DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường DANIDA Cơ quan phát triển Quốc tế Đan Mạch GEMS Hệ thống giám sát môi trường toàn cầu G
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Hà Nội - 2009
Trang 2MỤC LỤC
BÀI TÓM TẮT……… …iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… ……… …vii
DANH MỤC BẢNG……… ….viii
DANH MỤC HÌNH……… ix
MỞ ĐẦU………1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU BẢO TỒN BIỂN VÀ VẤN ĐỀ QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG BIỂN……… ………3
1.1 Bảo tồn biển……… 3
1.1.1 Hoạt động bảo tồn biển trên thế giới và khu vực……… …… … 5
1.1.2 Hoạt động bảo tồn biển trong nước……….… 6
1.1.3 Tiêu chí thiết lập và quản lý đánh giá môi trường ở khu bảo tồn biển… 10
1.2 Tác động qua lại giữa môi trường và hệ sinh thái khu bảo tồn biển …….11
1.2.1 Vai trò của khu bảo tồn biển đối với môi trường, hệ sinh thái………… 11
1.2.2 Ảnh hưởng của môi trường đến khu bảo tồn biển……… 13
1.3 Quan trắc môi trường biển, khu bảo tồn biển……… 16
1.3.1 Hoạt động quan trắc môi trường biển trên thế giới và khu vực………… 16
1.3.2 Hoạt động quan trắc môi trường biển trong nước………19
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN SINH VẬT, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG CỦA 4 KHU BẢO TỒN BIỂN… 23
2.1 Điều kiện tự nhiên, khí tượng - thuỷ văn 4 khu bảo tồn biển……….23
2.1.1 Điều kiện tự nhiên………23
2.1.2 Đặc điểm khí tượng……… 25
2.1.3 Đặc điểm thuỷ văn……… 27
2.2 Tình hình kinh tế - xã hội ở 4 khu bảo tồn biển……….……… 29
2.2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội ở 4 khu bảo tồn biển……… 29
2.2.2 Quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế - xã hội ở 4 khu bảo tồn biển….36 2.3 Tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học ở 4 khu bảo tồn biển……… 42
2.3.1 Tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học……….42
2.3.2 Một số hệ sinh thái ven đảo……….44
2.3.3 Quy hoạch, kế hoạch phát triển khu bảo tồn biển ở 4 đảo……… 48
Trang 3CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG Ở 4 KHU BẢO TỒN BIỂN 53
3.1 Hiện trạng và diễn biến môi trường ở 4 khu bảo tồn biển……… 53
3.2 Hiện trạng công tác quan trắc môi trường ở 4 khu bảo tồn biển……… 59
3.3 Áp lực môi trường ở khu bảo tồn biển……… 60
3.3.1 Áp lực môi trường từ các yếu tố tự nhiên………60
3.3.2 Áp lực môi trường từ yếu tố kinh tế - xã hội……… 61
3.4 Sự cố rủi ro môi trường ở 4 khu bảo tồn biển……… 66
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG
KHU BẢO TỒN BIỂN……….70
4.1 Mục tiêu, phạm vi và các loại điểm quan trắc……… 72
4.1.1 Mục tiêu và phạm vi chương trình quan trắc……….………… 72
4.1.2 Loại điểm quan trắc môi trường……… 73
4.2 Hệ thống điểm quan trắc môi trường khu bảo tồn biển……… ……… 74
4.2.1 Quan điểm chung về mạng điểm quan trắc……….….74
4.2.2 Số lượng và vị trí các điểm quan trắc……… 75
4.3 Bộ thông số, tần suất quan trắc môi trường khu bảo tồn biển………… 82
4.3.1 Bộ thông số chất lượng môi trường……….82
4.3.2 Tần suất quan trắc môi trường……….88
4.4 Phương pháp quan trắc, phân tích mẫu và xử lý số liệu……….90
4.4.1 Dụng cụ, phương pháp quan trắc, thu mẫu và phân tích mẫu……… 90
4.4.2 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá chất lượng môi trường………… 91
4.4.3 Thực hiện áp dụng QA/QC trong quan trắc môi trường KBTB………… 94
4.5 Tổ chức, quản lý và vận hành hệ thống, sử dụng số liệu quan trắc…… 94
KẾT LUẬN……… 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO………101
PHỤ LỤC……… ……….106
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
DANIDA Cơ quan phát triển Quốc tế Đan Mạch
GEMS Hệ thống giám sát môi trường toàn cầu
GESAMP Nhóm chuyên gia về vấn đề ô nhiễm biển
GHCP Giới hạn cho phép
GEF Quỹ môi trường toàn cầu
IUCN Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế KBTB Khu bảo tồn biển
LMA Liên minh Sinh vật Quốc tế
NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
QA Đảm bảo chất lượng
QC Kiểm soát chất lượng
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc
UNEP Chương trình Môi trường của liên Hợp quốc
UNESCO Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên Hợp quốc
WB Ngân hàng Thế giới
WHO Tổ chức y tế Thế giới
WMO Tổ chức Khí tượng Thế giới
WWF Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã
Trang 52007 - 2008……… 47Bảng 3.1 Hàm lượng trung bình của các thông số môi trường nước biển
ở 4 đảo ngiên cứu (2006 - 2008)……… 54Bảng 3.2 Các tác động chính ảnh hưởng đến rạn san hô ở 4 đảo nghiên cứu…… 66Bảng 4.1 Toạ độ các điểm quan trắc môi trường biển ở đảo Bạch Long Vĩ……… 76Bảng 4.2 Toạ độ các điểm quan trắc môi trường biển ở đảo Cồn Cỏ……… 77Bảng 4.3 Toạ độ các điểm quan trắc môi trường biển ở đảo Côn Đảo……… 79Bảng 4.4 Toạ độ các điểm quan trắc môi trường biển ở đảo Phú Quốc………… 81Bảng 4.5 Bộ thông số môi trường đề xuất thực hiện quan trắc ở cấp độ 1……… 87Bảng 4.6 Bộ thông số môi trường đề xuất thực hiện quan trắc ở cấp độ 2……… 87Bảng 4.7 Bộ thông số môi trường đề xuất thực hiện quan trắc ở cấp độ 3……… 88Bảng 4.8 Phân mức ô nhiễm môi trường nước theo chỉ số H’ của sinh vật phù du 93
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ mạng lưới 15 khu bảo tồn biển (đề xuất) của Việt Nam…………8
Hình 2.1.Vị trí địa lý của đảo được nghiên cứu………24
Hình 2.2 Nhiệt độ không khí (oC), lượng mưa (mm) trung bình tháng nhiều năm
tại 4 khu bảo tồn biển trọng điểm……….……25
Hình 2.3 Phân bố rạn san hô theo mặt rộng ở đảo Bạch Long Vĩ……… 45
Hình 2.4 Phân bố rạn san hô theo mặt rộng ở đảo Cồn Cỏ……… 45
Hình 2.5 Phân bố rạn san hô theo mặt rộng ở đảo Côn Đảo………46
Hình 2.6 Phân bố rạn san hô theo mặt rộng ở đảo Phú Quốc……… 46
Hình 2.7 Bản đồ các phân khu chức năng khu bảo tồn biển ở đảo Bạch Long Vĩ 49
Hình 2.8 Bản đồ các phân khu chức năng khu bảo tồn biển ở đảo Cồn Cỏ……….50
Hình 2.9 Bản đồ các phân khu chức năng khu bảo tồn biển ở đảo Côn Đảo…… 51
Hình 2.10 Bản đồ các phân khu chức năng khu bảo tồn biển ở đảo Phú Quốc… 52
Hình 3.1 Nhiệt độ (oC), độ muối (‰) của nước biển trung bình tháng nhiều năm
tại 4 khu bảo tồn biển trọng điểm……….……53
Hình 3.2 Chỉ số RQtt của các đảo tính theo GHCP của QCVN và ASEAN
(2006-2008)……….……….58
Hình 4.1 Các bước thực hiện để thiết lập chương trình quan trắc môi trường……71
Hình 4.2 Sơ đồ vị trí điểm quan trắc môi trường tại đảo Bạch Long Vĩ………… 76
Hình 4.3 Sơ đồ vị trí điểm quan trắc môi trường tại đảo Cồn Cỏ………78
Hình 4.4 Sơ đồ vị trí điểm quan trắc môi trường tại đảo Côn Đảo……… 80
Hình 4.5 Sơ đồ vị trí điểm quan trắc môi trường tại đảo Phú Quốc………81
Hình 4.6 Sơ đồ tổ chức thực hiện quan trắc môi trường ở 4 KBTB………96
Trang 7MỞ ĐẦU
Việt Nam có hơn 3200km bờ biển, với hơn 3000 đảo lớn nhỏ nằm dọc dải ven
bờ và ngoài khơi Cùng với sự tồn tại của các đảo, là các hệ sinh thái biển tiêu biểu,
có tính đa dạng sinh học cao như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn Theo chiến lược bảo tồn của Quốc gia, nhiều vùng biển đảo đã và đang được thiết lập thành khu bảo tồn biển để quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả những hệ sinh thái
đa dạng tiêu biểu, tái tạo nguồn lợi cho biển, đây cũng là xu thế chung của Thế giới
và khu vực Trong mạng lưới khu bảo tồn Việt Nam, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Côn Đảo và Phú Quốc được xác định là 4 khu bảo tồn biển trọng điểm, ưu tiên
Chất lượng môi trường biển đảo vừa chịu ảnh hưởng của sự suy giảm chất lượng nước biển dải ven bờ, vừa chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên đảo như du lịch, sinh hoạt, khai thác và nuôi thuỷ sản, dịch
vụ hậu cần nghề cá Những năm gần đây, sự cố môi trường ở khu bảo tồn biển đã xẩy ra với phạm vi và mức độ ngày càng cao hơn, tác động tiêu cực đến sinh vật, hệ sinh thái biển tiêu biểu Để bảo vệ kịp thời và quản lý lâu dài các khu bảo tồn biển, cần quan tâm hơn nữa đến bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội theo hướng thân thiện với môi trường Quan trắc môi trường là hoạt động cơ bản, đóng vai trò then chốt đối với đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và cảnh báo
sự cố, rủi ro môi trường sinh thái, cung cấp thông tin quan trọng để xây dựng chiến lược và hành động bảo vệ môi trường, định hướng phát triển kinh tế - xã hội
Trên thế giới, quan trắc môi trường biển đã được thực hiện khá sớm (1968), trong đó quan trắc với mục đích bảo vệ tài nguyên, đa dạng sinh học ở khu bảo tồn biển cũng là nhiệm vụ trọng tâm Ở Việt Nam, quan trắc môi trường biển nói chung được thực hiện từ năm 1995, nhưng đối với các khu bảo tồn biển mới được thực hiện
từ năm 2008 Tuy nhiên, quan trắc môi trường ở khu bảo tồn biển chưa được thực hiện trên những nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường và tài nguyên sinh vật để đề xuất vị trí điểm, thông số và tần suất quan trắc…; thực tế triển khai quan trắc còn gặp nhiều bất cập về quản lý, tổ chức thực hiện Trước thực trạng
và định hướng phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ khu bảo tồn biển, nhu
Trang 8cầu thông tin phục vụ đánh giá và cảnh báo sự cố môi trường nhằm bảo vệ tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái nhạy cảm càng quan trọng và cấp thiết hơn
Nhằm góp phần giải quyết yêu cầu của thực trạng về quan trắc môi trường biển ở khu bảo tồn biển, chúng tôi lựa chọn hướng nghiên cứu của luận văn tốt
nghiệp là Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn thiết lập chương trình quan trắc
môi trường ở 4 khu bảo tồn biển trọng điểm (Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Côn Đảo và
Phú Quốc), với mục tiêu và nội dung của luận văn tốt nghiệp như sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định được cơ sở khoa học và thực tiễn để thiết lập chương trình quan trắc môi trường ở 4 khu bảo tồn biển;
- Đề xuất chương trình quan trắc môi trường biển ở 4 khu bảo tồn biển trọng điểm Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Côn Đảo và Phú Quốc
Nội dung nghiên cứu:
- Tổng quan về bảo tồn biển, các vấn đề môi trường biển ở khu bảo tồn biển, hoạt động quan trắc cảnh báo môi trường biển trên thế giới và trong nước;
