Trong sản xuất hàng dệt kim thì hiện tượng kích thước sản phẩm bị biến dạng tại vị trí đường may là một lỗi rất đáng để quan tâm vì khi có các biến dạng tại đường may thì sản phẩm sẽ khô
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện hoàn chỉnh luận văn này em xin chân thành cảm ơn đến các thầy
cô và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn
Em xin cảm ơn tới các thầy cô giáo Viện Dệt may - Da giầy và thời trang đã
nhiệt tình hướng dẫn em các kiến thức quý báu trong thời gian em học tập tại
trường
Em xin được cảm ơn học viên nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Lợi đã dành
nhiều thời gian chỉ bảo để em hoàn thành luận văn
Đặc biệt em bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Trần Bích Hoàn đã
tận tình hướng dẫn em thực hiện luận văn để có kết quả như ngày hôm nay
Tuy đã có nhiều cố gằng, nỗ lực của bản thân song thời gian có hạn nên
luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Em mong được sự
góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bổ xung và hoàn
thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2012
Đỗ Thị Làn
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn được thực hiện dưới sự hường dẫn
của PGS.TS Trần Bích Hoàn Ngoài phần tài liệu tham khảo đã được
liệt kê đầy đủ, các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung
thực chưa từng được công bố trong một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Làn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 3
1.1 NGUYÊN LIỆU VÀ PHẠM VI ỨNG DỤNG CỦA VẢI DỆT KIM 3
1.1.1 Nguyên liệu vải dệt kim 3
1.1.2 Ứng dụng của vải dệt kim 4
1.2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA VẢI DỆT KIM 5
1.3 TÍNH CHẤT CỦA VẢI DỆT KIM 11
1.3.1 Hình học vải dệt kim 11
1.3.2 Tính chất cơ học của vải dệt kim 12
1.3.3 Một số tính chất khác của vải dệt kim 16
1.4 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN DẠNG VẢI DỆT KIM SINGLE 17
1.4.1 Ảnh hưởng kết cấu vật liệu đến biến dạng của vải 17
1.4.2 Ảnh hưởng của các yếu tố đến biến dạng tại đường may 20
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
TÓM TẮT TỔNG QUAN 29
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 31
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 31
2.1.1 Nội dung nghiên cứu: “Nghiên cứu các yếu tố vật liệu và thiết bị đến độ biến dạng vải dệt kim trong quá trình gia công” 31
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.3 Xác định chiều dài vòng sợi trong vải dệt kim 34
2.1.4 Thiết bị và phương tiện nghiên cứu 35
2.1.5 Điều kiện thí nghiệm 38
2.1.6 Phương pháp lấy mẫu thí nghiệm: 38
Trang 42.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG BIẾN DẠNG VẢI
TẠI ĐƯỜNG MAY 39
2.3 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM 44
2.3.1 Các bước tiến hành thí nghiệm 44
2.3.2 Xác định kết quả thí nghiệm 44
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 46
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MẪU VẢI 1 49
3.2.1 Phương trình hồi quy đối với mẫu vải 1 49
3.2.2 Phân tích kết quả nghiên cứu đối với mẫu vải 1 49
3.3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MẪU VẢI 2 52
3.3.1 Phương trình hồi quy đối với mẫu vải 2 52
3.3.2 Phân tích kết quả nghiên cứu đối với mẫu vải 2 53
3.4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MẪU VẢI 3 56
3.4.1 Phương trình hồi quy đối với mẫu vải 3 56
3.4.2 Phân tích kết quả nghiên cứu đối với mẫu vải 3 56
3.5 SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA 3 LOẠI VẢI ĐẾN BIẾN DẠNG TẠI ĐƯỜNG MAY 59
KẾT LUẬN 61
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Bảng 2.1 Các thông số của mẫu vải 33
Bảng 2.2 Kết quả đo chiều dài vòng sợi 35
Bảng 2.3 Bảng ma trận các giá trị mã hóa và giá trị thực 43
Bảng 3.1 Kết quả thí nghiệm mẫu vải 1 46
Bảng 3.2 Kết quả thí nghiệm mẫu vải 2 47
Bảng 3.3 Kết quả thí nghiệm mẫu vải 3 48
Bảng 3.4 Giá trị các hệ số hồi quy của phương trình Y1 , Y2 49
Bảng 3.5 Giá trị các hệ số hồi quy của phương trình Y1, Y2 52
Bảng 3.6 Giá trị các hệ số hồi quy của phương trình Y1, Y2 56
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 1.1 Vòng sợi 5
Hình 1.2a Vòng dệt phải 6
Hình 1.2b Vòng dệt trái 6
Hình1.3a Hàng vòng 6
Hình 1.3b Cột vòng 6
Hình 1.4 Kiểu đan ngang một mặt phải: a- mặt phải, b- mặt trái 8
Hình 1.5 Kiểu đan ngang hai mặt phải 8
Hình 1.6 Kiểu đan Interlock 9
Hình 1.7 Kiểu đan vải Lacoste 10
Hình 1.8 Hình biểu diễn: Bước cột vòng (A);Bước hàng vòng (B) 12
Hình 1.9 Vải single: 17
Hình 1.10 Sự dịch chuyển vật liệu dưới tác dụng của thanh răng và chân vịt 22
Hình 1.11 Cơ cấu vi sai 24
Hình 2.1 Đường may móc xích 1 kim 2 chỉ (401) 32
Hình 2.5 Mẫu chỉ 34
Hình 2.6 Máy kansai MF – 7723D 3 kim 5 chỉ 35
Hình 2.7 Mô tả kích thước cơ bản của kim 36
Hình 2.8 Thước kẹp 37
Hình 2.9 Dưỡng cắt mẫu thí nghiệm 37
Hình 2.10 Hình vẽ mô tả mẫu thí nghiệm may 39
Hình 2.11 Vị trí điều chỉnh lực ép chân vịt 42
Hình 3.2 Etude graphiqueen 2D- Ktsmnx dans le plan 51
Hình 3.3 Etude graphique en 2D Ktsmnd dans le plan 58
Trang 7MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây ngành Dệt - May nói chung và ngành May nói
riêng đã không ngừng phát triển và có một vai trò quan trọng trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việt Nam là nước đang phát triển có nguồn nhân
công rẻ, cùng với sự quan tâm của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển và đi lên của ngành
Việc mở rộng và phát triển ngành Dệt may là chủ trương đúng đắn của nhà
nước trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong lĩnh vực công
nghiệp Dệt - May, sản phẩm dệt kim đóng vai trò quan trọng Tuy ra đời sau nhưng
đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của khách hàng cũng như của các doanh
nghiệp, bởi các ưu điểm đặc trưng nổi bật của nó Với đặc điểm chủ yếu là tiện lợi
khi sử dụng, thoáng, không nhàu, vận động dễ dàng, hợp thời trang, dễ giặt, độ
mềm mại và độ đàn hồi tốt
Sản phẩm dệt kim rất phong phú có thể tạo ra những sản phẩm như bít tất,
gang tay, mũ, quần áo may sẵn, quần áo thể thao, quần áo mặc lót, các sản phẩm y
tế như băng gạt, và các sản phẩm đặc biệt dùng trong y tế và các ngành khác
Với đặc tính đàn hồi, co dãn tốt, tính thấm nước và thoáng khí cao, sản
phẩm dệt kim dễ sử dụng, rất phù hợp cho làm lớp lót trong quần áo mùa đông
bởi tính hút ẩm và thoáng khí của nó, trên thế giới hàng dệt kim may mặc vẫn ở
mức tăng trưởng cao, nhất là ở các thị trường lớn và thị trường khó tính như EU,
