Các nghiên cứu [ 2,3] nghiên cứu ảnh hưởng của các đặc trưng cơ học đo trên hệ thống KESF với hệ số rủ đo trên máy đo Cusick nhưng lại thực hiện trên nhiều loại vải dệt thoi đã hoàn tất,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC TRƯNG
CƠ HỌC ĐẾN ĐỘ RỦ CỦA VẢI COTTON 100%
DÙNG ĐỂ MAY ÁO SƠMI
Ngành : CÔNG NGHỆ DỆT MAY
Mã số :
Người thực hiện : Hà Thị Hiền
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Minh Tuấn
HÀ NỘI, 2008
Trang 2Lời cảm ơn I Mục lục II Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt IV Danh mục các bảng V Danh mục các hình vẽ, đồ thị VI
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 – NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 3
1.1 Các đặc trưng cơ học vải 4
1.1.1 Khái quát chung……….4
1.1.2 Xác định các đặc trưng cơ học vải……… 11
1.2 Độ rủ vải 16
1.2.1 Khái niệm độ rủ vải……….16
1.2.2 Các phương pháp xác định độ rủ vải……… 17
1.3 Ảnh hưởng của các đặc trưng cơ học đến độ rủ vải 21
1.4 Kết luận chương 1 31
Chương 2 - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 38
2.3 Phương pháp nghiên cứu 38
2.3.1 Thực nghiệm xác định các đặc trưng cơ học vải……….39
2.3.2 Thực nghiệm xác định hệ số rủ của vải……… 46
2.3.3 Xử lý số liệu với các phần mềm trợ giúp: ……… 48
Trang 33.1 Ảnh hưởng của các đặc trưng kéo giãn đến độ rủ vải 51
3.2 Ảnh hưởng của các đặc trưng trượt giãn đến độ rủ vải 55
3.3 Ảnh hưởng của các đặc trưng uốn đến độ rủ vải 59
3.4 Ảnh hưởng của các đặc trưng nén đến độ rủ vải 63
3.5 Ảnh hưởng của các đặc trưng bề mặt đến độ rủ vải 66
3.6 Đánh giá tổng quan độ rủ của các mẫu vải thí nghiệm theo các đặc trưng cơ học 69
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
TÓM TẮT LUẬN VĂN 83
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Đã qua lâu rồi cái thời “ăn chắc mặc bền”, cuộc sống khó khăn, các
bà các chị khi lựa manh áo tấm quần cho chồng cho con phải đắn đo suy
nghĩ sao cho bộ quần áo ấy mặc được lâu, được bền Đất nước trong thời
kỳ phát triển, nền kinh tế thị trường len lỏi vào trong mọi ngõ ngách của
cuộc sống đem lại sự thịnh vượng ấm no cho mọi gia đình Cuộc sống
khá giả, con người lại muốn “ăn ngon mặc đẹp” Cái mặc bây giờ không
chỉ làm nhiệm vụ che mưa che nắng, mà phải đem lại vẻ đẹp hợp thời
trang cho người mặc nó Chính điều đó cũng tác động không nhỏ đến sự
lựa chọn trang phục và lựa chọn vải để may trang phục của mỗi người
Chất liệu, màu sắc, kiểu dáng là những yếu tố quan trọng trong đó độ rủ
đóng vai trò không nhỏ bởi ảnh hưởng của nó đến tính thẩm mỹ của sản
phẩm may
Để chọn đúng loại vải người ta thường phải dựa vào kinh nghiệm
của những nhà kinh doanh vải hay kiến thức chuyên môn của các chuyên
gia trong lĩnh vực may mặc, nên sự lựa chọn mang tính chủ quan và đôi
khi không chính xác Kể từ khi phương pháp đánh giá chất lượng vải
bằng tay của giáo sư Kawabata ra đời đã góp phần giải quyết khó khăn
trên Phương pháp Kawabata đánh giá vải dựa trên kinh nghiệm của
hàng ngàn chuyên gia trong lĩnh vực may mặc kết hợp với việc đo các
đặc trưng cơ học trên máy, so sánh với ngân hàng mẫu chuẩn sẽ cho ta
biết thực tế là vải thử nghiệm có những tính chất phù hợp với mục đích
sử dụng hay không Như vậy đã có sự chuyển đổi từ đánh giá chủ quan
sang đánh giá khách quan với kết quả đáng tin cậy Tuy nhiên phương
pháp này hiện nay chưa được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam
Chỉ từ độ rủ, người ta có thể dự báo chính xác hình dạng trang phục
sau khi may xong Điều đó sẽ giúp ích rất nhiều trong công việc lựa chọn
Trang 5đúng loại vải với độ rủ phù hợp cho những mẫu thiết kế của các nhà thiết
kế thời trang Xác định độ rủ của vải là một việc mang tính định lượng,
hình dạng rủ không ổn định thường xuyên thay đổi bởi các yếu tố nội và
ngoại lực, trong đó có các đặc trưng cơ học Nghiên cứu các đặc trưng cơ
học trên hệ thống KESF và hệ số rủ đo trên máy đo độ rủ bằng phương
pháp quang học ta sẽ tìm được mối tương quan giữa các thông số này
Kết quả được phân tích và bàn luận cho thấy các đặc trưng cơ học ảnh
hưởng đến độ rủ như thế nào để từ đó có chế độ gia công cũng như sử
dụng hợp lý, bảo đảm vật liệu dệt đạt chất lượng sử dụng cao nhất và sự
lựa chọn là hợp lý nhất phù hợp với yêu cầu sử dụng
Một loạt nghiên cứu mối tương quan giữa các đặc trưng cơ học và
độ rủ của vải đã được báo cáo Các nghiên cứu [ 2,3] nghiên cứu ảnh
hưởng của các đặc trưng cơ học đo trên hệ thống KESF với hệ số rủ đo
trên máy đo Cusick nhưng lại thực hiện trên nhiều loại vải dệt thoi đã
hoàn tất, chưa thực hiện trên loại vải cụ thể nên thiếu tính ứng dụng
trong cuộc sống
Do đó đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng các đặc trưng cơ học đến
độ rủ vải cotton 100% dùng để may áo sơmi” sẽ cho những kết quả về
ảnh hưởng của các đặc trưng cơ học đến độ rủ của một loại vải cụ thể là
vải cotton 100% dùng để may áo sơmi, từ đó dự báo được ứng xử của
vải và hình dạng sản phẩm sau khi may xong và góp phần xây dựng một
hệ thống tiêu chuẩn lựa chọn vải cotton 100% phù hợp với hình dạng,
mẫu mã thiết kế
Trang 6Chương 1 Nghiên cứu tổng quan
