1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANHXUẤT NHẬP KHẨU

32 451 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Lý Luận Chung Về Tổ Chức Công Tác Kế Toán Nhập Khẩu Hàng Hóa Tại Các Doanh Nghiệp Kinh Doanh Xuất Nhập Khẩu
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 47,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được những vai trò to lớn của nhập khẩu không chỉ đối với cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này mà còn đối với cả nền kinh tế quốc dân mà hiện nay Đảng và Nhà nước ta rấ

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANHXUẤT NHẬP KHẨU

1.1 Nhập khẩu hàng hoá và vai trò của nó trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như trong toàn bộ nền kinh tế Quốc dân

Sự phân công lao động Quốc tế ngày càng rõ nét khiến các Quốc gia xích lạigần nhau hơn Mỗi quốc gia được tự nhiên ban tặng những lợi thế nhất định tạothành thế mạnh kinh tế của mỗi quốc gia đó Nhưng nếu chỉ dựa vào sản xuất trongnước thì không thể cung cấp đầy đủ hàng hoá, dịch vụ đáp ứng như cầu sản xuấttiêu dùng Vì vậy để thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế thì ngoài những hànghoá là thế mạnh, mỗi quốc gia cần nhập khẩu những hàng hoá thiết yếu khác phục

vụ cho sản xuất và tiêu dùng Ngược lại trên cơ sở khai thác tiềm năng, lợi thế vốn

có sản xuất những mặt hàng thế mạnh, một mặt phục vụ nhu cầu trong nước, mặtkhác xuất khẩu phần thặng dư ra nước ngoài thu ngoài tệ để nhập khẩu những thứtrong nước có nhu cầu nhưng không thể đáp ứng Từ nhu cầu phát triển của nềnkinh tế mà nảy sinh ra nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia với nhau do đóhoạt động nhập khẩu là yêu cầu khách quan của tất cả các nền kinh tế

Là một mặt của hoạt động ngoại thương, nhập khẩu là việc quốc gia nàymua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác Nói cách khác đây chính là việc nhàsản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa , dịch vụ cho người cư trú trong nước Một

số quan điểm kinh tế cho rằng nhập khẩu ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển củanền kinh tế, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp vì tiêu dùng nhiều hàng ngoại nhập sẽ làmgiảm mức cầu về hàng hoá nôị địa dẫn tới ảnh hưởng không tốt tới sản xuất trongnước Tuy nhiên xét trên tầm vĩ mô thì nhập khẩu lại khuyến khích sản xuất hiệu

Trang 2

quả, giá thành thấp, là 1 trong những yếu tố đầu vào của sản xuất hàng hoá xuấtkhẩu Trong xu hướng toàn cầu hoá, các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau,hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng càngngày càng phát triển mạnh mẽ.

Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam thì hoạt động xuất nhậpkhẩu có một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Thứ nhất: nhập khẩu góp phần đẩy mạnh sự đổi mới trang thiết bị và công

nghệ sản xuất làm cho lực lượng sản xuất và trình độ sản xuất được nâng cao, giúpđẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bên cạnh đó, nhập khẩu còngiúp chúng ta tranh thủ khai thác thế mạnh về vốn, kỹ thuật, trình độ quản lý củacác nước phát triển, mở rộng quan hệ đối ngoại, trao đổi liên kết kinh tế giữa nước

ta và các nước khác

Thứ hai: nhập khẩu cũng có tác động tích cực thúc đẩy xuất khẩu vì một số

hàng xuất khẩu đòi hỏi phải có nguồn nguyên liệu đầu vào thông qua việc nhậpkhẩu Một số chính sách nhập khẩu hợp lý đối với nguyên vật liệu, máy móc, thiết

bị phục vụ sản xuất sẽ góp phần làm tăng năng suất, hạ giá thành, cải tiến chấtlượng, tạo tính cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu

