1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giai dap cac van de nghiep vu về HÌNH sự

34 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 92,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn xét xử cho thấy khi đương sự và bị can có yêu cầu, cơ quan tiến hành tố tụng vẫntạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình

Trang 1

PHẦN I CÁC VẤN ĐỀ VỀ HÌNH SỰ

Câu hỏi 1 Những trường hợp được đương nhiên xóa án tích theo Nghị Quyết 33 năm 2009

(và Nghị quyết 32 năm 1999) của Quốc Hội có giống những trường hợp đương nhiên xóa án tích quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự không?

Trả lời:

Là một chế định của pháp luật hình sự nên “đương nhiên xóa án tích” theo Điều 64 Bộ luậthình sự (BLHS) và “đương nhiên xóa án tích” theo Nghị quyết số 33 năm 2009 của Quốc hội (và Nghịquyết 32 năm 1999) cũng đều chung một hệ quả pháp lý: đương nhiên xóa án tích là trường hợpđược coi là chưa can án mà không cần có sự xem xét, quyết định của Tòa án

Tuy nhiên, do có tính chất pháp lý khác nhau (đối tượng, điều kiện, ý nghĩa pháp lý…) nênđây là hai trường hợp hoàn toàn khác nhau:

Đương nhiên xóa án tích theo quy định Điều 64 BLHS là trường hợp đương nhiên xóa án tíchtheo các điều kiện quy định của BLHS

Điều 64 BLHS quy định những trường hợp sau thì được đương nhiên xóa án tích:

Một là: Là người được miễn hình phạt;

Hai là: Người bị kết án không phải về các tội quy định tại chương XI và chương XXIV của Bộluật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án và không phạm tội mới trong khoảng thời gian nhất địnhnếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không phạm tộimới trong thời hạn sau đây:

“a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tùnhưng được hưởng án treo;

b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;

c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm”

Đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 33 năm 2009 của Quốc Hội là trường hợp xóa

án tích theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS (Nội dung của Nghị quyết này cũng tương

tự như Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 ngày 21/12/1999 về việc thi hành BLHS năm 1999) Theoquy định tại điểm d, đ, e Nghị quyết số 33 năm 2009 của Quốc Hội thì đối với các trường hợp đã bị kết

án về tội phạm theo BLHS năm 1999 nhưng Luật sửa đổi, bổ sung không quy định đó là tội phạm nữathì những người này đương nhiên được xóa án tích

Nói cách khác, đương nhiên xóa án tích tại Điều 64 BLHS là trường hợp xóa án tích có điềukiện theo quy định của BLHS (ví dụ người bị kết án mà không thuộc trường hợp được miễn hình phạtthì phải chấp hành xong hình phạt và không phạm tội mới trong thời gian…), còn đương nhiên xóa ántích theo Nghị quyết 33 năm 2009 của Quốc Hội (và Nghị quyết số 32 năm 1999) là hệ quả tất yếu khiLuật sửa đổi, bổ sung quy định hành vi đó không phải là tội phạm nữa nên không cần thỏa mãn điềukiện về xóa án tích của BLHS

Câu hỏi 2 BLHS có một số tội danh được quy định ghép các hành vi phạm tội khác nhau vào

cùng một điều luật (Tội danh ghép), ví dụ Điều 230 về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khi quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự Nếu một người phạm tội đủ cấu thành tất cả các tội ghép như trong điều luật thì Tòa án xét xử tất cả các tội như điều luật quy định hay chỉ xét xử về một tội chung?

Trang 2

Ví dụ: A mua bán một loại tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và bị bắt, khikhám nhà phát hiện người đó còn tàng trữ một loại tiền chất khác nhưng không nhằm mục đích đểmua bán Trong trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội mua bán tiền chất dùngvào việc sản xuất trái phép chất ma túy” và “Tội tàng trữ tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phépchất ma túy” theo quy định tại Điều 195 của BLHS Nếu mỗi tội A bị phạt 5 năm tù thì tổng hợp hìnhphạt A phải chịu là 10 năm tù.

Tuy nhiên cần lưu ý: Trong các tội danh ghép, nếu người phạm tội thực hiện nhiều hành viphạm tội nhưng các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện đểthực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự vềmột tội

Ví dụ: B mua ma túy tại Quảng Ninh rồi vận chuyển về Hà Nội và tàng trữ ma túy đó tại quậnĐống Đa để bán và bị bắt thì B chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội với tên tội danh là “Tàngtrữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 194 của BLHS và chỉ phải chịu một chungmột hình phạt

Tham khảo Thông tư số liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày24/12/2007 hướng dẫn một số quy định tại chương XVIII “các tội phạm về ma túy”

Câu hỏi 3 Điều 115 BLHS quy định: “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ

13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm” Quy định như vậy có trái với Điều 12 BLHS “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm” hay không ?

Trả lời:

Điều 115 BLHS quy định chỉ người đã thành niên (đủ 18 tuổi) mới phải chịu trách nhiệm hình

sự về “Tội giao cấu với trẻ em” mà không trái với Điều 12 BLHS, bởi vì:

Điều 2 BLHS đã khẳng định rõ: “chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phảichịu trách nhiệm hình sự”

Mỗi một tội phạm cụ thể có cấu thành tội phạm khác nhau, các tội phạm khác nhau có thể có sựgiống nhau nhất định nhưng không bao giờ hoàn toàn giống nhau

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một dấu hiệu pháp lý về mặt chủ thể của tội phạm đượcphản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm và được quy định là một quy định chung tại Điều 12BLHS “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”

Tuy nhiên, đối với một số tội phạm cụ thể, tùy thuộc vào chính sách hình sự, đường lối xử lý,mục đích và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm mà BLHS có quy định riêng về độ tuổi chịutrách nhiệm hình sự

Nói cách khác, cấu thành tội phạm của loại tội này “Tội giao cấu với trẻ em” (Điều 115) và

“Tội dâm ô với trẻ em” (Điều 116) được BLHS quy định là cấu thành tội phạm đặc biệt, chủ thể thựchiện tội phạm phải là người đủ 18 tuổi trở lên (người đã thành niên) mới cấu thành tội phạm

Câu hỏi 4 Một người dùng gậy đập phá tài sản của người khác trong đó có những tài sản bị

phá hỏng hoàn toàn (trị giá trên 2 triệu đồng) có những tài sản chỉ hư hỏng một phần (trị giá cũng trên

2 triệu đồng) Vậy, định tội danh là “Tội hủy hoại tài sản” hay “Tội hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản”?

Trả lời:

“Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” là một tội ghép, vì vậy việc truy cứu trách nhiệmhình sự phải tuân theo nguyên tắc xử lý về tội ghép, tức là nếu người thực hiện có cả hành vi hủyhoại và hành vi cố ý làm hư hỏng mà mỗi hành vi đều đủ dấu hiệu cấu thành hai tội độc lập thì phảichịu trách nhiệm hình sự về từng tội độc lập Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 50 của Bộ luật hình sự

để quyết định hình phạt chung về trường hợp phạm nhiều tội

Về ý chí chủ quan của Tội hủy hoại và Tội cố ý làm hư hỏng tài sản, mặc dù khác nhau vềmục đích của tội phạm, nhưng không phải trường hợp nào cũng xác định được ý chí chủ quan củangười phạm tội Thực tiễn trong hầu hết các trường hợp chỉ có thể xác định được sự khác nhau vềtính chất mức độ thiệt hại gây ra của hành vi trái pháp luật Do đó, để phân biệt là Tội hủy hoại hay cố

ý làm hư hỏng tài sản thì hậu quả thiệt hại thường được xem là cơ sở chủ yếu để xác định tội danh

Trang 3

Cùng một hành vi phạm tội như nhau, nếu tài sản chỉ bị hư hại một phần thì cấu thành tội cố

ý làm hư hỏng tài sản, nhưng nếu tài sản bị hủy hoại hoàn toàn thì cấu thành tội hủy hoại tài sản

Thực tiễn phạm tội cho thấy, hành vi phạm tội có thể làm cho nhiều tài sản bị thiệt hại, trong