Trang 71.1 Các đặc trưng cơ học vải
1.1.1 Khái quát:
Trong quá trình gia công, sử dụng cũng như bảo quản, vải và sản
phẩm may từ vải chịu nhiều tác động cơ học khác nhau Lực tác động lên
vải có thể theo nhiều hướng, diễn biến trong khoảng thời gian với cường
độ và số lần tác dụng khác nhau nên xảy ra nhiều kiểu biến dạng như
biến dạng uốn, biến dạng nén, biến dạng trượt … làm cho vải bị giảm độ
bền hoặc phá huỷ mẫu Khả năng chống lại những tác động này của vải
được thể hiện thông qua các đặc trưng cơ học
Các đặc trưng kéo giãn vải thường được xác định với phép thử
nửa chu trình, một chu trình và nhiều chu trình Các đặc trưng uốn, nhàu,
nén, rủ, xoắn của vải được xác định với các thực nghiệm nửa chu trình
hoặc một chu trình
Đặc trưng kéo giãn:
Kéo giãn nửa chu trình phá huỷ mẫu cho phép xác định độ bền đứt
(Pđ), độ giãn của vải và đường cong biểu diễn mối quan hệ giữa lực kéo
đứt và độ giãn của băng vải
Từ đó có thể xác định được độ bền đứt của vải (Pđ) Độ bền đứt của
vải so với độ bền đứt của 1 sợi vải nhân với số sợi trong vải thì độ bền
Hình 1-1: Các dạng mẫu và cách kẹp
Trang 8đứt của băng vải là lớn hơn Mức độ lớn hơn này gọi là hệ số tăng bền
của sợi trong vải và phụ thuộc rất nhiều vào kiểu dệt vải
– Độ bền xé của vải là lực làm cho vải bị xé khi cắt dọc theo mẫu
đến 6cm, kẹp chặt hai đầu vào hai hàm kẹp của máy và tiến hành kéo
Lực làm cho vải bị xé chính là lực xé vải
– Kéo giãn nửa chu trình không phá huỷ mẫu nhằm xem xét biến
dạng của vải khi cho trước một lực tác dụng thông qua chu vi ban đầu và
chu vi dưới tác dụng của tải trọng
Với chu vi ban đầu Co = 2B + 20
Co: chu vi ban đầu
B: bề rộng sản phẩm
20(mm): độ giãn ban đầu của sản phẩm móc lên trước
khi thử
Chu vi dưới tác dụng của lực tải trọng sẽ là: C = Co + 2.l
Với C: chu vi dưới tác dụng của lực tải trọng
l: là độ giãn của chi tiết khi tải trọng đạt đến 0,1kg
Co: chu vi ban đầu
– Kéo giãn một chu trình cho phép xác định thành phần biến dạng
của vải như biến dạng toàn phần, biến dạng đàn hồi nhanh, biến dạng
đàn hồi chậm, biến dạng dẻo của vải Khi có ngoại lực tác dụng, cả 3
thành phần biến dạng này bắt đầu phát triển nhưng với tốc độ riêng
Các thành phần biến dạng:
L
l o
dhn dhn =
ε
Trang 9Biến dạng dẻo x100
L
l o
d
d =ε Biến dạng toàn phần: εtp =εdhn +εdhc +εd
L o: chiều dài mẫu thử
Hay biến dạng toàn phần có thể tính theo công thức:
(%) 100
x L
L L
o
o c tp
−
= ε
Trong đó: Lc: chiều dài mẫu sau khi bị biến dạng
– Kéo giãn nhiều chu trình cho phép xác định số chu kỳ vật liệu chịu
đựng được cho đến khi bị phá huỷ Đó chính là độ bền mỏi của vật liệu
Đặc trưng trượt
Ngoài hướng dọc và hướng ngang, người ta còn thử kéo băng vải
theo hướng chéo để mô phỏng các chi tiết quần áo được cắt theo các
hướng đó
Băng vải bị kéo căng là do sợi bị kéo duỗi căng, hệ sợi này trượt
tương đối trong hệ sợi kia và làm thay đổi góc giao nhau giữa 2 hệ sợi
Càng gần với hướng chéo 45o, độ giãn của băng vải càng lớn Khi thử
các băng vải chéo, lực kéo tạo nên biến dạng trượt (biến dạng cắt) Biến
dạng này càng lớn khi hướng lực kéo chéo góc ít so với hướng sợi dọc
Trang 10do trở lực cắt bé thua trở lực kéo nên độ bền kéo trong các phép thử này
khá thấp, đặc biệt với băng chéo góc ít so với hướng sợi dọc
Đặc trưng uốn
Sản phẩm may thường có những chỗ vải bị uốn như cổ áo, cổ tay,
gấu áo hay các nếp gấp Phép thử uốn nửa chu trình cho phép xác định
mômen uốn của vải Uốn một chu trình được xem xét với các đặc trưng
độ cứng uốn, độ nhàu và độ rủ Độ cứng uốn là đại lượng thể hiện tính
kháng uốn, tức là chống lại sự biến đổi hình dạng của mẫu Muốn vải có
khả năng định hình và tạo dáng quần áo dễ dàng, cần độ cứng uốn thấp,
mặt khác muốn duy trì hình dạng lại cần độ cứng uốn cao
Độ cứng uốn qui ước Bq (µN.cm2) được tính theo công thức sau:
A: hệ số phụ thuộc độ võng tương đối f 0 = f/L và
được tính như sau:
2 0
3
39,
3 0 0
Với f 0: độ võng tương đối
f: độ mềm uốn của mẫu
L:chiều dài mẫu thử
Bq được xác định theo hướng sợi dọc và ngang
Đặc trưng nén
Biến dạng nén xuất hiện khi vải chịu lực tác dụng theo phương
vuông góc với bề mặt vải
Trang 11Độ bền nén thủng vải được xác định qua thí nghiệm nén thủng vải
dùng khí nén của Martens [1]: dùng mẫu vải hình tròn kẹp cùng một
màng cao su mỏng bên dưới để đảm bảo khí nén không lọt qua khe vải
Ở giữa màng cao su có một lỗ nhỏ đậy kín bên trên bằng một miếng cao
su tròn nhỏ khác Sau khi ép màng cao su làm mẫu phồng to cho đến khi
bị rách, không khí sẽ thoát qua lỗ nhỏ ra ngoài Tại thời điểm mẫu bị phá
huỷ người ta đo được áp suất phá hủy mẫu σn và chiều cao f của đới cầu
tạo bởi màng cao su và vải
H Sommer [1] đề nghị công thức tính lực tác dụng lên chu vi mẫu
bị ép theo công thức:
Pn = 0,5.σn.R Trong đó: R: bán kính của đới cầu (mm)
= với r: bán kính ban đầu của mẫu (cm)
Thay vào công thức trên ta tính được Pn = ( )
f
f r
Tính ma sát và đặc trưng bề mặt của vải có thể được xác định qua
nhiều cách thông qua việc xác định hệ số cản tiếp tuyến của vật liệu
Theo Kraghenski [1] hệ số cản tiếp tuyến được chia thành 4 nhóm theo