Thứ ba: hoạt động nhập khẩu thúc đẩy sản xuất có hiệu qủa Nhập khẩu tạo

sức cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích các nhà sản xuất trong nước cải tiến kỹthuật, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mã; từ đó đưanền sản xuất nội địa đi lên

Thứ tư: nhập khẩu là một bộ phận của cán cân xuất nhập khẩu, là một chỉ

tiêu đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia

Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay của nước ta, nhập khẩu giữ vai trò cực

kì quan trọng Tuy nhiên nhập khẩu tràn lan khối lượng lớn gây lãng phí nguồn

ngoại tệ, kìm hãm sản xuất trong nước và là nguyên nhân của nạn thất nghiệp

Trang 3

Chính vì thế, muốn tận dụng tốt mặt tích cực của hoạt động nhập khẩu thì chúng taphải có những chính sách hợp lý đặc biệt là chính sách thuế với hàng nhập khẩu Riêng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu,tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh mà hoạt động nhập khẩu có vai trò khác nhau Nhập khẩu là nguồn cung cấp hàng hoá rất quan trọng cho đầu ra của doanhnghiệp Thông qua nhập khẩu doanh nghiệp có được nguồn hàng cung cấp cho thịtrường trong nước và tạo ra doanh thu Việc tổ chức tốt quá trình nhập khẩu, tìmnhững mặt hàng đối tác cung ứng hợp lý giúp doanh nghiệp thu được mức chênhlệch cao.

Để có thể hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đòi hỏi các doanh nghiệpphải có hiểu biết sâu sắc về thị trường quốc tế, những hiểu biết này chỉ có đượcthông qua nghiên cứu, tìm hiểu thực tế, từ đó phát hiện ra những cơ hội kinhdoanh Những cơ hội này chính là sự chênh lệch giá cả giữa hai thị trường, nếu giá

cả trong nước thấp hơn ta có hoạt động xuất khẩu và ngược lại ta có hoạt độngnhập khẩu

Nhận thức được những vai trò to lớn của nhập khẩu không chỉ đối với cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này mà còn đối với cả nền kinh tế quốc dân

mà hiện nay Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng đến hoạt động xuất nhậpkhẩu

1.2 Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu

1.2.1 Các điều kiện giao dịch cơ bản trong buôn bán quốc tế

Hoạt động nhập khẩu diễn ra giữa hai quốc gia, vì có sự xa cách về mặt địa

lý dẫn đến những phát sinh ảnh hưởng tới việc giao nhận hàng hoá theo hợp động

đã kí Để đảm bảo lợi ích cho các bên tham gia hợp đồng xuất nhập khẩu, hạn chếnhững rủi ro, thiệt hại cho các chủ thể nói trên trong qúa trình đàm phán ký kết hợpđồng nhập khẩu các bên cần quan tâm đến hàng loạt các vấn đề như: đồng tiền

Trang 4

thanh toán, địa điểm thanh toán, thời gian thanh toán, phương thức thanh toán…Những vấn đề này thường được gọi chung là các điều kiện cơ sở giao hàng.

Các điều kiện cơ sở giao hàng do phòng thương mại quốc tế soạn thảo ranhằm giải thích một cách thống nhất các tập quán thông lệ quốc tế khi giao hàng,

nó là cơ sở cho các bên ký kết cũng như thực hiện các hợp động ngoại thương.Hiện nay, điều kiện cơ sở cho giao hàng được thực hiện theo INCOTERMS 2000gồm 13 điều kiện chia thành 4 nhóm khác nhau:

Nhóm ‘E’: người bán phải đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của ngườimua trong thời hạn và ở địa điểm hợp đồng quy định Bên mua nhận hàng tại địađiểm này và chịu mọi phí tổn để lo liệu việc chuyên chở về địa điểm đích, nhómnày chỉ có một điều kiện là EXW

Nhóm ‘F’: người bán được yêu cầu giao hàng hoá cho người chuyên chở dongười mua chỉ định, rủi ro và phí tổn sau đó do người mua chịu , nhóm này gồm 3điều kiện FCA, FAS, FOB

