Tuy nhiên theo các kết quả nghiên cứu về chất lượng nước cấp lấy từ nước ngầm của khu vực thủ đô Hà Nội trong những năm gần đây cho thấy tình trạng ô nhiễm sắt, mangan, asen, amoni… gia
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI -
LÊ THỊ NGỌC THẮM
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT
TỪ NGUỒN NƯỚC NGẦM TẠI CÁC HỘ DÂN
Ở KHU VỰC HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 6/2018
Trang 2-
LÊ THỊ NGỌC THẮM
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT
TỪ NGUỒN NƯỚC NGẦM TẠI CÁC HỘ DÂN
Trang 3Lê Thị Ngọc Thắm I CB140373
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể thầy cô giáo trong trường Đại Học
Bách Khoa Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Viện Khoa học và công nghệ môi
trường, những thầy cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho em kiến thức quý báu về
chuyên môn và đạo đức trong suốt thời gian học cao học tại trường
Bên cạnh đó, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến cô TS Lý Bích Thủy, cô đã
luôn tận tình chỉ bảo, cung cấp tài liệu, định hướng và hướng dẫn em trong suốt quá trình
làm luận văn Cô đã cho em những lời khuyên ý nghĩa và quan trọng trong việc nghiên
cứu Trong quá trình hoàn thành luận văn dưới sự hướng dẫn của cô, em đã học được tinh
thần làm việc nghiêm túc, cách nghiên cứu khoa học hiệu quả, và đó là hành trang, là định
hướng giúp em trong quá trình làm việc sau này
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình và bạn bè đã
luôn có những lời động viên, khuyến khích em trong suốt quá trình học tập và thực hiện
luận văn
Trong thời gian thực hiện luận văn, mặc dù có nhiều cố gắng nhưng luận văn không
khỏi tránh những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo trong Viện cùng các bạn tận tình
chỉ bảo và góp ý kiến để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ THỊ NGỌC THẮM
Trang 4Lê Thị Ngọc Thắm II
CB140373 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN I MỤC LỤC II DANH MỤC BẢNG BIỂU IV DANH MỤC HÌNH V MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 3
1.1 Khái quát về nguồn nước ngầm 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Sự hình thành nước ngầm và các loại nước ngầm 3
1.1.3 Tầm quan trọng của nước ngầm 5
1.2 Chất lượng nước và các thông số đánh giá chất lượng nước sinh hoạt 5
1.2.1 Các yêu cầu chung về chất lượng nước sinh hoạt 5
1.2.2 Các thông số cơ bản đánh giá chất lượng nước sinh hoạt 5
1.2.3.Nguồn gây ô nhiễm 14
1.3 Nguồn gây ô nhiễm As, Mn, NH 4 + trong nước ngầm [6] 16
1.3.1 Nguồn gây ô nhiễm As 16
1.3.2 Nguồn gây ô nhiễm Mn 17
1.3.3 Nguồn gây ô nhiễm NH4+ 17
1.4 Ảnh hưởng của Asen, Mangan, Amoni tới sức khỏe của con người 19
1.4.1 Ảnh hưởng của Asen 19
1.4.2 Ảnh hưởng của Mangan 20
1.4.3 Ảnh hưởng của Amoni 21
1.5 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 21
1.5.1 Vị trí địa lý, địa chất 20
1.5.2 Khí hậu 21
1.6 Một số nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước ngầm ở Hà Nội 22
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Vị trí và thời gian quan trắc 27
2.1.1 Vị trí 27
2.1.2 Thời gian quan trắc 28
2.2 Phương pháp lấy và bảo quản mẫu 28
2.2.1 Phương pháp lấy mẫu 28
Trang 5Lê Thị Ngọc Thắm III
CB140373 2.2.2 Bảo quản mẫu 30
2.2.3 Vị trí lấy mẫu 30
2.3 Phương pháp phân tích 40
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Kết quả phân tích đợt 1 42