đặc điểm trượt của bề mặt
• Nhóm 1: Sử dụng phương pháp mặt phẳng nghiêng cho các bề mặt
trượt theo 1 chiều Đặt con trượt có bọc vật liệu thử lên trên mặt phẳng
ngang Khi mặt phẳng nghiêng thì con trượt sẽ bị trượt, ta xác định được
góc α từ đó tính được hệ số cản tiếp tuyến f = tgα; với kích thước của bề
Trang 12mặt con trượt là 50 x 50 mm và khối lượng kể cả vải là 220g Có thể thử
vải theo cả hai hướng dọc và ngang
• Nhóm 2: Dùng một đĩa nằm ngang có thể quay với nhiều vận tốc
khác nhau Trên đĩa đặt con trượt bọc vật liệu và từ đây ta cũng có thể
xác định được hệ số cản tiếp tuyến
• Nhóm 3: Mẫu được gắn ở khung, khung được ép vào vành đĩa có
bọc vật liệu Quay đĩa đến khi vành trượt ra khỏi khung, xích tải trọng
lượng gắn liền với khung sẽ cho biết lực cản tiếp tuyến
• Nhóm 4: Cho băng vải vòng quanh một cái đĩa có thể quay được
Một đầu băng vải được lò xo giữ, đầu kia gắn vào quả nặng Có thể xác
định lực ở giữa hai nhánh của băng vải và theo công thức Euler tính hệ
số cản tiếp tuyến một cách gần đúng
Ảnh hưởng của các đặc trưng cơ học đến sản phẩm may
So với xơ, sợi, vải có cấu trúc phức tạp hơn khi phải qua nhiều
quá trình gia công để trở thành những sản phẩm đa dạng Các đặc trưng
cơ học vải ảnh hưởng nhiều đến độ tạo dáng, khả năng giữ hình dạng hay
chất lượng sản phẩm may Khi bị gấp hoặc bị vò, sản phẩm may chịu tác
động của lực kéo, nén kết hợp với uốn Các thành phần biến dạng phục
hồi chậm hay không phục hồi trong vải sẽ để lại những nếp nhăn làm cho
vải bị nhàu Độ nhàu làm xấu bề mặt vải, làm sản phẩm chóng bị hao
mòn do ma sát tại các nếp nhăn, giảm giá trị sử sụng cũng như tính thẩm
mỹ của sản phẩm Hay trong quá trình giặt giũ, ngoài tác dụng của chất
tẩy rửa sản phẩm may còn phải chịu tác dụng của lực cơ học khi vò giũ,
cọ sát dẫn đến độ bền giảm, màu sắc giảm dần vẻ tươi sáng, ảnh hưởng
đến dáng vẻ bề ngoài của sản phẩm Hoặc các đặc trưng cơ học của vải
cũng ảnh hưởng đến một trong những yếu tố làm giảm chất lượng sản
Trang 13phẩm may đó là nhăn đường may Nhăn đường may là một lỗi rất thường
gặp, đặc biệt là khi may với vải nhẹ Các nghiên cứu đã xác định rõ ràng
nếu loại trừ các yếu tố gây nhăn do thiết bị, các thông số công nghệ may
thì nhăn đường may là do tương tác giữa chỉ may và vải Vải với các đặc
tính khác nhau sẽ ứng xử khác nhau dưới tác động trong và sau quá trình
hình thành đường may, vì vậy nhăn đường may gây ra bởi các đặc tính
của vải cũng khác nhau Điều kiện kiểm soát sự xuất hiện hay không
xuất hiện của nhăn đường may phụ thuộc vào tương quan độ lớn của các
đặc trưng uốn của vải và chỉ Trong mỗi mũi may, sức căng của chỉ tác
động lên vải làm uốn và nén vải Nếu vải chịu nén các sợi chỉ có thể co
lại mà không gây nhăn Nếu vải bị ép chặt cấu trúc, tính cứng của vải và
chỉ sẽ kiểm soát sự xuất hiện của nhăn Đánh giá được ảnh hưởng của
các đặc tính vải lên nhăn đường may thì có thể dự báo được ứng xử của
vải khi hình thành các đường may trên sản phẩm Từ đó cho phép lựa
chọn các loại vải thích hợp vói yêu cầu đường may Hơn nữa xác định
tương quan giữa nhăn đường may và các đặc trưng của vải là rất quan
trọng để hiểu rõ hơn về các nguyên nhân gây nhăn
Như vậy để nghiên cứu kỹ tính chất cơ học từ đó có chế độ gia
công và sử dụng hợp lý thì cần nhiều đặc trưng cơ học hơn với nhiều
phương pháp thực hiện tác dụng cơ học: phép thử nửa chu trình, một chu
trình và nhiều chu trình Tuy nhiên, kết quả nhận được từ mẫu bị phá huỷ
hay không bị phá huỷ, điều đó đã không đánh giá đúng các tính chất sử
dụng của vải Hơn nữa, số lượng các đặc trưng cơ học cần thử nghiệm là
khá nhiều làm cho quá trình thử nghiệm phức tạp với chi phí khá cao
1.1.2 Xác định các đặc trưng cơ học vải
1.1.2.1 Tiêu chuẩn và thiết bị xác định các đặc trưng cơ học vải
Trang 14Các đặc trưng cơ học vải thường được xác định theo các tiêu chuẩn sau:
• Phương pháp lấy mẫu vải dệt thoi để thử theo tiêu chuẩn TCVN
• Độ bền nén thủng xác định theo tiêu chuẩn TCVN 5796 – 94 và
tiêu chuẩn ASTMD 3787 - 89
• GOST 7982 – 61: Phương pháp xác định độ nhàu của vải
• GOST 8495 – 57: Phương pháp xác định lực cản và hệ số cản tiếp
tuyến cho vải trong phép đo ma sát và độ bám bề mặt
• Độ bền xé được thực hiện trên thiết bị ELMATEAR
• Độ bền nén thủng và độ bền đứt thực hiện trên thiết bị
TESTOMETRIC
Các tiêu chuẩn và thiết bị trên thường được sử dụng trong các trường
hợp nghiên cứu riêng rẽ từng đặc tính cơ học ở các vùng ứng suất khác
nhau tùy theo mục tiêu của từng nghiên cứu
1.1.2.2 Xác định các đặc trưng cơ học của vải trên hệ thống KESF
Hệ thống thiết bị thí nghiệm KESF được giáo sư Kawabata đề
xuất, thiết kế và chế tạo cho phép xác định các đặc trưng cơ học vải
thuộc 6 nhóm tính chất cơ bản của vải như độ giãn, độ trượt, độ nén và
các tính chất bề mặt …với 16 thông số Ban đầu hệ thống này được ứng
dụng để xác định các đặc trưng cơ học của vải nhằm mục đích đánh giá
cảm giác tay một cách khách quan Sau đó, hệ thống này được sử dụng
Trang 15rộng rãi như một công cụ để xác định các đặc trưng cơ học vải nhằm