Nhóm ‘C’: người bán hàng kí hợp đồng vận tải theo các điều kiện thôngthường và chịu chi phí về việc chuyên chở đó nhưng không chịu những rủi ro đốivới hàng hoá sau khi đã gửi hàng hoặc bốc hàng lên tàu, nhóm này gồm 4 điềukiện: CFR, CIF, CIP, CPT

Nhóm ‘D’: người bán có trách nhiệm đưa hàng tới địa điểm quy định hoặcmột điểm đến nằm tại biên giới hoặc trong lãnh thổ nước nhập khẩu Người bánchịu mọi chi phí , rủi ro về việc đưa hàng tới địa điểm quy định đó, nhóm này gồm

5 điều kiện: DAF, DES, DEQ, DDU, DDP

EXW : giao tại xưởng

FCA : giao cho người chuyên chở

FAS : giao dọc mạn tàu

FOB : giao lên tàu

CFR : tiền hàng và cướcphí

Trang 5

CIF : tiền hàng , bảo hiểm và cước phí

CPT : cướcphí trả tới

CIP : cước phí và phí bảo hiểm trả tới

DAF : giao tại biên giới

DES : giao tại tàu

DEQ: giao tại cầu cảng

DDU: giao tại đích chưa nộp thuế

DDP: giao tại đích đã nộp thuế

Với mỗi điều kiện cơ sở giao hàng là một điều kiện về giá Tuy nhiên dođiều kiện kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương của chúng ta nên trong quátrình xuất nhập khẩu chúng ta thường sử dụng các loại giá:

Giá FOB: giá giao tính đến khi hàng được xếp lên phương tiện vận chuyểntại cảng xuất Theo điều kiện giá này người mua phải chịu trách nhiệm thuê tàu,chịu chi phí vận chuyển, bảo hiểm, mọi rủi ro từ khi hàng đã qua khỏi lan can tàu

đi ở cảng Người bán có trách nhiệm giao hàng lên tàu do người mua chỉ định,thông báo cho người mua, cung cấp các chứng từ cần thiết Đây là điều kiện màcác công ty xuất nhập khẩu Việt Nam thường sử dụng khi xuất khẩu hàng hóa Giá CIF: bao gồm giá FOB + chi phí bảo hiểm + cước phí vận tải Theo điềukiện này bên bán phải thuê tàu, mua bảo hiểm cho hàng hóa ở mức tối thiểu, chịumọi rủi ro về hàng hóa đến biên giới hải quan của nước nhập khẩu trước khi đóngbất kì loại thuế nhập khẩu hay thuế khác đánh vào hàng nhập khẩu Rủi ro về hànghóa chuyển ngay cho người mua sau khi hàng đã vượt qua lan can tàu ở cảng bốchàng

Giá CFR: bao gồm tiền hàng và cước phí vận chuyển Giá CFR khác giá CIF

là người bán không phải chịu chi phí bảo hiểm cho hàng hóa

Trang 6

Giá DAF: giá hàng giao tại biên giới đối với mọi loại hình vận tải Điều kiệnDAF thường áp dụng trong buôn bán mậu dịch giữa các nước có chung đường biêngiới

Hiện nay ở Việt Nam thường áp dụng xuất FOB, nhập CIF Đây là nhữngđiều kiện không tạo điều kiện cho ngành vận tải biển và ngành bảo hiểm của chúng