- Tổng hợp, đánh giá về: điều kiện tự nhiên, khí tượng thuỷ văn, hiện trạng và định hướng phát triển kinh tế - xã hội; tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học, hệ sinh thái tiêu biểu; hiện trạng và kế hoạch bảo tồn biển ở 4 đảo nghiên cứu;
- Phân tích, đánh giá hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường biển; nguồn, nguyên nhân gây ô nhiễm và tác động đến thuỷ sinh vật, hệ sinh thái; khả năng suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường biển ở 4 khu bảo tồn biển;
- Từ những cơ sở trên, nghiên cứu và đề xuất chương trình quan trắc môi trường biển đối với 4 khu bảo tồn biển trọng điểm Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Côn Đảo, Phú Quốc
(Mục tiêu, phạm vi và loại điểm quan trắc; vị trí và số lượng của hệ thống điểm
quan trắc; bộ thông số, tần suất quan trắc; phương pháp quan trắc, phân tích và xử
lý số liệu; tổ chức, quản lý và vận hành chương trình quan trắc )
Chương trình quan trắc môi trường biển đề xuất trong luận văn là cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng và thực hiện nhiệm vụ quan trắc môi trường biển phục
vụ công tác xây dựng, bảo vệ và quản lý 4 khu bảo tồn biển hiệu quả; là tài liệu tham khảo để thiết kế và triển khai quan trắc môi trường biển ở các khu bảo tồn biển khác
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU BẢO TỒN BIỂN VÀ VẤN ĐỀ QUAN
TRẮC MÔI TRƯỜNG BIỂN 1.1 Bảo tồn biển
Biển và đại dương chứa đựng nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật vô cùng quý giá, phong phú và đa dạng Vấn đề quản lý, bảo vệ, khai thác tài nguyên sinh vật - môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học biển là mối quan tâm của toàn nhân loại, đặc biệt là các Quốc gia có biển như Việt Nam
Khu bảo tồn biển (KBTB) được hiểu là khu vực trên biển được bảo vệ đặc biệt tránh khỏi những tác động tiêu cực của con người như khai thác thủy sản quá mức và hủy diệt sinh thái - được xem là một trong những cách tiếp cận quan trọng, ít tốn kém
và hiệu quả nhất trong công tác quản lý hệ sinh thái, đa dạng sinh học, sử dụng nguồn lợi bền vững và đáp ứng nhu cầu sinh kế của con người
Xuất phát từ nhiều quan điểm về KBTB, IUCN (1999) đã đưa ra định nghĩa về KBTB như sau: “Bất kỳ một vùng đất trong triều hay dưới triều, cùng với toàn bộ phần mặt nước và các động thực vật, các điểm đặc trưng về văn hoá và du lịch có liên quan đã và đang được gìn giữ bởi luật pháp hay các phương thức hiệu quả khác nhằm bảo vệ một phần hoặc toàn bộ môi trường trong và lân cận vùng đất đó” [20, 52]
Ở Việt Nam, KBTB được định nghĩa: là 1 khu vực biển ven bờ (đảo) và vùng khơi bao gồm cả phần đất và vùng nước nông trong vùng triều và dưới triều với các tài nguyên thiên nhiên, môi trường Các hệ sinh thái biển (vùng ngập nước cửa sông, rừng ngập mặn, san hô, cỏ biển) cùng các di sản lịch sử văn hoá trong đó, nằm riêng biệt hay là một bộ phận của một khu bảo tồn thiên nhiên nói chung, được lưu giữ và quản lý bằng các phương cách hữu hiệu mang tính luật pháp hoặc chưa phải luật pháp Theo Nghị định 27/2005/NĐ-CP hướng dẫn một số Điều trong Luật Thuỷ sản:
“KBTB là vùng biển được xác định (kể cả đảo có trong vùng biển đó) có các loài động vật, thực vật có giá trị và tầm quan trọng quốc gia hoặc quốc tế về khoa học, giáo dục, du lịch, giải trí được bảo vệ và quản lý theo quy chế của khu bảo tồn” [10] Thách thức chung của thế giới và Việt Nam là kinh tế tăng trưởng kéo theo ô nhiễm môi trường, đặc biệt môi trường biển Việc khai thác quá mức dẫn đến cạn
Trang 10kiệt nguồn tài nguyên, làm suy giảm đa dạng sinh học biển, các chất thải gây ô nhiễm trầm trọng và huỷ hoại môi trường biển, là vấn đề bức xúc hiện nay Trong những năm qua, tuy Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật như: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị
sự 21 của Việt Nam) và đã phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững biển Đông Á
2003 (Chương trình đối tác khu vực về quản lý môi trường Đông Á, PEMSEA), song cho đến nay nước ta chưa hình thành hệ thống chính sách, pháp luật riêng về quản lý tài nguyên - môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển [4, 19, 34]
Bảo tồn biển cũng là một trong những nỗ lực của toàn cầu nhằm bảo tồn tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học và quản lý bền vững các hệ sinh thái biển và ven biển dễ bị tổn thương, duy trì lợi ích các dịch vụ môi trường Tăng cường công tác quản lý các KBTB chính là đem lại lợi ích cho cộng đồng dân cư vùng biển đảo [18, 57] Mục tiêu, vai trò cụ thể của mỗi KBTB cần được xác định như một phần quan trọng trong kế hoạch quản lý KBTB của địa phương Song, vai trò, mục tiêu cơ bản của KBTB cần bao gồm các mục tiêu cụ thể sau:
- Bảo tồn và quản lý bền vững các hệ sinh thái biển và ven biển có vai trò quan trọng đối với các loài quý hiếm, đang bị đe doạ và rất nhiều các loài có giá trị kinh tế quan trọng trong ngành thuỷ sản;
- Bảo vệ và quản lý các di sản lịch sử, văn hoá và các giá trị thẩm mỹ tự nhiên của phong cảnh biển và đất liền trong KBTB;
- Trợ giúp các hoạt động của con người và các sinh kế phù hợp với mục tiêu cơ bản của KBTB;
- Kiểm soát các hoạt động bên ngoài có ảnh hưởng xấu tới các KBTB;
- Phát triển hệ thống quan trắc môi trường, gồm các chỉ thị có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lên môi trường biển của các hoạt động truyền thống cũng như các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội;
- Hỗ trợ phục hồi chất lượng môi trường, sinh vật biển một cách tự nhiên hay thông qua các biện pháp quản lý [20, 21]
Trang 111.1.1 Hoạt động bảo tồn biển trên thế giới và khu vực
Hoạt động bảo tồn biển trên Thế giới đã được quan tâm thực hiện từ rất sớm KBTB đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Florida (Mỹ) vào năm 1935 với 18.850ha diện tích mặt biển và 35ha vùng đất ven bờ Theo thống kê từ những năm
1970, trên Thế giới đã có khoảng 118 KBTB ở 27 nước Đến năm 1985, KBTB đạt con số khoảng 470 ở 69 nước và 298 KBTB đang được đề nghị thành lập [57] Cho đến nay, trên thế giới có khoảng trên 1.310 KBTB, phân bố trong 18 vùng địa sinh vật biển, trong đó Việt Nam nằm ở vùng biển Đông Á - vùng số 13 (Kellcher, 2001) Trong số 1.310 KBTB đã được thống kê, có khoảng 640 KBTB được xác định là ưu tiên cấp quốc gia về mặt bảo tồn đa dạng sinh học, 155 KBTB được xác định là có giá trị ưu tiên cấp khu vực KBTB lớn nhất thế giới là ở Australia với diện tích 34,4 triệu ha KBTB nhỏ nhất là khu dự trữ san hô đỏ ở Monaco và khu Doctor's Gully ở Australia, với diện tích khoảng 1ha Gần đây (tháng 01/2009), Mỹ công bố quy hoạch khu vực bảo tồn đa dạng sinh học biển trên Thái Bình Dương với quy mô lớn nhất thế giới Khu bảo tồn gồm 3 khu vực có tổng diện tích khoảng 500.000 km2, là nơi sinh sống của nhiều loài kinh tế, quý hiếm, đặc hữu Các di sản văn hóa cũng được bảo vệ theo đạo luật bảo vệ di tích cổ Theo nghiên cứu của Salm (2003), ước tính cho đến nay có khoảng 1% diện tích biển trên thế giới là các KBTB đã được thiết lập (hình P.1.1 và hình P.1.2 - phụ lục 1) [54] Trong khu vực, theo thống kê đến năm 2002, Đông Nam Á có 303 KBTB và ven biển, trong đó, số lượng KBTB có tầm quan trọng cấp khu vực là 25 (bảng 1.1) Philippin có số lượng KBTB lớn nhất, với 180 KBTB, thấp nhất là Singapo có 2 KBTB Inđônêxia có khu bảo tồn biển lớn nhất Đông Nam Á, với diện tích 3,5 triệu
ha, là nơi cư trú của 500 loài san hô, 14 loài cá voi và 336 loài cá sống trong biển Savu gần Flores ở miền đông Inđônêxia
Theo nghiên cứu của Chou Loke Ming (2006), số lượng KBTB trong khối Đông Nam Á tăng lên khá nhanh, đạt 650 KBTB Trong đó, chỉ có 14% số KBTB được quản lý có hiệu quả, 48% số KBTB quản lý lỏng lẻo, chỉ đạt một phần hiệu quả và 38% được quản lý dưới mức trung bình, không đáp ứng hiệu quả KBTB
Trang 12Không ít KBTB đã bị đóng cửa vì nhiều lý do khác nhau: thiếu kinh phí để duy trì
hoạt động, thiếu sự hợp tác của cộng đồng địa phương hoặc do những thiếu sót về
mặt khoa học trong việc chọn địa điểm, chuyển đổi nghề nghiệp, thể chế, pháp luật
Bảng 1.1 Số khu bảo tồn biển ở một số nước trong khối Đông Nam Á, 2002
Trong đó Nước khối
ASEAN
Tổng số KBTB Số KBTB có tầm
quan trọng khu vực quan trọng quốc gia Số KBTB có tầm
Nguồn: Catherine Cheung et al, 2002
Như vậy, công tác bảo tồn biển trên thế giới và trong khu vực đã được quan
tâm từ rất sớm, hiện đang rất phát triển xứng đáng với vai trò mà KBTB đem lại
Tuy nhiên, công tác bảo tồn biển cũng còn gặp nhiều bất cập trong thực trạng quản
lý như về thể chế, chính sách, cơ chế quản lý, sức ép kinh tế xã hội và môi trường
1.1.2 Hoạt động bảo tồn biển trong nước
Đến nay, trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh
vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 9 vùng đa dạng sinh học
biển khác nhau Trong tổng loài đã phát hiện, có khoảng 6.000 loài động vật đáy,
2.038 loài cá, trong đó trên 100 loài cá kinh tế, 653 loài rong biển, 657 loài động vật
phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14
loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển, 5 loài rùa và 43 loài chim nước [4]
Các hệ sinh thái biển và ven biển (rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, )
có giá trị rất quan trọng như: điều chỉnh khí hậu và điều hoà dinh dưỡng trong vùng
biển thông qua các chu trình sinh địa hoá; là nơi cư trú, sinh đẻ và ươm nuôi ấu trùng,
Trang 13cung cấp nguồn giống của nhiều loài thuỷ sinh vật không chỉ ở ngay vùng bờ, mà còn
cả ở ngoài khơi, trong đó có nhiều loài đặc sản quý hiếm Trong khi đó, tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển mang một ý nghĩa quan trọng, thậm chí mang tính sống còn với một số ngành kinh tế biển
Nhận thức được tầm quan trọng của KBTB, công tác bảo tồn biển của Việt Nam cũng được thực hiện từ những năm đầu thập niên 1980 và ngày càng được quan tâm hơn từ nhiều Bộ/Ngành, địa phương, của các nước trên Thế giới và tổ chức Quốc tế Bắt đầu từ những năm 1980, chương trình biển cấp Nhà nước đã nghiên cứu đề xuất thành lập các KBTB Côn Đảo, Cát Bà và đảo Sinh Tồn đã được thực hiện