đó có tài sản chỉ bị hư hỏng một phần, có tài sản bị hủy hoại hoàn toàn (tài sản bị hư hỏng và tài sản

bị hủy hoại đều có giá trị trên hai triệu đồng); có trường hợp nhiều tài sản mà giá trị tài sản bị hiệt hạilại khác nhau, trong đó có tài sản bị thiệt hại giá trị dưới hai triệu đồng và có tài sản bị thiệt hại trên haitriệu đồng

Theo nguyên tắc một hành vi phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạmnên người phạm tội chỉ phải chịu về một tội và thực tiễn xét xử cho phép thực hiện nguyên tắc cộngtổng giá trị thiệt hại của tài sản bị hủy hoại và tài sản bị hư hỏng để xác định giá trị thiệt hại chung(Thông thường Tội bị truy cứ trách nhiệm hình sự là tội danh mà giá trị tài sản bị thiệt hại nhiều hơn)

Ví dụ 1: A đập phá tài sản của người khác, tổng thiệt hại được xác định là 10 triệu nhưngphần tài sản bị hủy hoại là 7 triệu đồng và phần tài sản bị hư hỏng giá trị là 3 triệu đồng thì A phảichịu trách nhiệm hình sự về tội hủy hoại tài sản với mức thiệt hại xác định là 10 triệu đồng

Ví dụ 2: B đập phá tài sản của người khác, tổng thiệt hại được xác định là 10 triệu nhưngphần tài sản bị hủy hoại là 2 triệu đồng và phần tài sản bị hư hỏng giá trị là 8 triệu đồng thì A phải chịutrách nhiệm hình sự về tội cố ý làm hư hỏng tài sản với mức thiệt hại xác định là 10 triệu đồng

Câu hỏi 5 Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công xét xử vụ án hình sự triệu

tập bị can và bị hại để hòa giải phần bồi thường dân sự trong vụ án hình sự có vi phạm về thủ tục tố tụng hình sự không?

Thực tiễn xét xử cho thấy khi đương sự và bị can có yêu cầu, cơ quan tiến hành tố tụng vẫntạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

và trường hợp các bên tự nguyện thỏa thuận được với nhau thì Tòa án công nhận việc thỏa thuậncủa các đương sự và sự thỏa thuận này được ghi vào phần quyết định của bản án (mà không raquyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự)

Câu hỏi 6 Bị cáo bị xử phạt tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng Trường

hợp này có được xem xét đề nghị rút ngắn thời gian thử thách trong giai đoạn thi hành án hay không?

Trả lời:

“Rút ngắn thời gian thử thách” được quy định tại Khoản 4 Điều 60 BLHS trong trường hợpngười được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộthì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể rút ngắn thờigian thử thách Về nguyên tắc, thời gian thử thách là từ một đến năm năm và không được ít hơn hìnhphạt tù

Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 08/TTLT/BCA-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012quy định về điều kiện rút ngắn thời gian thử thách của án treo như sau: Người được hưởng án treo cóthể được Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực quyết định rút ngắn thời gian thửthách của án treo khi có đủ các điều kiện sau:

a) Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo;

b) Có nhiều tiến bộ, được thể hiện bằng việc trong thời gian thử thách thực hiện nghiêm chỉnhnghĩa vụ của người được hưởng án treo; chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, nộiquy, quy chế nơi làm việc; tích cực lao động, học tập và sửa chữa lỗi lầm; thực hiện đầy đủ các hìnhphạt bổ sung, nghĩa vụ khác theo quyết định của bản án;

c) Được Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát giáo dục người đượchưởng án treo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bằng văn bản

Trang 4

Như vậy, pháp luật hình sự không hạn chế trường hợp được rút ngắn thời gian thử thách, chỉcần thỏa mãn quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư 08/TTLT/BCA-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày14/8/2012 là đủ điều kiện rút ngắn thời gian thử thách, mà không phụ thuộc vào thời gian thử thách đãđược ấn định ở mức thấp nhất là 12 tháng

Do vậy, bị cáo bị xử phạt tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng nếu đáp ứngđiều kiện luật định thì cũng thuộc trường hợp được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách

Tuy nhiên, mức rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo một nămđược thực hiện theo quy định tại Khoản 2 và 4 Điều 4 Thông tư này như sau:

“Người được hưởng án treo một năm chỉ được rút ngắn thời gian thử thách một lần từ mộttháng đến một năm”

“Trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và có đủ cácđiều kiện được hướng dẫn tại khoản 1 Điều này, thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn hết thời gianthử thách còn lại”

Lưu ý: “Người được hưởng án treo một năm” quy định tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư08/TTLT/BCA-BTP-TANDTC-VKSNDTC là một năm thời gian thử thách (12 tháng thời gian thửthách)

Câu hỏi 7 Khoản 1 Điều 61 BLHS quy định “…bị bệnh nặng thì được hoãn thi hành án cho

đến khi sức khỏe hồi phục” Vậy người bị kết án do tiêm chích ma túy bị hoại tử chi dưới, phải tháo khớp háng, giám định mất 76% sức khỏe vĩnh viễn (1 trường hợp mất 83% sức khỏe vĩnh viễn), vận động khó khăn, phải có dụng cụ hỗ trợ có được coi là bị bệnh nặng không?

Trả lời:

Tiết a điểm 7.1 Mục 7 Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 hướng dẫn về trường

hợp bị bệnh nặng quy định tại Điều 61 BLHS thì: “người bị bệnh nặng, tức là bị bệnh đến mức khôngthể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạngcủa họ; do đó, cần thiết phải cho họ được hoãn chấp hành hình phạt tù để họ có điều kiện chữa bệnh;

ví dụ: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trởlên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiênlượng xấu Phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người bị xử phạt tù bị bệnh nặng

và nếu bắt họ đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ”

Quy định này đã xác định điều kiện được coi là bị bệnh nặng, bao gồm:

- Không thể đi chấp hành hình phạt tù và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đếntính mạng

- Phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người bị xử phạt tù bị bệnh nặng và nếubắt họ đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ

Như vậy, điều kiện quyết định để cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù là họphải bị đau ốm tới mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được, việc đi chấp hành hình phạt tù sẽrất nguy hiểm đến tính mạng của họ Mục đích của việc hoãn chấp hành hình phạt tù trong các trườnghợp này là nhằm tạo cho họ có điều kiện để chữa bệnh

Người bị mất phần trăm sức khỏe vĩnh viễn vẫn không thuộc trường hợp không thể đi chấphành hình phạt tù Do vậy, người bị hoại tử chi dưới, phải tháo khớp háng (giám định mất 76% sứckhỏe vĩnh viễn hoặc 83% sức khỏe vĩnh viễn) không được coi là bị bệnh nặng để làm căn cứ hoãn thihành án

Tuy nhiên, Cơ quan thi hành án hình sự sẽ có chế độ hợp lý khi thi hành hình phạt tù đối vớicác trường hợp như thế này

Câu hỏi 8 Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên đang bị truy cứu

trách nhiệm hình sự (được tại ngoại) có được quyền đại diện cho Công ty để khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án và tham gia tố tụng giải quyết vụ án không?

Trả lời:

Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc bị tước bỏ tất cả các quyềncông dân, mà họ chỉ bị hạn chế một số quyền nhất định theo quyết định của Tòa án, ngay cả khi bị ápdụng hình phạt tù, người bị kết án cũng vẫn còn các quyền không bị Tòa án tước bỏ

Trang 5

Ví dụ người đang bị giam giữ vẫn có quyền xin ly hôn (kể cả trường hợp bị kết án giam)

Vì vậy, Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên đang bị truy cứutrách nhiệm hình sự (được tại ngoại) vẫn có quyền đại diện cho Công ty để khởi kiện vụ án dân sựtại Tòa án và tham gia tố tụng giải quyết vụ án nếu tại thời điểm đó họ đang là người đại diện theoquy định của pháp luật mà chưa bị cơ quan có thẩm quyền cách chức, đình chỉ, tạm đình chỉ vv…chức vụ

Tuy nhiên, trường hợp này Tòa cần giải thích cho người đại diện đó biết họ nên ủy quyền chongười khác vì họ có thể bị giam trong trường hợp cần thiết theo quyết định của cơ quan tiến hành tốtụng

Hỏi: Tòa án có chấp nhận yêu cầu của C không? Nếu có chấp nhận thì tính án phí thế nào? Gia đình B có phải chịu án phí? Nếu không chấp nhận thì C có phải chịu án phí không?