ta phát triển

1.2.2 Các phương thức kinh doanh nhập khẩu

Hiện nay đối với hoạt động nhập khẩu có hai phương thức cơ bản đó là nhập

khẩu theo nghị định thư và nhập khẩu ngoài nghị định thư

* Nhập khẩu theo nghị định thư : là phương thức mà các doanh nghiệp phải

tuân theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước thực hiện các hợp đồng kinh tế bằng vănbản Chính phủ Việt Nam sau khi ký nghị định thư hay hiệp định thư với các nướckhác để nhập khẩu hàng hoá sẽ giao cho các doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp thựchiện Việc thanh toán cho hợp đồng nhập khẩu theo phương thức này do Nhà nướcđứng ra trả tiền hoặc cam kết trả tiền hoặc uỷ nhiệm cho doanh nghiệp thanh toán Đối với ngoại tệ thu được khi tiêu thụ hàng nhập khẩu doanh nghiệp phải nộpvào quỹ ngoại tệ tập trung của Nhà nước thông qua tài khoản của Bộ Thương Mại

và được thanh toán bằng VNĐ tương ứng với tỷ giá do Nhà nước quy định Trongđiều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, đa số các đơn vị kinh doanh nhập khẩuđược chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình nên số lượng các đơn vị kinhdoanh theo phương thức này rất ít chỉ trừ các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực đặcbiệt

* Nhập khẩu ngoài nghị định thư: là phương thức hoạt động trong đó cácdoanh nghiệp nhập khẩu không theo nghị định thư hay hiệp định thư do chính phủ

ký kết nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ pháp lý do Nhà nước quy định Các doanhnghiệp phải tự cân đối về tài chính, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhànước, chủ động về giá cả hàng hoá, thị trường trong phạm vi Nhà nước cho phép

Trang 7

Và các doanh nghiệp hoàn toàn có quyền chủ động trong tổ chức nhập khẩu từkhâu đầu tiên cho đến khâu cuối cùng Doanh nghiệp phải tự tìm bạn hàng, nguồnhàng, tổ chức giao dịch ký kết và thực hiện hợp đồng trên cơ sở tuân thủ chínhsách chế độ kinh tế của Nhà nước Đối với số ngoại tệ thu được từ tiêu thụ hànghoá nhập khẩu doanh nghiệp không phải nộp vào quỹ ngoại tệ tập trung mà có thểbán ở trung tâm giao dịch ngoại tệ hoặc ngân hàng Nhập khẩu theo phương thứcnày tạo cho các doanh nghiệp điều kiện để phát huy sự năng động sáng tạo và độclập trong hạch toán kinh doanh phù hợp với cơ chế thị trường.

là các ngoại tệ mạnh) nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nướctheo chính sách của Nhà nước

1.2.3.2 Hình thức nhập khẩu ủy thác

Là hình thức nhập khẩu được áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhu cầunhập khẩu hàng hóa nhưng không có khả năng điều kiện hoặc chưa được Nhà nướccho phép nhập khẩu trực tiếp nên phải nhờ doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp nhậpkhẩu hộ Theo hình thức này doanh nghiệp ủy thác được phép hạch toán trị giáhàng nhập khẩu và có trách nhiệm thanh toán chi phi nhập khẩu cho bên nhận ủythác Còn bên nhận ủy thác đóng vai trò là đại lý mua hưởng hoa hồng theo thỏa

Trang 8

thuận trong hợp đồng ủy thác mà hai bên đã kí kết Đơn vị nhận ủy thác có trách nhiệm nhập hàng về theo đúng số lượng , chất lượng, mẫu mã được yêu cầu

Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp Trên thực tế có nhiều doanh nghiệp áp dụng cả hai hình thức nhập khẩu trên nhằm tối đa hóa hiệu quả trong kinh doanh Thông thường tổ chức hoạt động nhập khẩu theo hình thức trực tiếp có lợi hơn vì doanh nghiệp có thể chủ động nắm bắt thông tin, tìm hiểu thị trường một cách sâu sắc và toàn diện,

có điều kiện mở rộng quan hệ, uy tín với bạn hàng nước ngoài

1.2.4 Các phương thức thanh toán Quốc tế chủ yếu dùng trong hoạt động nhập khẩu

Phương thức thanh toán là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện hợp đồng và nó cũng ảnh hưởng tới công tác kế toán Hiện nay trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau, tùy theo mức độ tín nhiệm

và giá trị hợp đồng mà người nhập khẩu phảichấp nhận hình thức thanh toán do người xuất khẩu yêu cầu hoặc theo điều kiện thanh toán ttong hợp đồng ngoại thương đã kí