Năm 1991, với sự hỗ trợ của IUCN, Việt Nam đã xây dựng và thông qua Chiến lược Bảo tồn Quốc gia, Kế hoạch Quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững Năm 1993, Việt Nam chính thức trở thành quốc gia thành viên của tổ chức IUCN, công tác bảo tồn biển phát triển mạnh hơn [18, 39]
Nhiều công trình nghiên cứu cơ sở khoa học thiết lập KBTB được nhiều bộ/ngành, địa phương quan tâm thực hiện Điển hình, giai đoạn 1992 - 1994, Viện Hải Dương học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cùng với sự giúp đỡ của tổ chức WWF đã khảo sát, đánh giá đa dạng sinh học cũng như tiềm năng bảo tồn ở 7 vùng rạn san hô nước ta và đề xuất thành lập 7 KBTB: Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Cồn
Cỏ, Cù Lao Chàm, Hòn Mun, Côn Đảo và đảo Phú Quốc [1, 3] Năm 1998 và 1999, Viện Hải Dương học đã nghiên cứu cơ sở khoa học quy hoạch hệ thống KBTB Việt Nam, đồng thời đề xuất thành lập danh mục 15 KBTB đầu tiên của Việt Nam Năm 2000, Bộ Thuỷ sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) tiến hành chuẩn bị quy hoạch 15 khu và xây dựng quy chế quản lý KBTB để trình Chính phủ Tháng 6/2003, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo Bộ Thuỷ sản rà soát và hoàn thiện quy hoạch, quy chế KBTB Với sự trợ giúp của Chính phủ Đan Mạch, WB, IUCN, Việt Nam đã thực hiện thí điểm KBTB Hòn Mun (6/2001 - 6/2005, với vốn đầu tư 2,1 triệu USD), đây là KBTB đầu tiên được đánh giá đạt hiệu quả nhất
Dự án Hỗ trợ KBTB Việt Nam được triển khai từ tháng 9/2003 đến 9/2006 do Chính phủ Đan Mạch tài trợ, với tổng kinh phí khoảng 2 triệu USD Dự án này gồm
Trang 142 tiểu dự án: Tiểu dự án do Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) thực hiện đã đánh giá được nhu cầu về xây dựng năng lực và quản lý cho hệ thống gồm 15 KBTB (hình 1.1), đồng thời đã xác định được 5 KBTB ưu tiên gồm Phú Quốc, Cồn Cỏ, Bạch Long vĩ, Cô Tô và Côn Đảo; Và tiểu dự án hỗ trợ tỉnh Quảng Nam xây dựng đảo Cù Lao Chàm thành KBTB
Hình 1.1 Bản đồ mạng lưới 15 khu bảo tồn biển (đề xuất) của Việt Nam
Trang 15Lĩnh vực bảo tồn cũng được quan tâm hơn khi Luật Bảo vệ Môi trường (2005)
đã được thông qua, đặc biệt nhấn mạnh đến việc bảo tồn các hệ sinh thái và nghiêm cấm các hoạt động gây ảnh hưởng xấu đến môi trường [11]
Năm 2006, thành lập Mạng lưới các Khu Bảo tồn Biển Việt Nam là bước tiến quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý KBTB tại Việt Nam Theo
đó, mạng lưới các nhà bảo tồn cũng đã được thành lập tháng 6 năm 2006, với số thành viên hơn 100 người Các KBTB chính thức đã được thiết lập và phê duyệt hiện nay ở Việt Nam gồm: Hòn Mun, Cù Lao Chàm, Côn Đảo (Vườn Quốc gia), Phú Quốc và Cồn Cỏ (chuẩn bị) Các KBTB dự kiến thiết lập còn lại đang tiến hành hoàn thiện hồ sơ trình phê duyệt
Cho đến nay, Mạng lưới KBTB Việt Nam đã được thiết lập và đề xuất thiết lập
15 KBTB với diện tích khoảng 226.400ha Bước đầu, Mạng lưới KBTB trên phạm vi toàn quốc có vai trò đặc biệt quan trọng, từng bước góp phần bảo đảm cân bằng sinh thái vùng biển, bảo vệ đa dạng sinh học, điều hoà môi trường và phát triển kinh
tế xã hội theo hướng bền vững Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có thể chế và chính sách hoàn chỉnh để quản lý các KBTB ở cấp Quốc gia, còn gặp nhiều bất cập trong thực trạng quản lý Việc quản lý các KBTB tại Việt Nam còn nhiều thách thức: Thứ nhất, các hướng dẫn pháp quy liên quan còn thiếu trình tự, nội dung mâu thuẫn và không thật rõ ràng Thứ hai, thông tin khoa học phục vụ quy hoạch thiếu, cũ và chưa
đủ căn cứ Thứ ba, các KBTB dự kiến hầu hết ở ven bờ, nơi có dân nghèo sinh sống, chịu tác động của các hoạt động phát triển khác nhau Thứ tư, quy mô KBTB nhỏ lẻ, đầu tư hạn chế và chủ yếu dựa vào nhà tài trợ quốc tế Ngoài ra, nhận thức về môi trường, bảo tồn biển trong nhân dân còn chưa rõ ràng, năng lực quản lý KBTB còn yếu, cơ sở vật chất nghèo nàn, chưa phối hợp quản lý liên ngành [19]
Đảo Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Côn Đảo và Phú Quốc là những đảo được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề xuất ưu tiên thiết lập KBTB Đây là những đảo có điều kiện tự nhiên, tài nguyên sinh vật, giá trị kinh tế - xã hội thuận lợi, đáp ứng những tiêu chí để thiết lập KBTB Vì đó, trong khuôn khổ nội dung luận văn đã lựa chọn 4 đảo để nghiên cứu đề xuất chương trình quan trắc môi trường KBTB
Trang 161.1.3 Tiêu chí thiết lập và quản lý đánh giá môi trường ở khu bảo tồn biển
Tiêu chí lựa chọn để thiết lập KBTB [21, 52]: Các vùng có thể được chọn lựa
cho các KBTB khi chúng phù hợp với các tiêu chí sau:
- Tương đối tự nhiên: Các vùng này vẫn còn ở điều kiện tốt, tính hoang sơ;
- Tính đại diện: Những vùng có tính độc nhất bao gồm các chức năng sinh thái quan trọng như bãi đẻ, vùng dinh dưỡng hoặc ương nuôi ấu trùng và/hoặc các loài
có giá trị trực tiếp và gián tiếp;
- Đa dạng sinh học: Những vùng có sự phong phú về loài/hệ sinh thái; loài đặc hữu (các loài mà có tính đặc trưng riêng cho một vùng hoặc một Quốc gia);
- Tính dễ bị tổng thương: Những vùng với sự giàu có về nguồn lợi/đa dạng sinh học mà tương đối nhạy cảm với các tác động hoặc huỷ diệt;
- Giá trị khai thác thuỷ sản: Những vùng mà có chiến lược cho việc tăng năng suất khai thác; có sản lượng cao hoặc là bãi đẻ, ươm nuôi ấu trùng;
- Giá trị du lịch: Những vùng mà nếu bảo vệ thì có thể nâng cao được các sử dụng giải trí phù hợp và các thu nhập về du lịch;
- Chấp nhận về mặt xã hội: Chấp nhận của các bên liên quan;
- Thực hành về quản lý: Có tính khả thi và tương đối dễ trong việc quản lý
Một số yêu cầu, tiêu chuẩn quy định về môi trường KBTB:
Nhiều nước trên Thế giới và trong khu vực Đông Nam Á đã xây dựng được những yêu cầu, tiêu chuẩn quy định giới hạn cho phép của các thông số môi trường
ở KBTB phục vụ giám sát chất ô nhiễm, đánh giá hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học điển hình là Austrailia, Mỹ, Trung Quốc Trong khối ASEAN, năm 2002 đã xây dựng và đề xuất bộ ngưỡng 18 thông số môi trường biển áp dụng đánh giá chất lượng môi trường với mục đích bảo vệ đời sống thuỷ sinh Các nước trong khối ASEAN như Philipin, Indonesia, Thái Lan là những nước sớm xây dựng được tiêu chuẩn của một số thông số môi trường áp dụng đánh giá, giám sát chất lượng môi trường ở KBTB [48]
Ở Việt Nam, trước năm 2009, chưa có giới hạn cho phép (GHCP) áp dụng riêng đối với KBTB nên việc đánh giá chất lượng môi trường KBTB phải áp dụng tiêu chuẩn TCVN 5943 - 1995, tiêu chuẩn của BTS 2006 của Bộ Thuỷ sản (nay là Bộ
Trang 17Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) và tham khảo tiêu chuẩn của các nước trong khu vực ASEAN Trước thực trạng đó, năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chuẩn Việt Nam số QCVN 10:2008/BTNMT quy định giá trị GHCP của
28 thông số môi trường áp dụng đánh giá chất lượng nước biển ven bờ với mục đích bảo tồn thuỷ sinh và vùng nuôi trồng thuỷ sản [6]
Nhìn chung, yêu cầu về chất lượng môi trường ở KBTB rất nghiêm ngặt, GHCP của các thông số môi trường thấp hơn nhiều so với các mục đích sử dụng và bảo vệ khác (NTTS, bãi tắm, khu vui chơi giải trí ) Chất lượng môi trường luôn cần giữ với bản chất tự nhiên, ít hoặc không có tác động của yếu tố nhân tạo Các hoạt động của con người gây tác động xấu đến chất lượng môi trường, tài nguyên sinh vật biển trong KBTB được cấm hoặc hạn chế ở mức thấp nhất
1.2 Tác động qua lại giữa môi trường và hệ sinh thái khu bảo tồn biển
1.2.1 Vai trò của khu bảo tồn biển đối với môi trường, hệ sinh thái
Tình trạng đánh bắt quá mức và ô nhiễm là nguyên nhân chủ yếu làm cho nhiều loài hải sản trên toàn cầu suy thoái và biến mất nhanh chóng Ở Đại Tây Dương, đánh bắt cá thương mại trong những thập kỷ qua đã làm cho nguồn dự trữ các loài cá to giảm tới 90% Các nhà sinh học biển cho rằng, xây dựng các KBTB sẽ giúp ngăn chặn đáng kể tình trạng suy thoái, đồng thời cứu được nhiều vùng biển có mật độ quần thể cá tự nhiên cao (trên 91% so với các khu vực bên ngoài KBTB) Một trường hợp khác, trong vịnh Maine ven bờ Bắc Đại Tây Dương, số loài hai mảnh vỏ trong các KBTB tăng từ 9 đến 14 lần so với các khu lân cận không được bảo vệ Ở New Zealand đã quan sát được những kết quả tương tự ở loài tôm hùm Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy sự cần thiết của KBTB, việc thiết lập KBTB sẽ làm mật độ sinh vật biển tăng gấp đôi, sinh khối tăng ba lần, kích thước của sinh vật và đa dạng sinh học tăng lên 20 - 30% so với vùng không nằm trong KBTB Theo Benjamin (2003), trong các KBTB, trữ lượng hải sản tăng lên sau một thời gian thiết lập (thường sau 5 năm), sẽ cung cấp các ấu trùng hải sản cho các bãi
cá bên ngoài nhờ các dòng chảy biển và đại dương Bên cạnh đó, các hệ sinh thái tiêu biểu (hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn ) cũng sẽ được khôi
Trang 18phục Do vậy, nguồn lợi thuỷ sản không bị sụt giảm, dẫn đến tăng năng suất nghề
cá Ngoài ra, KBTB còn có sức hấp dẫn đối với du khách, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học và giáo dục cộng đồng [19] Rạn san hô được xem là có tầm quan trọng lớn đối với nguồn tài nguyên sinh vật và du lịch biển, là một trong những tiêu chí quan trọng để xây dựng KBTB [22, 37] Nghiên cứu của Liên minh Sinh vật biển quốc tế (LMA) cho thấy, những nơi
có rạn san hô phát triển tốt thì khai thác thủy sản có thể đạt sản lượng 37 tấn các loại hải sản/km2/1năm, nhưng ở các rạn san hô chết chỉ đạt dưới 5 tấn/năm Đối với
du lịch, cảnh quan ngầm của hệ sinh thái rạn san hô là nguồn tài nguyên thiên nhiên
vô tận Vì vậy, đối với các ngành kinh tế khai thác lợi thế từ biển trong đó có du lịch thì việc bảo vệ các rạn san hô có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển [60]