thực hiện các nghiên cứu khác cũng như hệ thống FAST (Fabric
Assurance By Simple Testing) do phù hợp với mục đích, điều kiện sử
dụng, chi phí thử nghiệm thấp nhưng vẫn mô tả hết các đặc trưng cơ học
của vải
KESF bao gồm 4 thiết bị thí nghiệm kèm theo hệ thống điều
khiển đo và ghi lại dữ liệu dưới dạng số hóa và đồ thị
• Thiết bị KES – FB1 đo độ giãn và trượt
• Thiết bị KES – FB2 đo độ uốn
• Thiết bị KES – FB3 đo độ nén
• Thiết bị KES – FB4 đo ma sát và độ gồ ghề của bề mặt vải
a Đặc trưng kéo giãn:
Mẫu đo có kích thước 20 x 20 cm Vùng đo độ giãn là 20 x 5cm
Tiến hành 3 phép đo theo chiều dọc, 3 phép đo theo chiều ngang
Kéo giãn mẫu với tốc độ không đổi 4.10-3/s cho đến khi đạt lực
kéo 500cN/cm trên bề rộng mẫu
Mẫu được đo trên thiết bị KES - FB1 và được giữ bằng 2 kẹp cách
nhau 5cm, độ rộng vùng kéo giãn là 20cm Kẹp phía sau cố định còn kẹp
phía trước di chuyển về phía trước với tốc độ là 0,2mm/sec Giá trị của
các tham số và đồ thị quan hệ giữa lựa kéo F (gf/cm) và độ giãn EM (%)
được ghi lại bởi phần mềm ghi dữ liệu của hệ thống và phép in ra trên
Trang 16Tốc độ cắt v = 0,478o/s Góc cắt θ = + 8o Æ θ = - 8o Kết quả xác định được 3 thông số 2HG (cN/cm) là độ trễ của lực
trượt tại góc 0,5o; 2HG5 (cN/cm) là độ trễ của lực trượt tại góc 5o và G
(cN/cm.độ) là độ cứng trượt
c Đặc trưng uốn
Các đặc trưng uốn được đo trên máy thí nghiệm KES – FB2
Mẫu có kích thước 1 x 20cm cho cả hướng sợi dọc và hướng sợi
ngang
Gọi 1/K là bán kính của đường cong Thay đổi bán kính đường
cong này vói K= -2,5 cm-1 đến K = 2,5 cm-1 với tốc độ 0,05 cm-1/s
Kết quả thu được B (g.cm2/cm) là độ cứng uốn và 2HB là độ trễ uốn
d Đặc trưng nén
Sử dụng máy thí nghiệm KES – FB3 để đo các đặc trưng nén của
vải Mẫu có kích thước 2,5 x 2,5 cm
Ép mẫu bởi một tấm áp lực thực hiện chuyển động thẳng đứng với
tốc độ 20mm/s trên diện tích tròn 2 cm2 đến khi đạt lực nén là 50kPa
(1Pa = 1N/m2) Các giá trị WC, WC’ thu được trực tiếp từ bộ tích phân
của máy
e Trạng thái bề mặt
Mẫu được đo trên máy thí nghiệm KES – FB4 với kích thước
vùng đo là 5 x 2cm
Mẫu thực hiện một dịch chuyển thẳng sau đó vòng lại bằng cách
trượt lên bàn đo nằm ngang Biên độ của chuyển động là 2 cm và tốc độ
0,1cm/s
Trang 17Áp lực đặt sức căng không đổi 20gf/cm lên trên vải
Tiến hành thử theo cả 2 mặt phải, mặt trái, chiều dọc và chiều
ngang vải, ta xác định được 2 đặc trưng hệ số ma sát và độ nhám bề mặt
(độ gồ ghề bề mặt)
Để xác định hệ số ma sát, sử dụng đầu đo gần giống với bề mặt
của ngón tay Bộ kiểm tra gồm 10 đầu ф = 0,5 mm với lực tác dụng 50gf
trên mẫu
Trạng thái độ nhám được xác định nhờ 1 đầu đo duy nhất với lực
tác dụng là 10gf
Trang 18Các thông số biểu thị độ giãn, độ chịu nén, độ trượt, độ uốn, ma
sát và tính chất gồ ghề bề mặt vải như sau:
Bảng 1-1: Các thông số đặc trưng cơ học vải
Ghi chú: * là đại lượng không thứ nguyên
Hạng mục Kí hiệu Chỉ tiêu Đơn vị
Trang 191.1.2.3 Xác định các đặc trưng cơ học vải trên hệ thống FAST
1.2 Độ rủ của vải
Độ rủ của vải là một trong những đặc tính quan trọng cần quan tâm
khi lựa chọn vải sản xuất hàng may mặc công nghiệp do ảnh hưởng của
nó lên dáng vẻ bề ngoài của sản phẩm Độ rủ góp phần điều chỉnh khả
năng tạo dáng của sản phẩm may theo cơ thể người Một sản phẩm may
mặc tùy mục đích sử dụng sẽ cần lựa chọn vải với độ rủ khác nhau như
trang phục vest có độ rủ ít hơn áo sơmi Áo kiểu nữ, váy, áo đầm … thì
cần có độ rủ cao ngược lại với những bộ đầm thời trang trẻ bó sát người
thì lại cần độ rủ thấp Đối với trang phục có độ rủ cao như áo đầm dạ
hội thì khi tiếp xúc với cơ thể sẽ chỉ tiếp xúc ở một số vị trí nhất định,
phần còn lại sẽ rủ xuống một cách duyên dáng tạo nên hiệu ứng cần thiết
và có tính biểu cảm theo yêu cầu của mẫu trang phục và đối tượng mặc
Những trang phục như dành cho nam giới cần có độ rủ thấp để tạo cho
người mặc vẻ đẹp mạnh mẽ khỏe khoắn nhưng không kém phần thanh
lịch, sang trọng Điều đó đã cho thấy độ rủ của vải là một trong những
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ và chức năng của trang
phục, tạo nên sự khác biệt giữa vải và các nguyên liệu dạng tấm khác
Vải có thể rủ theo nhiều hướng và nhiều cách khác nhau, tạo ra
những nếp gấp khác nhau, tùy thuộc vào thành phần xơ, loại sợi, cấu trúc
vải và hình thức hoàn tất cũng như những tính chất đặc trưng riêng của
từng loại nguyên liệu (xơ, sợi) cấu tạo nên vải
1.2.1 Khái niệm độ rủ của vải:
Năm 1950, C.C.Chy [2] và một số nhà nghiên cứu khác định nghĩa
độ rủ và khả năng rủ Đây là những thuật ngữ nói về tính chất của vật
Trang 20liệu dệt, những tính chất làm cho vải tự định hướng ở dạng nếp gấp khi
bị tác động bởi trọng lực Vì thế, vải được cho là có chất lượng rủ tốt khi
mà hình dạng của nó trông vừa mắt
Năm 1956 G E Cusick [3] định nghĩa độ rủ vải là sự mô tả sự biến
dạng của vải dưới tác dụng của trọng lực khi chỉ một phần của tấm vải
được treo lên
Theo IS-8357/1977 thì độ rủ vải là sự biến dạng dưới sức nặng của
chính tấm vải đó khi được treo lên Khi treo tấm vải lên, do trọng lượng
bản thân, vải sẽ hình thành những nếp lượn tròn bền và đẹp, người ta nói