Trả lời:

Trong trường hợp này, khi xét xử nếu có căn cứ A có liên quan đến hành vi cố ý gây thươngtích và có nghĩa vụ liên đới cùng với B bồi thường thiệt hại (nhưng không bị truy tố) thì yêu cầu của A

và C (cha của A) không được chấp nhận

Trường hợp có căn cứ xác định A không có nghĩa vụ bồi thường mà toàn bộ thiệt hại do B bồithường thì chập nhận yêu cầu của A và C (cha của A) buộc gia đình E phải hoàn trả lại số tiền A (C)

đã bồi thường

Về án phí có hai trường hợp xảy ra sau:

- Nếu A có nghĩa vụ liên đới bồi thường thì về nguyên tắc phải chịu án phí, nhưng do bồithường trước khi xét xử nên không phải chịu án phí

- Nếu A không có nghĩa vụ liên đới bồi thường thì buộc E phải trả lại tiền cho A nhưng cũngkhông tính án phí Trong trường hợp này, nếu xác định tổng thiệt hại là 140 triệu thì B phải bồi thườngthêm cho E 70 triệu nữa và phải chịu án phí trên 70 triệu này

Câu hỏi 10.

Bị cáo có 05 lần phạm tội trộm cắp tài sản nhưng 01 lần thuộc trường hợp được đương nhiên

xóa án tích theo Nghị quyết số 33 của Quốc hội.

Hỏi bị cáo có bị xem là “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” theo hướng dẫn tại Điểm a, Tiểu mục 5.1 và 5.2 Mục 5 Nghị quyết số 01/2006/HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán không?

Trả lời:

Tại Mục 5 Nghị quyết số 01/2006/HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán quy định:

“Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" khi có đầy đủ các điều kiện sauđây:

a Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu tráchnhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệmhình sự hoặc chưa được xóa án tích;

b Người phạm tội đều lấy các phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tộilàm nguồn sống chính”

Tại điểm e, khoản 2, Điều 1 của Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 quy định: “Những người đãchấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lạiquy định tại điểm đ khoản này thì đương nhiên được xoá án tích”

Trang 6

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên thì bị cáo này chỉ tính 4 lần phạm tội (do 1 lần đươngnhiên được xóa án tích) nên không áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”.

Câu hỏi 11 Người có nghĩa vụ liên quan bị buộc bồi thường cho bị hại hoặc người có quyền

lợi và nghĩa vụ liên quan khác trong cùng vụ án có phải chịu án phí dân sự không?

Trả lời:

Theo khoản 3 Điều 22 của Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ

thẩm trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định tại Điều 27 của Pháp lệnh này

Theo đó, trong mọi trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan buộc phải thực hiệnbồi thường thiệt hại cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác phải chịu án phítheo quy định tại Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án

Câu hỏi 12

Điều 177 BLTTHS quy định thời hạn tạm giam không quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều

176 “ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

Hỏi: Thời hạn chuẩn bị xét xử có bao gồm cả thời hạn để mở phiên tòa (15 ngày) hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 176 BLTTHS thì trong trường hợp thông thường sau khi nhận hồ sơ vụ

án, trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạmnghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêmtrọng Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định: Đưa vụ án

ra xét xử hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Đây được coi làthời hạn chuẩn bị xét xử

Nếu ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà Đây được coi là thời hạn mở phiên tòa

Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử không bao gồm thời hạn mở phiên tòa

Câu hỏi 13.

Trong vụ án vi phạm các quy định về điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ, người

bị hại là anh A đã bị chết Cha mẹ anh A không còn, anh A đã ly hôn vợ, chỉ có con trai của anh A là C mới có 9 tuổi Vậy khi tham gia tố tụng thì con trai của anh A là người duy nhất có thể là người đại diện hợp pháp của anh A, nhưng theo quy định của pháp luật thì người đại diện hợp pháp phải là người đã thành niên

Hỏi: Trường hợp này phải giải quyết như thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh A cũng như con trai của anh A?

Trả lời:

Theo Khoản 1 Điều 141 BLDS về đại diện theo pháp luật quy định: Cha, mẹ là người đại diệntheo pháp luật cho con chưa thành niên

Trong tình huống này, con trai A là người đại diện hợp pháp của A tham gia tố tụng Tuy nhiên, vì

C là người chưa thành niên nên mẹ C (đã ly hôn A) là người đại diện theo pháp luật để bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của con trong vụ án vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ mà A là người bị hại

Câu hỏi 14

Bị cáo A là sinh viên Trường Đại học L nghỉ tết về thăm quê và phạm tội trộm cắp tài sản tại

huyện C, tỉnh N Tòa án huyện C, tỉnh N tuyên phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ Bị cáo A vẫn theo học tại Trường Đại học L và Tòa án huyện C ra quyết định thi hành án Công an huyện C không thi hành án được do bị cáo A không có mặt tại địa phương và thông báo bị cáo A đã đi học 04 năm, chỉ khi nghỉ tết mới về quê Qua xác minh, bị cáo A vẫn đang học tại Đại học L nhưng thuê nhà trọ.

Trang 7

Hỏi: Tòa án huyện C tuyên giao bị cáo cho cơ quan, tổ chức nào giám sát giáo dục, quản lý trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ? Nếu Tòa án huyện C đã tuyên giao bị cáo cho cơ quan giám sát giáo dục thì có giao quyết định thi hành án cho cơ quan đó hay không? Tòa án nhân dân huyện C ra quyết định thi hành án và ủy thác về đâu để thi hành án đối với bị cáo A?

Trả lời:

Khi xét xử Tòa án có trách nhiệm xác định rõ nơi cư trú của bị cáo ở đâu thì tuyên giao bị cáocho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cảitạo không giam giữ

Việc giao quyết định thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 72 Luật Thi hành án hình sự:

“Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Tòa án phải gửi quyết định đócho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người chấp hành án;

b) Viện kiểm sát cùng cấp;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú, cơ quanthi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc;

d) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.”

Sau khi ra quyết định thi hành án Tòa án gửi quyết định đến Cơ quan thi hành án hình sựCông an cấp huyện nơi người đó cư trú để thi hành theo quy định tại Điều 73 Luật Thi hành án hìnhsự

Lưu ý: Theo Luật Thi hành án hình sự không còn thủ tục ủy thác thi hành án hình sự nữa

Câu hỏi 15.

Bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội giết người theo Khoản 2 Điều 93 BLHS, do vậy, trong

quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tố tụng đã không yêu cầu cử người bào chữa cho bị cáo, nhưng qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, Tòa án thấy hành vi của bị cáo thuộc Khoản 1 Điều 93 BLHS Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát đề nghị Truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 93 nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận điều tra bổ sung, giữ nguyên Quyết định truy tố và cho rằng việc trả hồ sơ của Tòa án không thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo Thông tư liên tịch hướng dẫn về các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Hỏi: Tòa án xét xử theo Khoản 1 Điều 93 thì có vi phạm thủ tục tố tụng và giới hạn của việc xét xử không.

