm nhận màu sắc, thuyết này được gọi là Thuyết đối
Vào năm 1905 Albert Munsell đã phát minh ra hệ thống màu Munsell và năm
1915 đã xuất bản cuốn sách “bản đồ của hệ thống màu Munsell” Đây là một trong
những bản đồ màu quan trọng nhất vì nó được sử dụng trên phạm vi quốc tế để so sánh, đánh giá màu
Năm 1931, Wilhelm Ostwald tạo ra màu sắc tinh khiết tương tự xung quanh đường xích đạo Từ đây chúng có mô hình thống nhất đối với màu trắng và màu đen Năm 1931, Uỷ ban Quốc tế về màu và chiếu sáng đã đưa chuẩn CIE vào sử dụng trong các ứng dụng kỹ thuật và công nghệ Ba giá trị XYZ dựa trên ba đáp ứng của mắt người với ba màu Đỏ cờ, Xanh lục và Xanh tím và người ta có thể vẽ ra một không gian ba chiều với 3 trục X, Y, Z hoặc chuyển thành hai chiều khi thực hiện một phép biến đổi tuyến tính
Chuẩn này đựơc thay đổi nhỏ vào năm 1964 (thay đổi đường viền ngoài) các trạng thái thay đổi trong đường viền biểu diễn độ bão hoà của màu, càng xa màu trắng trung tâm độ bão hoà càng cao Nói cách khác màu xanh tinh khiết có độ bão hoà cao hơn các màu xanh khác Nếu vẽ một đường thẳng từ một màu nằm ở phía ngoài đến màu trắng tinh khiết sẽ cho những màu có cùng giá trị màu
Trang 13Năm 1976, người ta thay đổi bản sắc ký màu thêm một lần nữa, vì thế điểm màu trắng xuất hiện ở chính giữa Đồng thời đường cong mới được sử dụng chính là đáp ứng thực của mắt người
Tuy nhiên thay đổi này không được ứng dụng vì phiên bản gốc đã trở thành một tiêu chuẩn chính Cũng vào thời điểm này, CIE cũng cho ra đời chuẩn L*a*b*
mà chúng ta sẽ thấy vai trò rất quan trọng của chúng sau này.[4]
1.1.2 Bản chất của màu sắc trong tự nhiên
Màu sắc là một hiện tượng chủ yếu vào các yếu tố sau:
1- Cấu tạo của vật thể có màu;
2- Thành phần của ánh sáng chiếu vào vật thể và góc quan sát;
3- Tình trạng của mắt người quan sát
Màu sắc của mọi vật trong thế giới tự nhiên xung quanh chúng ta rất phong phú và đa dạng Trước tiên nó phụ thuộc vào cấu tạo của vật thể Do có cấu tạo hoá học khác nhau nên dưới tác dụng của ánh sáng mọi vật có thể hấp thụ và phản xạ lại các phần tia tới với tỉ lệ và cường độ khác nhau Những tia phản xạ này sẽ tác động vào hệ thống cảm thụ thị giác truyền thông tin về hệ thống thần kinh trung ương để hợp thành cảm giác màu Màu của mỗi vật chính là màu hợp thành của các tia phản
xạ Khi nghiên cứu về màu sắc người ta dùng các khái niệm sau đây.[5]
Màu quang phổ là những màu nhận được khi phân tích ánh sáng trắng ra
thành những tia màu hợp thành nhờ các dụng cụ quang học, mỗi màu được đặc trưng bằng một bước sóng nhất định từ 380nm đến 760nm và gọi là màu đơn sắc, đặc điểm của màu này là tươi và thuần sắc
Màu đỏ : khoảng bước sóng 700 – 635 nm
Trang 14Màu vô sắc ( hay là màu tiên sắc, màu trung hoà) là những màu được đặc
trưng bằng cường độ màu như nhau của tất cả các bước sóng Do được phản xạ hỗn hợp các tia sáng có bước khác nhau với cùng 1 cường độ , không có tia nào trội hẳn nên chúng trung hoà lẫn nhau nên mắt con người không cảm thụ được sắc thái riêng của màu Màu đen, màu trắng và các màu ghi, xám có được từ 2 màu đen trắng là những màu vô sắc
Màu hữu sắc là những màu thiên nhiên thể hiện ở mọi vật trong thế giới xung
quanh chúng ta với các từ: xanh lam, xanh lục, đỏ, tím, vàng, da cam v.v Màu hữu sắc là kết quả của sự chọn lọc và phản xạ của một số tia sáng có bước sóng nhất định Màu của vật thể là hiệu ứng màu phối hợp của các tia phản xạ mà mắt người cảm thụ
được Màu hữu sắc được chia làm 2 loại: màu đơn sắc và màu đa sắc
Màu đơn sắc chính là màu quang phổ, gặp ở những trường hợp vật thể chỉ phản xạ một tia của quang phổ ánh sáng trắng, còn các tia khác thì hấp thụ hết
Màu đa sắc là màu tập hợp các tia phản xạ của một vật nào đó có bước sóng khác nhau nhưng cùng cường độ và tỉ lệ các tia này không giống nhau Màu chủ đạo của vật thể sẽ là màu của tia phản xạ nào chiếm tỉ lệ lớn nhất được hoà với màu của các tia còn lại theo qui luật phối màu
Màu của vật thể:Chúng ta biết rằng phải qua sự liên kết với ánh sáng thì màu
sắc của một vật thể mới được con người cảm nhận Đặc tính cố hữu của các vật thể là phản xạ hay hấp thụ ánh sáng Do có màu sắc của vật thể được cảm nhận tương ứng với các bứơc sóng phản xạ Nếu ánh sáng trắng chiếu đến vật thể thì ta có một số khả năng sau:
• Tất cả ánh sáng bị hấp thụ Ta sẽ cảm nhận được màu đen
Trang 15• Một phần ánh sáng bị hấp thụ, phần còn lại xuyên qua đối tượng Trong trường hợp này ta cảm nhận được màu sắc tuỳ thuộc vào bước sóng nào bị xuyên qua và bước sóng nào bị hấp thụ