vải có độ rủ Tính chất này phụ thuộc độ cứng uốn, hay đúng hơn là độ
mềm uốn theo nhiều hướng khác nhau
Theo BS-5058/1973 [4], độ rủ vải được định nghĩa là phần trăm
của tổng diện tích tấm vải hình vành khuyên thu được bằng cách chiếu
thẳng đứng bóng của mẫu vải đo độ rủ
Theo BS-8357/1977, độ rủ vải là diện tích được che phủ bởi bóng
của mẫu rủ, thể hiện qua phần trăm diện tích của tấm vải hình vành
khuyên tròn
1.2.2 Các phương pháp xác định độ rủ vải
a Đo độ rủ theo hai hướng sợi dọc và sợi ngang [1]
Theo V.Ia Evdokimow và A.K Bukharova, lấy mẫu vải kích thước
40 x 20cm đánh dấu các điểm 1, 2, 3, 4 ở các khoảng đã ghi trên hình
Dùng kim 5 đâm xuyên qua vải tại các điểm đó sao cho miếng vải gấp
làm 3 và sau đó treo nó lên cho rủ tự do trên giá có ép chặt bằng hai nút
6 và 7 (hình 1-2) Sau 3 phút, đo kích thước A
Hệ số rủ của vải tính theo công thức:
Trang 21b Xác định độ rủ theo phương pháp dùng đĩa
Cắt mẫu vải hình tròn 1 có đường kính D và đặt trên đĩa 2 có
đường kính d rồi đặt lên trên một cái đĩa nhỏ 3 khác để giữ mẫu Đĩa 2
nằm trên trụ 4 (hình 1-3a) Khi đó miếng vải sẽ rủ xuống và tạo nên một
bóng có nếp lượn trên nền 5 Nếu trên nền ta đặt mảnh giấy 6 và chiếu
chùm tia sáng thẳng đứng từ trên xuống, ta sẽ chép được đường viền của
bóng (hình 1-3 b,c,d) Vải cứng hay mềm sẽ có các dạng bóng hoàn toàn
khác nhau Vải cứng (độ rủ ít) có các bóng như hình 1- 3b, c Vải mềm
Trang 22Hệ số rủ của vải được tính theo công thức sau:
Với S: diện tích của mẫu (mm2) được đo sau 3 phút kẹp mẫu
D: đường kính mẫu vải
Nếu A, B là kích thước hình chiếu theo hướng sợi ngang và theo hướng
sợi dọc thì tỷ số X0 =
A
Bsẽ thể hiện vải rủ tốt theo hướng nào
Khi: X0 ≥ 1,1 vải sẽ rủ hơn theo hướng ngang
X0 ≤ 0,95 vải sẽ rủ hơn theo hướng dọc
0,95 ≤ X0 ≤ 1,1 vải có độ rủ theo 2 hướng là như nhau
Các kích thước đề nghị áp dụng D = 15cm cho tơ lụa và D = 20cm
cho các loại vải khác, d = 5cm cho vải len, tơ tằm và d = 8cm cho vải
cotton Nhược điểm của phương pháp này là khó tạo nên chùm tia sáng
chiếu thẳng đứng từ trên xuống và khó xác định diện tích bóng
c Phương pháp Cantilever
Năm 1930 Pierce [5] đã giới thiệu “Phương pháp Cantilever” để
đo độ cứng của vải Ban đầu việc đo độ cứng theo kích thước được sử
dụng để đánh giá độ rủ của vải Để giải quyết những hạn chế trong việc
Hình 1-3: Đo độ rủ của vải theo phương pháp dùng đĩa
π ) x 100 [%]
Trang 23ước tính về độ rủ của vải thông qua việc đo độ cứng bằng kích thước,
các nhà nghiên cứu ở phòng thí nghiệm nghiên cứu về vải đã phát triển
máy đo độ rủ của vải F.R.L Sau đó thì Cusick (1968) đã phát triển máy
đo độ rủ của vải theo nguyên lý tương tự, để đo độ rủ của vải Chu và
cộng sự cùng Cusick đã có những đóng góp quan trọng trong việc xác
định độ rủ vải trong thực tế Hình 1-4 minh họa cho phương pháp thử
này
Công thức dưới đây được phát triển để đo độ cứng của vải:
3 1
3
tan
1 tan
θ Cos L C
Cos ML G
Trong đó:
G: độ cứng khi uốn
M: khối lượng vải trên mỗi đơn vị diện tích
θ: góc uốn vải
C: chiều dài uốn
L: chiều dài treo vải
Hình 1 - 4: Dụng cụ thử độ cứng Cantilever
Trang 24d Phương pháp vòng treo [6]
Nếu vải quá mềm, phương pháp Cantilever không cung cấp một
kết quả thỏa mãn Trong trường hợp này, phương pháp vòng treo được
dùng để đo độ cứng vải [6] Ba phương pháp vòng treo chính được minh
họa trong hình 1-5 Chiều dài treo (của) vòng L và chiều dài không bị
làm méo của vòng được dùng để xác định độ cứng
e Đo độ rủ vải theo phương pháp quang học trên máy đo độ rủ Cusick:
Thông thường, độ rủ được đo bằng máy Cusick cho ta hệ số rủ của
vải Hệ số này được định nghĩa là tỉ số giữa diện tích của phần hình tròn
thu được bằng phép chiếu thẳng đứng bóng của mẫu vải đo độ rủ với
tổng diện tích của vòng tròn, biểu diễn dạng % (hình 1-8) Để đo hệ số rủ
Hình 1-6: Máy đo độ rủ Cusick Hình 1-7: Hình dạng nếp gấp trên máy Cusick
Hình 1 – 5: Phương pháp vòng treo
Trang 25của vải, mẫu vải cắt hình tròn được đỡ nằm ngang bởi một dĩa bên trong
và bên ngoài miếng vải Trong suốt quá trình thí nghiệm, vải được đặt
giữa 2 dĩa và dĩa hình bên ngoài được hạ thấp dần dần trong khi dĩa bên
trong được giữ cố định để chỉ tạo ra một vòng tròn của vải bị làm rủ
xuống Điều này cho ta kết quả là độ biến dạng của vải tạo thành một
chuỗi gồm các nếp gấp liên tục được đỡ bởi một dĩa hình tròn
f Đo độ rủ vải dùng máy quét 3D [7]
Một phương pháp khác để đo độ rủ là dùng máy quét sử dụng ánh
sáng trắng Một mẫu vải hình tròn rủ xuống trên một dĩa tròn với khung
cố định đặt trong máy quét 3D Cấu tạo được mô tả trong hình 1-9 cho
thấy việc giữ mẫu vải trên dĩa cho phép mẫu vải rủ xuống giống như
nguyên lý máy đo Cusick Máy quét cần 12 giây để chụp lại dữ liệu bóng
của phần vải bị rủ xuống Phần dữ liệu này được xử lý bởi phần mềm
Hình 1-9: Cấu tạo máy đo độ rủ dùng máy quét
Trang 26GeomagicTM để tạo bề mặt 3D cho vật được quét Hệ số rủ của vải và các
tham số quan trọng khác đều có thể được rút ra từ phần mềm
GeomagicTM
Hình 1-10: Xử lý dữ liệu dạng đám mây
từ 2 lần quét trong phần mềm Geomagic