Mỹ và Nhật Bản
Thực tế sản xuất kinh doanh của ngành dệt kim trong thời gian qua cho thấy,
hiệu quả đầu tư dệt kim rất cao, nhu cầu về sản phẩm dệt kim trên thị trường cũng
rất lớn Vì vậy mà việc phát triển ngành dệt may nói chung và sản phẩm hàng dệt
kim nói riêng là yêu cầu cấp thiết hiện nay
Trong đó chiến lược phát triển hàng dệt kim có vai trò, vị trí quan trọng trong
ngành dệt may Tuy nhiên việc phát triển mặt hàng sản phẩm này đã và đang gặp
nhiều khó khăn về nhiều mặt, trong đó có vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm để
đáp ứng với thị trường ngày càng phát triển của thế giới
Trang 8Trong sản xuất hàng dệt kim thì hiện tượng kích thước sản phẩm bị biến
dạng tại vị trí đường may là một lỗi rất đáng để quan tâm vì khi có các biến dạng tại
đường may thì sản phẩm sẽ không đạt được kích thước thiết kế, bị vặn xoắn… gây
cảm giác khó chịu cho người mặc trong quá trình sử dụng, đặc biệt tính thẩm mỹ
của sản phẩm giảm rất nhiều
Các nguyên nhân dẫn đến biến dạng đường may dẫn đến biến dạng sản phẩm
có rất nhiều, tuy nhiên yếu tố vật liệu và thiết bị là một nguyên nhân ảnh hưởng lớn
đến hiện tượng biến dạng
Tìm các biện pháp làm giảm tối thiểu biến dạng của sản phẩm dệt kim là một
phương thức tối quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm Vì vậy trong đề tài
nay tôi đi sâu về “Nghiên cứu các yếu tố về vật liệu và thiết bị ảnh hưởng tới
biến dạng vải tại vị trí đường may khi may sản phẩm dệt kim” Đây là cơ sở
khoa học cho những nghiên cứu ứng dụng trên các vật liệu mới có tính năng đặc
biệt và được sử dụng rộng rãi hiện nay Để đạt được mục đích đó đề tài được triển
khai gồm những phần sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Nghiên cứu tổng quan về vải dệt kim, các thông số, các tính chất
của vải dệt kim, phân tích các yếu tố về vải, về máy, yếu tố công nghệ, con người ảnh hưởng đến hiện tượng biến dạng vải dẫn đến biến dạng sản phẩm đối với vải dệt kim
Chương 2: Nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố vật liệu ảnh hưởng đến hiện tượng
biến dạng vải dẫn đến biến dạng sản phẩm đối với vải dệt kim
Chương 3: Ứng dụng các kết quả thực nghiệm thu được để lựa chọn vải dệt
kim, hạn chế tối đa hiện tượng biến dạng tại đường may nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 9CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
1.1 NGUYÊN LIỆU VÀ PHẠM VI ỨNG DỤNG CỦA VẢI DỆT KIM
Vải dệt kim được tạo ra bằng sự liên kết các vòng sợi với nhau theo một
quy luật nhất định Do được tạo thành bởi các vòng sợi nên vải dệt kim thường có
tính chất đàn hồi, xốp, thoáng khí và nhiều đặc tính khác so với vải dệt thoi và vải
không dệt
1.1.1 Nguyên liệu vải dệt kim
Nguyên liệu vải dệt kim gồm: Sîi thiªn nhiªn, c¸c lo¹i sîi pha, sîi tæng hîp, sîi
nh©n t¹o
- Sợi thiên nhiên:
Dùng trong công nghệ dệt kim chủ yếu có các loại: sợi len và sợi bông còn
sợi tơ tằm thì có giá trị sử dụng cao nên không dùng trong công nghệ dệt kim
+ Sợi len:
Sợi len dùng để dệt nhiều loại sản phẩm mặc ngoài và mặc ấm, sợi len có thể
dệt bít tất, khăn tay, khăn quàng, mũ, sản phẩm dệt bằng sợi len có khả năng giữ
nguyên hình dáng đẹp, mềm mại và có tính giữ nhiệt cao Ngày nay trong công
nghệ dệt kim sử dụng rộng rãi các loại sợi pha, các sợi pha có thành phần xơ khác
nhau Có tính chất mới đáp ứng được yêu cầu của sản phẩm dệt kim và giảm giá
thành sản phẩm
+ Sợi bông hoặc sợi pha:
Sợi bông hoặc bông pha, thường dùng dệt hàng mặc lót có đặc tính mềm
Trang 10Sợi bông thô có chi số N10 - 18 dùng làm sợi đệm, sợi phụ, sợi lót trong các
loại vải dày như vải vệ sinh, vải cào bông
- Sợi tổng hợp các loại: PA, PES
Tơ Pôlyamit được dùng nhiều và rộng rãi trong đan dọc và dệt bít tất Tơ
polyamit có đặc tính chung là độ bền cao, đặc biệt có độ ma sát cao, đàn hồi tốt,
nhưng dễ bị lão hoá thành màu vàng và cứng Thường dùng để dệt đồ lót và vải
trang trí
Tơ polyeste có tính nhiệt dẻo, dùng phương pháp định hình bằng nhiệt để ổn
định cấu tạo vải, tạo dáng cho sản phẩm, thường dùng để dệt vải mặc ngoài và vải
trang trí
Sợi tổng hợp có rất nhiều ưu điểm: độ bền cao, đều đặn, màu đẹp, độ
mảnh nhiều loại phù hợp với nhiều mặt hàng Song có một nhược điểm là tính
hút ẩm thấp, tính vệ sinh kém hơn xơ sợi thiên nhiên vì vậy hay làm sản phẩm
mặc ngoài hơn
- Sợi nhân tạo: thường gặp là sợi Axêtat và sợi visco
+ Sợi Axêtat thường được sản xuất dưới dạng sợi kép chủ yếu dệt các loại
quần áo mặc lót, sợi có độ bền cọ sát kém, nên không dùng để dệt bít tất hoặc găng
tay, có hình thức bóng đẹp, mềm mại, đàn hồi lớn
+ Sợi visco: Mềm mại nhẵn bóng và có giá thành thấp, tuy nhiên kém đàn
hồi, dùng dệt vải mặc lót trên máy Intơlôc hoặc máy đan dọc, thường dùng là tơ
Visco, một ít từ Axêtat và Triaxêtat [3]
1.1.2 Ứng dụng của vải dệt kim
Hàng dệt kim có nhiều đặc tính riêng như tính đàn hồi lớn, vải mềm, nhẹ, co
giãn, thấm mồ hôi và thoáng mát nên thường được sử dụng làm các sản phẩm sau:
- Các mặt hàng may mặc sẵn như: quần áo lót, quần áo thể thao, quần áo mặc
ngoài, bít tất, găng tay, khăn, mũ, áo lông thú giả, khăn trải bàn…
Trang 11- Các loại vải trang trí như đăng ten, vải rèm cửa
- Các loại sản phẩm đặc biệt phục vụ trong y tế như băng gạc, ống mạch máu
nhân tạo, các loại quần áo bít tất chữa bệnh
- Hàng dệt kim cũng được dùng nhiều để làm vải cách nhiệt, cách điện, cách âm,
vải lọc, lưới đánh cá Ngày nay đã có nhiều loại vải dệt kim có độ co giãn nhỏ hơn
tương tự như vải dệt thoi, dùng may quần áo mặc ngoài có đặc tính là bền đẹp,
thoáng mát, không bị nhăn, nhàu Các loại vải dày có khả năng giữ nhiệt tốt Hàng
dệt kim ngày càng được ưa chuộng, các mặt hàng ngày phong phú và thích hợp với
nhiều điều kiện khí hậu
1.2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA VẢI DỆT KIM
* Phương pháp tạo vòng:
Vải dệt kim được tạo ra bằng cách liên kết các vòng sợi theo một quy luật
nhất định Do được tạo thành bởi các vòng sợi nên vải dệt kim thường có tính chất
đàn hồi, xốp, thoáng khí và nhiều đặc tính khác hẳn so với vải dệt thoi và vải
không dệt
Đơn vị cấu trúc nhỏ nhất của vải dệt kim là vòng sợi Vòng sợi trong vải có
dạng đường cong không gian và được chia thành ba phần (Hình 1.1):
+ Vòng sợi trong kiểu dệt kim đan ngang gồm: Cung kim 3-4, hai trụ vòng
2-3; 4-5, các nửa cung kim 1-2 và 5-1(Hình 1.1a)
+ Vòng sợi trong kiểu dệt kim đan dọc gồm: Cung kim 3-4, trụ vòng 2-3 và