• Một phần ánh sáng bị phản xạ và một phần ánh sáng bị xuyên qua Trong trường hợp này màu sắc của ánh sáng được phản xạ và bị xuyên qua sẽ thay đổi
1.1.3 Đặc tính của màu
Trong tự nhiên để chỉ màu đa sắc người ta dùng các tính từ kép như: màu tím
đỏ, lam ánh đỏ, vàng chanh…Theo lý thuyết màu và các phép tính màu, các đồ thị màu thì màu hữu sắc là một đại lượng ba chiều được xác định bằng: tông màu, độ bão hoà hay độ thuần sắc và độ sáng.[5]
*Tông màu (hue):
Tông màu của một màu là một khái niệm tương đối trừu tượng nhưng cũng thường gặp, trong ngôn ngữ thông thường nó được hiểu là sắc điệu của màu và được biểu thị bằng các từ: sắc, sắc thái hoặc ánh màu Ví dụ sắc xanh, sắc vàng hay ánh vàng Trong kỹ thuật người ta hiểu tông màu là sự khác biệt về cảm giác màu của một màu hữu sắc nào đó so với màu ghi có cùng độ sáng Sắc hay tông màu được biểu thị bằng bước sóng trội của màu Những màu giống nhau về sắc thường được xếp vào loại có chung một tông màu.Tông màu có thể có vô số các cấp bậc hoặc những biến thể với một vòng tròn màu Như vậy, vòng tròn màu có thể hiển thị tất cả các tông màu tồn tại
* Độ thuần sắc hay độ bão hoà màu (saturation): là chỉ tiêu xác định mức độ
của sắc thái trong màu Những màu thuần sắc phải chứa đựng một tỷ lệ lớn tia đơn sắc thuần khiết, còn ở những màu kém thuần sắc thì tỉ lệ của tập hợp các tia khác sẽ trội hơn
*Độ bão hoà màu chính là độ thuần khiết của nó Cụ thể, màu xanh xám có độ bão hoà thấp trong khi màu xanh ngọc bích có độ bão hoà màu cao hơn Một màu sẽ trở nên thuần khiết hay độ bão hòa màu cao hơn khi nó có ít màu xám Độ thuần sắc của màu được đánh giá bằng tỷ lệ của độ ánh của thành phần đơn sắc với độ ánh
Trang 16chung của màu (tính ra phần trăm) như vậy độ thuần sắc của các màu đơn sắc hay màu quang phổ sẽ là 100% Khi màu có độ bão hoà thấp chúng ta nói màu đó đục hơn, và khi màu có độ bão hoà màu cao hơn ta nói màu đó sáng hơn
Ngu ồn sáng: là vật phát ánh sáng hoặc toả năng lượng ở khu vực mà mắt
người có thể nhận biết được Sự chiếu sáng của nguồn sáng được biểu hiện bằng lượng nhiệt tương ứng được toả ra ở mỗi bước sóng trong bức phổ nhìn thấy đựơc Như vậy nguồn sáng cũng có thể được xác định bằng nhiệt màu tương ứng.[3]
Nguồn sáng tán xạ hoàn toàn: đựơc coi là vật đen, nó được sử dụng như chuẩn
để nhận biết màu của 1 nguồn sáng Nhiệt độ màu của 1 nguồn sáng là nhiệt tương ứng với nhiệt độ của vật đen nó được thể hiện bằng nhiệt độ Kelvin.[3]
Nguồn sáng thiên nhiên – mặt trời
- Ánh sáng ban ngày được tạo thành từ ánh sáng mặt trời trực tiếp và tán xạ trong không trung Ánh sáng mặt trời bị ảnh hưởng bởi vị trí địa lý, mùa và điều kiện thời tiết, ô nhiễm cũng như giờ trong ngày Phổ ánh sáng mặt trời trải dài trong khhoảng từ 200 – 400nm Nếu so sánh với vật đen thì nó có nhiệt độ 58000K, tuỳ theo các yếu tố về thời gian và khí hậu ánh sáng mặt trời sẽ có nhiệt màu trong khoảng 4000-60000K.[3]
- Các loại nguồn sáng chuẩn hoá: Uỷ ban quốc tế về chiếu sáng CIE đã đề nghị các phân bố năng lượng phổ đối với các nguồn sáng cho mục đích đo màu Đó
là những nguồn sáng chuẩn CIE
+ Nguồn sáng chuẩn: đã được CIE công nhận
Nguồn sáng A: ánh sáng có màu vàng da cam, nhiệt màu tương ứng
28560K, nó được xác định trong khoảng bước sóng 380-770nm
Trang 17Nguồn sáng C: ánh sáng đèn Tungslen, mô phỏng ánh sáng ban ngày trung bình, màu blue có nhiệt màu tương ứng 67740K
Nguồn sáng D65: nguồn sáng chuẩn CIE thể hiện nhiệt màu 65040K (trong các thiết bị quang phổ nó được sử dụng như ánh sáng ban ngày) Xác định trong khoảng bước sóng 380-770nm
Ngoài ra còn có nguồn ánh sáng F là nguồn ánh sáng đèn huỳnh quang [3]
1.1.5 Các hệ thống đo màu
Hệ thống đo màu Munsell
Tập màu của Munsell là một trong những hệ thống nổi tiếng dựa vào các mẫu
Nó được sử dụng trong cả nghệ thuật hội hoạ cũng như trong công nghiệp Trong hệ thống này mỗi màu được mô tả bởi sắc màu, độ sáng và độ bão hoà màu Trong hệ thống này bất kỳ một màu nào cũng có kí hiệu và được biểu diễn theo dạng chữ cái
và con số Cách xác định màu được tính theo công thức: tông màu – độ sáng/ độ bão hoà Ví dụ: 5Y8/10 cho biết ánh sáng vàng có độ bão hoà khá cao, sắc màu =5Y, độ sáng = 8, độ bão hoà = 10 Các tông màu cơ bản đỏ cờ, vàng, xanh lục, xanh tím và
đỏ tía, 5 tông màu cơ bản lại được chia nhỏ thành 100 tông, mỗi tông có 16 độ bão hoà màu và 10 mức độ sáng Tỉ lệ các giá trị độ sáng được sắp xếp từ 1 (đen) đến 10 (trắng) với khoảng cách về mức độ xám bằng nhau có thể cảm nhận được Tỉ lệ độ bão hoà là không giới hạn, bắt đầu tại 0 ở tâm khối màu và tăng theo bán kính (toả tròn từ tâm ra) Trong tập màu Munsell, mỗi trang có một loạt các mẫu có sắc màu không đổi nhưng độ sáng (trục thẳng đứng), độ bão hoà (trục nằm ngang) thay đổi