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 196 BLTTHS và Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm

2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số điều trong phần 3 về xét

xử sơ thẩm của BLTTHS thì: “Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểmsát đã truy tố trong cùng một điều luật, có nghĩa là với những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố, Toà án

có thể xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn hoặc theo khoản nhẹ hơn so với khoản mà Viện kiểm sát

đã truy tố trong cùng một điều luật

Như vậy, nếu Tòa án xét xử theo khoản nặng hơn trong cùng một điều luật mà Viện Kiểm sát truy tố thì không vi phạm về giới hạn của việc xét xử

Tuy nhiên, nếu Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 93 BLHS (khoản có khung hình phạt có mứccao nhất là tử hình) trong khi Viện Kiểm sát chỉ truy tố khoản 2 Điều 93 BLHS mà bị cáo không cóngười bào chữa ngay từ giai đoạn điều tra thì vi phạm về thủ tục tố tụng theo khoản 2 Điều 57BLTTHS

PHẦN II CÁC VẤN ĐỀ VỀ DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Câu hỏi 1 Anh A làm đơn yêu cầu Tòa án chia thừa kế quyền sử dụng đất của ông B nhưng

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lại mang tên ông X Trong trường hợp này, Tòa án

Trang 8

thụ lý vụ án dân sự hay vụ án hành chính? Nếu thụ lý vụ án dân sự thì có thể chia thừa kế của ông B trong khi GCNQSDĐ vẫn mang tên ông X được không?

Trả lời:

Vụ án dân sự hay vụ án hành chính là phụ thuộc vào quan hệ tranh chấp là quan hệ dân sựhay quan hệ hành chính Quan hệ tranh chấp xác định bởi đối tượng tranh chấp và chủ thể tranhchấp; nói cách khác là ai khởi kiện? kiện ai? Yêu cầu khởi kiện là gì?

Nếu việc khởi kiện để bảo vệ quyền dân sự thì đó là vụ án dân sự (ví dụ: yêu cầu chia thừakế) Nếu việc khởi kiện là yêu cầu phán quyết về một quyết định hành chính, hành vi hành chính vàđối tượng khởi kiện là cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện các công vụ hành chính thì đó là vụ

án hành chính (ví dụ: khởi kiện yêu cầu hủy GCNQSDĐ )

Trong trường hợp khởi kiện vụ án dân sự như xin chia thừa kế của ông B thì Tòa án vẫn cóquyền giải quyết việc chia thừa kế trong khi GCNQSDĐ vẫn mang tên ông X Đất tranh chấp đã cóGCNQSDĐ là căn cứ xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp vụ án dân sự là của Tòa án Khi đãxác định thẩm quyền thuộc về Tòa án thì Tòa án có quyền hạn xác định thực chất đất đó là của ai chứkhông phụ thuộc vào giấy chứng nhận đã được cấp cho ai Khi Tòa án giải quyết vụ án dân sự màxác định tài sản đó là của ai và chia thừa kế thì căn cứ vào quyết định của Tòa án, cơ quan hànhchính có nghĩa vụ thay đổi giấy chứng nhận theo quyết định của Tòa án căn cứ vào Điểm đ Khoản 5Điều 41 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (sau đâyviết tắt là Nghị định 181/2004/NĐ-CP)

Khoản 5 Điều 41 nêu trên quy định:

“ Trong quá trình sử dụng đất, những trường hợp sau đây phải được cấp mới giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất:

đ) Ranh giới thửa đất bị thay đổi khi thực hiện kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đaiđược Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thực hiện quyết định của cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền về việc chia tách hoặc sáp nhập tổ chức; thực hiện văn bản về việc chia tách hoặc sápnhập tổ chức kinh tế phù hợp với pháp luật; thực hiện việc xử lý nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng

thế chấp, bảo lãnh; thực hiện quyết định hành chính giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, thực hiện

bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; thựchiện văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp pháp luật; thực hiện việc chiatách quyền sử dụng đất theo văn bản phù hợp với pháp luật đối với hộ gia đình hoặc nhóm người cóquyền sử dụng đất chung…”

Theo các quy định hiện hành như nêu ở trên thì Tòa án có thể giải quyết vụ án dân sự và cóphán quyết về quyền sử dụng đất khác với GCNQSDĐ đã được cấp mà không phải hủy giấy này.Người được giao quyền sử dụng đất theo bản án dân sự cũng không cần phải khởi kiện vụ án hànhchính để yêu cầu hủy giấy chứng nhận cũ; họ có quyền yêu cầu cơ quan hành chính cấp giấy chứngnhận mới theo bản án dân sự, và nếu không được cấp theo đúng quy định thì họ có quyền khởi kiện

vụ án hành chính yêu cầu phải cấp GCNQSDĐ mới

Câu hỏi 2 Tòa án nhận được đơn khởi kiện của ông T yêu cầu giải quyết vụ án chia thừa kế,

nhưng tài liệu chứng cứ kèm theo đơn chưa đủ Tòa án đã yêu cầu ông T bổ sung đơn khởi kiện và gia hạn thời hạn bổ sung đơn khởi kiện, nhưng ông T vẫn không nộp đủ Tòa án trả lại đơn khởi kiện Sau đó, ông T khởi kiện lại nhưng thời hiệu khởi kiện đã hết Trong trường hợp này có thể tính thời hiệu khởi kiện kể từ ngày nộp đơn khởi kiện lần đầu hay không?

Trả lời:

Nếu Tòa án quyết định trả lại đơn khởi kiện và quyết định trả lại đơn khởi kiện đã có hiệu lực(nếu có khiếu nại thì cũng đã được giải quyết khiếu nại) thì việc khởi kiện lần đó đã chấm dứt Do vậythời hiệu khởi kiện tính từ lần nộp đơn sau, không được tính từ lần nộp đơn trước

Cần phải phân biệt nghĩa vụ nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện với việc bổ sungđơn khởi kiện Đơn khởi kiện chưa đầy đủ về mặt nội dung thì phải bổ sung, nếu không bổ sung đầy

đủ nội dung thì đơn đó chưa hợp lệ, Tòa án không thể nhận đơn đó để thụ lý Còn tài liệu, chứng cứ

là những căn cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện thì họ có quyền xuất trình trong suốtquá trình giải quyết vụ án và ngay cả tại phiên tòa chứ không đòi hỏi phải xuất trình ngay trước khi thụ

lý vụ án

Trang 9

Hình thức, nội dung đơn khởi kiện được quy định cụ thể tại Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự(BLTTDS).

Theo quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì:

“Về nguyên tắc, khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án, người khởi kiện phải gửi kèm theo tài liệu,

chứng cứ để chứng minh họ là người có quyền khởi kiện và những yêu cầu của họ là có căn cứ vàhợp pháp Tuy nhiên, trong trường hợp vì lý do khách quan nên họ không thể nộp ngay đầy đủ các tàiliệu, chứng cứ, thì họ phải nộp các tài liệu, chứng cứ ban đầu chứng minh cho việc khởi kiện là cócăn cứ Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầucủa Toà án trong quá trình giải quyết vụ án.”

Như vậy, không phải cứ không đủ chứng cứ kèm theo thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện Ngay

từ khi chưa thụ lý vụ án thì Tòa án không thể đã có kết luận người khởi kiện không xuất trình đủ tàiliệu, chứng cứ để trả lại đơn khởi kiện Do đó, việc trả lại đơn khởi kiện với lý do không xuất trình đủtài liệu, chứng cứ là không đúng

Câu hỏi 3.

A là nguyên đơn khởi kiện đòi lại nhà ở của mình do B đang chiếm hữu, sử dụng Tòa án cấp

sơ thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu của A Sau đó, A kháng cáo Tòa án cấp phúc thẩm xét

xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A, buộc B phải trả lại ngôi nhà đó cho A (Bản án đã được cưỡng chế thi hành) Vụ án bị kháng nghị giám đốc thẩm Quyết định giám đốc thẩm đã hủy toàn bộ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để xét xử lại từ đầu theo thủ tục sơ thẩm.

Vụ án được chuyển lại cho Tòa án cấp sơ thẩm Tòa sơ thẩm đã thông báo gọi A đến Tòa án

để tiếp tục thụ lý giải quyết vụ án, nhưng A không đến (vì A đã được sử dụng, quản lý ngôi nhà) Trường hợp này Tòa án phải giải quyết như thế nào? Nếu B làm đơn khởi kiện yêu cầu A phải trả nhà cho mình (trở thành nguyên đơn) thì Tòa án có thụ lý vụ án mới hay chỉ cần thay đổi địa vị tố tụng giữa nguyên đơn và bị đơn và tiếp tục giải quyết vụ án ?