Ở Việt Nam, KBTB bước đầu đã thể hiện được vai trò của nó Theo kết quả nghiên cứu giám sát KBTB vịnh Nha Trang trong các năm 2002 - 2007 của Nguyễn Văn Long (2008) cho rằng: Hiệu quả của công tác quản lý trong những năm qua đã góp phần duy trì chất lượng quần cư rạn san hô trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt (Hòn Mun); Nhìn chung, mật độ trung bình của cá rạn có xu hướng tăng dần theo thời gian giữa các năm giám sát từ 2002 - 2007, đặc biệt tại các điểm giám sát nằm trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt (vùng tây bắc và tây nam của Hòn Mun) [27]
Việc thiết lập các KBTB là một giải pháp góp phần duy trì bền vững nguồn lợi thuỷ sản, các hệ sinh thái, cảnh quan Quản lý và khai thác sử dụng hiệu quả KBTB sẽ góp phần cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân địa phương, tạo cơ hội nghề nghiệp mới cho họ, giúp họ thay đổi nhận thức về nguồn tài nguyên, môi trường Như vậy, hệ thống các KBTB được thành lập không chỉ sẽ góp phần bảo đảm cân bằng sinh thái vùng biển, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo đảm chức năng điều hoà môi trường và nguồn giống hải sản mà còn có ý nghĩa to lớn đối với phát triển kinh
tế - xã hội lâu dài, đối với nghiên cứu khoa học, giáo dục cộng đồng, giải trí và du lịch sinh thái Ngoài ra, quy hoạch hệ thống KBTB trong vùng biển nước ta vừa góp phần khẳng định chủ quyền lãnh hải, vừa khẳng định trách nhiệm đối với công tác bảo tồn biển mà đã cam kết với quốc tế theo tinh thần Johanesbung (2002)
Trang 191.2.2 Ảnh hưởng của môi trường đến khu bảo tồn biển
Các hoạt động kinh tế - xã hội ở vùng ven biển, biển thực tế đã đem lại lợi ích kinh tế vô cùng to lớn, góp phần cho sự tăng trưởng kinh tế đất nước, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động và góp phần xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội cũng kéo theo sự suy thoái ô nhiễm môi trường biển và vùng ven bờ (bao gồm KBTB) ngày càng lớn, huỷ hoại và giảm khả năng phục hồi của các hệ sinh thái, giảm đa dạng sinh học, cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản, điểm nóng môi trường ngày càng nhiều hơn về quy mô, số lượng [14, 15] Nguồn nước lục địa từ các hệ thống sông kéo theo nhiều chất có thể gây ô nhiễm biển như các chất hữu cơ, dinh dưỡng, kim loại nặng và nhiều chất độc hại khác gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và đa dạng sinh học biển Toàn dải ven biển Việt Nam có khoảng 114 cửa sông lớn nhỏ, hàng năm đưa ra biển 880 tỷ
m3 nước và 250 triệu tấn bùn cát Mỗi năm có khoảng 20.000 tấn thuốc phòng trừ sâu bệnh trong nông nghiệp còn tồn dư đã theo sông chuyển ra biển Bên cạnh đó việc NTTS tự phát triển với tốc độ nhanh, nuôi ở mật độ dày, thức ăn dư thừa tích luỹ gây ô nhiễm nguồn nước, phát sinh dịch bệnh tràn lan Không những thế, khai thác nguồn lợi thuỷ sản bằng đánh mìn, hoá chất độc hại (xyanua)… cũng như mật
độ tàu thuyền hoạt động lớn gây ảnh hưởng đến môi trường, tác động trực tiếp đến các hệ sinh thái tiêu biểu đang cần bảo vệ và khôi phục [14]
Vấn đề tương tác sông - biển trong những năm gần đây có những biến đổi bất thường (hiện tượng ngọt hoá đột ngột, xâm mặn…) gây ảnh hưởng trực tiếp đến các KBTB Minh chứng cho điều này là rạn san hô khu đông nam Cát Bà và vịnh Hạ Long bị chết hàng loạt do có liên quan đến nước có độ muối thấp, độ đục cao, lắng đọng trầm tích có nguồn gốc từ lục địa [43]
Rạn san hô đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với môi trường biển, tài nguyên sinh vật, nhưng ở nước ta hệ sinh thái này đang chịu sức ép khai thác quá mức, mang tính huỷ diệt như đánh mìn, sử dụng hoá chất độc hại dẫn đến rạn bị suy thoái nghiêm trọng Mặt khác, sự biến đổi bất thường của các yếu tố tự nhiên cũng gây lên những tác động đến các hệ sinh thái Trường hợp điển hình đã xẩy ra ở Côn
Trang 20Đảo, san hô chết chủ yếu do tác động của cơn bão Linda năm 1997 (Võ Sĩ Tuấn, 1996) và do hoạt động của cảng Bến Đầm [22] Theo Viện Tài nguyên Thế giới (2002), 80% RSH biển Việt Nam trong tình trạng rủi ro cao Tình trạng này cũng đang diễn ra tương tự với hệ sinh thái thảm cỏ biển ở vùng cửa sông, đầm phá, vùng triều và ven một số đảo bị khai thác bừa bãi làm phân bón hoặc thức ăn cho gia súc Trong những năm trước đây, việc sử dụng bừa bãi hợp chất xyanua trong các hoạt động khai khoáng, công nghiệp… đặc biệt là dùng để khai thác hải sản quanh đảo, rạn san hô đã thải ra môi trường lượng lớn CN-, ảnh hưởng trực tiếp đến thuỷ sinh vật và phá huỷ hệ sinh thái, như hiện tượng các rạn san hô chết trắng hàng loạt ở một số vùng ven bờ vịnh Bắc Bộ Nghiên cứu của Viện Tài nguyên và Môi trường biển (1998 - 1999) đã ghi nhận san hô ở đảo Bạch Long Vĩ bị suy thoái nghiêm trọng (nơi san hô tốt nhất cũng chỉ còn 30% độ phủ của san hô sống) Nguyên nhân chủ yếu
là sử dụng hoá chất chứa gốc CN- khai thác hải sản ở vùng rạn san hô [43]
Độ đục là thông số môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên sinh vật và
hệ sinh thái ở KBTB, nhất là hệ sinh thái rạn san hô Một ví dụ điển hình là hàng loạt san hô chết ở vịnh Hạ Long - Cát Bà trong các năm 1998 - 2000 mà nguyên nhân chính là nạn ô nhiễm bùn (chất rắn lơ lửng) trên rạn và độ đục tăng cao không
đủ ánh sáng cho san hô quang hợp [43] Hàm lượng TSS tăng cao sẽ làm gia tăng quá trình lắng đọng trầm tích trên rạn san hô, lấp kín các polyp làm san hô nghẹt thở Quy mô tác động này đến sự sống của san hô trên cả ba mức cấu trúc, đó là đối với cá thể, quần thể, quần xã (Pastorok và Bilyard, 1985)
Độ muối của nước biển là một yếu tố sinh thái rất quan trọng, quyết định thành phần loài, sự phân bố của các quần xã sinh vật và ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh trưởng, phát triển của nhiều loài sinh vật biển, đặc biệt đối với san hô Sự ngọt hoá đột ngột và kéo dài gây chết trực tiếp cho san hô ven bờ, nhất là mùa mưa lũ Cùng với các yếu tố khác, độ muối giảm xuống thấp dưới ngưỡng chịu đựng dẫn đến các polyp san hô thường bị phồng lên, liên tục tiết chất nhầy, sau một thời gian
sẽ bị biến màu rồi chết trắng Hiện tượng này đã bắt gặp ở vùng đông nam Cát Bà
và vịnh Hạ Long vào mùa mưa lũ của 1998 - 1999 Hiện tượng ngọt hoá cũng xẩy
Trang 21ra ở khu vực Côn Đảo vào tháng 10 năm 2005 dẫn đến nhiều vùng rạn san hô bị chết (Đặng Văn Thi và ctv, 2005) Rạn san hô bị suy thoái do dòng vật chất thường không thể hoặc rất khó phục hồi được Ảnh hưởng trước hết là làm san hô thay đổi cấu trúc quần xã, độ phủ của san hô chết tăng nhanh, sự đa dạng sinh học giảm đi Mặt khác, trên rạn san hô có nhiều bùn, không cho phép ấu trùng san hô tái định cư Tác động do ô nhiễm dầu ở KBTB: Dầu chảy loang trên mặt nước sẽ ngăn cản quá trình trao đổi khí giữa biển và khí quyển tạo nên môi trường yếm khí, giảm hàm lượng ôxy hoà tan Mặt khác do lớp váng dầu thường có màu sẫm, do đó tăng khả năng hấp thụ nhiệt, ngăn cản sự trao đổi nhiệt giữa biển và khí quyển nên cũng làm tăng nhiệt độ của nước Các quá trình oxy hoá dầu dẫn đến làm giảm hàm lượng ôxy hoà tan trong nước, các nhũ tương dầu cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật trong thuỷ vực Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận được ô nhiễm dầu ở vùng ven bờ, cảng, bến cá, ven các đảo, KBTB, thậm chí nhiều vùng quan sát được bằng mắt thường [14, 30, 35, 36] Tình trạng ô nhiễm dầu ở KBTB có nguồn chủ yếu từ hoạt động của tàu thuyền Theo đánh giá của Nguyễn Huy Yết (2006), ô nhiễm dầu cũng có thể là một trong những nguyên nhân gây suy thoái rạn san hô ở
Hạ Long - Cát Bà [43] Sự cố dầu loang trên diện rộng ở biển Đông vào đầu năm
2007, sau đó dạt vào các đảo, vùng ven bờ (trong đó có các KBTB Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quý ) gây ảnh hưởng lớn đến môi trường, thuỷ sinh vật và cảnh quan du lịch [61]
Hiện tượng tảo nở hoa cũng đã xẩy ra với tần suất ngày càng cao trong những năm gần đây, gây ảnh hưởng trực tiếp đến thuỷ sinh vật, phá huỷ các hệ sinh thái, đặc biệt là nở hoa của các loài tảo độc hại Năm 1995, tại vịnh Văn Phong - Bến
Gỏi - Khánh Hoà, loài Noctiluca scintillans nở hoa gây thiệt hại khoảng 20 tấn tôm
hùm (Nguyễn Ngọc Lâm, 1997) Liên tiếp các đợt tảo nở hoa ở vùng biển Bình Thuận vào các năm 1999 và 2002 đã phá huỷ hệ sinh thái, ảnh hưởng rất lớn đến thuỷ sinh vật và môi trường (Nguyễn Ngọc Lâm, 2002) Theo kết quả nghiên cứu
của Nguyễn Văn Nguyên (2003), loài Ceratium furca nở hoa ở Cát Bà đã dẫn đến
cá nuôi lồng bè chết hàng loạt
Trang 22Như vậy, sự cố môi trường, tác động của môi trường đến KBTB đã xuất hiện, ảnh hưởng trực tiếp nhất là phá huỷ hệ sinh thái rạn san hô - hệ sinh thái quan trọng của KBTB Tuy nhiên, phạm vi và quy mô tác động đến KBTB vẫn chưa lớn Nhưng với thực trạng và định hướng phát triển kinh tế xã hội, xây dựng KBTB, cần quan tâm hơn nữa đến lĩnh vực môi trường ở KBTB nhằm góp phần quản lý KBTB đạt hiệu quả, thực hiện thắng lợi Chiến lược Bảo vệ Đa dạng Sinh học biển của Việt Nam
1.3 Quan trắc môi trường biển, khu bảo tồn biển
1.3.1 Hoạt động quan trắc môi trường biển trên thế giới và khu vực
Đối với vấn đề ô nhiễm biển, từ năm 1968, Liên hợp quốc đã thành lập nhóm chuyên gia về các lĩnh vực ô nhiễm biển (Joint Group of Experts on the Scientific Aspects of Marine Pollution - GESAMP) Những vấn đề ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đã được cộng đồng thế giới triển khai một cách đồng bộ có hệ thống trên các lĩnh vực: ô nhiễm do tàu biển, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sinh; những vấn
đề về sức khoẻ của người dân khu vực ven bờ; ô nhiễm biển từ khí quyển có liên quan tới vấn đề thay đổi khí hậu và ô nhiễm biển do phóng xạ [59]
Năm 1973, tổ chức y tế thế giới (WHO), tổ chức khí tượng thế giới (WMO) và chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã thiết lập hệ thống giám sát môi trường toàn cầu (GEMS), trong đó, môi trường biển đã được giám sát trên nhiều lĩnh vực [58] Chương trình giám sát và đánh giá chất lượng nước toàn cầu được triển khai từ 1978, với sự tham gia của 59 nước thành viên Đến nay, mạng lưới giám sát của chương trình đã phát triển ở 106 Quốc gia và vùng lãnh thổ, với