Hình 1.1: Tập màu Munsell
Trang 18Ưu điểm của hệ thống màu Munsell là mỗi màu sắc đã được đánh giá có thông số đặc trưng của nó và những thông số này đã được số hoá, tuy nhiên nhược điểm chính của
hệ thống này không cho phép so sánh hai mẫu liền kề nhau vì độ chênh lệch màu giữa các cặp mẫu liền kề nhau là rất lớn, vượt các dung sai màu thương mại thông thường [3],[4]
Bản màu CIE
Để thuận lợi cho quá trình tính toán và so sánh các màu với nhau, người ta tìm cách thể hiện các màu bằng những con số và sắp xếp chúng một cách có hệ thống, trong đó mỗi màu có một vị trí nhất định được xác định bởi ba đại lượng: tông màu hoặc ánh màu (H); độ bão hoà màu hoặc độ thuần sắc (C) và độ sáng (L)
Hàng nghìn tông màu mà mắt ta cảm nhận được từ ánh sáng màu và chất màu được sắp xếp trong một hệ thống chuẩn của Ủy ban Chiếu sáng Quốc tế còn gọi là bản màu CIE hay tam giác màu CIE Cơ sở của sự thể hiện màu bằng số lượng trên bản màu CIE là mỗi màu được xem là hỗn hợp cộng của bộ ba màu cơ bản Bộ ba màu cơ bản được chọn dựa trên cơ sở thuyết ba màu của Young cho rằng ánh sáng trắng là tổng hợp của ba màu cơ bản: đỏ (red), xanh lục (green) và xanh lam (blue)
Bộ ba màu cơ bản đó với số lượng tương ứng là X, Y, Z, có thể tái tạo vô số màu khác nhau Điều kiện đặt ra cho việc lựa chọn ba màu cơ bản là khi phối hai trong số chúng, ta không thể nhận được màu thứ ba Tỷ lệ thành phần của ba màu cơ bản x, y,
z sẽ xác định vị trí của màu đó (toạ độ màu đó ) trên bản màu:
Hệ thống CIE được trình bày bằng đồ thị các vị trí màu trong tam giác cân hoặc tam giác vuông Diện tích bên trong phạm vi đồ thị có dạng móng ngựa là không gian màu của tất cả các màu thực (hình 1.1) Từ trái sang phải trên đường cong
đó bắt đầu từ bước sóng 380 - 780 nm là các màu trên dãy phổ từ tím đến đỏ Giữa diện tích là điểm vô sắc (màu trắng) Đây là phổ dạng móng ngựa có 24 tông màu được xác định theo độ dài bước sóng Các tông màu trên đường cong đó có độ bão
Trang 19hoà lớn nhất và thấp dần tới điểm vô sắc (gồm 15 bậc) Bất kỳ màu nào nằm trên đường bão hoà đều có cùng tông với màu ghi gọi là màu cùng tông
Hình 1.2 Bản màu CIEXYZ
Bằng máy đo màu quang phổ chuyên dụng người ta xác định các toạ độ x, y của mỗi màu Khi biết toạ độ của mỗi màu thì ta có thể biết ngay tông màu và độ bão hoà của màu đó.[3],[5]
Không gian màu CIE XYZ [5]
Tam giác màu chỉ cho phép biểu diễn màu sắc bằng hai đại lượng nên các toạ
độ trên tam giác chỉ cho biết về độ bão hoà và tông màu nhưng lại không có độ sáng Nếu muốn quan tâm đến độ sáng thì phải đưa thêm toạ độ thứ ba, qua đó mặt phẳng màu sẽ mở rộng thành không gian màu bằng cách đặt thêm toạ độ - độ sáng Y thẳng góc với mặt phẳng màu Nếu điền vào các giá trị độ sáng với khả năng cực đại có thể
có cho mỗi toạ độ màu trên mặt phẳng màu thì giá trị cực đại Y = 100 chỉ dành cho rất ít toạ độ màu Một màu nào đó càng kém bão hoà thì độ sáng của nó càng lớn Để xác định một màu trong không gian màu CIE XYZ thì đầu tiên phải xác định số lượng màu X, Y, Z tham gia hỗn hợp cộng, sau đó là xác định toạ độ màu x, y và Y được coi là độ sáng Bằng cách đó người ta có thể so sánh sự giống nhau hay khác nhau giữa hai màu, tuy nhiên sự giống, khác nhau giữa hai màu đó lớn như thế nào thì cũng không thể đánh giá chính xác được Độ lớn khác nhau của các hình elip là sự
Trang 20khác biệt màu sắc giữa các vùng màu không bằng nhau trong tam giác màu CIEXYZ Cách trình bày khoảng cách màu không bằng nhau được Ađam lần đầu tiên nêu ra, nên nó được gọi là elip Ađam
Hình 1.3: Không gian màu CIEXYZ
Để có thể xác định được màu sắc khác nhau từ sự khác biệt về toạ độ màu thì cần phải biến đổi hệ thống sao cho khoảng cách giữa các toạ độ màu trong đó có ứng với sự cảm thụ thị giác bằng nhau Để có một bản màu với khoảng cách thị giác bằng nhau thì người ta tính toán làm lệch tam giác màu XYZ làm cho elip Ađam thành hình tròn có đường kính bằng nhau Tam giác màu bị làm méo đầu tiên vào năm
1960 là UCS (Uniform Chromaticity Scale: thang bằng nhau của các loại màu) Một trong những không gian màu tạo ra từ sơ đồ UCS là không gian màu CIELUV
Hệ thống màu CIE Lab [5]
Để thuận lợi hơn nữa cho việc tính toán và so sánh các màu với nhau, năm