Máy quét sẽ chụp lại phần trước và phần sau của vật được quét một cách hiệu quả, và khi dùng để đo vật thể, thì nó sẽ ngoại suy các mặt của vật thể Vì vậy, trong việc chụp lại các nếp gấp của vải, rất khó có thể chụp được toàn bộ hình dạng của mẫu vải bị
rủ xuống với chỉ một lần quét Do
đó, 2 lần quét (lần sau xoay đi 900
so với lần đầu) được thực hiện để
có thể chụp được toàn bộ hình dạng của vải rủ xuống
GeomagicTM, hình ảnh các đám mây điểm được làm sạch để loại
bỏ những điểm ngoài không liên quan Sau đó những tấm ảnh chụp mỗi nếp gấp từ Oo rồi sang 90o(chụp bằng máy quét) được sáp nhập lại thành một tấm hình hoàn chỉnh Các máy quét xử lý sắp xếp chính xác các tấm ảnh và tạo ra một bề mặt hoàn chỉnh từ ảnh các đám mây điểm (hình 1-10) Mô hình 3D cuối cùng được tạo ra sẽ được dùng để rút ra các tham số về
độ rủ
Trang 27Hình 1-11: Các bước tính toán hệ số độ rủ của vải bằng máy quét và
xử lý bằng phần mềm Geomagic TM
Các bước liên quan đến quá trình tính toán hệ số rủ của vải từ một
ảnh quét đã qua xử lý được diễn tả trong hình 1-11 Trong hình 1-11a,
hình quét đã xử lý được chiếu lên một mặt phẳng song song Trong hình
1-11b, một lát mỏng của mặt cắt được cắt ra khỏi biên dạng Hình 1-11c
cho thấy chỉ có một lát cắt ngang Hình 1-11d,e cho thấy các diện tích
mà tỉ số của chúng nếu nhân với 100 thì cho ra hệ số rủ của vải Kích
thước nếp gấp cũng được chú ý đến Để kiểm tra lại hệ thống đo hệ số rủ
của vải bằng máy quét 3D, vài thí nghiệm so sánh phương pháp Cusick
Hệ số độ rủ của vải = 100
2
1 x A A
Trang 28với phương pháp sử dụng máy quét 3D đã được thực hiện Các kết quả
về phân tích thống kê cho thấy hệ số tương quan giữa 2 phương pháp xác
định độ rủ của vải là 0.984 Kết quả từ thí nghiệm so sánh cho thấy
không có sự khác biệt quan trọng nào giữa máy đo truyền thống Cusick
với phương pháp dùng máy quét 3D Điều này cho thấy giá trị độ rủ từ
phương pháp dùng máy quét 3D là đáng tin cậy khi so với phương pháp
đo của Cusick
Ý nghĩa phép đo hệ số rủ
Hệ số rủ là một đơn vị được dùng để xác định độ rủ của vải Đó là
một số đơn giản với đại lượng lý thuyết tối đa là 100 và tối thiểu là 0,
tính theo phần trăm Khi rủ, mẫu vải bị biến dạng theo đường cong đa
hướng vì thế kết quả sẽ phụ thuộc vào độ rắn chịu cắt của vải cũng như
độ rắn uốn cong
Việc đo độ rủ được thực hiện để nghiên cứu những ảnh hưởng về
hình học của vải, quá trình xử lý hóa học và hoàn tất đối với vải dệt thoi
và vải dệt kim, những chất lượng nhất định của vải không dệt Hệ số rủ
cũng có thể được dùng như một chỉ số để điều chỉnh các mẻ trong quy
trình sản xuất Việc đo hệ số rủ có ý nghĩa quan trọng trong công nghiệp
may mặc là nơi mà vải được chọn lựa dựa trên mục đích sử dụng cuối
cùng
1.3 Ảnh hưởng của các đặc trưng cơ học vải đến độ rủ vải
Độ rủ hay khả năng rủ của một loại vải có liên quan đến cách vải
rủ xuống, hình dáng, nếp gấp hay dưới tác dụng của trọng lực trên hình
dáng mô hình hay trên cơ thể người, cũng như trên đồ đạc hay màn treo
tường, khi chỉ một phần của nó chịu lực một cách trực tiếp Mỗi một loại
Trang 29vải rủ hay buông một cách khác nhau, nếp gấp tạo nên hình dạng 3 chiều
phức tạp với độ uốn cong gấp đôi
Trong những năm gần đây, độ rủ của vải thu hút sự chú ý của
nhiều nhà nghiên cứu vì nỗ lực để tạo nên một hệ thống CAD cho vải
bằng cách giới thiệu các đặc trưng nguyên liệu vải, trong đó độ rủ là yếu
tố cơ bản (Okabe và Akami [9], Collier [10], Kang [11], và Breen [12])
Từ nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng rủ và dự báo lý thuyết độ rủ là
rất phức tạp nên việc nhận biết những yếu tố chính đóng vai trò chi phối
đến khả năng rủ của vải là rất quan trọng
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hệ số rủ và các đặc trưng cơ học
đầu tiên là nghiên cứu cổ điển của Pierce [6] Dựa trên ảnh hưởng của độ
cứng đến khả năng rủ, một thiết bị được thiết kế để đo góc của mẫu vải
rơi xuống khi chiều dài xác định được đưa qua một cạnh Bằng các
phương trình toán học, góc này được chuyển sang “chiều dài uốn”, xác
định như chiều dài của vải sẽ uốn dưới tác dụng của trọng lượng chính
nó để xác định phạm vi Đây là một phép đo chất lượng rủ của một tấm
nguyên liệu
Chu và cộng sự [13] cùng Cusick [14] có đóng góp lớn cho thực
tế xác định các đặc trưng của vải bằng việc đo lường độ rủ theo 3 chiều
Dụng cụ đo độ rủ chuẩn hiện nay là kết quả nỗ lực của họ, trong đó hệ số
rủ cung cấp sự mô tả khách quan các biến dạng, mặc dù đó không phải là
một mô tả hoàn chỉnh Hệ số rủ thấp chỉ ra sự biến dạng dễ dàng của vải
Nói chung, độ rủ liên quan gần gũi với độ cứng Các vải rất cứng có hệ
số rủ đạt đến 100%, vải rất mềm có hệ số rủ là 0%, và hệ số rủ khoảng
30 % hay thấp hơn cho vải Rayon kiểu dệt thưa và khoảng 90% cho vải
cotton dệt vân điểm hồ tinh bột Vải không dệt cứng cho giá trị khoảng
95 %
Trang 30Chu và cộng sự trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến
độ rủ vải [15] đã tìm ra rằng khả năng rủ nói chung phụ thuộc vào 3
tham số cơ bản của vải: môđun Young Y, mômen quán tính của mặt cắt