3.1.1 Kết quả phân tích tại khu vực Liệp Tuyết - Quốc Oai - Hà Nội 42
3.1.2 Kết quả phân tích tại khu vực Hậu Ái - Vân Canh - Hoài Đức - Hà Nội 43
3.1.3 Kết quả phân tích tại khu vực Thôn Lời - Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội 45
3.2 Kết quả phân tích đợt 2 46
3.2.1 Kết quả phân tích tại khu vực Nam Dư - Lĩnh Nam - Hoàng Mai - Hà Nội 46
3.2.2 Kết quả phân tích tại khu vực Làng Vạn Phúc - Hà Đông - Hà Nội 48
3.2.3 Kết quả phân tích tại khu vực Khu vực Giẽ Hạ - Phú Xuyên 50
3.2.4 Kết quả phân tích tại khu vực Thị trấn Văn Điển 51
3.2.5 Kết quả phân tích tại khu vực Ứng Hòa - Hà Nội 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC BẢNG 62
Trang 6Lê Thị Ngọc Thắm IV
CB140373 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1 Vị trí lấy mẫu Khu vực Liệp Tuyết - Quốc Oai - Hà Nội 30
Bảng 2 Vị trí lấy mẫu Khu vực Hậu Ái - Vân Canh - Hoài Đức - Hà Nội 31
Bảng 3 Vị trí lấy mẫu Khu vực Thôn Lời - Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội 32
Bảng 4 Vị trí lấy mẫu Khu vực Nam Dư - Lĩnh Nam - Hoàng Mai - Hà Nội Error! Bookmark not defined Bảng 5 Vị trí lấy mẫu Khu vực Làng Vạn Phúc - Hà Đông - Hà Nội 3Error! Bookmark not defined Bảng 6 Vị trí lấy mẫu Khu vực Giẽ Hạ - Phú Xuyên 35
Bảng 7 Vị trí lấy mẫu Khu vực Thị trấn Văn Điển 36
Bảng 8 Vị trí lấy mẫu Khu vực Ứng Hòa - Hà Nội 38
Bảng 9 Vị trí lấy mẫu Khu vực Tân Tây Đô - Đan Phượng - Hà Nội 39
Bảng 10 Kết quả phân tích tại khu vực Liệp Tuyết - Quốc Oai - Hà Nội 42
Bảng 11 Kết quả phân tích tại khu vực Hậu Ái - Vân Canh - Hoài Đức - Hà Nội 44
Bảng 12 Kết quả phân tích tại khu vực Thôn Lời - Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội 45
Bảng 13 Kết quả phân tích tại khu vực Nam Dư - Lĩnh Nam - Hoàng Mai - Hà Nội 46
Bảng 14 Kết quả phân tích tại khu vực Làng Vạn Phúc - Hà Đông - Hà Nội 48
Bảng 15 Kết quả phân tích tại Khu vực Giẽ Hạ - Phú Xuyên 50
Bảng 16 Kết quả phân tích tại khu vực Thị trấn Văn Điển 51
Bảng 17 Kết quả phân tích tại khu vực Ứng Hòa - Hà Nội 53
Bảng 18 Kết quả phân tích tại khu vực Tân Tây Đô - Đan Phượng - Hà Nội 54
Bảng 19 Bảng giới hạn các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước sinh hoạt theo QCVN02:2009/BYT 61
Bảng 20 Kết quả phân tích mẫu nước một số khu vực khảo sát tại Hà Nội 62
Trang 7Lê Thị Ngọc Thắm V
CB140373 DANH MỤC HÌNH Hình 1 Bản đồ dự đoán ô nhiễm asen dựa trên các thông số bề mặt 24
Hình 2 Bản đồ sự phân bố nồng độ Mn và NH4+ 24
Hình 3 Bản đồ phân bố hàm lượng Amoni trong nước dưới đất vùng Nam sông Hồng mùa khô năm 2013 25
Hình 4 Bản đồ phân bố hàm lượng asen trong nước dưới đất vùng Nam sông Hồng mùa khô năm 2013 26
Hình 5 Bản đồ tổng hợp các khu vực lấy mẫu 28
Hình 6 Bản đồ vị trí lấy mẫu khu vực Liệp Tuyết - Quốc Oai - Hà Nội 30
Hình 7 Bản đồ vị trí lấy mẫu khu vực Hậu Ái - Vân Canh - Hoài Đức - Hà Nội 31
Hình 8 Bản đồ vị trí lấy mẫu khu vực Thôn Lời - Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội 32
Hình 9 Bản đồ vị trí lấy mẫu khu vực Nam Dư - Lĩnh Nam - Hoàng Mai - Hà Nội 33
Hình 10 Bản đồ vị trí lấy mẫu khu vực Làng Vạn Phúc - Hà Đông - Hà Nội 35
Hình 11 Bản đồ vị trí lấy mẫu khu vực Giẽ Hạ - Phú Xuyên, 36
Hình 12 Bản đồ vị trí lấy mẫu khu vực Thị trấn Văn Điển 37
Hình 13 Bản đồ vị trí lấy mẫu khu vực huyện Ứng Hòa - Hà Nội 38
Hình 14 Bản đồ vị trí lấy mẫu khu vực Tân Tây Đô - Đan Phượng - Hà Nội 39