4-5, phần vòng kéo căng1-2; 5-1(Hình 1.1b)
1
2 1
5
4 3
2 51
4 3
1 2 1 1
2
3 4
3 4
Hình 1.1 Vòng sợi
Trang 12Vòng sợi có thể có dạng vòng kín (hai chân vòng được thắt kín hoặc vắt chéo qua nhau) hay vòng hở (hai chân vòng không được thắt kín hoặc không vắt chéo
qua nhau) Vòng sợi (vòng dệt) còn có thể có dạng vòng dệt phải (Hình 1.2a ) hoặc
vòng dệt trái (Hình 1.2b ) Ở vòng dệt phải, các trụ vòng che khuất cung kim của
vòng sợi trước Ngược lại, ở vòng sợi trái, các cung vòng (cung kim và cung platin)
che khuất các trụ vòng
Hình 1.2a : Vòng dệt phải Hình 1.2b: Vòng dệt trái
Các vòng sợi kế tiếp nhau theo chiều ngang được gọi là hàng vòng( hình 1.3a) và theo hàng dọc được gọi là cột vòng (hình 1.3b).Cùng với chiều dài vòng
sợi l, bước cột vòng A và bước hàng vòng B là các thông số kỹ thuật quan trọng của
vải dệt kim
Hình1.3a: Hàng vòng Hình 1.3b: Cột vòng
Trang 13Để vải được tạo thành, các vòng sợi phải được liên kết hai chiều với nhau,
thường chúng được lồng qua nhau theo hướng dọc và liên kết liền với nhau theo
hướng ngang hoặc hướng chéo Ở trường hợp liên kết theo hướng chéo, vòng sợi
của hàng vòng này có thể được liên kết liền với vòng sợi của hàng vòng trên hoặc
dưới nó
Bằng các quy luật liên kết khác nhau của các vòng sợi có thể tạo ra các kiểu
dệt cơ bản và dẫn xuất, kết hợp với việc làm biến dạng các vòng sợi (tạo ra các dạng
biến thể của vòng sợi), sử dụng các sợi màu, chi số, vật liệu khác nhau, sử dụng các
sợi phụ v.v có thể tạo ra hàng loạt kiểu dệt hoa khác nhau [1]
* Phân loại vải dệt kim
- Phân loại theo kiểu dệt:
+ Vải dệt kim đan dọc
Ở nhóm vải này, các vòng sợi có thể được liên kết với nhau theo hướng chéo
hoặc hướng dọc Mỗi hàng vòng được tạo thành bằng một hoặc nhiều loại sợi, trong
đó mỗi sợi thường chỉ tạo ra một vòng sợi của hàng vòng Tất cả các vòng sợi của
một hàng vòng đều đồng loạt được tạo thành trong quá trình dệt
+ Vải dệt kim đan ngang
Ở nhóm vải này, các vòng sợi được liên kết liền với nhau theo hướng ngang
Mỗi hàng vòng thường do một sợi tạo thành, các vòng sợi trong một hàng vòng
được tạo thành nối tiếp nhau trong quá trình dệt
Trong vải dệt kim đan ngang còn có thể phân biệt theo kiểu dệt như sau Kiểu dệt
của vải dệt kim đan ngang được chia làm bốn nhóm chính gồm:
Nhóm kiểu dệt đan ngang một mặt phải, nhóm kiểu dệt đan ngang hai mặt
phải, nhóm kiểu dệt đan ngang Interlock, nhóm kiểu dệt đan ngang hai mặt trái
- Nhóm kiểu dệt một mặt phải ( Single )
Kiểu đan một mặt phải là kiểu đan ngang cơ bản đơn giản nhất Các vòng
sợi trong vải sắp xếp theo một hướng nhất định Các vòng sợi có dạng như từng cặp
Trang 14hai đoạn sợi uốn cong hình chữ S nằm đối xứng nhau qua trục tung là đường tâm
của cột vòng Ở trạng thái tự do, nội lực đàn hồi của các đoạn sợi uốn cong đó tạo
nên các lực nén ở các giao điểm của chúng làm cho mặt vải ổn định
Hình 1.4 Kiểu đan ngang một mặt phải: a- mặt phải, b- mặt trái
Do sự sắp xếp định hướng của các vòng sợi, vải một mặt phải có hai mặt khác nhau Mặt phải tập hợp bởi các đoạn trụ vòng, mặt trái tập hợp bởi các cung
vòng Với mức độ phản xạ ánh sáng khác nhau, mặt phải mịn và bóng, mặt trái xù
xì và tối hơn
- Nhóm kiểu dệt hai mặt phải (Rib )
Vải có cấu tạo: Mỗi hàng vòng do một sợi tạo thành, lần lượt có một vòng phải lại một vòng trái xen kẽ nhau Mỗi cột vòng là một loại vòng sợi, cứ một cột
phải xen kẽ một cột trái
Hình 1.5 - Kiểu đan ngang hai mặt phải
Trang 15Các cột vòng phải và cột vòng trái không nằm trên cùng một mặt phẳng
(nhìn theo mặt cắt ngang) Cung platin nối vòng phải với vòng trái, một đầu uốn
từ mặt trước ra mặt sau, một đầu chịu uốn từ mặt sau về mặt trước làm cho sợi bị
xoắn, dưới tác dụng nội lực đàn hồi của sợi, các cung platin có xu hướng quay
thành nằm trên các mặt phẳng vuông góc với mặt vải, làm cho các cột vòng dồn
sát lại với nhau
Do đó trên cả hai mặt vải chỉ nổi lên các cột vòng phải, các cột vòng trái
nằm ở phía sau các cột vòng phải nên không hiện rõ vì vậy sản phẩm vải làm ra
đựơc gọi là vải hai mặt phải
- Nhóm kiểu dệt Interlock:
Interlock là kiểu đan dẫn xuất của kiểu đan chun Vải Interlock do hai kiểu
đan hai mặt phải liên kết với nhau tạo thành Vòng phải của tổ này che lấp vòng trái
của tổ kia, vòng trái của tổ này nằm sau vòng phải của tổ kia Do đó, cả hai mặt vải
đều là tập hợp của các vòng sợi phải không có một vòng trái nào Trên mặt vải, các
cột vòng kề nhau có các vòng sợi sắp xếp so le nhau về chiều cao, do sự xen kẽ tạo
vòng của hai tổ chun
Hình 1.6 - Kiểu đan Interlock
Muốn có vải Interlock ít nhất phải có hai tổ tạo vòng, số tổ dệt trên máy bao
giờ cũng là số chẵn
Trang 16- Nhóm kiểu dệt vải Lacoste:
Lacoste là loại vải có kiểu đan dẫn xuất từ vải Single, được tạo nên bởi sự xen kẽ
giữa vòng dệt và vòng chập theo quy luật riêng của vải
Hình 1.7- Kiểu đan vải Lacoste
Có ba loại Lacoste:
+ Lacoste trám chéo + Lacoste lục lăng + Lacoste hình thoi Vải Lacoste trám chéo: là loại vải có hai mặt khác nhau Mặt phải có các
điểm vòng sợi chập nổi gồ lên theo hình quả trám, mặt trái là các cung vòng xen kẽ
Vải Lacoste lục lăng: là loại vải có hai mặt khác nhau Mặt phải là các trụ
vòng, mặt trái là các cung vòng bị kéo xiên tạo ra hình lục lăng
Vải Lacoste hình thoi: là loại vải có hai mặt khác nhau, mặt phải nổi lên các
điểm gồ vòng sợi chập nhiều lần, mặt trái là các cung vòng bị kéo xiên tạo thành
các hình thoi [1]
- Phân loại theo máy dệt
+ Máy một giường kim
Các loại vải dệt kim được dệt trên các loại máy một giường kim, có hai mặt
vải khác nhau được gọi là vải một mặt phải hay vải đơn như vải Single
Trang 17+ Máy hai gường kim
Các loại vải được dệt trên máy hai giường kim, có hai mặt vải tương tự nhau
được gọi là vải hai mặt phải hoặc vải hai mặt trái
1.3 TÍNH CHẤT CỦA VẢI DỆT KIM
1.3.1 Hình học vải dệt kim
Các thông số hình học quan trọng nhất của vải dệt kim bao gồm:
- Mật độ ngang của vải: Pn
Mật độ ngang của vải cho biết số lượng cột vòng của đoạn vải có khổ rộng
đúng bằng 100mm Đối với vải hai mặt phải mật động ngang được hiểu là tổng các
mật độ ngang của cả hai mặt vải
- Mật độ dọc của vải: Pd
Mật độ dọc của vải cho biết số lượng hàng vòng của đoạn vải có chiều dài
theo hướng cột vòng đúng bằng 100mm Đối với vải Intơlôc mật độ dọc có thể được
hiểu là số lượng vòng sợi có trong đoạn cột vòng có chiều dài đùng bằng 100mm
- Mật độ phẳng của vải Pp
Mật độ phẳng cho biết số lượng vòng sợi có trong diện tích vải 100 x 100mm
(Pp= Pn Pd).