1544 trạm quan trắc và 2.296.814 điểm thu số liệu với hơn 100 thông số [59]
Từ năm 1980, hệ thống giám sát chất lượng môi trường và sự nở hoa của tảo biển đã hình thành ở Châu Âu và Bắc Mỹ, hầu hết các nước có biển tham gia Đến nay, hệ thống thống này đã phát triển ở quy mô toàn cầu, với phạm vi giám sát là chất lượng môi trường, độc tố tại vùng nuôi hải sản và rạn san hô, KBTB
Trung Quốc đã tổ chức ra các đơn vị thực hiện kế hoạch giám sát chung về ô nhiễm biển từ năm 1984 Đến năm 1996, Trung Quốc đã có hơn 400 trạm giám sát, trong đó có 102 trạm giám sát chất lượng nước biển Ngoài ra, Trung Quốc có hệ
Trang 23thống giám sát, dư độc tố trong cá kinh tế, thương mại về môi trường biển Hiện nay, mạng lưới quan trắc môi trường của Trung Quốc rất phát triển, phạm vi quan trắc rộng như vùng đánh cá, cảng, vùng nuôi trồng hải sản, các hệ sinh thái, bảo tồn thuỷ sinh… Các tiêu chuẩn, quy định giám sát môi trường biển khá đồng bộ, thực hiện thí nghiệm so sánh liên phòng thí nghiệm của mạng lưới ít nhất 1 lần/năm
Ở Bắc Triều Tiên, sau khi Luật Bảo vệ Môi trường được ban hành (1986), đã tiến hành xây dựng chương trình quốc gia phòng ngừa ô nhiễm biển trong đó có mục xây dựng hệ thống giám sát quốc gia Đến nay, mạng lưới giám sát môi trường
đã phát triển với quy mô rộng bao gồm các Trung tâm Giám sát Quốc gia, các trung tâm vùng, đối tượng quan trắc môi trường cũng đa dạng hơn
Hàn Quốc là quốc gia sớm đưa ra mạng lưới quan trắc môi trường Bộ Môi trường, tiến hành giám sát 6 lần một năm (vào tháng 2, 5, 7, 8, 9 và 11) trên 62 vùng ven bờ Ngoài mạng lưới giám sát môi trường Quốc gia còn có các chương trình quan trắc của các ngành (như dầu khí, giao thông, hải quân, nghề cá) và các địa phương khác nhau Đối tượng quan trắc đánh giá, giám sát bao gồm giám sát chất lượng nước, chất lượng trầm tích, đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật v.v
Khu vực Đông Nam Á (ASEAN): Trước thực trạng toàn cầu về những đe doạ
đối với tài nguyên, ô nhiễm môi trường biển do các nguồn thải từ lục địa, hoạt động tàu thuyền, sự cố dầu tràn, đánh bắt quá mức, khai thác huỷ diệt…, ASEAN cũng
đã xác định bảo tồn là hướng tích cực, là giải pháp tổng thể; bao gồm việc bảo vệ, duy trì, sử dụng bền vững, phục hồi và nâng cao môi trường tự nhiên (IUCN, 1991)
Để từng bước thực hiện quản lý, bảo tồn và sử dụng tài nguyên - môi trường, đa dạng sinh học biển, ASEAN đã thông qua nhiều Công ước như; Công ước Luật biển của Liên hiệp quốc 1982 (UNCLOS 1982), Công ước về các vùng đất ngập nước có
ý nghĩa quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm biển từ tàu (MARPOL 73/78), Công ước Luân Đôn ngăn ngừa ô nhiễm biển do đổ thải (London Dumping 1972),
Cùng với việc hình thành các KBTB để thực hiện công tác bảo vệ và tái tạo nguồn lợi biển, nhiều hệ thống giám sát chất lượng môi trường biển ven bờ đã được hình thành Từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, UNDP đã cùng các nước trong
Trang 24khối ASEAN thực hiện các hoạt động bảo vệ và chương trình quan trắc môi trường biển trong khu vực Đối tượng chính của chương trình là điều tra và quản lý các hệ sinh thái, khu bảo tồn thiên nhiên, ngăn ngừa ô nhiễm từ đất liền và quan trắc môi trường biển Năm 2002, ASEAN xây dựng hướng dẫn chi tiết thiết lập, hoạt động chương trình quan trắc giám sát chất lượng nước biển từ khâu thiết kế, hiện trường, trong phòng thí nghiệm đến báo cáo kết quả Từ năm 2002 đến nay, nhiều dự án/chương trình liên quan về quan trắc môi trường biển đã được triển khai thực hiện
có sự tham gia của các nước có biển thuộc khối ASEAN [47, 48]
Trong khối ASEAN, Malaysia là nước có chương trình quan trắc môi trường biển sớm nhất (bắt đầu năm 1978, đến năm 1985 đã có 186 điểm quan trắc Năm
2002, số điểm quan trắc là 219 điểm cố định, với số lượng mẫu thu cả năm là 1063 mẫu [52] Trong mạng lưới quan trắc môi trường biển đảo (71 đảo), có 5 đảo là KBTB, 39 đảo là khu công viên biển có tần suất quan trắc 4 lần/năm [56]
Tại Thái Lan, hệ thống điểm quan trắc môi trường biển của Thái Lan gồm 218 điểm thu mẫu nước, 110 điểm thu mẫu trầm tích với tấn suất quan trắc 2 lần/năm, đã quan trắc tới 30 thông số chất lượng nước biển … Bên cạnh đó, Cục Nghề cá đã xây dựng và quản lý hoạt động của hàng trăm điểm quan trắc môi trường ven biển, nguồn cấp nước cho vùng NTTS, KBTB [56] Trong khu vực, Thái Lan đã xây sớm dựng được bộ GHCP của các thông số ở vùng bảo tồn thuỷ sinh và rạn san hô
Quan trắc môi trường ở Myanma cũng được quan tâm thực hiện từ sớm, với các chương trình quan trắc chuyên ngành như quan trắc nước biển phục vụ du lịch, bãi tắm, các vùng NTTS, môi trường biển ở các đảo… Năm 2004, Myanma đã tiến hành chương trình quan trắc môi trường ở các vùng rạn san hô thuộc vùng ven biển Taninthayi phục vụ đánh giá, giám sát môi trường và đa dạng sinh học [56]
Chương trình quan trắc môi trường của Indonesia được thực hiện từ những năm đầu 1990, song quan trắc môi trường biển mới thực sự phát triển từ năm 2001 Hiện nay, chương trình quan trắc môi trường của Indonesia khá phát triển, triển khai
áp dụng QA/QC trong quan trắc phân tích môi trường, xây dựng bộ tiêu chuẩn quy định cho nhiều vùng sinh thái và đối tượng khác nhau
Trang 25Ở Philipin, thực hiện giám sát môi trường nước và trầm tích ở vịnh Manila ở những năm 1994 - 1996 và sau đó được thực hiện thường xuyên ở vịnh Manila, biển Đông và vịnh Calauag Philipin đã xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước, trầm tích biển ở nhiều vùng sinh thái và đối tượng áp dụng (vùng NTTS, vui chơi giải trí, bãi tắm, kiểm soát vùng ven bờ, rạn san hô, KBTB, công viên biển) [44] Chương trình quan trắc môi trường biển ở Singapo cũng rất phát triển Năm
1992 - 1998, Singapo đã có chương trình giám sát đa dạng sinh học và môi trường vùng nước ven bờ bao gồm các loài trong nước và trong trầm tích Ngoài ra, Singapo còn giám sát môi trường nước vùng du lịch 2 tuần 1 lần, vào lúc thuỷ triều cao [24] Như vậy, chương trình quan trắc môi trường biển nói chung và quan trắc môi trường ở KBTB nói riêng trên thế giới và khu vực đã được thực hiện từ rất sớm và phát triển nhanh chóng Chương trình quan trắc đã phục vụ hiệu quả công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học; ngăn ngừa, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường; đánh giá nguồn, sự cố và khắc phục kịp thời
sự cố môi trường Mặt khác, kết quả quan trắc môi trường góp phần quan trọng vào việc xây dựng định hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng và của KBTB
1.3.2 Hoạt động quan trắc môi trường biển trong nước
Lĩnh vực môi trường biển trong nước cũng được quan tâm thực hiện, song chương trình quan trắc môi trường biển mới thực sự hoạt động khi Luật bảo vệ môi trường có hiệu lực (1994) Trong quá trình triển khai Kế hoạch Quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững 1991 - 2000, Cục Môi trường (nay là Tổng cục Môi trường) đã phối hợp với một số Bộ ngành, xây dựng và hoàn thiện một hệ thống trạm quan trắc và phân tích môi trường từ năm 1995 (hình P.1 3 - phụ lục 1) Đến năm 2003, đã có 20 trạm quan trắc hiện trạng môi trường Trong đó, đã có 5 trạm vùng thực hiện nhiệm vụ quan trắc môi trường vùng cửa sông ven biển và biển khơi Chương trình quan trắc môi trường ven biển được thực hiện với tần suất 04 lần/năm, gồm các hợp phần môi trường nước (21 nhóm yếu tố), trầm tích (11 nhóm yếu tố) và thuỷ sinh vật (04 yếu tố) Trạm ngoài khơi thực hiện quan trắc 2 lần/năm, với 21 thông số môi trường (bảng 1.2) Hệ thống quan trắc môi trường biển gồm các
Trang 26điểm quan trắc tác động được thực hiện ở khu vực nhạy cảm như vùng cửa sông
ven biển (các điểm nóng về môi trường) và điểm quan trắc môi trường nền tại Bạch
Long Vĩ, Cồn Cỏ, Phú Quý, Côn Sơn…(nhưng hiện nay chỉ còn quan trắc ở Côn
Đảo) Số liệu quan trắc môi trường được tập hợp để xây dựng báo cáo hiện trạng
môi trường Quốc gia [46]
Bảng 1.2 Khu vực giám sát của 5 trạm quan trắc môi trường biển thuộc
hệ thống mạng trạm quan trắc môi trường Quốc gia
Trạm vùng 1 Viện Tài
nguyên Môi trường biển Vùng biển ven bờ phía Bắc: Trà Cổ, Cửa Lục, Đồ Sơn, Ba Lạt,
Sầm Sơn, Cửa Lò, Bạch Long Vĩ
35 thông
số 4lần/năm
Trạm vùng 2 TT khảo
sát, nghiên cứu và tư vấn
môi trường- Viện Cơ học
Vùng biển ven bờ miền Trung,
từ Hà Tĩnh đến Bình Định
35 thông
số 4lần/năm
Bộ Tư Lệnh Hải Quân
Khu vực Trường sa và DK1 21 thông
số 2lần/năm
Trạm
biển
khơi
Trạm vùng 5 Viện
Nghiên cứu Hải sản
Vùng biển Tây Nam bộ (16 điểm ) và Côn Sơn (2 điểm)
21 thông
số 2lần/năm
Bên cạnh đó, nhiều ngành và địa phương đã xây dựng và đưa vào hoạt động hệ
thống quan trắc môi trường phục vụ yêu cầu giám sát, bảo vệ môi trường theo vùng
và lĩnh vực quản lý Năm 2001, Bộ Thuỷ sản (nay hợp nhất Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn) triển khai chương trình Quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường của ngành Thuỷ sản, một trong những nhiệm vụ ưu tiên là xây dựng cơ sở
khoa học hình thành mạng trạm quan trắc cảnh báo môi trường, dịch bệnh các vùng
NTTS tập trung Hiện nay, hệ thống quan trắc ngành thuỷ sản đã thực hiện trong cả
nước với 03 trung tâm vùng Trong đó, Trung tâm Quốc gia Quan trắc Cảnh báo
Môi trường biển (Viện Nghiên cứu Hải sản) là cơ quan chủ trì, tổ chức hoạt động
quan trắc môi trường tại các vùng nuôi hải sản biển, cảng cá trên phạm vi cả nước,
với gần 80 điểm quan trắc được thực hiện với tần suất 2lần/năm [46]
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 có hiệu lực, càng quan tâm, đề cập sâu rộng
hơn đến vấn đề môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học, cấm và hạn chế các hoạt
động có tác động xấu đến môi trường, thuỷ sinh vật, hệ sinh thái [26]