Hình 15 Biểu đồ thể hiện các thông số NH4+, As, Mn trong nước ngầm tại khu vực Liệp Tuyết - Quốc Oai - Hà Nội 42
Hình 16 Biểu đồ thể hiện các thông số NH4+, As, Mn trong nước ngầm tại khu vực Hậu Ái - Vân Canh - Hoài Đức - Hà Nội 44
Hình 17 Biểu đồ thể hiện các thông số NH4+, As, Mn trong nước ngầm tại khu vực Thôn Lời - Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội 45
Hình 18 Biểu đồ thể hiện các thông số NH4+, As, Mn trong nước ngầm tại khu vực Nam Dư - Lĩnh Nam - Hoàng Mai - Hà Nội 47
Trang 8Lê Thị Ngọc Thắm VI CB140373
Hình 19 Biểu đồ thể hiện các thông số NH4+, As, Mn trong nước ngầm tại khu vực Làng
Vạn Phúc - Hà Đông - Hà Nội 48
Hình 20 Sự phân bố As trong nước giếng khoan ở khu vực Vạn Phúc 49
Hình 21 Biểu đồ thể hiện các thông số NH4+, As, Mn trong nước ngầm tại Khu vực Giẽ
Hình 24 Biểu đồ thể hiện các thông số NH4+, As, Mn trong nước ngầm tại khu vực Tân
Tây Đô - Đan Phượng - Hà Nội 55
Hình 25 Bản đồ thể hiện hàm lượng As các khu vực khảo sát 56
Hình 26 Bản đồ thể hiện hàm lượng NH4+ các khu vực khảo sát 56
Trang 9Lê Thị Ngọc Thắm 1 CB140373
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam là quốc gia có nguồn nước ngầm khá phong phú về trữ lượng và khá tốt
về chất lượng Nước ngầm tồn tại trong các lỗ hổng và các khe nứt của đất đá, được tạo
thành từ giai đoạn trầm tích đất đá hoặc do sự thẩm thấu, thấm của nguồn nước mặt, nước
mưa… nước ngầm có thể tồn tại cách mặt đất vài mét, vài chục mét, hay hàng trăm mét
Đối với các hệ thống cấp nước cộng đồng thì nguồn nước ngầm luôn là nguồn nước được
ưa thích Nguồn nước ngầm ít chịu ảnh hưởng bởi các tác động con người Chất lượng
nước ngầm thường tốt hơn chất lượng nước mặt Trong nước ngầm hầu như không có các
hạt keo hay các hạt lơ lửng, và vi sinh, vi trùng gây bệnh thấp Nhưng ngày nay, tình
trạng ô nhiễm và suy thoái nước ngầm đang phổ biến ở các khu vực đô thị và các thành
phố lớn trên thế giới Trong đó, việc ô nhiễm nguồn nước ngầm ở các thành phố của Việt
Nam cũng đã và đang diễn ra [1]
2 Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam, nước cấp cho sinh hoạt và ăn uống hiện nay chủ yếu được xử lý từ
nước ngầm bởi nước ngầm có ưu điểm là độ đục thấp và ít vi sinh vật Ở thủ đô Hà Nội,
để đáp ứng nhu cầu dân sinh nên nước sinh hoạt được xử lý cả từ nước mặt và nước
ngầm Tuy nhiên theo các kết quả nghiên cứu về chất lượng nước cấp lấy từ nước ngầm
của khu vực thủ đô Hà Nội trong những năm gần đây cho thấy tình trạng ô nhiễm sắt,
mangan, asen, amoni… gia tăng [2]
Hà Nội là một trong những khu đô thị lớn với nền kinh tế phát triển quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các quận huyện ngày càng gia tăng, việc phát triển mạnh về
nền kinh tế đồng nghĩa với việc các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị, cơ sở sản
xuất kinh doanh, dịch vụ….mọc lên ngày càng nhiều, làm tăng nhanh số lượng các nguồn
gây ô nhiễm, tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí Nguồn nước ngầm cũng
không nằm ngoài sự tác động này [3]
Trang 10Lê Thị Ngọc Thắm 2 CB140373
Xuất phát từ thực tế nêu trên nên đề tài là “Đánh giá hiện trạng chất lượng nước
sinh hoạt từ nguồn nước ngầm tại các hộ dân ở khu vực Hà Nội”
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là nước sinh hoạt lấy trực tiếp từ nguồn