1.2.4.1 Phương thức ghi sổ

Là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu hàng hóa cung ứng dịch

vụ ghi nợ cho người nhập khẩu, theo dõi vào một cuốn sổ riêng và việc thực hiện thanh toán các khoản nợ này sẽ được thực hiện sau một thời kì nhất định

1.2.4.2 Phương thức chuyển tiền

Sơ đồ phương thức thanh toán chuyển tiền ( sơ đồ 1.1 ) :

(4)

(2) (3) (5)

(1)

Ngân h ng ph àng ph ục vụ người nhập khẩu

Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu

Trang 9

(1) Người xuất khẩu sau khi kí hợp đồng xuất khẩu với phương thức thanh toán chuyển tiền sẽ giao hàng cùng bộ chứng từ cho người nhập khẩu

(2) Người nhập khẩu sau khi nhận hàng một thời gian nhất định quy định trong hợp đồng sẽ liên hệ với ngân hàng phục vụ mình để nhờ chuyển trả tiền cho người xuất khẩu

(3) Ngân hàng ghi nợ tài khoản của người nhập khẩu

(4) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu tiến hành chuyển tiền cho ngân hàng phục vụ người xuất khẩu

(5) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển giấy báo cho người xuất khẩu 1.2.4.3 Phương thức thanh toán nhờ thu

Là phương thức thanh toán mà trong đó người xuất khẩu khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng thì tiến hành ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền hàng trên cơ sở hối phiếu do người xuất khẩu lập Có hai hình thức nhờ thu là: nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ

Sơ đồ phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ ( sơ đồ 1.2)

(6)

(3)

(4) (5) (2) (7)

(1)

(1) Người xuất khẩu sau khi kí hợp đồng, trong đó quy định phương thức thanh toán là nhờ thu kèm chứng từ sẽ giao hàng không kèm theo chứng từ cho người nhập khẩu

(2) Người xuất khẩu chuyển hối phiếu cùng với bộ chứng từ cho ngân hàng phục

vụ mình uỷ thác thu

Ngân h ng ph àng ph ục vụ

người nhập khẩu

Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu

Trang 10

(3) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển hối phiếu kèm chứng từ cho ngân hàng phục vụ người nhập khẩu để nhờ thu

(4) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển hối phiếu và bộ chứng từ cho người nhập khẩu đổi lấy tiền

(5) Người nhập khẩu chuyển trả tiền cho ngân hàng phục vụ mình

(6) Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển tiền cho ngân hàng phục vụ người xuất khẩu

(7) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu gửi giấy báo cho người xuất khẩu

1.2.4.4 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

Phương thức tín dụng chứng từ (thanh toán bằng cách mở thư tín dụng L/C) là một sự thỏa thuận trong đó ngân hàng (ngân hàng mở L/C) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở L/C) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền trên của L/C) hoặc chấp nhận hối phiếu do người hưởng lợi thứ nhất ký phát (trong phạm vi số tiền nhất định đó), khi người hưởng lợi xuất trình cho một số ngân hàng, một số bộ chứng từ hàng hóa phù hợp đề ra trong L/C

Sơ đồ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (sơ đồ 1.3)

(2)

(5)

(6)

(1) (7) (8) (6) (5) (3)

(4)

(1) người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C và gửi cho ngân hàng mở L/C yêu cầu

mở L/C cho người xuất khẩu hưởng

(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C và chuyển cho ngân hàng thông báo mở L/C

Trang 11

(3) Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho ngườixuất khẩu toàn bộ nội dung của thông báo về việc mở L/C và khi nhận được bảngốc L/C thì chuyển ngay cho người xuất khẩu.