ngang I, và khối lượng W Tác giả cũng đưa ra một phương trình mà hệ
số rủ = f (B/W) trong đó độ cứng uốn B = YI
Trong nghiên cứu của Cusick, tác giả đã đo hệ số rủ, chiều dài uốn
và độ cứng trượt (góc trượt tại điểm mà vải bắt đầu oằn, vải có độ cứng
uốn cao hơn oằn ở góc thấp hơn) Các đặc trưng cơ học khác như độ bền
kéo đứt không được xem xét trong nghiên cứu này Tác giả cũng tìm ra
hệ số rủ lý thuyết, khi bỏ qua độ cứng trượt, thì thấp hơn giá trị đo được
với đa phần vải thí nghiệm Cusick [7] cũng đã kết luận độ rủ vải quyết
định đến độ uốn cong nhiều hơn một hướng và biến dạng đó phụ thuộc
vào cả độ cứng trượt và chiều dài uốn Tác giả cũng thiết lập một
phương trình cho mối quan hệ giữa hệ số rủ với chiều dài uốn và góc
trượt
Niwa và Seto [16] nghiên cứu “Mối quan hệ giữa hệ số rủ và các
đặc trưng cơ học vải” Tác giả sử dụng sự kết hợp các tham số cơ học –
(B/W)1/3, (2HB/W)1/3, (G/W)1/3 và (2HG/W)1/3 – như các biến độc lập,
trong đó B, 2HB, W, G và 2 HG lần lượt là độ bền uốn, độ trễ uốn, khối
lượng trên mỗi đơn vị diện tích, độ cứng trượt và độ trễ trượt Đồng thời
tác giả cũng thu được những tham số kết hợp từ sự phân tích độ uốn của
vải theo phương pháp Cantilever với độ trễ uốn và trượt bằng việc áp
dụng lý thuyết đàn hồi chặt chẽ trong phương trình mô tả hệ số rủ gọi là
mô hình Niwa
Những nhà nghiên cứu khác góp phần cho lĩnh vực này bao gồm
Sudnik [17], Gaucher và cộng sự [18], Collier và cộng sự [19,20]
Sudnick [17] đã tương quan khả năng rủ của vải với chiều dài uốn, tác
Trang 31giả xác nhận sự quan trọng của chiều dài uốn trong việc dự báo độ rủ của
vải [21] và xác định độ bền trượt cũng là một yếu tố, mặc dù không quan
trọng bằng độ bền uốn Morooka và Niwa [16] tìm ra một phương trình
dự báo độ rủ của vải sử dụng những dữ liệu từ hệ thống KESF, và xác
nhận khối lượng vải và modun uốn là những yếu tố quan trọng nhất Tác
giả cũng kết luận độ bền trượt không là một yếu tố có ý nghĩa trong ứng
xử rủ của vải Tuy nhiên, nghiên cứu của Collier và cộng sự [22] cho
thấy đặc trưng trượt là đặc trưng dự báo có ý nghĩa quan trọng với độ rủ
vải hơn là đặc trưng uốn và độ trễ trượt, và độ trễ trượt đó liên hệ mật
thiết hơn với hệ số rủ
Hearle và Amirbayat [23] thực hiện nghiên cứu lý thuyết về bản
chất của đặc trưng rủ từ một nghiên cứu độ oằn phức tạp sử dụng tính
gần đúng khác Tác giả tìm ra dạng hình học của biến dạng có thể liên
quan đến 2 nhóm năng lượng không thứ nguyên, J1 và J2 liên quan đến
năng lượng uốn, bề mặt và thế năng được xác định bằng những tham số
UM:năng lượng sức căng bề mặt
UB: năng lượng biến dạng uốn
Trang 32Bằng những đặc trưng vật liệu
B
Yl J
2
B
Wl J
3
2 =
Trong đó:
B: độ cứng uốn
W: khối lượng vải
Y: mô đun bề mặt của vải
l: đặc trưng chiều dài xác định kích thước của vật liệu
Thực nghiệm cho thấy hệ số rủ không chỉ là hàm của J1 và J2, mà
còn bị ảnh hưởng bởi các tham số khác như tính không đẳng hướng biến
dạng bên trong và uốn trượt ra khỏi mặt phẳng
Collier [6] chỉ đo 6 tham số - độ cứng uốn, độ trễ uốn, độ cứng
trượt, độ trễ trượt tại 0,5o, độ trễ trượt tại 5o trên dụng cụ đo KESF, và độ
bền uốn trên dụng cụ Cantilever trong nghiên cứu “Phép đo độ rủ vải
và quan hệ của nó tới các đặc trưng cơ học vải và sự đánh giá chủ
quan” Collier cũng đo hệ số rủ bằng một dụng cụ tự thiết kế Kết quả
cho thấy:
– Những loại vải với hệ số rủ thấp thì có độ bền uốn và trượt thấp
– Độ cứng trượt tương quan với độ trễ trượt tại φ = 5o (r = 0,97;
p<0,0001) và mô đun uốn (r = 0,96; p < 0,0001)
Trang 33– Tương quan của độ trễ trượt tại φ= 5o với hệ số rủ chặt chẽ hơn
các giá trị trượt khác
Tác giả cũng sử dụng phân tích hồi qui đa bội để phân tích chính
xác mối quan hệ giữa hệ số rủ kết hợp từ mẫu 5” và 3” với các đặc trưng
cơ học Cả độ cứng uốn đo trên KESF và độ bền uốn đo theo phương
pháp Cantilever cũng như độ trễ trượt và độ dày, đều có ý nghĩa quan
trọng trong dự báo hệ số rủ Tuy nhiên độ trễ trượt có ý nghĩa quan trọng
hơn Kết luận này giống với kết luận của Collier ở nghiên cứu trước [5]
Nghiên cứu của Pierce [19] cho thấy chiều dài uốn từ phép thử
Cantilever là một phép đo của đặc trưng rủ Thực tế là chiều dài uốn hay
độ bền uốn chỉ cho thấy từng phần ứng xử rủ của vải từ rất nhiều loại
vải Kết luận của nghiên cứu sau này của Chu và cộng sự cũng giống
như của Pierce, bởi vì Yl là một số đo độ bền uốn từ quan điểm thuần cơ
học Những giả thuyết của Cusick và những phân tích kinh nghiệm cho
thấy độ trượt có liên quan đến hệ số rủ Tuy nhiên, nghiên cứu thực
nghiệm của Cusick lại chỉ liên quan đến uốn và trượt Nghiên cứu của
Hearle và Amibayat [23] cho thấy mối quan hệ giữa hệ số rủ và các đặc
trưng cơ học dường như phức tạp hơn, vì thế toàn bộ biến dạng uốn bên
trong và trượt ra khỏi mặt phẳng, hằng số đàn hồi ngang, và đặc biệt
đường đặc trưng không tuyến tính được đặt trên tính đẳng hướng có lẽ
cũng liên quan Thậm chí ngay ở trang thái này, chỉ duy nhất đặc trưng
đàn hồi của vải là bị hạn chế
Nghiên cứu của Collier [13] sử dụng hồi qui bội để phân tích sự
quan trọng của các đặc trưng cơ học khác nhau để dự báo hệ số rủ của