1976 CIE giới thiệu một hệ thống sắp xếp màu sắc, đó là hệ thống CIE Lab Hệ thống CIE Lab sử dụng ba trị số L*, a*, b*, trong đó: L* là độ sáng của màu; a* là toạ độ màu trên trục đỏ lục; b* là toạ độ màu trên trục vàng - lam Giao điểm của hai trục a*, b* là điểm vô sắc (đen, ghi, trắng tùy thuộc vào độ sáng) Trục độ sáng L* có giá trị từ 0 - ứng với màu đen đến 100 - ứng với màu trắng Những màu cùng một tông màu trong mặt phẳng a* b* nằm trên đoạn thẳng kéo dài từ điểm trung tâm ra phía ngoài Thực chất, hệ thống CIE Lab được cấu tạo thông qua sự biến đổi các giá trị X,
Y, Z từ hệ thống CIE XYZ bằng cách đặt:
Trang 21Với X,Y,Z là ba màu sơ cấp được xây dựng trên phép tính đã nêu ở phần trên
Xn, Yn, Zn là ba giá trị màu ứng với màu trắng tham chiếu
Sự biến đổi này dựa trên thuyết màu đối lập nhau của Hering: một màu hỗn hợp không bao giờ là đỏ ánh lục hay vàng ánh lam, nhưng màu đỏ ánh vàng hay màu lục ánh vàng thì bao giờ cũng đúng Như vậy mỗi trị số màu cho phép đánh giá theo thành phần tham gia của đỏ hay lục, vàng hay lam, theo đó mỗi màu có thể chứa đựng những thành phần sau: đỏ và vàng, đỏ và lam, lục và vàng, lục và lam
Hình 1.4: Không gian màu CIELAB
Trang 22Dựa vào thuyết màu đối nhau của Hering, người ta tạo ra các hiệu số từ các giá trị X, Y, Z: X − Y = a, Y − Z = b
Vì X thể hiện bộ thu màu đỏ, Y thể hiện bộ thu màu lục của mắt người nên hiệu số này rút ra một thang bậc, trên đó các giá trị a dương khi X > Y, nghĩa là màu
đỏ trội hơn, khi a âm có nghĩa là màu lục trội hơn Hiệu số Y − Z tạo ra một thang vàng - lam trên đó giá trị dương của b tương ứng với màu vàng và giá trị âm của b tương ứng với màu lam Mặt khác màu sắc cũng có thể được mô tả bởi độ sáng L*, tông màu Ho và độ bão hoà C* trong hệ thống CIELCH Khi biết các giá trị a*, b* của một màu thì dễ dàng tính được các giá trị C*, Ho của màu đó thông qua công thức:
1.1.6 Sự sai lệch màu [5]
Trước đây, người ta chỉ so sánh sự khác nhau giữa các màu bằng cảm nhận và thoả thuận với nhau mà không dựa vào một tiêu chuẩn nào cả Tuy nhiên, màu sắc vừa mang bản chất vật lý vừa mang bản chất tâm lý và cảm giác, vì vậy sự đánh giá của mỗi người nhiều lúc là khác nhau, là nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất
về sai lệch màu sắc Trước những khó khăn trên, người ta tìm cách biểu diễn màu sắc trong một hệ thống màu mà trong đó, khoảng cách giữa hai vị trí màu tương ứng với
sự cảm nhận bằng thị giác Có rất nhiều hệ thống màu khác nhau (CIEXYZ, CIEUCS, CIELUV, CIELAB ) Sự khác biệt quan trọng nhất giữa chúng là khoảng cách sai lệch giữa các màu Người ta tìm cách tạo ra mối quan hệ giữa sự khác biệt màu sắc được nhận ra và khoảng cách sai lệch màu trong một hệ thống đo Khoảng cách này trong một hệ thống màu là khoảng cách hình học giữa hai điểm mà các màu được sắp xếp trong hệ thống
Mục đích đặt ra là từ vị trí hai màu trong hệ thống màu có thể suy ra độ lớn của sự khác biệt cảm nhận Để làm được điều này trước hết phải định nghĩa đại lượng ΔE*, nó cho biết khoảng cách hình học của hai màu trong một hệ thống, ΔE* > 1 tương ứng với khoảng cách màu mà mắt có thể phân biệt được ngay Khoảng cách
Trang 23màu nhỏ hơn theo quy định nghĩa là mắt không thể nhận ra Song song với khoảng cách hình học của hai màu thì sự biểu diễn còn nói lên hướng của sự dịch chuyển màu Việc phát triển một hệ thống màu phù hợp chính xác với khả năng cảm nhận sự khác biệt màu sắc của mắt người là cực kỳ khó khăn Trong thực tế cho đến nay chưa tìm được một hệ thống màu nào như vậy
Sự sai lệch màu trong hệ thống CIELAB[5]
Hệ thống màu có khoảng cách thị giác màu bằng nhau nổi tiếng nhất, phổ biến rộng rãi nhất là hệ thống màu CIELAB Mỗi màu được thể hiện bởi ba giá trị: L*, a*, b* Khi đã biết các giá trị hình học của hai màu trong không gian màu thì người ta tính được sự khác biệt của màu sắc thông qua các trị số Δa*, Δb*, ΔC*, ΔH và ΔE
Độ lớn của các trị số này sẽ phản ánh sự khác biệt giữa hai màu một cách rõ rệt Sự khác nhau giữa hai màu 1 và 2 trong hệ thống CIELAB được xác định thông qua các hiệu số sau:
ΔL* = L*2 − L*1: Sự khác nhau về độ sáng giữa hai màu
Δa* = a*2 − a*1: Sự khác nhau về toạ độ trên trục đỏ - lục
Δb* = b*2 − b*1: Sự khác nhau về toạ độ trên trục vàng - lam
ΔC* = C*2 − C*1: Sự khác nhau về độ bão hoà
ΔH: Sự khác nhau về tông màu
ΔE*: Giá trị độ sai lệch màu giữa 2 màu
Trong không gian màu CIEL*a*b* thì khoảng sai biệt màu được tính như sau:
phương pháp đánh giá mới là sử dụng hệ thống CMC - đánh giá sự khác biệt màu sắc
Trang 24do Ủy ban Đo màu thuộc Hiệp hội các nhà Hoá nhuộm và Kỹ thuật màu Liên hợp Anh xác lập (Committee Measurement of Society Dyers and Colourists in Britain Great)