(4) Người bán nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, ngược lại thì đề nghịngười mua và ngân hàng mở L/C sửa đổi và bổ xung L/C cho phù hợp với hợpđồng mới giao hàng

(5) Sau khi giao hàng, người bán lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C xuất trìnhcho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng thông báo để đòi tiền

(6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp với L/C thì trả tiền chongười bán, nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từcho người xuất khẩu

(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ hàng hoácho người nhập khẩu

(8) Người mua kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền chongân hàng mở L/C , ngược lại thì từ chối trả tiền

Thông qua trình tự tiến hành các bước ta thấy quá trình giao dịch giữa ngườixuất khẩu, người nhập khẩu, ngân hàng và sự vận động chặt chẽ hai luồng tiền vàhàng Ngoài ra ta còn thấy hai mặt vừa độc lập vừa phụ thuộc giữa L/C và hợpđồng nhập khẩu Chúng độc lập ở chỗ ngân hàng chỉ căn cứ vào đơn xin mở L/Ccủa bên nhập khẩu để tiến hành mở L/C mà không hề quan tâm đến hợp đồng xuấtnhập khẩu, và tiến hành thanh toán cho bên xuất khẩu khi bộ chứng từ thỏa mãncác điều kiện của L/C kể cả khi các điều kiện này trái với hợp đồng Tuy nhiênchúng lại phụ thuộc nhau ở chỗ L/C được thảo ra trên cơ sở các điều khoản củahợp đồng đã kí

Tính chặt chẽ trong quy trình thanh toán khiến phương thức thanh toán bằngL/C có độ tin cậy rất cao Tuy nhiên phương thức này cũng có một số hạn chế đó là

sự phức tạp và độ chi phí cao phải trả cho ngân hàng phục vụ Mặt khác khi mở L/

Trang 12

C người nhập khẩu phải kí một khoản tiền tương ứng 10 - 100% giá trị hợp đồngtùy mức độ tín nhiệm của ngân hàng với người xin mở L/C Đây chính là khoảnvốn mà người nhập khẩu phải ứ đọng tại ngân hàng trong quá trình thực hiện hợpđồng xuất nhập khẩu.

1.2.5 Các phương tiện thanh toán chủ yếu dùng trong hoạt động nhập khẩu

1.2.5.1 Sec

Là một tờ lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng kí phát ra lệnh chongân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trên sec hoặc trả theolệnh của người đó hoặc trả cho người cầm sec một số tiền nhất định

1.3 Những quy định đối với hàng nhập khẩu

1.3.1 Yêu cầu quản lý đối với hoạt động nhập khẩu

Nhập khẩu là hoạt động tương đối phức tạp Nó đòi hỏi các doanh nghiệp cómột tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có trình độ hiểu biết về nghiệp vụ ngoại thương, tậpquán kinh doanh quốc tế, luật pháp quốc tế ở một mức độ nhất định Trong điềukiện hiện nay, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhậpkhẩu tương đối cao Muốn hoạt động kinh doand có hiệu qủa để đạt được các yêucầu đề ra ở trên thì các doanh nghiệp cần phải làm tốt các khâu quản lý

Trang 13

Trong hoạt động nhập khẩu với những đặc thù riêng và vai trò quan trọngcủa nó thì việc quản lý tốt các giai đoạn của quá trình nhập khẩu là rất cần thiết.Muốn vậy phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

Trước khi kí kết các hợp đồng nhập khẩu, các nhà quản lý doanh nghiệpphải nắm bắt chính xác, kịp thời nhứng thông tin về nhu cầu của thị trường, về tìnhhình cung cầu của các loại hàng hoá mà doanh nghiệp dự định sẽ mua, phải hiểu rõ

và nắm vững quy luật vận động của thị trường, đặc biệt là về giá cả hàng hoá Hơnnữa, các nhà quản lý còn phải quan tâm đến những biến động khó lường của tỷ gía