- Đường kính d của sợi
Sợi trong vải dệt kim thường phải chịu tải trọng phức tạp và bị biến dạng
nghiêm trọng nên thông số này rất khó được xác định Hoàn toàn không thể để
đường kính của sợi tự do để phân tích cấu trúc của vải dệt kim Cần phải hiểu
đường kính sợi trong vải dệt kim như là một đại lượng biến đổi, một cách gần chính
xác coi đường kính sợi trong vải bằng đường kính của sợi khi ở trạng thái tự do
- Chiều dài vòng sợi : l
Chiều dài vòng sợi của vải và sản phẩm dệt kim là chiều dài trung bình của
vòng cơ bản được tháo ra từ mẫu vải hoặc sản phẩm dệt kim và đo chúng ở trạng
Trang 18thái kéo duỗi thẳng Chiều dài vòng sợi của tổ tạo vòng là chiều dài vòng sợi được
xác định ở vị trí mẫu vải hoặc sản phẩm dệt kim có tổ tạo vòng đó
Chiều dài vòng sợi là đại lượng biến đổi độc lập quan trọng của quá trình dệt
kim Chiều dài của các phần tử cấu trúc vải khác nhau có thể được xác định bằng
phương pháp tính toán lý thuyết thông qua các mô hình của các loại vòng sợi hoặc
bằng các phương pháp thực nghiệm Thường các mẫu vải được lấy với khổ rộng
đúng bằng 100 cột vòng Ứng với tổ tạo vòng cần lấy ít nhất năm mẫu sợi được tháo
ra từ mẫu vải Khi đo chiều dài, sợi được kéo căng nhẹ vừa đủ để làm duỗi thẳng
các cung sợi
- Bước cột vòng : A
Ở vải đan ngang một mặt phải, bước cột vòng đúng bằng chiều rộng của
vòng sợi Đối với vải đan ngang hai mặt phải, thông số này được đưa ra dưới dạng
bước cột vòng phải hoặc bước cột vòng trái
- Bước hàng vòng: B
Bước hàng vòng đôi khi được hiểu là chiều cao vòng sợi Ở một số cấu trúc
vải, đặc biệt là các cấu trúc dệt thiếu vòng sợi, thông số này rất khó được định
nghĩa.[1]
Hình 1.8: Hình biểu diễn: Bước cột vòng (A);Bước hàng vòng (B)
1.3.2 Tính chất cơ học của vải dệt kim
- Khối lượng riêng của vải
Khối lượng riêng g/m2 là một trong các thông số kỹ thuật quan trọng của vải,
bởi nó không chỉ biểu lộ đặc trưng sử dụng của vải mà còn cho biết lượng nguyên
Trang 19liệu tiêu hao cho 1m2
vải và tính kinh tế của quá trình sản xuất Khối lượng riêng g/m2 của vải có thể được xác định bằng phương pháp thực nghiệm hoặc bằng
phương pháp tính toán lý thuyết nếu như biết trước các thông số hình học của vải và
chi số sợi sử dụng
- Tính ổn định kích thước của vải dệt kim
Một trong những nhược điểm khá rõ nét của vải dệt kim là tính kém ổn định
về kích thước Hình dạng của các sản phẩm dệt kim nói chung luôn có xu hướng tự
thay đổi theo thời gian Trên thực tế, trong quá trình gia công sử dụng, vải dệt kim
phải trải qua hàng loạt trạng thái khác nhau
+ Vải trong quá trình dệt trên máy
Có thể nói trong quá trình dệt, vải luôn ở trong trạng thái mất ổn định Vải
trên máy thường bị co nên các thông số hình học của vải cũng sẽ thay đổi Sau khi
đi qua các trục kéo vải, vải cơ bản được giảm tải (chỉ còn bị kéo căng nhẹ trong
cuộn vải )
+ Vải xuống máy
Vải xuống máy dần đi vào trang thái ổn định tương đối, còn được gọi là
trạng thái hồi phục khô Vải có thể đạt đến trạng thái này khi nó được để hoàn toàn
tự do một thời gian đủ dài Giai đoạn hồi phục khô đối với vải dệt kim thường kéo
dài một tuần Trong suốt cả giai đoạn này, vải luôn được duy trì trong trạng thái
không chịu lực kể cả trọng lượng của chính bản thân nó Do bị kéo dọc trong quá
trình dệt nên trong quá trình hồi phục sự co dọc của vải thường diễn ra khá mãnh
liệt Trong khi đó co ngang diễn ra không rõ rệt và có thể có giá trị dương hoặc âm
Sau giai đoạn hồi phục khô vải cũng chỉ mới ở trong trạng thái ổn định tương đối
Có nghĩa là, mọi sự thay đổi về hình dạng và kích thước sẽ không xảy ra chỉ khi các
điều kiện tồn tại của vải không thay đổi
+ Vải sau hồi phục ướt
Ở công đoạn hồi phục ướt, vải trong trạng thái không tải được ngâm một thời
gian đủ dài trong nước có chất thấm (ở điều kiện 400c và 0,1% chất thấm ) và sau
Trang 20đó cũng trong trạng thái không tải, vải được sấy khô Sau giai đoạn này, vải cũng
vẫn còn ở trong trạng thái ổn định tương đối nhưng ở mức độ hồi phục cao Trạng
thái ổn định tương đối này cũng có thể đạt được khi vải được giặt ở các nhiệt độ
khác nhau trong các máy giặt kiểu thùng quay Trạng thái sau giặt, đặc biệt là giặt
nhiều lần trên thực tế đã gần tiếp cận được với trạng thái hồi phục hoàn toàn của
vải Đó là trạng thái mà vải có nội năng biến dạng nhỏ nhất, chính vì vậy mà vải có
xu thế thay đổi hình dạng nhỏ nhất Cũng cần lưu ý rằng trong các công đoạn giặt
và sấy khô, vải luôn phải được duy trì trong trạng thái không tải, nếu không vải sẽ
tiếp tục bị biến dạng và trạng thái hồi phục hoàn toàn càng trở lên khó khăn
+ Trạng thái hồi phục hoàn toàn của vải
Tuy được đặc trưng bằng lượng nội năng biến dạng nội cực tiểu trong vải
nhưng trạng thái hồi phục hoàn toàn không phải là một trạng thái duy nhất, ảnh
hưởng của các trở lực trong vải, trong sợi và cả trong xơ không chỉ làm cấu trúc
vải bị biến dạng dẻo ngay trong quá trình dệt và về sau này mà còn tạo ra một số
lượng vô cùng lớn trạng thái hồi phục hoàn toàn khác nhau của vải Có điều các
thông số hình học vải của các trạng thái hồi phục khác nhau này lại hầu như không
khác nhau
Quá trình hồi phục là loại trừ các nội lực cản trở vải đạt được đến trạng thái
hồi phục hoàn toàn Phần lớn các công đoạn gia công hoàn tất vải là các quá trình
hồi phục vải Đạt được trạng thái hồi phục hoàn toàn của vải trên các dây chuyền
sản xuất công nghiệp hiện vẫn đang là vấn đề được nghiên cứu Giặt và sấy khô
nhiều lần trong trạng thái không tải cho kết quả hồi phục tốt nhưng không mang
tính kinh tế nên ít khi được sử dụng trong sản xuất
- Tính tuột vòng của vải
Tuột vòng là làm cho các vòng sợi mất sự liên kết với nhau, từ vải tháo tuột
vòng thành sợi
Các vòng liên kết hoặc khi một sợi bị đứt các vòng sợi dần tuột khỏi vòng và
tạo ra lỗ thủng trên vải, kích thước lỗ thủng sẽ tăng dần theo tần suất tải trọng (số
lần tác dụng)
Trang 21Tính tuột vòng là một trong các nhược điểm lớn của vải dệt kim Nó có ảnh
hưởng tới tính chất gia công mà còn cả tính chất sử dụng của vải Tính tuột vòng
của vải dệt kim có thể được hạn chế bằng sự lựa chọn hợp lý về nguyên liệu dệt, cấu
trúc và các thông số kỹ thuật của vải hoặc bằng phương pháp xử lý định hình vải
Để quá trình tuột vòng thật sự diễn ra cần hội tụ đủ hai điều kiện:Trong vải
phải có nguồn tuột vòng( các biên tuột vòng hoặc sợi bị đứt ) và vải phải được
cung cấp năng lượng cần thiết để tháo tuột vòng sợi, thường vải chỉ cần được kéo
căng là đủ
- Tính quăn mép của vải dệt kim
Tính quăn mép cũng là một nhược điểm của vải dệt kim Tuy nhiên không
phải tất cả các loại vải dệt kim đều có tính quăn mép Tính quăn mép của vải được
tạo ra bởi nội lực biến dạng đàn hồi của sợi Tính chất này được biểu hiện rõ nhất ở
vải một mặt phải
Ngoài ra một số loại vải khác cũng có thể có tính quăn mép Tính quăn mép
của vải được tạo ra bởi nội lực biến dạng đàn hồi của sợi Ở vải một mặt phải dệt
trơn các mép biên ngang có xu hướng quăn sang mặt phải, còn các mép dọc có xu
hướng quăn sang mặt trái của vải
Các loại vải kép với hai mặt vải ( trước và sau ) giống nhau hầu như không
bị quăn mép Hiện tượng quăn mép có chăng chỉ được biểu hiện dưới dạng uốn
sóng của các hàng vòng đối với vải hai mặt phải hoặc của các cột vòng đối với vải
hai mặt trái Sự cân bằng của hai mặt vải có thể sẽ bị phá vỡ nếu như chúng được