vải Điểm cần quan tâm trong nghiên cứu này là hiện tượng trễ trượt liên
hệ mật thiết với hệ số rủ hơn là độ cứng trượt Hơn nữa, một số kết quả
từ những nghiên cứu khác nhau lại mâu thuẫn với nhau, như nghiên cứu
Trang 34của Morooka và Niwa với nghiên cứu của Collier Điều đó là do những
loại vải được sử dụng trong 2 nghiên cứu là hoàn toàn khác nhau
Qua các nghiên cứu, có thể thấy đặc tính cơ học vải rõ ràng có ảnh
hưởng đến độ rủ của vải Tuy nhiên khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa
độ rủ vải và đặc trưng cơ học, các nhà nghiên cứu mới chỉ đề cập đến
một số đặc trưng cơ học vải và hầu như tất cả các nghiên cứu đều tập
trung vào mối quan hệ giữa hệ số rủ với uốn và trượt, một vài nghiên
cứu có quan tâm đến khối lượng và độ dày vải Điều đó có thể do sự ảnh
hưởng của những đặc trưng cơ học khác đến độ rủ vải ít được chú ý Chỉ
có một số nhà nghiên cứu nghiên cứu toàn diện về quan hệ giữa hệ số rủ
đo trên dụng cụ đo độ rủ Cusick và tất cả những đặc trưng cơ học vải từ
kéo giãn, uốn, trượt, nén và đặc trưng bề mặt đo trên hệ thống KESF như
Jinlian Hu và Yuk – Fungchan [23], Hurumi Morooka và Masako Niwa
[16], Billie J.Collier [19] Các nghiên cứu này được thực hiện trên các
loại vải dệt thoi đã hoàn tất khác nhau, và như vậy với những loại vải
khác nhau sẽ cho những kết quả khác nhau Do đó, nghiên cứu về mối
quan hệ giữa các đặc trưng cơ học đến độ rủ của nhóm vải cụ thể cho
một loại sản phẩm may nào đó sẽ cho những kết quả chính xác và mang
tính ứng dụng thực tế cao hơn
Trang 351.4 Kết luận chương 1
Các đặc trưng cơ học vải là những tính chất rất quan trọng có liên
quan nhiều đến ứng xử của vải, việc xác định các đặc trưng cơ học vải
một cách đầy đủ và toàn diện là rất cần thiết để nghiên cứu ảnh hưởng
của chúng đến khả năng tạo dáng hay giữ hình dạng của sản phẩm may
… để từ đó có chế độ gia công và sử dụng sản phẩm hợp lý, đảm bảo vật
liệu dệt đạt hiệu quả sử dụng cao nhất
Ngoài các thông số của vải thường được quan tâm như chất liệu,
màu sắc, kiểu dệt… thì độ rủ của vải cũng là yếu tố có ảnh hưởng đáng
kể đến tính thẩm mỹ của vải và các sản phẩm may mặc thông qua sự ảnh
hưởng đến dáng vẻ bề ngoài của sản phẩm
Hiện nay, trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu cho
thấy một số đặc trưng cơ học vải có ảnh hưởng không nhỏ đến hệ số rủ
nhưng hạn chế của các nghiên cứu này là:
- Chỉ tập trung nghiên cứu mối tương quan giữa một số đặc trưng
cơ học vải như đặc trưng trượt, đặc trưng uốn hay khối lượng vải với hệ
số rủ, rất ít công trình trình nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện các
đặc trưng cơ học vải ảnh hưởng đến độ rủ
- Thực hiện trên nhiều loại vải dệt thoi khác nhau cho những kết
quả khác nhau, chưa có nghiên cứu về một loại vải cụ thể ứng dụng
trong thực tế sản xuất
- Ở Việt Nam hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên
cứu ảnh hưởng của các đặc trưng cơ học vải đến độ rủ đặc biệt là các
loại vải bông rất phổ biến để may áo sơmi xuất khẩu
Cần phải nghiên cứu tiếp tục về ảnh hưởng của đặc trưng cơ học
vải đến độ rủ một cách đầy đủ và toàn diện là cần thiết nhằm tạo cơ sở
cho việc lựa chọn vải có độ rủ phù hợp nhất với khả năng tạo dáng, mẫu
Trang 36mã cũng như mục đích sử dụng Đây là yêu cầu đặt ra đối với bất kỳ nhà
thiết kế hay doanh nghiệp may nào hiện nay
Chính vì lý do đó tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của
các đặc trưng cơ học đến độ rủ vải cotton 100% dùng để may áo
sơmi” Đầy đủ các đặc trưng cơ học vải được đánh giá trên cùng một hệ
thống cho kết quả nhanh chóng, tin cậy đó là hệ thống KESF Từ những
kết quả đo các đặc trưng cơ học vải trên hệ thống KESF ta có thể dự
đoán được một cách khoa học và khách quan ảnh hưởng của chúng đến
độ rủ vải, từ đó có thể dự báo được khả năng tạo dáng của sản phẩm may
có phù hợp với mẫu mã thiết kế và mục đích sử dụng cuối cùng hay
không Lựa chọn vải may áo sơmi có độ rủ thích hợp là rất quan trọng vì
loại sản phẩm này có sự chênh lệch kích thước lớn so với cơ thể người
(sản phẩm thường được mặc rộng rãi) nhưng lại không được phép gây
vướng víu hay bám sát cơ thể
Trang 37Chương 2:
Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trang 382.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại vải dùng để may áo sơmi
nam nữ với độ rủ khác nhau phụ thuộc vào kiểu dáng và chất liệu cũng
như đối tượng sử dụng Để kết quả đề tài mang tính thực tế, mẫu vải
được lựa chọn cho nghiên cứu này là vải cotton 100% với khối lượng từ
66,7 đến 155,1 g/m2 với độ dày trung bình thường được dùng để may áo
sơmi Hiện nay tại Việt Nam, có rất nhiều công ty may đang sử dụng các
loại vải này để may mặt hàng sơmi phục vụ cho nhu cầu trong nước và
xuất khẩu ra nước ngoài như công ty may Việt Tiến, công ty may Nhà
Bè, Việt Thịnh, May 10, Sanding …
Với mục tiêu của đề tài, 7 loại vải cotton 100% sử dụng phổ biến
nhất trên thị trường hiện nay được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu
với các thông số kỹ thuật như sau:
Trang 39Bảng 2-1: Thông số kỹ thuật của vải