để có biện pháp ứng phó kịp thời, nắm chắc các điều khoản chủ yếu trong hợpđồng: tên hàng, số lượng, phẩm chất, giá cả, thời hạn thanh toán…

Khi thực hiện hợp đồng cac doanh nghiệp phải luôn luôn bám sát các điềukhoản của hợp đồng, tuân thủ chặt chẽ mọi điều khoản nhưng vẫn bảo đảm mứcchi phí bỏ ra tối thiểu nhằm tăng uy tín của doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả củakinh doanh Cụ thể các doanh nghiệp cần thực hiện tốt từ khâu đầu tiên là mở L/C,kiểm tra hàng hoá kỹ lưỡng cả về chất lượng và số lượng, kiểu dáng…, trước khinhận hàng cho đến khâu cuối cùng là thanh lý hợp đồng

Khi hàng nhập khẩu về kho, doanh nghiệp phải có chế độ bảo quản tốt và quản lý,giám sát chặt chẽ số hàng đó cả về số lượng và mặt giá trị

1.3.2 Thời hạn và phạm vi xác định hàng nhập khẩu

1.3.2.1Phạm vi hàng nhập khẩu

Hàng nhập khẩu là những hàng hoá từ nước ngoài vào nước ta thông quaviệc mua bán, trao đổi ngoại thương giữa các doanh nghiệp trong nước và cácdoanh nghiệp ngoài nước Hàng nhập khẩu vào nước ta rất đa dạng phục vụ chonhiều mục đích khác nhau như nhu cầu đầu tư, sản xuất, tiêu dùng… Các trườnghợp sau được coi là hàng nhập khẩu:

Hàng mua của nước ngoài trên cơ sở các hợp đồng ngoại thương mà doanhnghiệp xuất nhập khẩu nước ta đã kí kết với các doanh nghiệp nước ngoài

Trang 14

Hàng hoá mà nước ngoài đưa vào nước ta để tham gia hội chợ, triển lãm…,sau đó doanh nghiệp xuất nhập khẩu mua lại và thanh toán bằng ngoại tệ.

Hàng hoá của nước ngoài viện trợ cho nước ta trên cơ sở các hiệp định, nghịđịnh thư ký kết giữa các Chính phủ Việt Nam với các nước khác, được thực hiệnthông qua các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Hàng hoá mua ở nước ngoài để xuất khẩu cho nước thứ ba theo hợp đồng đã

kí giữa các bên

1.3.2.2 Thời điểm xác định hàng nhập khẩu

Việc xác định thời điểm hàng nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng trongcông tác hạch toán kế toán và thống kê Theo thông lệ chung và nguyên tắc kế toánđược thừa nhận thì thời điểm xác định là hàng nhập khẩu là khi chuyển quyền sởhữu cho khách hàng, khách hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán Tuynhiên, điều này còn phụ thuộc rất lớn vào phương thức bán hàng và địa điểm giaonhận hàng hoá cụ thể như sau:

Nếu hàng nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển thì hàng nhập khẩutính từ ngày hàng hoá đến hải phận nước nhập, hải quan cảng biển đã kí xác nhậnvào tờ khai hàng nhập

Nếu hàng hoá nhập khẩu được vận chuyển bằng đường sắt hoặc đường bộthì hàng nhập khẩu được tính từ ngày hàng hoá đến ga, trạm biên giới nước nhậptheo xác nhận của hải quan cửa khẩu

Nếu hàng nhập khẩu vận chuyển bằng đường hàng không thì hàng hoá nhậpkhẩu được tính từ ngày hàng hoá đến sân bay đầu tiên của nước nhập theo xácnhận của hải quan sân bay đã hoàn thành thủ tục hải quan

1.3.3 Những quy định về thuế quan đối với hàng nhập khẩu

Khi hàng hoá về đến cảng thì người nhập khẩu phải làm các thủ tục hải quannhư sau: Tiếp nhận và kê khai hàng hoá nhập khẩu trên cơ sở tính các loại thuếphải nộp