tạo ra bằng các vòng sợi có chiều dài khác nhau hoặc bằng các phần tử cấu trúc
khác nhau Trong trường hợp như vậy, kể cả các loại vải đan ngang hai mặt phải,
Interlock, đan ngang hai mặt trái hay đan dọc hai mặt phải cũng đều có thể bị quăn
mép Điển hình là tính quăn mép của loại vải dệt hoa hiệu ứng màu với số lượng các
vòng sợi trái lớn hơn hẳn các vòng sợi phải Các mép vải trong trường hợp này đều
bị quăn sang phía mặt phải của vải Thế nhưng cũng không loại trừ trường hợp hai
mặt vải tuy khác nhau nhưng vải lại không bị quăn mép, nếu như các xu thế biến
Trang 22dạng được tạo ra đối lập nhau Thế nhưng nếu các vòng sợi phải đồng thời được dệt
kéo dài qua một số hàng vòng trái, xu hướng biến dạng đối lập được tạo ra và hai xu
thế biến dạng này sẽ tự triệt tiêu lẫn nhau Kết quả, vải sẽ không bị quăn mép.[1]
- Tính kéo rút sợi của vải dệt kim
So với vải dệt thoi, tính kéo rút sợi của vải dệt kim biểu hiện rõ dệt và nguy
hiểm hơn Hiện tượng kéo rút sợi sảy ra với xác suất khá cao và thường gây cho vải
các dạng lỗi về cấu trúc rất khó khắc phục Xu thế tạo ra sự kéo rút sợi ra từ vải chịu
ảnh hưởng của hai yếu tố quan trọng sau:
+ Trở lực chống lại sự kéo rút sợi ra từ vải: Lực cần thiết để kéo rút đoạn
sợi với chiều dài nhất định ra từ vải, trước hết phụ thuộc vào nguyên liệu sử
dụng (hệ số ma sát của sợi) cấu trúc vải ( sợi được kéo rút ra ví dụ từ vải một
mặt phải sẽ dễ dàng hơn từ vải hai mặt phải) và mật độ dệt ( sợi được kéo rút ra
sẽ dễ dàng hơn từ vải dệt thưa hơn) Sợi được kéo rút ra càng dễ dàng hơn, tính
kéo rút sợi của vải càng cao
+ Xác suất xảy ra sự vướng mắc ngẫu nhiên của vải vào các vật kéo và
hiện tượng kéo rút sợi ra từ vải, xác suất này phụ thuộc vào độ nhám bề mặt vải
và đặc biệt là chiều dài của các đoạn sợi nằm tự do trên các bề mặt đó
Tính kéo rút sợi cũng như tính tuột vòng và tính quăn mép đều là các tính chất
rất khó xác định của vải dệt kim Các kết quả thực ngiệm ít nhiều vẫn còn mang
tính chủ quan Phương pháp xác định các tính chất này hiện vẫn chưa được tiêu
chuẩn hoá [1]
1.3.3 Một số tính chất khác của vải dệt kim
Tính chất nhiệt của vải dệt kim cũng rất quan trọng, các tính chất này
cũng chịu ảnh hưởng của nguyên liệu sử dụng và cấu trúc vải Tính chất nhiệt
của vải gồm có các tính chất trực tiếp như tính thoát nhiệt và gián tiếp như tính
thoát khí và thoát hơi nước
Trang 23Tính chất điện của vải gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nguyên liệu sử
dụng Khả năng tích điện có ảnh hưởng xấu đến các tính chất gia công cũng như
các tính chất sử dụng của vải
1.4 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN DẠNG VẢI DỆT KIM SINGLE
Vải dệt kim Single được sử dụng rộng rãi trong quá trình gia công sản
phẩm may và các mặt hàng khác
1.4.1 Ảnh hưởng kết cấu vật liệu đến biến dạng của vải
* Đặc trưng cấu tạo
Hình 1.9 Vải single:
Vải được dệt trên máy một giường kim, có hai mặt vải khác nhau Trên mặt
vải chúng ta có thể quan sát thấy các trụ vòng che khuất các cung vòng và do hiệu
ứng về quang học khi quan sát vào mặt vải bóng mịn Vì vậy người ta gọi mặt này
là mặt phải Trên mặt vải thứ hai các cung vòng che khuất các trụ vòng Khi quan
sát vào mặt vải hơi thô do hiệu ứng về quang học mặt vải nhìn tối hơn Mặt thứ hai
này gọi là mặt trái của vải
* Tính chất của vải single
- Tính tuột vòng của vải single:
Tuột vòng là làm cho các vòng sợi mất sự liên kết với nhau, từ vải tháo tuột
vòng thành sợi
Trang 24Tính tuột vòng là một trong các nhược điểm của vải dệt kim Nó có ảnh
hưởng xấu không chỉ đến các tính chất gia công mà còn cả đến các tính chất sử
dụng của vải Ở vải dệt kim, các vòng sợi có cung kim tự do đều có nguy cơ bị tuột
vòng Sự tuột vòng làm cho vải bị phá huỷ dần ngay cả khi sợi không bị đứt Tính
tuột vòng có thể được hạn chế bằng sự lựa chọn hợp lý về nguyên liệu dệt, cấu trúc
và các thông số kỹ thuật của vải hoặc bằng phương pháp xử lý định hình vải
- Tính quăn mép của vải single
Hướng quăn từ mặt phải sang mặt trái: Do sự không cân bằng nội lực của vải
tạo ra bởi quá trình uốn sợi liên kết các vòng sợi với nhau
Tính quăn mép cũng là một nhược điểm của vải dệt kim Tuy nhiên không
phải tất cả các loại vải dệt kim đều có tính quăn mép Tính chất này được biểu hiện
rõ nhất ở vải một mặt phải như vải single (vải trơn) Ngoài ra, một số loại vải khác
cũng có thể có tính quăn mép Ở vải một mặt phải dệt trơn các mép ngang có xu
hướng quăn sang mặt phải, còn các mép dọc có xu hướng quăn sang mặt trái của
vải Hai xu hướng biến dạng đối lập nhau này sẽ triệt tiêu lẫn nhau ở phần giữa của
mảnh vải nên ở đó không xuất hiện hiện tượng quăn mép
- Độ bền đứt của vải
Độ bền đứt theo hướng cột vòng lớn gấp hai lần độ bền đứt theo hướng hàng
vòng Do khi có lực tác dụng theo hướng cột vòng, lực này phân bố đều trên hai sợi,
theo hướng hàng vòng cắt chỉ có một sợi
- Độ giãn của vải một mặt phải
Dưới tác dụng của lực kéo, vải bị giãn ra Tuỳ theo phương tác dụng của lực,
độ giãn vải thể hiện khác nhau Dùng sự thay đổi của bước vòng A, chiều cao hàng
vòng B để biểu thị sự biến dạng của vòng sợi khi chịu lực kéo giãn
+ Độ giãn theo chiều dọc: Khi lực tác dụng theo chiều dọc vải, vòng sợi bị
biến dạng các trụ vòng dài ra B - B max, các cung vòng thu hẹp lại A- A max Cung
kim và cung Platin rút mất sợi để tạo thành Bmax , chỉ còn những cung ôm lấy hai
đầu của hai trụ vòng
Trang 25+ Độ giãn theo chiều ngang: Khi lực tác dụng theo chiều ngang vải, các
cung vòng duỗi thẳng ra A- A max hai trụ vòng rút ngắn lại, chuyển bớt sợi để tạo
thành A max , trụ vòng không còn là dạng đoạn thẳng nữa mà chỉ còn là những
cung ôm
Thực tế không phải bao giờ vải cũng bị kéo giãn theo một chiều đơn thuần
với trị số lớn nhất như hai trường hợp trên Khi chịu lực tác dụng theo một hướng
nào đó thường xảy ra sự biến dạng đồng thời theo cả hai chiều dọc và ngang của
vải Theo phương lực tác dụng vải bị kéo dài ra đồng thời thẳng góc với lực tác
dụng vải bị thu hẹp lại [1]
Độ giãn của vải khi chịu lực kéo đồng thời theo hai chiều với trị số tương
tương nhau hoặc phương thẳng góc nhau Vòng sợi có dạng gần như hình vuông, cả
cung vòng và trụ vòng đều có dạng các đoạn thẳng vuông góc với nhau
- Độ co của vải:
Trong quá trình dệt và gia công, vải chịu nhiều lực tác dụng Ứng suất dư
trong vải sau khi giặt giũ sẽ được tiêu trừ đi và thể hiện thành độ co theo cả chiều
dọc và chiều ngang của vải Thông thường vải một mặt vải độ co dọc là số dương
và độ co ngang có thể là âm hoặc dương Độ co của vải phụ thuộc vào trạng thái
định hình của vải
- Độ ẩm của vải:
Độ ẩm tương đối của không khí có ảnh hưởng đáng kể đến các tính chất của
vải Trong quá trình hấp thụ, các phần tử nước thấm dần vào bên trong làm yếu liên
kết giữa các phân tử cấu tạo nên xơ và sợi cho nên khi tăng độ ẩm, phần lớn xơ và
sợi bị giảm độ bền Riêng đối với xơ bông, lanh và vải được tạo ra từ loại xơ, sợi đó
có độ bền tăng lên khi độ ẩm tăng Điều đó phụ thuộc vào cấu tạo của đại phân tử
xenlulô, dưới tác dụng kéo dàn trong môi trường ẩm, các phần tử ở trạng thái gấp
khúc chuyển sang duỗi thẳng hơn dọc theo trục xơ, sợi, từ đó liên kết phân tử chặt
chẽ hơn và làm tăng độ bền Do đó độ ẩm của vật liệu cũng ảnh hưởng đáng kể tới