Trang 27Những năm gần đây, nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Hải dương học, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Nghiên cứu Hải sản đã tiến hành nhiều chương trình/đề tài dự án cấp Nhà nước/Bộ ngành và địa phương về điều tra, nghiên cứu để lập quy hoạch, xây dựng và quản lý các KBTB, trong đó có tiến hành nghiên cứu đánh giá hiện trạng, suy thoái, sự cố và ô nhiễm môi trường ở KBTB và dự kiến thiết lập KBTB Nhiều tổ chức Quốc tế như WWF, WB, ADB, UNEP, IUCN, cũng có những hỗ trợ về kinh phí, kỹ thuật xây dựng và quản lý KBTB Việt Nam Trong số các KBTB đã được thiết lập, KBTB Hòn Mun, Cù Lao Chàm thuộc
dự án KBTB thí điểm với sự tài trợ của DANIDA, WB và IUCN, nên quan trắc môi trường được lồng ghép vào chương trình xây dựng, quản lý và giám sát KBTB Năm 2008, Trung tâm Quốc gia Quan trắc Cảnh báo Môi trường biển (Viện Nghiên cứu Hải sản)bắt đầu thực hiện quan trắc môi trường tại một số KBTB (Cát
Bà, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Phú Quốc), bao gồm 25 thông số môi trường với tần suất 2lần/năm Tuy nhiên, do hạn chế về kinh phí, nên phạm vi quan trắc trong năm 2009 bị thu hẹp, chỉ được quan trắc tại Cát Bà, Bạch Long Vĩ [23] Theo kế hoạch, chương trình quan trắc môi trường biển nói chung và quan trắc môi trường ở KBTB nói riêng sẽ được phát triển về quy mô thực hiện Trong quyết định số 16/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020” đã đưa ra; đối với quan trắc môi trường nền sẽ được thực hiện 12 điểm quan trắc ở biển ven bờ và biển khơi; đối với quan trắc môi trường tác động sẽ thực hiện quan trắc ở 48 cửa sông, 14 cảng biển, 11 bãi tắm, 7 vùng NTTS, 160 điểm ngoài khơi và quan trắc đa dạng sinh học ở 49 vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
Song song với việc hình thành hệ thống mạng lưới trạm quan trắc, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tập trung chỉ đạo xây dựng và ban hành các tiêu chí, các
bộ tiêu chuẩn, các quy trình, quy phạm… theo những lĩnh vực, đối tượng và thành phần môi trường cần quan trắc, kiểm soát
Về hệ thống tiêu chuẩn, quy định: Các tiêu chuẩn liên quan tới môi trường nước
và bảo vệ môi trường biển ven bờ như: TCVN 5998 - 1995, TCVN 5943 - 1995,
Trang 28TCVN 5992 - 1995, TCVN 5993 - 1995, TCVN 6772 - 2000, TCVN 6986 - 2001, TCVN 6987 - 2001… Đặc biệt, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chuẩn
kỹ thuật Quốc gia về môi trường, trong đó QCVN 10:2008/BTNMT quy chuẩn Quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ đối với mục đích NTTS và bảo tồn thuỷ sinh Ngoài ra, những kết quả nghiên của một số đề tài/dự án nghiên cứu riêng lẻ đã đề xuất ngưỡng cho phép của nhiều thông số môi trường, hoàn thiện và thử nghiệm áp dụng các tiêu chuẩn…, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quan trắc, kiểm soát chất lượng môi trường biển
Về hướng dẫn quan trắc phân tích: Trong năm 2002, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì xây dựng và ban hành Sổ tay hướng dẫn quan trắc phân tích môi trường biển bao gồm phần nước biển, trầm tích và sinh vật [12] Năm 2007, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 10/2007/TT-BTNMT ngày 22 tháng 10 năm 2007 hướng dẫn thực hiện QA/QC trong quan trắc môi trường biển [5]
Cho đến nay, chương trình quan trắc môi trường biển nói chung đã và đang được dần hoàn thiện, nhưng quan trắc môi trường ở KBTB còn chưa tương xứng với
vị thế và vai trò của nó Những khu vực đã được phê duyệt và công nhận như khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia và KBTB vẫn chưa có hệ thống quan trắc môi trường thường xuyên theo dõi định kỳ và liên tục sự biến động môi trường, tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái đặc hữu có chức năng vai trò đặc biệt này Những năm gần đây, chất lượng môi trường ở các đảo dải ven bờ (bao gồm KBTB) có những biến động mạnh, vừa chịu ảnh hưởng của sự suy giảm chất lượng nước biển dải ven biển, vừa chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên đảo như du lịch, sinh hoạt, khai thác và NTTS, dịch vụ hậu cần nghề cá Quan trắc môi trường là khâu cơ bản, đóng vai trò then chốt quan trọng, đánh giá hiện trạng, diễn biến và cảnh báo sự
cố môi trường, rủi ro sinh thái biển làm cơ sở quyết định giải pháp, điều chỉnh quy hoạch, phân vùng chức năng của KBTB Mặt khác, quan trắc môi trường cung cấp thông tin quan trọng để xây dựng chính sách, chiến lược và hành động bảo vệ môi trường, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng biển đảo Vì đó, thiết lập chương trình quan trắc môi trường KBTB là rất cần thiết, cần được thực hiện sớm
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN SINH VẬT, KINH TẾ -
XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG CỦA 4 KHU BẢO TỒN BIỂN
2.1 Điều kiện tự nhiên, khí tượng - thuỷ văn 4 khu bảo tồn biển
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đảo Bạch Long Vỹ: Là một đảo không lớn, nằm cách xa bờ (hình 2.1) và ít
dân sinh sống, nhưng với vị trí địa lý quan trọng và sự đa dạng về nguồn lợi hải sản
đã làm cho các hoạt động kinh tế xã hội tại khu vực đảo Bạch Long Vỹ đang ngày càng phát triển Do vị trí giữa Vịnh, đảo đóng một vai trò quan trọng trong việc mở rộng các vùng biển và phân định biển Vịnh Bắc Bộ Ngoài ra, đảo còn nằm trên một trong 8 ngư trường lớn của Vịnh, có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh - quốc phòng biển của nước ta ở Vịnh Bắc Bộ
So với các đảo khác, đảo Bạch Long Vĩ có địa hình khá thoải, với 62,5% diện tích đất có góc dốc nhỏ hơn 5o Phần đảo nổi có diện tích (tính từ 0 m nước) là trên 3
km2, chiều dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam khoảng 3 km, chiều rộng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam khoảng 1,5 km Diện tích vùng nước có độ sâu từ 6m nước trở vào đến mực triều thấp nhất khoảng 4,27 km2 Khoảng độ sâu từ 10 - 30m nước là một sườn cổ khá dốc, có cấu tạo từ đá cuội, sỏi, cát và đá gốc Trầm tích bãi biển và vùng triều chủ yếu là cuội, sạn, cát cacbonat, tập trung ở phía nam Trầm tích đáy biển ven đảo gồm nhóm vụn thô và nguồn gốc sinh vật phủ trên nền đáy đá gốc
Đảo Cồn Cỏ: Cồn Cỏ có toạ độ tại vĩ độ 17010’ N, kinh độ 107020’ E, cách cửa Tùng khoảng 30 km (hình 2.1) Diện tích đảo nổi khoảng 3,5 km2 Đảo gần hình tròn, có 2 ngọn đồi cao 63 và 37 m, độ dốc 15 - 250 Vùng triều có bờ đá lộ xen
kẽ bãi cát hẹp ngắn Vùng dưới triều có nền đáy đá bazan trên phủ san hô
Với vị trí không quá xa bờ, Cồn Cỏ có lợi thế trong gắn kết, thúc đẩy phát triển đối với kinh tế biển Đảo nằm trong khu vực ngư trường Con Hổ, có phạm vi gần vùng đánh cá chung (Việt Nam - Trung Quốc) Cồn Cỏ là một căn cứ hậu cần thuận lợi phục vụ lực lượng thuyền đánh bắt hải sản xa bờ không chỉ của Quảng Trị mà còn của các địa phương khác Mặt khác, Cồn Cỏ nằm gần các tuyến giao thông biển Do
vị trí địa lý nên Cồn Cỏ là một trong những đảo tiền tiêu biển Việt Nam [18]
Trang 30Hình 2.1.Vị trí địa lý của đảo được nghiên cứu
Côn Đảo: Côn Đảo là quần đảo gồm 14 hòn đảo lớn nhỏ, có đỉnh cao 577m là
núi Thánh Giá và 515m ở núi Chúa Với vị trí xa đất liền (hình 2.1), nên điều kiện giao thông vận tải giữa đảo và đất liền không dễ dàng Mạng lưới sông suối trên đảo
ít, không phát triển, lưu lượng nước không đáng kể Côn Đảo có các vịnh Côn Sơn,
Trang 31Đông Bắc và Bến Đầm là các vịnh quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của đảo
Các vịnh này có bãi triều rộng, thoải dần ra biển Trầm tích đảo có 3 loại chính:chủ
yếu là cát, cát - bùn với các vỏ động vật thân mềm, so với các đảo khác thì Côn Đảo
có cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình phức tạp hơn (Lê Xuân Hồng, 1997) Đường bờ đảo
Côn Đảo cấu tạo phức tạp, cấu tạo đất đá chủ yếu là thành tạo mắc ma phun trào và
xâm nhập Vùng đáy có bề mặt tích tụ - mài mòn phân bố ở độ sâu từ 3 - 10m có diện
tích không lớn, chủ yếu ở phía bờ Đông Bắc, trung tâm và Tây Nam Côn Đảo
Đảo Phú Quốc: là quần đảo lớn nhất của Việt Nam, nó bao gồm 14 hòn đảo
lớn nhỏ khác nhau và cách thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang khoảng 120km và có
tọa độ địa lý ở 9o45’ - 10o30’N và 103o55’ - 104o05’E nằm thuộc vùng biển phía
Tây Nam của tổ quốc (hình 2.1) Đảo lớn nhất Phú Quốc có diện tích 53km2 Đảo
Phú Quốc nằm trong vị trí gần như trung tâm của vùng Đông Nam Mũi phía Nam
của đảo Phú Quốc là một nhóm các đảo được gọi là An Thới bao gồm 13 đảo nhỏ
2.1.2 Đặc điểm khí tượng
Do 4 đảo nghiên cứu nằm ở các vùng biển có điều kiện tự nhiên khác nhau,
nên đặc điểm khí tượng có những nét đặc trưng riêng biệt Hình 2.2a biểu thị sự
khác biệt về biến trình và giá trị trung bình nhiều năm của nhiệt độ không khí theo
tháng trong năm, hình 2.2b biểu thị lượng mưa theo tháng trung bình nhiều năm ở
các đảo nghiên cứu Nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm của đảo Phú Quốc
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Tháng
mm B¹ch Long VÜ Cån Cá
C«n §¶o Phó Quèc
Hình 2.2a Nhiệt độ không khí Hình 2.2b Lượng mưa
Hình 2.2 Nhiệt độ không khí ( o C), lượng mưa (mm) trung bình tháng nhiều năm tại 4 khu bảo tồn biển trọng điểm(Nguồn: Nguyễn Văn Âu, 2002 [2])
Trang 32Đảo Bạch Long Vĩ: Khí hậu Bạch Long Vĩ đại diện cho vùng khơi vịnh Bắc
Bộ, có hai mùa chính Mùa mưa từ tháng 5 - 8, thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều, gió mùa tây nam với tần suất hướng nam 74 - 88%, tốc độ trung bình 5,9 - 7,7m/s, sóng thịnh hành hướng nam, đông nam với độ cao trung bình từ 0,6 - 0,9m Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh, khô và ít mưa, hướng gió thịnh hành là bắc và đông, tốc độ trung bình 6,5 - 8,2m/s, sóng thịnh hành là đông bắc với độ cao trung bình đạt 0,8 - 1,0m Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,3oC, biên độ nhiệt năm dao động 9,6 - 13,8oC Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất (trung bình 28,7oC) và thấp vào các tháng 1 (trung bình 16,6oC) Độ ẩm không khí trung bình 86% Lượng mưa Bạch Long Vĩ thấp so với ven bờ Bắc Bộ, trung bình năm đạt 1031mm, từ tháng - 10 chiếm 83% cả năm Lượng mưa cao nhất vào tháng 8 (214mm), thấp nhất vào tháng 12 (17,1mm) Lượng bốc hơi cả năm đạt 1461 mm [2, 33]