Sự khác nhau màu sắc trong CMC ký hiệu là ΔECMC:
Sự khác biệt về vị trí màu có thể được phân lọai như sau:
∆E nằm giữa 0 và 1 Thông thường sự khác biệt này không thể cảm nhận được
∆E nằm giữa 1 và 2 Khác biệt rất nhỏ, chỉ cảm nhận bởi người có kinh
nghiệm
∆E nằm giữa 2 và 3.5 Khác biệt tương đối có thể cảm nhận bởi người không có
kinh nghiệm
Trang 251.2 Các phương pháp đánh giá độ sai lệch màu trong ngành dệt may
Hiện nay một số doanh nghiệp dệt may trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thường sử dụng một trong hai phương pháp sau để đánh giá độ sai lệch màu của hàng dệt may
+ Phương pháp so màu chủ quan: Là phương pháp đánh giá độ lệch màu bằng mắt thường bằng cách dùng thang mẫu xám để đánh giá sự thay đổi màu + Phương pháp đo màu khách quan: Là phương pháp đánh giá độ lệch màu bằng phương pháp đo phổ phản xạ, phương pháp ba khu vực
1.2.1 Đánh giá độ sai lệch màu theo phương pháp chủ quan
Thang thước xám thay đổi màu
Đánh giá bằng mắt thường Gồm 5 cặp vật liệu màu xám được đánh số từ 1 tới
5 Cặp số 5 có 2 nửa màu ghi giống nhau, đặt cạnh nhau Cặp số 1 chỉ ra độ tương phản cao nhất Giữa cặp số 1 và số 5 có các cặp trung gian là 2, 3 và 4
Đặt một mảnh vải gốc và mẫu vải đó đã thử cạnh nhau trên cùng một mặt phẳng và quay cùng hướng Để thang màu xám kề bên trên cùng mặt phẳng, nền xung quanh phải là màu xám trung tính, xấp xỉ ở giữa màu biểu thị cấp 1 và cấp 2 của thang màu xám để đánh giá sự thay đổi màu (xấp xỉ với Munsell N5) Khi cần, để
tránh ảnh hưởng màu của mặt sau đối với mặt ngoài vải, người ta đặt hai hay nhiều lớp vải gốc dưới cả mẫu đã thử và mảnh vải gốc Chiếu sáng những mảnh vải đó bằng ánh sáng bầu trời phía Bắc (ở Bắc bán cầu) hay bằng ánh sáng bầu trời phía Nam (ở Nam bán cầu) hoặc một nguồn sáng tương đương với độ rọi là 600lx hoặc cao hơn Góc chiếu xấp xỉ 450 so với bề mặt và hướng quan sát gần như thẳng góc với mặt vải Rồi so sánh sự khác nhau về màu bằng mắt giữa mảnh vải gốc và mẫu vải đã thử với sự khác nhau thể hiện ở thang màu xám Khi mẫu thử không thay đổi màu, ta nói mẫu thử có độ bền phai màu đạt cấp 5 Nếu sự thay đổi màu của mẫu thử
so với mẫu ban đầu tương ứng với cặp nào đó trong thang xám thì ta nói mẫu thử có
độ bền phai màu là số của cặp thước xám có độ tương phản tương ứng.[2],[7]
Sự khác nhau về màu sắc giữa mẫu thử và vải kèm theo thang xám thay đổi màu và theo số liệu đo trên máy đo quang phổ kế phản xạ như sau:
Trang 26Cấp bền màu Sự khác nhau theo CIELAB Dung sai
1.2.2 Đánh giá độ sai lệch màu theo phương pháp khách quan [5]
Để có thể tính toán được các giá trị của màu trong các hệ thống phân định màu sắc, người ta phải sử dụng một thiết bị chuyên dùng để đo màu gọi là máy đo màu hay còn gọi là đầu đo quang phổ
Mục đích của đo màu là tìm ra chỉ số màu độc lập với nhau, các giá trị này không khẳng định gì về cảm nhận màu, nhưng từ các giá trị này ta có thế tính ra được các đặc trưng về sự cảm nhận màu như: tông màu, độ bão hoà và độ sáng
Có hai phương pháp đo màu:
- Phương pháp đo phổ
- Phương pháp ba khu vực
Trang 27 Phương pháp đo phổ
- Nguyên lý đo màu
Phương pháp đo phổ là phương pháp chính xác nhất và phức tạp nhất bao gồm
đo phổ và tính toán số liệu đo Đo phổ là quá trình thuần vật lý để xác định độ phản
xạ theo độ dài bước sóng
Độ phản xạ được tính theo tỷ lệ ánh sáng phản xạ từ mẫu đo so với mẫu trắng chuẩn Tập hợp các giá trị độ phản xạ theo độ dài bước sóng có thể biểu diễn thành đường cong phản xạ (hoặc hấp thụ) trong vùng ánh sáng thấy được Đường cong đó gọi là đường cong phản xạ của một màu (hình 1.5) Thông qua độ phản xạ ánh sáng theo độ dài bước sóng, người ta có thể tính toán được các toạ độ màu cụ thể trong các không gian màu
Như vậy, bước thứ nhất là đo đạc, bước thứ hai là từ giá trị độ phản xạ tính ra
toạ độ màu đó trong hệ toạ độ xyZ Quá trình tính toán diễn ra nhanh chóng nếu thiết
bị có đặt một phần mềm thích hợp và có thể cho ra kết quả đo trên màn hình hoặc máy in Tính toán màu là công việc tốn nhiều thời gian và công việc này do một máy tính đảm nhiệm nhằm tìm ra các trị số X, Y, Z từ đó tính ra toạ độ màu x, y, z:
Trang 28Để đơn giản hơn cho việc tính toán, việc lấy tích phân được thay bằng phép cộng lần lượt theo khoảng độ dài bước sóng:
Trong đó: Sλ - phân bố năng lượng phổ theo độ dài bước sóng của ánh sáng chuẩn;
Rλ - hệ số phản xạ theo độ dài bước sóng;
Δλ - khoảng độ dài bước sóng;
k - hệ số chuẩn hoá phù hợp cho mỗi loại ánh sáng chuẩn
Từ các giá trị X, Y, Z, có thể xác định toạ độ màu trong các không gian màu theo các công thức sau:
• Trong không gian màu CIE XYZ:
• Trong hệ thống CIELAB:
Trang 29Trong đó: Xn, Yn, Zn - các giá trị đo màu của vật trắng lý tưởng và thay đổi tùy thuộc vào loại ánh sáng chiếu tới
* Cấu tạo của máy đo màu
Máy đo màu có thể chia làm hai phần: phần quang học và phần đo
- Phần quang học:
Nguồn sáng (L), khe ánh sáng vào điều chỉnh được (E), ống kính chuẩn trực (K), quang kế hệ tán sắc với một lăng kính hay hai lăng kính, kính lọc nhiễu xạ liên tục hay cách tử nhiễu xạ để tạo ra tia đơn sắc (P), thấu kính O, khe điều chỉnh ánh sáng thoát ra (A)
độ rộng λ Tia đơn sắc sẽ chiếu lên mẫu đo và mẫu trắng chuẩn Tỷ lệ giữa phần ánh sáng đơn sắc trả lại từ mẫu đo so với ánh sáng đơn sắc trả lại từ mẫu trắng chuẩn gọi là độ phản xạ tại một bước sóng Rλ Độ phản xạ được dẫn vào bộ thu quang điện
F, được xử lý cuối cùng cho ra số liệu và những đường cong phản xạ
Trang 30Hình 1.6 Sơ đồ nguyên lý cấu tạo và hoạt động của máy đo màu
Phương pháp ba khu vực [5]
Phương pháp ba khu vực (trước đây gọi là phương pháp ba kính lọc hay phương pháp kích thích 3 thành phần) người ta dùng ba kính lọc khác nhau tương ứng với đường cong nhạy phổ của mắt (điều kiện Luther) sao cho có thể trực tiếp tìm
ra các giá trị màu X, Y, Z, nếu như bộ thu bức xạ có tính nhạy phổ tương ứng Tính nhạy phổ của bộ thu bức xạ cần phải phù hợp với đường cong nhạy phổ của người quan sát chuẩn khi các tia sáng xuyên qua các kính lọc Nếu kết quả đo thu được trực tiếp thì độ xuyên qua của các kính lọc phải thoả mãn điều kiện sau đây gọi là điều kiện Luther:
trong đó: D1, D2, D3 - đo thấu quang của ba kính lọc;
Cx, Cy, Cz - hằng số thiết bị không phụ thuộc vào chiều dài bước sóng;
Slλ, S2λ, S3λ - tính nhạy phổ của bộ thu bức xạ không dùng kính lọc Kính lọc của các thiết bị được ghi các hệ số phản xạ:
RX - kính lọc đỏ;
RY - kính lọc lục;
nh lọc lam
Trang 31Các giá trị X, Y, Z được tính theo công thức sau:
X = a.RX + b.RY ; Y = RY; Z = C.RZ
Trong đó: a,b,c- hằng số phụ thuộc vào điều kiện chiếu sáng chuẩn & góc quan sát chuẩn
1.2.3 Những điền kiện đo màu
Kết quả đo màu phụ thuộc vào các điều kiện sau: loại ánh sáng chiếu tới; góc
đo hình học và góc nhìn của người quan sát chuẩn
Điều kiện chiếu sáng
Sự khác nhau cơ bản của một nguồn sáng này so với nguồn sáng khác chính là
sự phân bố năng lượng ánh sáng trên toàn bộ dải phổ Khi quan sát vật thể dưới các nguồn sáng khác nhau thì sự cảm nhận màu sắc sẽ khác nhau Thí dụ, dưới ánh sáng của đèn tròn thì vật có vẻ bị vàng hơn so với khi quan sát vật dưới ánh sáng mặt trời Nguyên nhân của hiện tượng này chính là sự phân bố năng lượng phổ khác nhau của các nguồn sáng khác nhau
Góc nhìn của người quan sát chuẩn
Ngoài sự khác nhau về nguồn chiếu sáng, khả năng nhìn màu to nhỏ cũng làm cho cảm nhận thị giác biến đổi tức là màu sẽ được cảm nhận khác nhau ngay cả khi điều kiện chiếu sáng và tính chất bề mặt không thay đổi Thực tế này cần phải lưu ý khi đo màu, trong đó mỗi loại bộ thu đại diện cho cỡ lớn mẫu khác nhau và độ nhạy khác nhau Khi tiến hành đo với các mẫu nhỏ, người ta chọn góc đo 20 và với các mẫu có diện tích lớn thì góc 100 là quan sát chuẩn
Trang 32 Góc đo hình học
Nhằm đạt được nhiều ứng dụng khác nhau người ta chế tạo ra thiết bị đo màu
có nhiều góc đo hình học khác nhau Khi chiếu lên mẫu đo ánh sáng thẳng góc định hướng thì có vẻ khác hẳn khi chiếu lên đó ánh sáng từ mọi hướng Vì vậy góc đo hình học đóng vai trò quan trọng trong đo màu
Góc đo hình học 45/0: Mẫu đo được rọi ở dưới góc 450 và quan sát dưới góc
00so với phương thẳng đứng
Góc đo hình học 0/45: Mẫu đo được rọi ở dưới góc 00 và quan sát dưới góc
450 so với phương thẳng đứng
Trang 33Ngoài các góc đo hình học trên, các góc đo hình học khác là trong quả cầu Ulbeicht (quang kế quả cầu), mặt trong của nó được bôi trắng mờ Với quả cầu này
có thể chiếu cũng như bức xạ lại bằng ánh sáng khuếch tán Phần lớn góc đo hình học trong quả cầu là d/0 (nghĩa là ánh sáng được chiếu từ mọi hướng và đo ở góc 00) Các góc đo trong quả cầu còn quy định: d/0, 8/d và d/8
Góc đo hình học d/0: Mẫu đo được rọi bằng ánh sáng khuếch tán và quan sát dưới góc 00 so với phương thẳng đứng
Góc đo hình học d/8: Mẫu đo được rọi bằng ánh sáng khuếch tán và quan sát dưới góc 80 so với phương thẳng đứng
Bề mặt mẫu đo
Bề mặt mẫu đo ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả đo Để kết quả đo được chính xác thì khi chuẩn bị mẫu đo cần thoả mãn một số yêu cầu sau:
- Kích thước của mẫu đo phải lớn hơn kích thước cửa sổ đo của thiết bị