Trang 15

* Số thuế nhập khẩu phải nộp được tính theo công thức:

Thuế nhập Số lượng đơn vị từng Trị giá tính thuế Thuế suất

khẩu phải = mặt hàng thực tế Nk X tính trên một đơn vị X của từng mặt

nộp trong tờ khai hải quan hàng hóa hàng

Giá tính thuế với hàng nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩunhập đầu tiên theo hợp đồng (thường dùng giá CIF) Các lô hàng nhập khẩu dùnggiá khác nhau như giá FOB, CFR…phải quy đổi sang giá CIF để tính thuế

Hàng nhập khẩu có giá trị hợp đồng là ngoại tệ nên khi tính thuế phải quyđổi ra tiền Việt Nam theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công

bố tại thời điểm tính thuế

* Số thuế TTĐB (nếu có) của hàng nhập khẩu được xác định theo công thức

Thuế TTĐB phải nộp = (Giá CIF + Thuế NK) X Thuế suất thuế TTĐB

* Số thuế GTGT của hàng nhập khẩu được xác định theo công thức:

Thuế GTGT = ( Giá CIF + Thuế NK + Thuế TTĐB ) X Thuế suất

phải nộp (nếu có) (nếu có) thuế GTGT

Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải nộp thuế nhập khẩu và thuế GTGThàng nhập khẩu theo từng lần nhập khẩu Thời hạn nộp thuế thường là sau 30 ngày

kể từ khi đăng kí tờ khai hải quan

1.4 Kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu

1.4.1 Vai trò của kế toán nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá

Mỗi hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp đều có một bộ phận kế toán riêngtheo dõi và quản lý hoạt động đó Trong các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập

Trang 16

khẩu thì hoạt động xuất nhập khẩu là chủ yếu, ở đó kế toán hoạt động xuất nhậpkhẩu có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống kế toán các hoạt động của doanhnghiệp.

Xuất phát từ những đặc điểm của hoạt động kinh doanh nhập khẩu, kế toánhoạt động kinh doanh nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc:

Phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch nhập khẩu hàng hoá cả về số lượng ,chất lượng và giá trị theo từng mặt hàng, nhóm hàng giúp nhà quản trị nắm đượctoàn bộ các nghiệp vụ nhập khẩu, trên cơ sở đó kiểm tra việc chấp hành các chínhsách kinh tế đối ngoại của Nhà nước trong doanh nghiệp, kiểm tra, đánh giá qúatrình thực hiện kế hoạch nhập khẩu và tiêu thụ hàng nhập khẩu để có biện pháphoàn thiện công tác kinh doanh nhập khẩu từ đó tối đa hóa lợi nhuận

Kiểm tra tình hình thanh toán giữa các bên Vai trò này rất quan trọng vì trongquá trình kinh doanh nói chung và tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêngkhông thể tránh khỏi tình trọng các doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhau Việcchiếm dụng vốn ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,

kế toán hoạt động nhập khẩu sẽ cung cấp các thông tin đầy đủ về việc thanh toánvới các bên khi nhập khẩu và những thông tin về tình hình thanh toán trong tiêuthụ hàng nhập khẩu để tránh doanh nghiệp bị phạt do chậm thanh toán cũng nhưtránh bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn

Kiểm tra tình hình doanh thu và chi phí: Giúp doanh nghiệp sử dụng tiếtkiệm các loại vật tư tiền vốn trong quá trình nhập khẩu Trong cơ chế kinh tế mới,các doanh nghiệp phải tự chủ về tài chính, các hoạt động của doanh nghiệp phảiđảm bảo thu bù chi và có lãi Chỉ thế mới có thể tồn tại trên thương trường Điềunày đỏi hỏi các doanh nghiệp phải hạch toán đầy đủ và chính xác doanh thu và cácchi phí trong quá trình nhập khẩu

Ngày đăng: 06/11/2013, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w