Trả lời:

Đây là trường hợp có quyết định giám đốc thẩm sau khi bản án đã được đưa ra thi hành xong,nguyên đơn trong vụ kiện đã được giao tài sản Như vậy, khi thụ lý sơ thẩm lại thì tình trạng tranhchấp đã khác với tình trạng tranh chấp khi xử sơ thẩm trước đây Tòa án giải quyết sơ thẩm lại phảigiải quyết vụ án mới với tất cả những tình tiết mới

Ví dụ: Khi xét xử sơ thẩm lần đầu, nhà đang do B sử dụng nên khi chấp nhận yêu cầu đòi nhàcủa A thì Tòa án phải quyết định buộc B giao nhà cho A Khi xét xử sơ thẩm lại thì người sử dụng nhà

là A và A đã có sửa chữa lại nhà thì Tòa án có thể vẫn chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn A nhưngkhông có việc buộc B phải giao nhà cho A; nếu bác yêu cầu của A thì Tòa án phải giải quyết định cảviệc A phải giao lại nhà cho B và cả việc thanh toán chi phí sửa chữa (nếu A có yêu cầu)

Tuy nhiên, khi thụ lý lại vụ án, địa vị tố tụng của các đương sự vẫn xác định theo vụ án cũ nên

A vẫn là nguyên đơn Nguyên đơn được triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án phải raquyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 192 BLTTDS

Trường hợp B làm đơn khởi kiện đòi lại nhà thì B là nguyên đơn của vụ án mới mà A là bị đơn.Đây không phải là trường hợp thay đổi địa vị tố tụng quy định tại Điều 219 BLTTDS vì yêu cầu của Bkhông phải là yêu cầu phản tố (phản tố phải là yêu cầu về một quan hệ tranh chấp khác) Việc Đìnhchỉ giải quyết vụ án dân sự do A là nguyên đơn không cản trở quyền khởi kiện của B và thụ lý vụ ánmới (theo quy định tại Điều 193 BLTTDS) và cũng không phải là trường hợp “sự việc đã được giảiquyết…” quy định ở Điểm c Khoản 1 Điều 168 BLTTDS

Câu hỏi 4 Anh A nộp đơn đến Tòa án huyện X xin ly hôn với chị B, đồng thời yêu cầu chia tài

sản chung là quyền sử dụng đất tại huyện X Nguồn gốc đất là do bà C (mẹ của chị B) lập văn bản cho anh A và chị B có xác nhận của anh trai của chị B nhưng bà C vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác định các anh, chị, em của chị B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong đó có một người chị của chị B đã định cư ở nước ngoài trước khi Tòa án thụ lý vụ án) Trường hợp này Tòa án huyện X có tiếp tục giải quyết hay không?

Trả lời:

Trang 10

Khoản 4 Điều 56 BLTTDS quy định: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân

sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đếnquyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và đượcToà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”Anh A có yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất trong vụ án ly hôn Đất đã đượcbà Clập văn bản cho nhưng bà C chưa được cấp GCNQSDĐ nên việc cho đất chưa hoàn tất về thủ tục.Tòa án phải giải quyết việc cho đất đã hợp pháp và hoàn thành chưa Do vậy, việc Tòa án giải quyếtyêu cầu chia tài sản là quyền sử dụng đất có liên quan trực tiếp tới quyền tài sản của các thừa kế của

bà C Tòa án xác định các anh chị em của chị B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng.Khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân,

cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Theo quyđịnh tại Khoản 3 Điều 33 BLTTDS thì những tranh chấp “ có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài…không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện” Do vậy , vụ án nêu trên khôngthuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyên X Đây là trường hợp thụ lý sai thẩm quyền, Tòa án đãthụ lý không đúng thẩm quyền phải căn cứ vào khoản 1 Điều 37 BLTTDS ra quyết định chuyển hồ sơ

vụ án cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý.

Cũng cần lưu ý là trường hợp nêu trên khác với trường hợp “Không thay đổi thẩm quyền giảiquyết của Tòa án” quy định tại Điều 412 BLTTDS và Khoản 5 Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTPngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao Đó là trường hơp Tòa án đã thụ lý đúngthẩm quyền, trong quá trình giải quyết mới xuất hiện những yếu tố mới (như có đương sự ra nướcngoài hay từ nước ngoài trở về Việt Nam…) thì Tòa án đã thụ lý vẫn tiếp tục giải quyết vụ án đó

Câu hỏi 5 Những trường hợp ly hôn có yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất mà

các bên đã có hợp đồng chuyển nhượng (có công chứng hoặc chưa công chứng) nhưng vì những lý

do khác nhau mà chưa đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án phải giải quyết như thế nào? Có cần phải tách yêu cầu chia tài sản bằng một vụ án khác để giải quyết hay không?

Đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì đây là một giao dịch của vợ chồng về tàisản Nếu có yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án ly hôn (hoặc vợ, hoặc chồng, hoặc người tham giagiao dịch) thì Tòa án phải giải quyết và việc giải quyết thì như các hợp đồng chuyển nhượng khác, cụthể là:

- Hợp đồng đã được công chứng là hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật thì giải quyết theo cácquy định của pháp luật về hợp đồng đã có hiệu lực

- Hợp đồng chưa được công chứng là hợp đồng vô hiệu do vi phạm về hình thức thì được giảiquyết theo các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu

Câu hỏi 6 Trong vụ án tranh chấp thừa kế là quyền sử dụng đất Nếu thửa đất được cấp giấy

CNQSDĐ cho một người không đúng thì Tòa án có đồng thời hủy giấy CNQSDĐ đó không? Nếu hủy giấy CNQSDĐ đất thì có đưa Uỷ ban nhân dân nơi cấp giấy vào tham gia tố tụng không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 32a BLTTDS quy định: “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủyquyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổchức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm

vụ giải quyết Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó

có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.”

Như vậy, trong trường hợp nêu trên nếu việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là rõràng trái pháp luật thì Tòa án có quyền hủy GCNQSDĐ đã được cấp Nếu Tòa án dự kiến sẽ hủyGCNQSDĐ đó thì phải đưa Ủy ban nhân dân đã cấp giấy chứng nhận đó tham gia tố tụng và thẩmquyền của Tòa án được xác định theo Luật tố tụng hành chính.Ví dụ: cơ quan cấp GCNQSDĐ làUBND cấp huyện thì Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự và hủy GCNQSDĐ là TAND án cấp huyện;

Trang 11

nếu cơ quan cấp GCNQSDĐ là UBND cấp tỉnh thì thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự và hủyGCNQSDĐ là TAND cấp tỉnh Như vậy, sẽ có tình trạng vụ án dân sự đang thuộc thẩm quyền của Tòa

án cấp huyện, do có dự kiến hủy quyết định hành chính, vụ án trở thành thuộc thẩm quyền của Tòa

Năm 2012, Trưởng thôn B đã làm đơn kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B phải trả lại đất và bồi thường cho thôn do sử dụng đất trái pháp luật là 93.000.000 đồng.

Vụ kiện trên có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án không? Trưởng thôn hay già làng có được quyền tham gia tố tụng không?

Trả lời:

Thôn không phải là một pháp nhân và cũng không phải là một chủ thể độc lập theo quy địnhcủa pháp luật dân sự Theo quy định của pháp luật dân sự thì chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình

Thôn không phải là một pháp nhân nên Trưởng thôn không đương nhiên thay mặt cho thôntrong các quan hệ pháp luật dân sự và tố tụng dân sự Ủy ban nhân dân cấp đất cho thôn là cấp chocộng đồng dân cư thôn đó nên Trưởng thôn phải tham gia tố tụng với tư cách là người được cộngđồng dân cư ủy quyền

Như vậy, chủ thể tố tụng là cộng đồng dân cư, cộng đồng dân cư cũng là người được giao đất,

là chủ sử dụng đất nên có quyền khởi kiện yêu cầu người đang chiếm giữ một phần đất trả lại đất Do

đó, đây là quan hệ tranh chấp dân sự, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nênthuộc thẩm quyền của Tòa án

Quyền tham gia tố tụng phải là đại diện theo ủy quyền của cộng đồng dân cư Đại diện ở đây

có thể là Trưởng thôn hoặc người khác được cộng đồng dân cư ủy quyền tham gia tố tụng

Câu hỏi 8 Trong vụ án ly hôn mà bị đơn đang bị tạm giam, thi hành án phạt tù thì Tòa án có

thể hòa giải tại trại giam được không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 180 BLTTDS quy định:

“1 Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sựthoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiếnhành hoà giải được quy định tại Điều 181 và Điều 182 của Bộ luật này.”