hiện tượng biến dạng của vải Đặc biệt đối với vải 100% conton xơ bị trương nở
Trang 26trong nước nên độ ẩm càng tăng kích thước vòng sợi càng lớn, khả năng biến dạng
của vải sẽ thay đổi [3]
1.4.2 Ảnh hưởng của các yếu tố đến biến dạng tại đường may
Sự thay đổi kích thước của chiều dài vải tại vị trí đường may là sự khác nhau
về kích thước của vải theo chiều dài đường may trước và sau khi may Nếu sau khi
may kích thước của vải giảm tại vị trí đường may thì được gọi là co, kích thước
tăng gọi là giãn
Đối với vải dệt kim thì một trong những tính chất quan trọng đó là tính biến
dạng tại vị trí của đường may Biến dạng vải tại đường may là hiện tượng kích
thước bị biến đổi khi may vải hoặc trong quá trình sử dụng Các thông số sản phẩm
có thể (-) hoặc (+) so với thông số thành phẩm làm giảm chất lượng và tính thẩm
mỹ của sản phẩm, trong thời kỳ hội nhập như hiện nay nó ảnh hưởng lớn đến giá trị
cũng như tính cạnh tranh của sản phẩm, giảm thu nhập của người lao động Lỗi biến
dạng này do nhiều nguyên nhân gây nên
* Ảnh hưởng của yếu tố công nghệ đến biến dạng tại đường may
- Ảnh hưởng của chiều dài mũi may
Chiều dài mũi may có ảnh hưởng nhiều tới hiện tượng biến dạng vải Lực
liên kết của chỉ may tác động lên vải tại đường may hay tỷ lệ nghịch với chiều dài
mũi may (hay tỷ lệ thuận với mật độ mũi may) nếu các yếu tố khác không thay đổi
Đương nhiên khi mật độ mũi may tăng hay chiều dài mũi may giảm thì lực liên kết
của chỉ tác động lên vải là lớn vải sẽ bị co Khi giảm chiều dài mũi may thì độ bền
của đường may cũng tăng, nhưng sự giảm này dẫn tới một giới hạn lực kéo của chỉ
lên vải sẽ tăng lên hiện tượng vải bị co và dúm
- Ảnh hưởng của quá trình trải vải, cắt vải đến biến dạng tại vị trí đường may
Quá trình trải vải dệt kim cũng là một yếu tố gây biến dạng lớn đối với sản
phẩm dệt kim, trong quá trình trải vải trường hợp trải vải thủ công nếu công nhân
thực hiện có thao tác mạnh tạo sức căng mạnh kéo giãn vải sẽ dẫn đến hiện tượng
vải sẽ bị co sau quá trình may Trường hợp trải vải bằng máy người thợ trải vải sẽ
điều chỉnh độ căng trùng của vải
Trang 27Nguyên nhân là do khi có lực kéo giãn vải dệt kim với đặc tính dễ bai giãn sẽ
giãn ra làm kích thước vải tăng, lúc này vải được cắt ở trạng thái đang bị giãn tuy
nhiên khi để một thời gian chi tiết cắt sẽ trở lại trạng thái cân bằng lúc này vải sẽ co
lại khi may lên sản phẩm sẽ bị hụt kích thước, ngược lại trong quá trình trải vải mà
công nhân thực hiện để trùng vải thì vải lại được cắt khi đang ở trạng thái trùng,
sau quá trình may sản phẩm lại bị giãn, quá trình trải vải cũng là một trong những
nguyên nhân lớn làm sai lệch kích thước của sản phẩm dệt kim
Quá trình cắt vải cũng dễ làm sai lệch kích thước của vải bởi với đặc tính
không ổn định kích thước vốn có khi chịu tác dụng của lực cắt các lớp vải dễ dàng
bị xô lệch vì vậy trong quá trình cắt các lớp vải ở dưới rất dễ bị xô và bị sai lệch
kích thước dẫn đến sau khi gia công thành sản phẩm kích thước chi tiết không đúng
với thiết kế dẫn đến kích thước sản phẩm không đạt yêu cầu
- Ảnh hưởng của hướng may
Khi may theo chiều ngang, lực ép chân vịt tác dụng theo chiều ngang vải, vải
có xu hướng bị giãn ra theo chiều của đường may Các cung vòng duỗi thẳng ra, hai
trụ vòng rút ngắn lại, trụ vòng không còn là đoạn thẳng nữa mà chỉ còn là những
cung ôm Do vậy mà vải bị co theo chiều dọc, giãn ra theo chiều ngang
* Ảnh hưởng của thiết bị đến biến dạng vải tại đường may:
- Ảnh hưởng của sức căng chỉ may
Chỉ may dùng để liên kết các chi tiết từ vải dệt thoi, vải dệt kim, vải không
dệt và các vật liệu khác
Trong quá trình may, đường may chịu kéo nhiều chu trình và chỉ may bị ma
sát Nếu sức căng chỉ may nhỏ khi may chỉ không được thắt chặt, chỉ của đường
may có thể nhô lên khỏi bề mặt vật liệu và bị ma sát vào các vật xung quanh Nếu
lực thắt chặt ở mũi may quá lớn, tải trọng tác dụng lên chỉ tăng lên, gây co rúm vải
trên đường may và làm giảm chất lượng sản phẩm
Vì vậy sức căng chỉ may ảnh hưởng tới biến dạng đường may Ngoài ra may
cần phải có cấu trúc và tính chất cơ lý phù hợp, chỉ phải trơn nhẵn và có mức độ
Trang 28đồng đều theo chiều dài, độ bền, độ đàn hồi, độ cân bằng theo hướng xoắn và bền
nhiệt thì ít ảnh hưởng đến biến dạng đường may
- Cơ cấu dịch vải
+ Chức năng của cơ cấu dịch vải:
Dịch vải đi một đoạn sau mỗi mũi may, độ dịch vải bằng chiều dài mũi may,
chiều dài mũi may là khoảng cách giữa hai mũi kim đâm liên tiếp nhau
Có nhiều cơ cấu dịch vải như: cơ cấu thanh răng chân vịt, cơ cấu thanh răng
bánh xe, cơ cấu bánh xe răng cưa Nhưng hiện nay được sử dụng phổ biến nhất trong
may các mặt hàng vải dệt thoi và dệt kim là cơ cấu dịch vải bằng thanh răng chân vịt
Thanh răng dịch chuyển theo một quỹ đạo gồm các bước sau:
Từ phía dưới mặt nguyệt thanh răng chuyển động lên trên mặt nguyệt Trong
quá trình nhô lên khỏi mặt nguyệt thanh răng nâng vật liệu lên khỏi mặt nguyệt đến
điểm b ép vật liệu với chân vịt
Thanh răng tiếp tục di chuyển theo hướng từ b sang a dịch chuyển vải đi một
đoạn bằng chiều dài mũi may
Tại điểm a thanh răng hạ xuống dưới mặt nguyệt và chuyển động về phía
trước để trở lại vị trí ban đầu, hoàn tất một quá trình dịch vải
Hình 1.10 Sự dịch chuyển vật liệu dưới tác dụng của thanh răng và chân vịt
a- Sơ đồ dịch chuyển vải, b- Quỹ đạo chuyển động của thanh răng
1 Thanh răng; 2 Mặt nguyệt; 3 Lớp vật liệu; 4 Chân vịt
Trang 29+ Các điều kiện dịch vải
Quá trình dịch vải đạt được hiệu quả khi: F3> F1
Trong đó:
F1: Lực ma sát giữa mặt trên của lớp vải trên với chân vịt
F3: Lực ma sát giữa thanh răng và mặt dưới của lớp vải dưới
Lực ma sát F 1 được tính theo công thức:
F1 = N x u1
Trong đó:
u1: Là hệ số ma sát giữa lớp vải trên và chân vịt
N: Là lực ép của chân vịt
Hệ số ma sát u1 phụ thuộc vào: chất liệu vải, tính chất vải, kết cấu, kiểu dệt
của vải, kiểu chân vịt, chất liệu tạo nên chân vịt, diện tích tiếp xúc của chân vịt với
vật liệu
N: Phụ thuộc vào ốc điều chỉnh lực nén chân vịt
Lực ma sát F 3 giữa thanh răng và mặt dưới của lớp vải dưới được tính theo
công thức:
F3 = N x u3
Trong đó:
u3: Là hệ số ma sát giữa thanh răng với mặt dưới của lớp vải bên dưới
Hệ số ma sát u3 phụ thuộc vào chất liệu vải, tính chất vải, kết cấu kiểu dệt,
chiều cao của thanh răng nhô lên trên mặt nguyệt, kết cấu răng và bước răng
+ Trường hợp khi may vải không dịch chuyển được
Trong quá trình dịch vải, do ma sát giữa thanh răng và mặt dưới của lớp vải dưới
(F3) nhỏ hơn Lực ma sát giữa mặt trên của lớp vải trên với chân vịt (F1), làm cho vải
không dịch chuyển được trong quá trình may, làm vải bị co rúm, sai lệch kích thước
Để khắc phục hiện tượng này cần điều chỉnh, nâng thanh răng để tăng ma
Trang 30sát giữa thanh răng và mặt dưới của lớp vải dưới (F3), thay chân vịt cho phù hợp
với chất liệu vải để giảm ma sát giữa mặt trên của lớp vải trên với chân vịt (F1)
Ngoài ra còn có hiện tượng khi may vải dệt kim, đường may bị bai dãn
Hiện tượng này thường xảy ra khi thực hiện đường may theo chiều ngang
canh vải, vải có độ dãn ngang lớn
+ Đối với các loại máy có cơ cấu vi sai:
Ta cần sử dụng cho phù hợp với từng chất liệu và kết cấu đường may để đảm
bảo đường may êm phẳng không bị biến dạng sau khi may
Đặc điểm cơ cấu vi sai:
Cơ cấu vi sai gồm có hai thanh răng: thanh răng chính và thanh răng phụ
Thanh răng phụ được lắp phía trước thanh răng chính, nó có tác dụng làm
cho đường may co hoặc bai tùy thuộc vào sự điều chỉnh tốc độ chuyển động nhanh
hơn hay chậm hơn so với thanh răng chính
Khi đường may gặp phải hiện tượng bị bai giãn, thanh răng phụ phía trước
phải được điều chỉnh chuyển động nhanh hơn thanh răng chính phía trước tới mức
phù hợp để đường may không bị bai giãn, hoặc ngược lại khi đường may bị co, điều
chỉnh thanh răng phụ chậm hơn thanh răng chính giúp đường may bai ra
Hình 1.11 Cơ cấu vi sai
V1: Vận tốc chuyển động của thanh răng trước
V2: Vận tốc chuyển động của thanh răng phụ
Trang 31- Tốc độ của máy:
Khi tốc độ may tăng thì tốc độ dịch chuyển của thanh răng chân vịt biến đổi,
khi may các lớp nguyên liệu được thanh răng đưa đi đúng bằng chiều dài mũi may,
theo yêu cầu công nghệ vải được chân vịt ép lên tạo lực ép, do vậy khi tốc độ máy
khác nhau thì thời gian để vải trở lại trạng thái tự do khác nhau tạo nên mức nhăn
vải khác nhau, nếu mức nhăn cao thì mật độ vải bị dồn lại do vậy xảy ra hiện tượng
kích thước vải bị thay đổi nhiều so với khi may ở tốc độ bình thường
Khi tốc độ máy tăng thì lượng vải cần chạy qua chân vịt cũng tăng, tuy nhiên
do yêu cầu lượng vải cần đưa vào trong một thời gian ngắn cũng gây hiện tượng
thay đổi kích thước vải
Tóm lại tốc độ máy là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng làm
biến dạng kích thước vải đối với sản phẩm dệt kim Việc điều chỉnh tốc độ cho phù
hợp với các điều kiện khác là một vấn đề quan trọng góp phần vào việc giảm tối
thiểu hiện tượng biến dạng tại đường may trong sản xuất
* Yếu tố về con người
Tay nghề và ý thức của người công nhân cũng là một trong những yếu tố quan
trọng làm cho đường may có chất lượng cao
- Tay nghề công nhân sẽ được phản ánh trong từng sản phẩm Nếu họ có kỹ
thuật may thành thục và chuyên nghiệp thì họ biết cách may, cách điều chỉnh máy
và cách đưa vải vào gia công, một cách hợp lý thì sẽ giảm được tối đa lỗi biến dạng
đường may
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến biến dạng tại vị trí đường may và tính riêng
lẻ của từng nguyên nhân ảnh khác nhau đến hiện tượng làm sai lệch kích thước sản
phẩm nhưng kết hợp lại thì chúng có thể đưa đến kết quả nghiêm trọng Ta cần phải
chú ý tới những vấn đề sau để đảm bảo cho đường may đạt chất lượng cao và hạn
chế làm hiện tượng co bai tại vị trí đường may
Trang 32- Chọn chỉ thích hợp Chiều dài mũi may thích hợp
- Chọn kim, chỉ và mật độ mũi may phù hợp nhất
- Kiểm tra các điều kiện và điều chỉnh các thành phần ảnh hưởng đến chỉ may
- Chỉnh lực ép chân vịt và tốc độ sao cho phù hợp nhất với loại vải đang
sử dụng
- Khi may lực kéo phải phù hợp không được kéo mạnh phải để vải ở trạng
thái êm phẳng tránh hiện tượng vải bị biến đổi kích thước
* Ảnh hưởng của khâu hoàn tất
Hoàn tất là một khâu quan trọng trong công nghiệp may mặc, đặc biệt trong
sản suất hàng dệt kim bởi tính kém ổn định kích thước của nó, trong khâu hoàn tất
việc cung cấp nhiệt và ẩm làm các thành phần trong vải được trả lại trạng thái tự do
của nó, công việc này góp phần lấy lại kích thước sản phẩm, việc hoàn tất còn giúp
sản phẩm giữ được kiểu dáng trong thời gian dài hơn, nâng cao giá trị và tính thẩm
mỹ của sản phẩm
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong những thập kỷ gần đây, quy hoạch thực nghiệm đã giúp cho cán bộ khoa
học ở nhiều lĩnh vực khác nhau: sinh học, hoá học, vật lý ứng dụng, vật liệu cách
tìm các điều kiện tiến hành tối ưu hoá các quá trình phức tạp hoặc lập mô hình toán
học chọn các thành phần tối ưu cho hệ nhiều thành phần
Những thực nghiệm mà mọi tổ hợp của các mức của các yếu tố đều được thực
hiện để nghiên cứu gọi là thực nghiệm yếu tố toàn phần
Giả sử ta cần nghiên cứu một đại lượng Y trong một quá trình công nghệ nào
đó Trong đó Y phụ thuộc vào các biến độc lập ( X1, X2, X3, , Xi ) trong đó i =1k
Mối quan hệ giữa Y và biến Xi, i=1 k có thể viết dưới dạng như sau:
Y = F ( X1, X2, X3, Xk )
Trang 33Trong đó Y là đặc trưng ra, Xi là các biến giải thích Các giá trị Y đo trong quá
trình thí nghiệm còn các giá trị X đã biết trong quá trình phân tích Dạng hàm liên
hệ của chúng trước thí nghiệm chưa được biết nên phải tìm theo các số liệu thí
nghiệm Để xác định mô hình toán học biểu thị quan hệ phụ thuộc giữa Y và các
biến Xi; i =1 k người ta sử dụng phương pháp phân tích hồi quy thực nghiệm và
thiết kế thí nghiệm
Phân tích hồi quy là phương pháp để tìm, theo các kết quả thí nghiệm, mối
quan hệ giữa đặc trưng ra của quá trình với các yếu tố ảnh hưởng tới đặc trưng đó
Nhiệm vụ của phân tích hồi quy là lựa chọn dạng của hàm Y và đánh giá các hệ số
hồi quy Dạng của hàm phải đơn giản nhưng biểu diễn khá tốt sự phụ thuộc thực tế
và cần được kiểm tra chứng cứ sát thực trong quá trình phân tích
Thiết kế thí nghiệm là phương pháp phân tích lựa chọn phương án thí nghiệm
nhằm thu được bộ số liệu thực nghiệm biểu thị mối quan hệ giữa Y và bộ biến Xi;
i=1k, thể hiện bằng một mặt hồi quy mà dạng hình học của nó được biểu diễn bằng
phương trình hồi quy thực nghiệm Phương án thí nghiệm được thiết kế sao cho dễ
dàng sử dụng trong thực nghiệm, vừa đủ để tìm ra quy luật biến đổi của Y khi các
Xi ; i=1k thay đổi
Trong thiết kế thí nghiệm người ta chủ động cho các giá trị xác định của các biến
giải thích, và với mỗi “điểm” thí nghiệm xác định Xj1, Xj2, , Xji) đo được một giá trị
ngẫu nhiên của Yj của Y ở đầu ra Mọi thiết kế thí nghiệm thường được thực hiện
xung quanh một điểm đã quen thuộc với người làm thí nghiệm, chọn điểm này làm
tâm thí nghiệm và bố trí các điểm thí nghiệm xung quanh tâm sao cho các giá trị Y
thu được khác nhau một cách rõ ràng, mà chỉ cần ít điểm thí nghiệm đủ để điều tiết
các tham số của phương trình hồi quy Thực hiện một số điểm thí nghiệm tại tâm
nhằm đánh giá chất lượng của hồi quy.Tăng số thí nghiệm tại tâm nhằm đánh giá tốt
hơn mức độ phù hợp của mô hình hồi quy mà không làm tăng thêm bậc tự do
Vì mối quan hệ giữa Y và các biến Xi không được biết nên đây chỉ mô phỏng
một cách gần đúng bằng những hàm đơn giản nhất Thực tế nghiên cứu chỉ ra rằng,
Trang 34dù quan hệ giữa Y và các biến Xi phức tạp như thế nào thì ở lân cận mỗi điểm, hàm
gần đúng tìm được là một đa thức bậc nhất hoặc bậc hai
Từ phương trình hồi quy xây dựng được, tiến hành phân tích kết quả dựa vào
các tính chất giải tích hay hình học của hàm số Chẳng hạn, căn cứ vào các hằng số
chứa trong hàm số; các đạo hàm riêng chỉ ra tốc độ tăng giảm của Y theo từng biến
Xi ; ảnh hưởng của các biến tương tác lên Y; xác định cực trị của hàm Trong phân
tích kết quả thí nghiệm, người ta quan tâm trước hết đến hiệu quả tương tác bậc
nhất của các yếu tố sau đó đến các tương tác bậc hai trong phương trình hồi quy
Nếu các điểm chọn làm thí nghiệm có một tâm đối xứng ta có phương án cấu
X X
j = 1:k (1.2)
là khoảng biến thiên của các yếu tố X jtính từ mức cơ sở
Để việc tính toán được dễ dàng, người ta chuyển từ hệ trục tự nhiên X1,
k
X sang hệ trục không thứ nguyên ( hệ mã hoá) Việc mã hoá thực hiện được dễ
dàng nhờ chọn tâm của miền được nghiên cứu làm gốc hệ trục toạ độ
j = 1:k (1.3) Trong hệ trục không thứ nguyên ta có mức trên là 1, mức dưới là -1 Toạ độ