- Mẫu đo phải gấp thành nhiều lớp để đảm bảo ánh sáng không xuyên qua
Bề mặt mẫu đo phải phẳng Trong trường hợp bề mặt không thể phẳng thì cần phải lấy kết quả trung bình ở một số điểm đo
Tùy theo loại ánh sáng, góc nhìn của người quan sát chuẩn và góc đo hình học khác nhau mà kết quả đo cho ra khác nhau Muốn biếu diễn một màu nào đó bằng số thì cần phải kèm theo các điều kiện đo màu và sự so sánh giữa các phép đo phải được thực hiện dưới các điều kiện đo màu như nhau
Trang 341.3 C ác yếu tố ảnh hưởng đến độ bền màu của vải tại khâu hoàn tất là (ủi)
Khái niệm độ bền màu
Độ bền màu là khả năng giữ màu của vật liệu dệt may khi đã được nhuộm hoặc in hoa, chịu tác dụng cơ, lý, hóa gắn với điều kiện sản xuất và sử dụng
Độ bền màu của vải được đánh giá thông qua giá trị ∆E (độ sai lệch màu sắc
đo theo tọa độ CIELAB) sau khi chịu tác động của các yếu tố như: giặt, là, cọ xát, mồ hôi, ánh sáng, thời tiết, so với mẫu vải gốc ban đầu Nếu giá trị ∆E càng lớn thì vải có
độ bền màu càng kém và ngược lại [5],[6]
Công đoạn là (ủi)
Là (Ủi) là một khâu quan trọng trong sản xuất công nghệ hàng may mặc Sản phẩm may đẹp cũng có thể là không tốt mà làm giảm giá trị hay một sản phẩm có khuyết tật nhỏ trong khi may cũng có thể dùng phương pháp là sửa chữa được, làm đẹp thêm lên
* Bản chất của quá trình là (ủi): là quá trình là phẳng hay định hình cho một chi tiết hay toàn bộ sản phẩm quần áo ở trong trạng thái nhiệt ẩm dưới tác dụng của lực nén
* Đặc tính của quá trình là (ủi): các hoạt động trong ủi gồm:
- Quá trình gia nhiệt, làm ẩm để là phẳng hay biến đổi hình dạng sản phẩm dưới tác dụng của lực nén, lưc ép hay lực kéo
- Định hình hay ổn định hiệu quả là (ủi) bằng cách làm mát và làm khô sản phẩm nhờ khí nén hay hút
Độ bền màu của vải tại khâu hoàn tất là (ủi) phụ thuộc rất nhiều yếu tố trong
đó có hai yếu tố: yếu tố công nghệ (thông số công nghệ); yếu tố thiết bị ảnh hưởng nhiều đến độ bền màu vải tại khâu hoàn tất là
Trang 351.3.1 Yếu tố công nghệ (thông số công nghệ)
Trong quá là phẳng, hay tạo dáng cho sản phẩm may mặc ta tác dụng đồng thời các yếu tố: nhiệt độ, thời gian, lực ép có ảnh hưởng rất lớn đến độ bền màu của vải
Nhiệt độ:
Đối với mỗi loại vải khác nhau có mức nhiệt độ là khác nhau Nhiệt độ quá thấp thì chưa đủ độ nóng để làm phẳng bề mặt vải, nhiệt độ quá cao thì dễ làm thay đổi màu sắc của vải so trước khi là
Ngoài ra, nhiệt độ là còn phụ thuộc vào vật liệu gia công:
- Phụ thuộc vào độ dày, mỏng của vật liệu: vải mỏng thì nhiệt độ ủi là thấp, vải càng dày thì cần nhiệt độ càng cao
- Phụ thuộc vào tính chất vật lý của vật liệu: vật liệu có tính dẫn nhiệt thấp thì phải tăng nhiệt độ là lên so với mức trung bình
1100C ± 50C ( Axetat, Poliamit, Polipropylen )
1500C ± 50C ( Len, Tơ tằm, Visco, Triaxetat, polieste )
độ dày của nguyên liệu giảm đi, làm thay đổi hình dạng và nếu lực ép quá lớn thì sẽ
tạo thành vết bóng trên vải
Trang 361.3.2 Yếu tố thiết bị
Bàn là:
+ Bàn là điện: cung cấp nhiệt bằng điện để là phẳng sản phẩm
+ Bàn là hơi: Là loại bàn là điện được hỗ trợ tác dụng bằng hơi Trong khi là hơi nước sẽ tuôn qua các lỗ khoan của đế ủi để tỏa vào vật liệu
+ Máy là ép (Là dập): Là loại máy được thiết kế các mặt là rất đa dạng phù hợp theo từng loại chi tiết sản phẩm Mặt trên và mặt dưới bàn là sẽ đồng dạng với
nhau Khi tiến hành là, hơi nước sẽ được phun từ mặt dưới hay mặt trên của bàn là
ép, mặt còn lại sẽ có hệ thống hút hơi nước đi Sau khi là những chi tiết lớn bằng máy, các chi tiết nhỏ còn lại là nốt bằng tay
+ Máy là tự động bằng hơi nước, nhiệt độ và áp suất trong buồng kín Sản phẩm cần là sẽ được treo trên móc và được chuyển đến buồng là bằng hệ thống băng chuyền Sau đó sản phẩm đi qua buồng là và chuyển ra ngoài sau một thời gian định trước
+ Máy là phom: Các dạng là phom trong sản xuất hàng may mặc đều sử dụng các phom có hình dáng được chế tạo gần đúng với sản phẩm hoàn tất, là phom được thực hiện bằng hơi nước hoặc khí nén
Trang 37
1.4 KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN
Qua phần tổng quan nghiên cứu về lý thuyết màu, phương pháp đo màu để kiểm tra độ bền màu của vải, các thông số công nghệ là ảnh hưởng đến độ bền màu của vải, từ đó có thể rút ra một số kết luận sau:
1 Màu sắc nhận được của một vật phụ thuộc vào ba yếu tố: Vật thể, nguồn sáng và người quan sát Những nghiên cứu về màu sắc đã bắt đầu từ những năm trước công nguyên, qua quá trình phát triển lý thuyết màu từ việc đánh giá màu chủ quan bằng mắt đến hệ thống màu CIE 1931 đã cho phép ta đánh giá màu hoàn toàn bằng số nhưng vẫn còn nhiều khiếm khuyết đến không gian màu CIE lab chúng ta đã