Trường hợp một bên đương sự (bị đơn) đang bị tạm giam, đang thi hành án phạt tù thì khôngthuộc trường hợp không được hòa giải theo Điều 181 BLTTDS, do vậy, việc hòa giải phải được thựchiện trừ trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 182 BLTTDS

Về nguyên tắc, chưa có quy định cơ quan đang quản lý người bị tạm giam, trại giam nơi ngườiđang thi hành án phạt tù phải có nghĩa vụ dẫn giải người bị tạm giam, người đang thi hành án phạt tù

đi thực hiện công việc riêng hay việc giải quyết vụ án dân sự Vì vậy,việc hòa giải được tiến hành nếu

cơ quan đang quản lý người bị tạm giam, trại giam nơi người đang thi hành án phạt tù tổ chức đượcviệc hòa giải tại trại giam Trường hợp cơ quan đang quản lý người bị tạm giam, trại giam nơi ngườiđang thi hành án phạt tù không tổ chức được việc hòa giải thì phải coi là trường hợp không tiến hànhhòa giải được

Trang 12

Pháp luật không quy định về địa điểm tiến hành hòa giải giữa các đương sự nên việc hòa giảinói chung được thực hiện tại trụ sở của Tòa án nhưng cũng có thể được thực hiện ở nơi khác, kể cảnơi đương sự (bị đơn) đang bị tạm giam hay thi hành án phạt tù.

Câu hỏi 9 Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án đã định giá tài sản Một bên đương

sự khiếu nại cho rằng giá mà Hội đồng định giá là thấp và có đưa ra một số chứng cứ chứng minh Tòa án đã trưng cầu định giá lại Khi có kết quả định giá lại, đương sự này vẫn không đồng ý với kết quả định giá mặc dù không đưa được chứng cứ chứng minh và cũng không có đơn đề nghị định giá lại Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, kiểm sát viên tham gia phiên tòa, nghiên cứu hồ sơ vụ

án có kiến nghị đề nghị Tòa án xem xét lại kết quả định giá Trường hợp này Tòa án có phải tiến hành định giá lại không?

Trả lời:

Cần phải phân biệt quyền yêu cầu định giá tài sản,tức là quyền yêu cầu giám định về giá cả làmột quyền tố tụng của đương sự, khác với quyền đánh giá của đương sự về kết quả định giá, giá cảcủa tài sản tranh chấp Do vậy, nếu đương sự không có yêu cầu định giá mà chỉ cho rằng kết quảđịnh giá chưa đúng thì chưa có căn cứ để Tòa án quyết định định giá lại Tòa án tự quyết định địnhgiá lại trong trường hợp này là không đúng

Sau khi có kết quả định giá lại mà đương sự vẫn có ý kiến về kết quả định giá thì đó là quyềncủa đương sự Cũng như ý kiến kiến nghị của Kiểm sát viên về định giá cũng sẽ được Hội đồng xét

xử xem xét khi giải quyết vụ án

Câu hỏi 10 Anh A nộp đơn yêu cầu Tòa án cho ly hôn với chị B Trong quá trình Tòa án giải

quyết, anh A và chị B đã thỏa thuận ly hôn và thỏa thuận về việc nuôi con chung Tuy nhiên, về tài sản thì còn có một mảnh đất mà chị B đã ký chuyển nhượng cho C và anh A không đồng ý việc chuyển nhượng này Chị B thừa nhận chị đã đã ký vào hợp đồng và được công chứng (trong hợp đồng ghi phần bên bán có cả tên của anh A) Hiện nay C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tòa án có giải quyết về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này trong cùng một

vụ án hay tách ra giải quyết bằng một vụ án khác?

Trả lời:

Đây là trường hợp ly hôn có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tàisản chung vợ chồng

Khoản 1 Điều 5 BLTTDS quy định:

“1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụviệc dân sự Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương

sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”

Với nguyên tắc quy định như trên, khi ly hôn, đương sự yêu cầu giải quyết về tài sản nào thìTòa án giải quyết tài sản đó Vợ chồng có thể tự giải quyết chia tài sản và việc tự chia ấy cũng là cóhiệu lực nếu thực hiện đúng theo quy định của pháp luật Vợ chồng cũng có quyền thỏa thuận về việcchia tài sản và yêu cầu Tòa án công nhận Đối với tài sản tranh chấp thì vợ chồng cũng có quyềnyêu cầu Tòa án giải quyết đối với từng loại tài sản và có thể yêu cầu giải quyết ở các thời điểmkhác nhau, các vụ án khác nhau Do vậy, nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà cóđương sự yêu cầu giải quyết cùng với vụ án ly hôn (hoặc anh A, hoặc chị B, hoặc C) thì quan hệtranh chấp này cần phải được giải quyết

Câu hỏi 11 Ông C kết hôn với bà V năm 1975, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T.

Năm 1978, ông C kết hôn với bà H cũng có đăng ký kết hôn Năm 2012, bà H nộp đơn yêu cầu xin ly hôn với ông C và bà V cũng yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản Vậy bà V tham gia tố tụng với tư cách gì? Đây là vụ án ly hôn hay là việc hủy hôn nhân trái pháp luật?

Trang 13

Tuy nhiên, hiện nay bà H không yêu cầu hủy hôn nhân giữa bà và ông C mà yêu cầu xin lyhôn, có nghĩa là yêu cầu xác định quan hệ hôn nhân giữa bà và ông C là hợp pháp và được giải quyếtvấn đề tài sản như quan hệ hôn nhân hợp pháp thì Tòa án phải thụ lý vụ án ly hôn theo khởi kiện củanguyên đơn chứ không phải thụ lý vụ án về việc hủy hôn nhân trái pháp luật.

Như vậy, trong vụ án, bà H đã là nguyên đơn, ông C là bị đơn nên bà V có yêu cầu giải quyết

về tài sản thì tư cách tham gia tố tụng của bà C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Khi giải quyết vụ án thì căn cứ vào các quy định của pháp luật, nếu xác định là quan hệ hônnhân trái pháp luật thì Tòa án xử hủy quan hệ hôn nhân trái pháp luật và giải quyết tài sản theo tínhchất của từng mối quan hệ hôn nhân (quan hệ giữa ông C và bà V là quan hệ hôn nhân hợp pháp thìgiải quyết quan hệ tài sản được hình thành từ quan hệ hôn nhân hợp pháp; quan hệ giữa ông C và bà

H là quan hệ hôn nhân không hợp pháp thì chia tài sản chung giữa những người không có quan hệhôn nhân, không được công nhận quan hệ vợ chồng)

Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về hậu quả của việc hủy việc kết hôn trái pháp luậtlà:

“1 Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợchồng

2 Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn

3 Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu củangười đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêucầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chínhđáng của phụ nữ và con.”

Cũng lưu ý là: Bà V có quan hệ hôn nhân hợp pháp với ông C nên quan hệ tài sản giữa haingười là quan hệ tài sản theo quy định của hôn nhân hợp pháp Bà V có quyền xin ly hôn và chia tàisản chung và cũng có thể không yêu cầu ly hôn nhưng vẫn có quyền yêu cầu chia tài sản chung(chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình)

Câu hỏi 12.