của tâm phương án bằng không( 0 ), trùng với gốc hệ trục toạ độ [4], [5]
Trang 35TÓM TẮT TỔNG QUAN
Qua phần tổng quan về đặc điểm cấu tạo, tính chất và phạm vi ứng dụng của
vải dệt kim, công nghệ liên quan đến việc sản xuất mặt hàng vải dệt kim như kim,
chỉ, vật liệu, thiết bị, tốc độ từ đó có thể rút ra một số kết luận sau:
1 Sản phẩm làm từ vải dệt kim là mặt hàng được sử dụng rộng rãi không chỉ
trong lĩnh vực may mặc mà còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác Quá trình
may các sản phẩm từ vải dệt kim gặp phải một số hiện tượng vải bị biến dạng sau
may sản phẩm bị vặn xoắn không đẹp về ngoại quan, làm giảm tính thẩm mỹ của
sản phẩm làm giảm giá trị của sản phẩm
2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới biến dạng vải dệt kim phải kể đến
trước hết là các yếu tố về vật liệu, các yếu tố về thiết bị, yếu tố công nghệ, và tay
nghề của người công nhân
* Yếu tố về vật liệu:
Kết cấu của vải và tính chất của các xơ thành phần trong vải ảnh hưởng tới
tính ổn định của vải trong quá trình gia công Vải có kết cấu bền, lực liên kết giữa
các vòng sợi lớn thì tính ổn định kích thước sẽ tăng, vải được làm từ các loại xơ bền
thì kích thước sẽ ổn định hơn
* Yếu tố về thiết bị:
Mức độ biến dạng tại đường may trong quá trình may còn phụ thuộc vào tốc
độ máy ,loại kim, chi số kim, đầu mũi kim sử dụng, điều chỉnh độ co bai bằng cơ
cấu vi sai, lực nén chân vịt
* Yếu tố công nghệ:
- Mật độ mũi may: Khi tăng mật độ mũi may thì độ bền của đường may cũng
tăng Nhưng khi mật độ mũi may tăng thì lực kéo của chỉ trên vải càng nhiều thì
mức độ biến dạng tại vị trí đường may càng lớn và dẫn tới hiện tượng sản phẩm có
kích thước không đạt yêu cầu giảm giá trị sản phẩm
Trang 36- Ảnh hưởng của các yếu tố chỉ may đến biến dạng tại vị trí đường may là
do ma sát giữa kim, chỉ và vải trong quá trình tạo mũi may
* Yếu tố con người cũng làm biến dạng kích thước sản phẩm trong quá trình gia
công đặc biệt trong quá trình trải cắt và may, khâu hoàn tất là một yếu tố quan
trọng trong việc ổn định lại kích thước sản phẩm
3 Phương pháp nghiên cứu quy hoạch thực nghiệm thường được ứng dụng
trong nghiên cứu về công nghệ Phương pháp này hiệu quả về giá trị thời gian và
chi phí
4 Trong điều kiện thực tế ở Việt Nam vấn đề ảnh hưởng của các yếu tố vật
liệu, thiết bị đến biến dạng trên vải dệt kim còn ít được quan tâm nghiên cứu, ảnh
hưởng đến chất lượng của đường may và thẩm mỹ của sản phẩm Vì vậy hướng
nghiên cứu của luận văn là:
- Mặt hàng vải dệt kim rất đa dạng và phong phú Nhưng loại vải có mức độ
biến dạng lớn trong quá trình may và trong quá trình sử dụng là vải Single 100%
Cotton Những biến dạng ở các vị trí khác nhau dẫn đến hiện tượng co bai, lệch
vặn xoắn trên sản phẩm
- Nghiên cứu một số yếu tố về thiết bị ( độ vi sai, lực nén chân vịt ) và 3 loại
vải có mật độ, trọng lượng khác nhau ảnh hưởng đến mức độ biến dạng vải dệt kim
trong quá trình may
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu quy hoạch thực nghiệm để xây dựng
phương trình hồi quy thực nghiệm thể hiện tương quan giữa hai yếu tố độ vi sai, lực
nén chân vịt đến mức biến dạng của 3 loại vải dệt kim
Trang 37CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Nội dung nghiên cứu: “Nghiên cứu các yếu tố vật liệu và thiết bị
đến độ biến dạng vải dệt kim trong quá trình gia công”
Biến dạng đường may là sự thay đổi kích thước trên vải tại vị trí đường may
trước và sau khi may Nếu sau khi may mà kích thước lớn hơn trước khi may thì vải
bị giãn, nếu kích thước nhỏ hơn trước khi may thì vải bị co
Nguyên nhân gây biến dạng tại vị trí đường may rất nhiều như vật liệu, các
yếu tố về thiết bị, công nghệ Tuy nhiên, để nghiên cứu hết tất cả các yếu tố trên đòi
hỏi phải quy mô lớn Do thời gian có hạn, nên trong bản luận văn này chỉ nghiên
cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố về vật liệu, thiết bị thực hiện trên máy may MF –
7723D với đường may 401 đến biến dạng tại vị trí đường may của sản phẩm dệt
kim, cụ thể trong bản luận văn này nghiên cứu:
Tên đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng vật liệu và thiết bị đến biến dạng vải dệt kim
trong quá trình gia công”
Nội dung trong nghiên cứu bao gồm:
- Nghiên cứu độ biến dạng đường may khi gia công trên 3 loại vải Single Ne
30/1 cotton (CK) với sự thay đổi của hai yếu tố độ vi sai và lực ép chân vịt
- Bằng phương pháp thực nghiệm xác định mỗi quan hệ và mức độ ảnh
hưởng của từng yếu tố đến biến dạng đường may
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến độ biến dạng của vải Xác định các
thông số tối ưu nhằm giảm tối đa sự biến dạng đường may trong quá trình gia công
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
a - Đường may mũi xích 401
Trong gia công sản phẩm dệt kim thì đường may mũi xích 401 là một đường
may thông dụng Đường may mũi xích 401 có thể dùng để may mọi dạng vật liệu,
Trang 38nhưng thường dùng cho vải dệt kim để may chần diễu gấu quần, gấu áo, cổ áo, gấu
tay và dùng để lắp ráp các chi tiết thân áo
Đường may mũi xích có cấu tạo gồm vòng chỉ kim và vòng chỉ móc đan lại
với nhau ( hình 2.1) Phần trên của đường may mũi xích không khác gì đường may
mũi thoi song phía dưới được cấu tạo từ một dãy các vòng xích Sự đan chỉ trong
đường may mũi xích nằm dưới mặt vật liệu
Hình 2.1: Đường may móc xích 1 kim 2 chỉ (401)
b - Vật liệu nghiên cứu
- Vải:
Trong thực tế mật độ sợi của vải dệt kim ảnh hưởng rất nhiều đến biến dạng
tại đường may Theo yêu cầu nghiên cứu, dựa trên thực tế các loại vải đang được
sử dụng để may mặt hàng áo T- Shirt , Polo -Shirt, đề tài đã chọn ba mẫu vải Single
để nghiên cứu Đây là loại vải có lỗi biến dạng vải rõ dệt nhất trong các loại vải dệt
kim khi may đã khảo sát thấy ở một số công ty may
Ba mẫu vải có thành phần nguyên liệu (100% cotton), kiểu dệt, chi số sợi
giống nhau, mật độ sợi là khác nhau, khối lượng của vải khác nhau được sản xuất
tại công ty Dệt May Hà Nội được trình bày ở hình 2.2; hình 2.3; hình 2.4
Các thông số của mẫu vải được xác định trước khi nghiên cứu được trình bày trong
bảng 2.1
Trang 39Bảng 2.1 Các thông số của mẫu vải
kỹ
100% cotton chải kỹ
100% cotton chải kỹ
Mẫu vải nghiên cứu
Hình 2.2 Mẫu vải 1 Hình 2.3 Mẫu vải 2
Trang 40- Chỉ:
Việc lựa chọn chỉ cần phải tương thích với loại vải may Với vải dệt kim có
đặc tính là biến dạng nhiều tại vị trí đường may thì việc lựa chọn chỉ thích hợp cũng
là yếu tố nhằm giảm các biến dạng của đường may
Hiện nay tại các nhà may ở phía Bắc, để may sản phẩm dệt kim với chất liệu
khác nhau đều dùng chỉ 100% polyeste Do đó chọn chất liệu chỉ may 100%
polyeste Loại chỉ dùng là chỉ Tiger của nhà máy chỉ Total Phong Phú để thí nghiệm
(Hình 2.5)
Các thông số kỹ thuật của chỉ
+ Độ bền tương đối 26CN/tex
+ Độ bền vòng sợi: 18CN/tex
+ Môđun tại độ giãn 1%: 3N/tex
+ Độ giãn đứt: 6 - 8%
+ Chi số chỉ 60/3
+ Hướng xoắn : Z Hình 2.5 Mẫu chỉ
Với loại chỉ nêu ở trên là loại chỉ được sử dụng rộng rãi nhất vì nó cho kết
quả tốt trong việc hạn chế các biến dạng trên đường may Với hướng xoắn Z chỉ
không bị tởi xoắn trong quá trình may cũng làm giảm các tác dụng của chỉ lên vải
2.1.3 Xác định chiều dài vòng sợi trong vải dệt kim
Chiều dài vòng sợi trong vải dệt kim được xác định dựa theo tiêu chuẩn
n L
l v x (2.1)