có một không gian màu đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng cho phép chúng ta đánh giá màu một cách hoàn toàn định lượng và khách quan
2 Độ bền màu là khả năng giữ màu của vật liệu dệt may khi đã được nhuộm hoặc in hoa, chịu tác dụng cơ, lý, hóa gắn với điều kiện sản xuất và sử dụng
Độ bền màu của vải được đánh giá thông qua giá trị ∆E (độ sai lệch màu sắc
đo theo tọa độ CIELAB) sau khi chịu tác động của các yếu tố như: giặt, là, cọ xát, mồ hôi, ánh sáng, thời tiết, so với mẫu vải gốc ban đầu Nếu giá trị ∆E càng lớn thì vải có
độ bền màu càng kém và ngược lại
3 Hiện nay một số doanh nghiệp dệt may trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thường sử dụng một trong hai phương pháp sau để đánh giá độ chênh lệch màu của hàng dệt may
+ Phương pháp đo màu chủ quan: Là phương pháp đánh giá độ lệch màu bằng mắt thường bằng cách dùng thang mẫu xám để đánh giá sự thay đổi màu
+ Phương pháp đo màu khách quan: Là phương pháp đánh giá độ lệch màu bằng phương pháp đo phổ phản xạ, phương pháp ba khu vực (phương pháp kích thích 3 thành phần) thông qua máy đo màu để đảm bảo độ chính xác cao
4 Trong xí nghiệp may các khâu sản xuất như (trải vải, cắt, may, hoàn tất) đều ảnh hưởng ít nhiều đến độ bền màu của vải Các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền màu như công nghệ, thiết bị, môi trường làm việc
Trang 385 Là (Ủi) là một khâu quan trọng trong sản xuất công nghệ hàng may mặc Sản phẩm may đẹp cũng có thể là không tốt mà làm giảm giá trị hay một sản phẩm
có khuyết tật nhỏ trong khi may cũng có thể dùng phương pháp là sửa chữa được, làm đẹp thêm lên Là (ủi) là quá trình tạo hình dạng cho một chi tiết hay toàn bộ sản phẩm quần áo ở trong trạng thái nhiệt ẩm dưới tác dụng của một trạng thái bề mặt
Độ bền màu của vải tại khâu hoàn tất là (ủi) phụ thuộc rất nhiều yếu tố trong
đó có hai yếu tố: yếu tố công nghệ (thông số công nghệ) như nhiệt độ, thời gian, lực
ép; yếu tố thiết bị ảnh hưởng nhiều đến độ bền màu vải tại khâu hoàn tất là
Mặc dù yêu cầu mà người tiêu dùng đặt ra cho các nhà sản xuất đó là độ bền
màu của vải sợi pha polieste/bông trong quá trình sử dụng như giặt, là, cọ xát, mồ
hôi, ánh sáng, thời tiết v.v Và một số công ty, doanh nghiệp cũng gặp phải vấn đề
màu sắc bị thay đổi sau khi tiến hành giặt, là trong quá trình sản xuất nhưng trong điều kiện thực tế trong nước hầu như không có các công trình nghiên cứu về độ bền màu của vải Trong khuôn khổ của luận văn, vấn đề được đặt ra để nghiên cứu như sau:
Nghiên cứu các thông số công nghệ tại khâu hoàn tất là ảnh hưởng đến độ bền màu của vải
Trang 39CH ƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Trang 402.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các yếu tố tại khâu hoàn tất là (ủi) ảnh hưởng đến độ bền màu của vải
Trong tất cả các tiêu chí kiểm tra chất lượng sản phẩm thì màu sắc (yếu tố thẩm mỹ) là yếu tố đầu tiên lôi kéo khách hàng đến với sản phẩm, là thông tin đầu tiên của sản phẩm gửi đến khách hàng, đặc biệt là đối với một số loại sản phẩm như sản phẩm dệt may và thời trang Tuy màu sắc không phải là toàn bộ chất lượng sản phẩm nhưng lại quyết định rất lớn đến khả năng thâm nhập thị trường và tạo nên một tác động tâm lý đến người tiêu dùng để họ quyết định có bỏ tiền ra mua sản phẩm hay không Vì vậy độ bền màu của sản phẩm là một trong những thông số quan trọng nhất để đánh giá chất lượng sản phẩm
Độ bền màu là khả năng bền vững màu của vật liệu dệt đã được nhuộm hoặc
in hoa đối với tác dụng cơ, lý hóa gần với điều kiện sản xuất hoặc sử dụng [6]
Độ bền màu của vải được đánh giá thông qua giá trị ∆E (độ sai lệch màu sắc
đo theo tọa độ CIELAB) sau khi chịu tác động của các yếu tố như: giặt, là, cọ xát, mồ hôi, ánh sáng, thời tiết, so với mẫu vải gốc ban đầu Nếu giá trị ∆E càng lớn thì vải có
độ bền màu càng kém và ngược lại [5],[6]
Với thời gian có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu các yếu tố tại khâu hoàn tất là ảnh hưởng đến độ bền màu vải và đưa ra phương án là tối ưu nhất nhằm làm giảm tối
đa hiện tượng không bền màu của vải để nâng cao chất lượng sản phẩm Vì vậy trong phạm vi nghiên cứu, nội dung của đề tài được đề cập như sau:
1 Nghiên cứu các thông số công nghệ gia công là (ủi) ảnh hưởng đến bền màu của vải
- Các thông số công nghệ gia công là (ủi): nhiệt độ là (T), thời gian là (t), lực
ép (P)
- Thực nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng các thông số công nghệ gia công là (ủi) đối với 2 loại vải