Đảo Cồn Cỏ: Nhiệt độ không khí ở Cồn Cỏ thể hiện rõ biến trình mùa, mùa
mưa cao hơn mùa khô, trung bình năm là 25,3oC Nhiệt độ không khí thường cao nhất vào tháng 7 (trung bình 29,5oC) và thấp nhất vào tháng 2 (trung bình 20,4oC) Tốc độ gió khá mạnh, lớn nhất thường vào tháng 11 (trung bình 5,3m/s, thịnh hành
là hướng đông bắc), tháng 4 và 5 thường có tốc độ gió thấp nhất, hướng gió tản mạn Sóng khu vực quanh đảo Cồn Cỏ khá lớn, có 3 hướng chính: hướng Đông Bắc (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau), hướng Đông Nam (tháng 4 - 6); hướng Tây Nam (tháng 7 - 8) Lượng mưa khu vực đảo Cồn Cỏ khá cao, trung bình năm đạt 2278mm, lượng mưa tập trung từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau (chiếm 73,6% lượng mưa cả năm) Lượng bốc hơi ở Cồn Cỏ thấp, trung bình khoảng 1013mm [2, 33]
Côn Đảo: Khu vực Côn Đảo được đặc trưng bởi khí hậu cận xích đạo, nhiệt
đới, gió mùa thường xuyên nóng ẩm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với
sự hoạt động chủ yếu của gió Đông Bắc Mùa mưa chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11 với sự hoạt động mạnh của gió Tây Nam Tốc độ gió trung bình năm khoảng 2,6m/s, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được là 42m/s vào tháng 4 Nhiệt độ không khí khá cao và ổn định trong cả hai mùa gió, nhiệt độ trung bình năm là 270C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất vào tháng 5 là 28,30C và thấp nhất vào tháng 1 với
Trang 3325,20C Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.100mm, tháng 10 có lượng mưa cao nhất Chế độ mưa khu vực Côn Đảo phụ thuộc rất nhiều vào các khối khí, đặc biệt là khối khí đoàn xích đạo ẩm Lượng mưa bình quân nhiều 2.055mm/năm (Nguyễn Văn Âu, 2002) Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 - 10 với lượng mưa trung bình đạt 200 - 250mm/tháng, chiếm khoảng 70% lượng mưa cả năm [2, 33]
Đảo Phú Quốc: Phú Quốc được đặc trưng bởi khí hậu cận xích đạo, nhiệt đới,
gió mùa thường xuyên nóng ẩm với hai mùa mưa và khô rõ rệt Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 tới tháng 3 hàng năm trong khi đó, mùa mưa bắt đầu kéo dài từ tháng 6 đến tháng 8 Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 26 - 27oC, trong đó tháng 4
là tháng nhệt độ cao nhất, trung bình vào khoảng 28,30C; tháng 1 hàng năm thường
là thời kỳ có nhiệt độ thấp nhất Lượng mưa hàng năm vào khoảng 2000mm Chế
độ gió tại Phú Quốc có hai mùa rõ rệt, gió mùa Đông Bắc chiếm ưu thế từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Tốc độ gió Đông Bắc biến động từ 2,8 - 4,0m/s Gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 10 với tốc độ từ 3,0 -5,1m/s Gió mạnh thường xảy ra vào giai đoạn tháng 6 đến tháng 8, tốc độ gió tối đa có thể đạt 31,7m/s Hướng sóng bị ảnh hưởng của hướng gió chủ đạo Độ cao sóng thường nhỏ hơn 0,9m [2, 33]
2.1.3 Đặc điểm thuỷ văn
Đảo Bạch Long Vĩ: Chế độ thuỷ triều ở khu vực đảo Bạch Long Vỹ có tính chất
nhật triều đều Mực nước trung bình đạt 1,82m, tương đối thấp vào mùa khô, thấp nhất là tháng 2 và tháng 3, tương đối cao về mùa mưa, cao nhất vào tháng 9 và 10 Mực nước cường cao nhất là 3,76m, thấp nhất vào giữa mùa khô đạt trên 3,0m Mực nước ròng thấp nhất là 0,16m
Dòng chảy ven đảo Bạch Long Vỹ thể hiện rõ ảnh hưởng của hình thể đảo; Ở phía tây nam đảo, dòng chảy ưu thế là hướng đông bắc, bắc và tây nam, tây với tốc
độ trung bình 0,20m/s Ở phía đông bắc đảo, ưu thế hướng đông bắc, đông và nam, tây nam với tốc độ trung bình 0,13m/s Ở phía đông nam đảo, ưu thế hướng tây nam với tốc độ trung bình 0,28m/s [2, 33]
Đảo Cồn Cỏ: Chế độ thuỷ triều mang tính chất bán nhật triều không đều Mực
triều đảo Cồn Cỏ không lớn, trung bình năm đạt 0,76m; lúc triều cường có thể lên tới 0,9 - 1,2m và lúc ròng có thể xuống 0,3 - 0,6m Thời kỳ nước triều mạnh từ tháng 9
Trang 34đến hết tháng 1 năm sau (lúc triều cực đại đạt 1,4m) Thời kỳ triều nhỏ nhất vào các tháng 5 - 7, lúc triều cường nhất chưa tới 1m và ròng nhất có thể xuống tới 0,1m Vùng biển Cồn Cỏ nằm trong khu vực có dòng chảy biển tương đối mạnh và hướng dòng chảy thay đổi theo mùa Tháng 6 - 8, dòng chảy hướng Đông Nam - Tây Bắc, tốc độ trung bình 0,31m/s Những tháng còn lại dòng chảy có hướng Tây Bắc - Đông Nam với tốc độ trung bình từ 0,27 - 0,63m/s
Côn Đảo: Chế độ thủy triều vùng biển Côn Đảo thuộc loại triều hỗn hợp thiên
về bán nhật triều không đều Độ cao khi triều cường từ 3,0 - 4,0m và khi triều kém khoảng từ 1,5 - 2,0m Mực nước cực đại đã ghi nhận là 4,1m và cực tiểu ghi nhận được là 0,2m, mực nước trung bình là 2,5m [38]
Dòng chảy ở vùng ven đảo Côn Đảo chịu sự chi phối chủ yếu của dòng chiều, địa hình, thiên văn, khí tượng, làm cho nước biển vùng Côn Đảo được lưu thông và trao đổi với các vùng biển lân cận Vào mùa đông dòng chảy trong khu vực Côn Đảo có hướng Đông Bắc - Tây Nam với tốc độ trung bình 0,8 - 1,5m/s, về mùa hạ dòng chảy có hướng ngược lại với tốc độ dòng chảy trung bình khoảng 0,7 - 1,5m/s
Đảo Phú Quốc: Chế độ thủy triều của khu vực Phú Quốc được đặc trưng bằng
chế độ nhật triều không đều, biên độ dao động thấp Mực nước triều cường trung bình 1,17m, mực nước ròng trung bình 0,41m và trung bình đạt 0,8m Tuy trên đảo
có hệ thống các sông suối khá dày nhưng đa phần đều có độ dài ngắn, dốc và lưu vực nhỏ, nên ảnh hưởng thủy triều vào các thủy vực nội địa là không đáng kể
Dòng chảy ở đảo Phú Quốc chịu ảnh hưởng của dòng chảy vịnh Thái Lan Mùa Đông Bắc, dòng chảy trong vịnh chạy theo chiều kim đồng hồ, vào mùa gió Tây Nam dòng chảy theo hướng ngược lại Tốc độ dòng chảy trong cả hai mùa gió mùa thường nhỏ hơn 30cm/s
Điều kiện tự nhiên của 4 đảo nghiên cứu đều có những nét đặc trưng riêng biệt, đại diện cho 4 vùng biển, đại diện cho các đảo ven bờ, đảo ngoài khơi cũng như đại diện đảo miền Bắc, miền Trung và miền Nam Điều kiện khí tượng - thuỷ văn của 4 đảo cũng thể hiện sự biến đổi theo 2 mùa gió Tây Nam và Đông Bắc (chế
độ dòng chảy có sự khác biệt nhau theo 2 mùa gió - hình P.1.4 và hình P.1.5 ở phụ lục 1), đây là một trong những cơ sở xác định vị trí điểm và tần suất quan trắc
Trang 352.2 Tình hình kinh tế - xã hội ở 4 khu bảo tồn biển
2.2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội ở 4 khu bảo tồn biển
Hiện trạng kinh tế - xã hội ở 4 KBTB được tổng hợp từ nguồn số liệu và tài liệu của Đỗ Văn Khương (2008) [22]:
2.2.1.1 Đảo Bạch Long Vĩ
Tổ chức bộ máy huyện đảo: Đảo Bạch Long Vỹ được xây dựng thành huyện
từ năm 1993 Huyện có diện tích rất nhỏ hẹp nên không phân cấp thành các xã, tổ chức bộ máy hành chính huyện gọn nhẹ, cán bộ kiêm nhiệm nhiều chức năng Bộ máy quản lý hành chính bao gồm Huyện Uỷ, HĐND, UBND và khối nội chính
Dân số và lao động: Hiện nay, có khoảng 80 hộ dân (30 hộ Thanh niên xung
phong) với 350 nhân khẩu và 170 lao động Ngoài ra, còn lượng lớn dân vãng lai từ các tầu cá neo đậu quanh đảo (có lúc tới 800 chiếc), có thời điển dân cư tập trung trong khu vực khoảng 3.500 - 4.000 người, nâng mật độ dân xấp xỉ 2.000 người/km2, khu vực tập trung dân cao nhất là khu âu tầu và lân cận Lực lượng lao động xấp xỉ 50% tổng số dân và nhân lực khai thác thuỷ sản có tay nghề vững chỉ khoảng 20%
Đất đai và cơ cấu sử dụng: Đất nông nghiệp 0,30ha; đất lâm nghiệp 45,2ha; đất
chuyên dụng 74,1ha; đất ở 0,7ha; đất chưa sử dụng (chủ yếu bãi ngập triều cao) 112,8ha Tổng diện tích đất ngập nước ven đảo khoảng 559ha (tính đến độ sâu 6m), trong đó diện tích âu cảng là 30,9ha
Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng của Bạch Long Vĩ còn ở mức thấp và chưa đồng
bộ Nguồn nước ngọt khai thác ở đảo còn quá ít so với yêu cầu Cảng và khu neo đậu tầu thuyền rộng 30,9 ha với hệ thống đê chính dài 648m, đê phụ 514m Lòng âu cạn, diện tích hữu ích neo đậu tầu thuyền còn khoảng 7,4 ha lúc triều kiệt Cửa âu rộng, hướng đông nam, chịu ảnh hưởng mạnh của gió đông nam
Ngư nghiệp: Nuôi thuỷ sản ven đảo không phát triển, chủ yếu nuôi bào ngư
Khai thác hải sản là hoạt động kinh tế chủ đạo của ngư dân trên đảo Mùa vụ khai thác gần như quanh năm nhưng có sự thay đổi để thích nghi với thời tiết Từ tháng 4 -
9, nghề chủ yếu là: lưới kéo, lưới rê, câu mực, đánh bắt tôm, cá, cua Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau do sóng to gió lớn nên tập trung các nghề phụ: làm mắm, bắt bào ngư, hầu hà Doanh thu hàng năm từ khai thác thuỷ sản ước tính 1440 triệu đồng
Trang 36Nông - lâm nghiệp: Do thiếu nước tưới, diện tích đất không nhiều, nên sản
lượng nông nghiệp trên đảo chỉ giải quyết được một phần nhu cầu tại chỗ Hiện nay, tổng diện tích rau quả đạt 8.500m2, thu hoạch hàng năm đạt hơn 100 triệu đồng Các loại cây chắn gió và lấy gỗ đã phủ xanh được khoảng 100ha mặt đảo Chăn nuôi chủ yếu đàn gia súc thả rông, khoảng 60 - 70 con bò, vài chục con dê, khoảng 500 -
600 con lợn Ngoài ra còn gà, vịt, ngan, ngỗng sản lượng năm đạt khoảng 2 tấn
Dịch vụ và thương mại: Dịch vụ với qui mô nhỏ như bán hàng tạp hóa, bán
lương thực, thực phẩm v.v Nghề cơ khí, sửa chữa còn hạn chế, chỉ sửa chữa nhỏ, hàn, thay thế phụ kiện nhỏ Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Bạch Long Vĩ gồm xưởng sản xuất bột cá công xuất 80 tấn/ngày, xưởng sấy mực công xuất 10 tấn/ngày, trạm cấp xăng dầu 300m3, xưởng sản xuất nước đá 50 tấn/ngày, xưởng sản xuất nước ngọt từ nước biển 200m3/ngày, kho đông lạnh, xưởng cơ khí, tầu thu mua vận chuyển
200 tấn Bạch Long Vĩ là cơ sở hậu cần nghề cá quan trọng của vịnh Bắc Bộ Mỗi ngày, hàng trăm lượt tàu thuyền ra vào âu cảng trao đổi, mua bán hàng hoá và tránh gió bão, có lúc lên tới 700chiếc (tháng 6/2006) và tới hơn 750chiếc (tháng 7/2007)
Y tế, văn hoá, giáo dục và môi trường: Vấn đề y tế trên đảo vẫn chưa đáp ứng
nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Rác thải được thu gom và đem đốt thủ công tại hai điểm, ý thức bảo vệ môi trường chưa cao Trên đảo đã có trạm phát thanh, truyền hình, sân vận động kết hợp sân bay trực thăng trung tâm văn hoá thể thao đa chức năng với diện tích hơn 7.000 m2 Đảo có 01 trường mẫu giáo và tiểu học Như vậy, với hiện trạng kinh tế - xã hội của Bạch Long Vĩ, nguồn thải chất ô nhiễm chủ yếu là các ngành dịch vụ hậu cần nghề cá, chế biến hải sản, từ hoạt động
và neo đậu của tầu thuyền, dân sinh Khu vực phát thải chất ô nhiễm chủ yếu là âu cảng và lân cận (phía đông nam đảo) Các chất gây ô nhiễm nước chủ yếu là dầu -
mỡ, chất hữu cơ, nhóm muối dinh dưỡng, CN- (có thể sử dụng để khai thác hải sản)
2.2.1.2 Đảo Cồn Cỏ
Tổ chức bộ máy: Huyện đảo Cồn Cỏ được thành lập từ năm 2004 thuộc tỉnh
Quảng Trị Huyện có diện tích rất nhỏ hẹp nên không phân cấp thành các xã, tổ chức
bộ máy hành chính huyện gọn nhẹ, cán bộ kiêm nhiệm nhiều chức năng
Trang 37Dân số, lao động: Hiện tổng số dân cư trên đảo khoảng trên 500 người với hai
thành phần cư dân chính là lực lượng vũ trang và dân sự Ngoài ra, trên đảo còn có
cư dân vãng lai như: công nhân xây dựng các công trình trên đảo, ngư dân của tàu thuyền ghé đảo và khách đến đảo… nhưng số lượng người không lớn Toàn bộ dân
cư trên đảo hiện tại đều trong độ tuổi lao động và đều đang tham gia các hoạt động kinh tế và quốc phòng- an ninh Dân cư tập trung nhất ở khu vực phía nam của đảo
Đời sống của người dân định cư trên đảo hiện còn gặp rất nhiều khó khăn
Ngành nông - lâm nghiệp: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên đảo không
lớn, khoảng 0,31 ha, chủ yếu là các loại cây thực phẩm dân sinh… Đối tượng nuôi trên đảo như bò, dê và lợn Sản xuất nông nghiệp hiện chỉ mang tính cải thiện nhu cầu thực phẩm tại chỗ với quy mô nhỏ lẻ, do thiếu nước ngọt trong mùa khô Diện tích rừng trên đảo khoảng 180,71 ha, tỷ lệ che phủ đạt 78,44% diện tích của đảo
Kinh tế dịch vụ: Tuy dân cư còn hạn chế nhưng trên đảo cũng đã xuất hiện các
hoạt động dịch vụ đời sống không chỉ cho nhu cầu tại chỗ mà còn cho cư dân vãng lai đến đảo (tàu thuyền neo đậu vào đảo bình quân khoảng 2.000 lượt/năm,…) Hoạt động dịch vụ chủ yếu là dịch vụ ăn uống và cung ứng nhu yếu phẩm sinh hoạt đời sống, hậu cần nghề cá Giá trị sản xuất của đảo đạt trên dưới 10 tỷ đồng/năm
Khai thác hải sản: Hiện nay, tiềm lực kinh tế của người dân trên đảo chưa đủ
khả năng đóng thuyền có công suất lớn, vươi khơi Vì vậy phương tiện nghề cá của dân đảo còn thô sơ như thuyền thúng, câu… và nghề thủ công như lặn bắt hải sản trong vùng rạn, ven đảo Sản phẩm đánh bắt được không nhiều chỉ để cải thiện một phần đời sống hàng ngày cho gia đình
Cơ sở hạ tầng: Tuyến đường trục quanh đảo dài 5.097m được xây dựng theo
tiêu chuẩn đường cấp V Trên đảo đã hình thành cảng cá và âu tàu (3 ha) ở phía Nam, gần với khu dịch vụ hậu cần nghề cá tạo thuận lợi cho tàu thuyền cặp đảo và
là khu vực neo đậu tránh gió bão trong mùa mưa bão Đảo cá cảng quân sự ở phía Đông Nguồn năng lượng trên đảo chủ yếu là năng lượng điện mặt trời
Y tế, văn hoá và giáo dục: Cơ sở y tế trên đảo hiện là bệnh xá quân y, còn
thiếu trang thiết bị và lực lượng cán bộ y tế Hiện nay, trên đảo mới chỉ có nhà trẻ,
Trang 38mẫu giáo, trường tiểu học, con em của người dân trên đảo đến độ tuổi đi học phải vào đất liền Đảo vẫn còn thiếu những công trình sinh hoạt văn hoá cộng đồng Cho tới nay các ngành kinh tế trên đảo Cồn Cỏ mới ở điểm xuất phát ban đầu, giá trị sản xuất của các ngành hầu như chưa đáng kể, chưa đáp ứng đủ nhu cầu trên đảo Hoạt động dân sinh trên đảo thấp nhất trong 4 đảo nghiên cứu Do vậy, mức độ phát thải chất ô nhiễm của đảo không lớn, nhưng môi trường nước ven đảo lại chịu ảnh hưởng lớn của nguồn lục địa (đảo cách cửa Tùng 30km - Cồn Cỏ có vị trí gần
bờ nhất trong 4 đảo nghiên cứu) Nguồn phát thải chất ô nhiễm chủ yếu từ hoạt động và neo đậu tàu thuyền, từ dịch vụ hậu cần nghề cá, dân sinh Chất ô nhiễm chủ yếu là dầu-mỡ, chất hữu cơ, dinh dưỡng ở khu vực cảng (phía Nam đảo)
2.2.1.3 Côn Đảo
Tổ chức bộ máy: Năm 1977, Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam quyết
định đặt tên gọi chính thức là Côn Đảo Hiện nay, tổ chức bộ máy của huyện Côn Đảo khá đầy đủ các ban ngành
Dân số, lao động: Tổng diện tích của cả quần đảo khoảng 7.115ha Dân số của
đảo khoảng hơn 5.500 người, trong đó nam giới chiếm hơn 48% Cơ cấu dân cư được chia làm 9 khu dân cư trong đó tập trung chủ yếu ở Côn Lôn Mật độ dân số
73 người/km2, tỷ lệ tăng dân số 1,06%/năm Dân số trong độ tuổi lao động 3.867người (chiếm 70,31% tổng dân số của đảo) Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001-2006 là 15,98%/năm; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 850USD Huyện Côn Đảo có 50 doanh nghiệp đang hoạt động ở các lĩnh vực: sản xuất nước đá, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản, du lịch và thương mại, cơ khí
Công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp năm đạt trên 52.421 triệu đồng Các
sản phẩm công nghiệp chủ yếu: Điện thương phẩm: 5.296 ngàn KW; nước sạch 510ngàn m3; nước đá 145 ngàn tấn; nước mắm 16 ngàn lít, đá xây dựng 20 ngàn m3 Côn Đảo có 5 nhà máy sản xuất nước đá cung cấp khoảng 11.000 cây đá/ngày
Thương mại-dịch vụ: Thương mại, dịch vụ chính của Côn Đảo là du lịch và
dịch vụ hậu cần nghề cá Năm 2007, kinh phí thu được 299.670 triệu đồng, đạt
105,89% kế hoạch năm, tăng 20,37% so với năm 2006 Tổng doanh thu thương mại
Trang 39là 222.500 triệu đồng, đạt 103,01% kế hoạch năm Các ngành dịch vụ là 77.170 triệu đồng, đạt 115,18% kế hoạch năm Trong đó, giá trị lớn nhất là du lịch đạt 13.500 triệu đồng tiếp đến là vận tải đạt 13.630 triệu đồng Khách sạn, nhà hàng đón 15.775 khách thăm quan du lịch tới Côn Đảo hàng năm Côn Đảo có 2 cầu cảng chính và hàng chục cơ sở sửa chữa cơ khí nhỏ làm dịch vụ hậu cần cho các tàu cá Côn Đảo là điểm tránh trú bão cho tàu thuyền ở ngư trường Đông Nam Bộ
Nông lâm nghiệp: Giá trị sản xuất nông nghiệp 10.120 triệu đồng, đạt
101,20% kế hoạch năm, tăng 33,83% so với năm 2006 (Trồng trọt: 1.380 triệu đồng, chăn nuôi 8.740 triệu đồng) Về lâm nghiệp, triển khai kế hoạch trồng 3.000 cây dừa đặc sản quanh hồ Quang Trung tạo cảnh quan du lịch Công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rừng, phòng chống cháy rừng được thực hiện tốt
Ngư nghiệp: Hiện nay ở Côn Đảo có khoảng trên 52 thuyền đánh cá nhỏ dưới
20CV, chủ yếu là nghề câu Số lượng người làm nghề đánh cá cư trú trên đảo không đáng kể Tuy nhiên, hàng tháng có 800-900 (cao nhất khoảng 3.000) lượt tàu đánh cá
từ các nơi khác đến neo đậu tại đây để lấy dầu, nước, nước đá Giá trị sản xuất theo giá hiện hành đạt 5.176 triệu đồng và tính theo giá cố định là 3.726 triệu đồng Sản lượng thủy sản khai thác đạt 361 tấn (trong đó, cá chiếm 291 tấn) Diện tích nuôi trồng thủy sản của đảo khoảng 102ha, với sản lượng đạt 44 tấn
Cơ sở hạ tầng cơ bản: Cơ sở hạ tầng của Côn Đảo khá đầy đủ như nhà văn
hoá, khách sạn, bệnh viện quân dân y, sân bay Cỏ Ống, đường xá, công sở Huyện… Ngoài ra, các hộ dân đã đầu tư xây dựng nhà ở góp phần làm cho bộ mặt địa phương ngày càng khang trang Côn Đảo có 2 cảnh chính là cảng Bến Đầm (nơi neo đậu tàu thuyền - trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá) và cảng du lịch ở vịnh Côn Sơn Cơ sở vật chất phục vụ du lịch rừng và biển cũng khá tốt
Y tế, văn hóa - xã hội: Vấn đề y tế cũng được quan tâm hàng đầu, tính riêng
năm 2007 có 11.979 lượt người được khám chữa bệnh; 100% trẻ em trong độ tuổi được tiêm phòng vác-xin; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 3% Về văn hoá xã hội và thông tin tuyên truyền, huyện đảo đã cố gắng củng cố và nâng cao năng lực phục vụ dân cư trên đảo Huyện đảo cũng rất nỗ lực phát triển công tác giáo
Trang 40dục, đào tạo, thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho người dân trên đảo làm cơ sở cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường Như vậy, với thực trạng phát triển kinh tế hiện nay của Côn Đảo, nguồn phát thải chất ô nhiễm từ các hoạt động trên đảo khá đa dạng, như: chất thải từ hoạt động
du lịch, hoạt động tàu thuyền, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản, dịch vụ hậu cần nghề
cá (sửa chữa tàu, neo đậu tàu thuyền, trạm xăng dầu ), từ sinh hoạt dân cư, sản xuất nông lâm nghiệp Các chất ô nhiễm chủ yếu là dầu - mỡ, chất hữu cơ, nitơ, phốt pho, muối dinh dưỡng, kim loại, hoá chất bảo vệ thực vật Khu vực chủ yếu phát thải chất ô nhiễm ở Côn Đảo là cảng Bến Đầm, cảng du lịch ở vịnh Côn Sơn
2.2.1.4 Đảo Phú Quốc
Dân số, lao động: Dân số của đảo Phú Quốc lớn nhất trong 4 đảo nghiên cứu
(năm 2005 đảo có 82.898 người) Mật độ dân số khoảng 140 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số cơ học khoảng 3 - 4%/năm Dân số phân bố khá tập trung vào các thị trấn và các xã phía Nam đảo: riêng 2 thị trấn Dương Đông, An Thới và xã Dương Tơ có diện tích tự nhiên chỉ chiếm 20,8%, nhưng dân số chiếm trên 65% dân số của đảo Khu dân cư nông thôn chủ yếu tập trung ở bờ phía Tây của đảo Tỷ lệ đô thị hoá của đảo đạt trên 50% Lao động trong độ tuổi có 44,6 ngàn người Trong đó, lao động ngành thuỷ sản nhiều nhất, đạt gần 12 ngàn lao động
Ngành thủy - hải sản: Đánh bắt hải sản là ngành sản xuất chính của Phú Quốc,
hàng năm thu hút trên 40% lao động xã hội Thời kỳ 2001-2005, tăng trưởng của ngành với tốc độ tăng bình quân khoảng 3,2%/năm Tuy phương tiện và lao động đánh bắt hải sản đã được tăng cường với tốc độ khá, nhưng sản lượng khai thác tăng chậm, năng suất khai thác tính theo đầu công suất và lao động có biểu hiện giảm Điều này chứng tỏ hiệu quả đánh bắt đang bị suy giảm đáng kể, cần phải thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản và tăng cường năng lực tàu thuyền theo hướng đánh bắt xa bờ Các hộ làm nghề đánh bắt hải sản thường ở thành từng cụm dân cư làng chài nằm dải dác dọc theo bãi biển, ven bờ đảo
Ngành nông lâm nghiệp: Ngành nông nghiệp chiếm vị trí khiêm tốn trong phát
triển kinh tế của huyện Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng khá nhanh nên đã