Ông A và bà B sinh được 5 người con là C, D, H, E và G Cả 5 người con đều đã có gia đình riêng Năm 2002, bà B chết Năm 2006, ông A chết Năm 2004, ông A có di chúc để lại tài sản cho người con gái út là chị G Bản di chúc này do chị G viết theo lời của ông A Hai ngày sau, chị G đưa cho chị D và chị H ký và hai mươi ngày sau đưa bản di chúc cho chính quyền địa phương xác nhận Những người con khác không đồng ý với bản di chúc nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật Hỏi bản di chúcnhư trên có hợp pháp không?

Trả lời:

Di chúc được lập vào năm 2004 nên việc xác định di chúc hợp pháp phải căn cứ vào phápluật có hiệu lực thi hành ở thời điểm lập di chúc là BLDS năm 1995 Trong trường hợp di chúc củaông A có đủ các điều kiện hợp pháp nhưng quyết định cả về di sản của bà B thì di chúc của ông Acũng chỉ có hiệu lực với phần di sản của ông A

Khoản 1 Điều 655 BLDS năm 1995 quy định:

“1 Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặccưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy địnhcủa pháp luật.”

Khoản 1 trên đây là quy định về điều kiện hợp pháp của bản di chúc nói chung

Từ Khoản 2 đến Khoản 5 Điều 655 BLDS năm 1995 là quy định về việc lập di chúc hợp phápđối với một số trường hợp đặc biệt

Di chúc của ông A được làm vào năm 2004, năm 2006 ông A mới chết Khoản 2 Điều 654BLDS năm 1995 về di chúc miệng quy định: “Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người

di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ” Do đó, di chuc củaông A lập năm 2004 không được công nhận là di chúc miệng hợp pháp

Trang 14

Điều 659 BLDS năm 1995 về di chúc bằng văn bản có người làm chứng quy định: “ Trongtrường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết,nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản dichúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ củangười lập di chúc và ký vào bản di chúc”.Trong trường hợp này có hai người làm chứng nhưng haingười này lại thuộc trường hợp pháp luật quy định không được làm chứng vì là người hưởng thừa kếnên đây cũng không được coi là di chúc bằng văn bản có người làm chứng hợp pháp.

Đối với trường hợp di chúc có chứng thực thì Khoản 1 Điều 661 BLDS năm 1995 quy định:

“Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuântheo thủ tục sau đây:

1 Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩmquyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên hoặc người có thẩmquyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc kýhoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiệnđúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân

xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc.”

Như vậy, di chúc có chứng thực được coi là hợp pháp khi người lập di chúc là người trực tiếpthể hiện ý chí, thể hiện nội dung bản di chúc trước người có thẩm quyền chứng thực Trường hợp nàybản di chúc lại do chị G mang đến chính quyền địa phương để xác nhận nên đây cũng chưa phải làbản di chúc hợp pháp

Ngoài ra, hình thức của di chúc này cũng không phù hợp với một loại di chúc nào khác đượcquy định trong BLDS năm 1995 nên nó không đủ điều kiên công nhận hợp pháp

Câu hỏi 13 Trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, người anh có tên trong sổ mục kê và

bản đồ địa chính nhưng không sử dụng đất mà người em đã sử dụng đất đó và làm nhà ở từ năm

1980 cho đến nay Người em đã có tên trong bản đồ địa chính được lập năm 1994-1995 Đến năm

2007, người em được nhà nước cấp GCNQSDĐ Năm 2012, người anh mới khởi kiện yêu cầu người

em trả lại đất Tòa án có cơ sở chấp nhận yêu cầu của người anh không?

Trả lời:

Quyền sử dụng đất của cá nhân được hình thành do được Nhà nước giao quyền sử dụng đất,được thừa kế quyền sử dụng đất, được chuyển nhượng quyền sử dụng đất, và còn được hình thành

do được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất

Khoản 3 Điều 4 Luật Đất đai quy định: “Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với ngườiđang sử dụng đất ổn định là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu chongười đó”

Trong trường hợp này, người em đã sử dụng đất liên tục, lâu dài, ổn định và đã được Nhànước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã hình thành quyền sử dụng đất hợp pháp.Người anh tuy có tên trong sổ mục kê nhưng không quản lý, sử dụng, không thực hiện các nghĩa vụcủa người sử dụng đất nên quyền sử dụng của người anh đối với diện tích đất này đã không còn tồntại

Khi kiện đòi lại tài sản, người kiện đòi tài sản phải chứng minh được mình là chủ sở hữu củatài sản; đối với đất thì phải chứng minh được mình là người sử dụng hợp pháp Người anh không cònquyền sử dụng đất nữa nên Tòa án phải bác yêu cầu đòi lại đất của người anh

Câu hỏi 14 Ông A chuyển nhượng cho ông B 100 m 2 đất ở Hợp đồng chuyển nhượng chỉ do hai bên ký nhận với nhau mà không được công chứng, chứng thực Theo thỏa thuận, ông A đã giao giấy tờ về đất cho ông B và ông B đã thanh toán đủ tiền cho ông A Nhưng khi ông B làm thủ tục sang tên thì bị anh C cản trở (anh C là con trai của ông A, được ông A cho làm xưởng mộc trên đất) Ông B làm đơn khởi kiện tại Tòa án Trong quá trình giải quyết vụ án, ông A và ông B đã thỏa thuận trả lại tiền, trả lại đất cho nhau và đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận này? Tòa án có ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự được không?

Trả lời:

Trước hết phải xác định được ông B khởi kiện là khởi kiện với nội dung gì? Từ đó mới xác địnhquan hệ tranh chấp có phải là quan hệ tranh chấp dân sự và có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án hay không

Trang 15

Trong trường hợp ông B yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng hợp pháp hay là yêucầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì đều là tranh chấp dân sự Tuy nhiên, có thuộc thẩm quyền của Tòa

án hay không thì còn căn cứ vào Điều 136 Luật đất đai 2003

Đ i ề u 1 3 6 v ề t h ẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định:

“1 Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đấthoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranhchấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết”

Như vậy, nếu ông A có một trong những loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật đất đaithì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Đây là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa có công chứng, chứng thực nên làhợp đồng chưa có hiệu lực Tuy nhiên, không có ai yêu cầu tiếp tục hoàn thiện việc ký kết và thựchiện hợp đồng mà chỉ thỏa thuận về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì thỏa thuận nàykhông trái pháp luật và Tòa án có thể ra quyết định công nhận sự thỏa thuận theo quy định tại Điều

gì đến quyền, nghĩa vụ của anh C nên dù anh C không tham gia thỏa thuận thì Tòa án vẫn có thểcông nhận thỏa thuận của ông A và ông B

Trong trường hợp ông B khởi kiện chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậuquả tuyên bố vô hiệu thì khởi kiện này không có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của anh C nên anh Ckhông phải tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Câu hỏi 15.

Năm 2004, ông N và bà M ký hợp đồng nhận chuyển nhượng của ông T và bà D 100m 2 đất (đất đã có GCNQSDĐ) với giá 88 triệu đồng Hai bên đã ký hợp đồng, giao nhận tiền, đã nhận đất và xây tường bao quanh Khi làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ thì không thực hiên được vì UBND tỉnh có thông báo thuộc khu vực quy hoạch khu liên hợp thể thao.

Năm 2011, UBND tỉnh lại cho phép chuyển nhượng do thay đổi quy hoạch Bên nhận chuyển nhượng yêu cầu bên chuyển nhượng đến Công chứng nhà nước để hoàn chỉnh hợp đồng Bên bán từ chối với lý do bên mua đã sửa chữa hợp đồng.

Tháng 10/2012, ông N, bà M khởi kiện yêu cầu công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.Ông T và bà D cho rằng hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu do bị sửa chữa, đồng thời cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện.

Trường hợp nêu trên có còn thời hiệu khởi kiện không? Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp quyền

sử dụng đất hay tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Trả lời:

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết

vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyềnkhởi kiện

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 159 BLTTDS thì: “Trong trường hợp pháp luật không có quyđịnh khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quyđịnh như sau:

a)Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâmphạm”

Như vậy, thời hiệu khởi kiện nói chung là 2 năm kể từ ngày “quyền và lợi ích hợp pháp …bịxâm phạm” trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Nói cách khác là nếu pháp luật có quy địnhthời hiệu riêng cho một loại tranh chấp (ví dụ thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm kể từngày mở thừa kế) thì phải áp dụng thời hiệu riêng, nếu không có quy định thời hiệu riêng thì áp dụngthời hiệu chung theo Điều 159 nêu trên

Trang 16

Nội dung khởi kiện là yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất theo hợp đồng chuyển nhượng,tức là bên khởi kiện thừa nhận đất này vốn thuộc quyền sử dụng của bị đơn nên không phải là trườnghợp tranh chấp về quyền sử dụng đất (tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất) theo quy định tạiĐiểm c Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phánTAND tối cao Tranh chấp về quyền sử dụng đất thì không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện nhưngtrường hợp này là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nên vẫn có thời hiệu khởi kiện Hợp đồngchuyển nhượng trong vụ án này là hợp đồng chưa có hiệu lực (hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất phải đến khi được công chứng hoặc chứng thực mới có hiệu lực) nên không áp dụng thờihiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng (Điều 427 BLDS) nhưng cũng không phải là yêu cầu tuyên bố vôhiệu nên không áp dụng thời hiệu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (theo Điều 136 BLDS) nên thờihiệu khởi kiện được tính theo Khoản 3 Điều 159 BLTTDS là 2 năm kể từ thời điểm mà nguyên đơncho rằng bị đơn đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ Thời gian UBND tỉnh tạm dừngkhông cho phép chuyển nhượng là trở ngại phải được trừ ra khỏi thời hiệu Sau khi UBND tỉnh tiếptục cho phép chuyển nhượng, phía nguyên đơn yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hợp đồng (công chứng)

và thực hiện nốt hợp đồng (sang tên quyền sử dụng) mà ông T và bà D không thực hiện là thời điểmđược xác định bắt đầu của thời hiệu khởi kiện (năm 2011) Vì vậy, ông N và bà M nộp đơn khởi kiệnvào tháng 10/2012 là còn trong thời hiệu khởi kiện

Câu hỏi 16 Trong việc giải quyết tranh chấp đất trồng rừng, khi tiến hành đo đạc, Tòa án

triệu tập nhiều lần các hộ liền kề để xác định ranh giới nhưng người được triệu tập cố tình không có mặt Tòa án xử lý thế nào?

Khi xem xét, thẩm định tại chỗ thì phải thực hiện đúng quy định tại Điều 89 BLTTDS Hộ liền kềnếu là đương sự thì họ có quyền được báo để chứng kiến nhưng nếu họ đã được báo mà không cómặt là họ từ bỏ quyền của mình; họ không nhất thiết phải có mặt nên Khoản 2 Điều 89 mới quy địnhphải có “chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt”

Hộ liền kề nếu là nhân chứng thì áp dụng các quy định của pháp luật về nhân chứng Đã lànhân chứng thì họ không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, họ chỉ là ngườibiết những tình tiết có ý nghĩa là chứng cứ giải quyết vụ án; họ có thể bị dẫn giải đến Tòa án để khaibáo, có thể phải chịu những chế tài nghiêm khắc do khai báo gian dối nhưng không nhất thiết cứ phải

có mặt họ thì mới xác định được quyền sử dụng đất hợp pháp của các đương sự

Câu hỏi 17 UBND huyện cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, mặc dù

đã ký nhưng chưa giao cho hộ gia đình lý do chưa thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Trong quá trình sử dụng đất có tranh chấp Vậy giấy CNQSDĐ có được coi như là đã cấp và có giá trị pháp lý chưa?

đã được cấp GCNQSDĐ; nếu có tranh chấp ở thời kỳ này là trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyếttranh chấp của TAND

Câu hỏi 18 Trong vụ án ly hôn, người chồng là nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án xem xét giải

quyết quan hệ hôn nhân, người vợ lại yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cả vấn đề về tài sản chung

Trang 17

nhưng lại không chịu nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản Tòa án có giải quyết luôn vấn đề tài sản trong vụ án không?

Trả lời:

Người chồng là nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vấn đề quan hệ hôn nhân.Người chồng đã nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật (Điều 130BLTTDS) nên việc giải quyết quan hệ hôn nhân được tiến hành bình thường

Về yêu cầu chia tài sản chung, phải có yêu cầu thì Tòa án mới giải quyết Do vậy nếu người

vợ có yêu cầu Tòa án xem xét vấn đề tài sản chung thì người vợ là nguyên đơn trong quan hệ này vàngười vợ phải thực hiện các quy định của pháp luật về vấn đề nộp án phí (Điều 130, 171 BLTTDS;Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một sốquy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án) Nếu người vợ không nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa

án không giải quyết việc chia tài sản chung

Trong trường hợp này Tòa án chỉ giải quyết quan hệ hôn nhân và tuyên bố chưa giải quyếtvấn đề tài sản chung

Câu hỏi 19 Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, các đương sự tự thỏa thuận với nhau

về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận Vậy Tòa án phải đợi đến ngày

mở phiên mới công nhận sự thỏa thuận của đương sự hay Thẩm phán có thể ra quyết định công nhận

sự thỏa thuận của các đương sự ngay? án phí trong trường hợp này được tính 50% hay 100%?

Trả lời:

Khi đã ra “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” có nghĩa đã kết thúc giai đoạn tố tụng “Hòa giải vàchuẩn bị xét xử”, mọi quyết định về vụ án phải được giải quyết tại phiên tòa Khi Tòa án không thayđổi “quyết định đưa vụ án ra xét xử” thì không có quyền giải quyết về vụ án, kể cả việc hòa giải.Thực tế, có nhiều trường hợp trong thời gian từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi

mở phiên tòa các đương sự lại có sự thỏa thuận với nhau về vụ án Cũng chính vì vậy, quy định vềviệc xét xử tại phiên tòa được bắt đầu từ việc hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việcgiải quyết vụ án hay không

Điều 220 BLTTDS quy định: “Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được vớinhau về việc giải quyết vụ án hay không Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau

về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thìHội đồng xét xử quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án”

Vì vậy, sau khi Tòa án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì việc công nhận sự thỏathuận của đương sự là tại phiên tòa, do Hội đồng xét xử công nhận Theo quy định tại Khoản 11 vàKhoản 12 Điều 27 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án thì đương sự vẫn phải chịu 100% án phí nếuthỏa thuận tại phiên tòa Tuy vậy, theo quy định tại Khoản 3 Điều 16 Nghị quyết 01/2012/NQ –HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án thì trường hợpnày chỉ phải chia 50% án phí

Câu hỏi 20 Vụ án dân sự được hòa giải thành, theo quy định của pháp luật các đương sự phải

nộp 50% án phí Tuy nhiên, phía nguyên đơn là Cơ quan bảo hiểm xã hội là đối tượng theo quy định không phải nộp tạm ứng án phí và án phí Vậy trong trường hợp này 50% án phí là bị đơn phải nộp toàn bộ 50% án phí hay 25% án phí?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 131 BLTTDS nếu trong quá trình hòa giải các bên đương sự tựhòa giải được thì họ chỉ phải nộp 50% án phí, mức 50% án phí ở đây là tổng mức án phí mà các bênphải nộp Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án thì: “Cơ quan, tổchức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng,lợi ích của Nhà nước” thì không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí Trường hợp này nguyên đơn sẽđược miễn nộp vì Cơ quan bảo hiểm xã hội là đối tượng không phải nộp án phí Người duy nhất phảinộp án phí là bị đơn nên bị đơn phải nộp toàn bộ 50% án phí theo quy định của pháp luật

Câu hỏi 21 Trong vụ án ly hôn, bị đơn không thường xuyên có mặt tại nơi cư trú Đây là

trường hợp không đủ điều kiện tuyên bố mất tích Tòa án có thụ lý vụ án ly hôn và cho ly hôn được hay không?

Ngày đăng: 28/02/2021, 13:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w