nước ngầm và nước máy được xử lý từ nước ngầm tại một số khu vực ở Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu:
tại các hộ dân ở một khu vực ở Hà Nội
Nội dung nghiên cứu
Thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu cơ bản của nước ngầm như: mangan, asen,
amoni… tại các hộ dân ở khu vực Hà Nội
Dựa vào QCVN 01:2009/BYT, QCVN 02:2009/BYT để đánh giá nguồn nước có
đạt tiêu chuẩn hay không
Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt và diễn biến chất lượng nước trong
thời gian qua tại một số khu vực ô nhiễm asen trước đây
Trang 11Lê Thị Ngọc Thắm 3 CB140373
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Khái quát về nguồn nước ngầm
1.1.1 Khái niệm [4]
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở
rời như cặn, sạn, cát, bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể
khai thác cho các hoạt động sống của con người Theo độ sâu phân bố, có thể chia
nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu Đặc điểm chung của
nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy
ngầm theo địa hình Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình
bề mặt Do vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của
nước mặt Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm Nước ngầm tầng sâu thường
nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm
nước Theo không gian phân bố, một lớp nước ngầm tầng sâu thường có 3 vùng chức
năng:
- Vùng thu nhận nước
- Vùng chuyển tải nước
- Vùng khai thác nước có áp
Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường khá xa, từ vài
chục đến vài trăm km Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực Đây là
loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định Trong các khu vực phát triển
đá cacbonat thường tồn tại loại nước ngầm caxtơ di chuyển theo các khe nút caxtơ
Trong các dải cồn cát vùng ven biển thường có các thần kính nước ngọt nằm trên mực
nước biển
1.1.2 Sự hình thành nước ngầm và các loại nước ngầm [4]
Nước trên mặt đất và trong ao, hồ, sông, biển gặp ánh sáng mặt trời bốc hơi thành
hơi nước bay lên không trung, gặp lạnh hơi nước sẽ kết lại thành hạt to và rơi xuống
thành mưa Nước mưa rơi xuống mặt đất một phần chảy xuống sông, ao, hồ một
Trang 12Lê Thị Ngọc Thắm 4 CB140373
phần bốc hơi qua mặt đất, mặt nước và sự bốc thoát hơi qua lá, một phần ngấm dần
xuống mặt đất đến tầng đất không thấm sẽ tích tụ lại thành nước ngầm Sự hình thành
nước ngầm trải qua rất nhiều giai đoạn Các tác nhân có liên quan đến chu trình này
bao gồm: bức xạ, trọng lực, sức hút phân tử và lực mao dẫn
Hình thành nước ngầm do nước trên bề mặt ngấm xuống, do không thể ngấm qua
tầng đá mẹ nên trên nó nước sẽ tập trung trên bề mặt, tùy từng kiến tạo địa chất mà nó
hình thành nên các hình dạng khác nhau, nước tập trung nhiều sẽ bắt đầu di chuyển và
liên kết với các khoang, túi nước khác, dần dần hình thành mạch ngước ngầm lớn nhỏ,
tuy nhiên việc hình thành nước ngầm phụ thuộc vào lượng nước ngấm xuống và phụ
thuộc vào lượng mưa và khả năng trữ nước của đất
Tuỳ theo vị trí mà ta có thể chia nước ra làm 3 loại:
- Nước ngấm: là tầng ở trên hết, bên trên nó không có tầng không thấm nước
chặn lại gọi là tầng nước ngấm Đặc điểm của tầng nước ngấm là thay đổi rất nhanh
theo thời tiết: mưa nhiều thì mực nước lên cao, nắng lâu thì mực nước hạ xuống Ao
giếng của nhân dân nếu đào cạn chỉ đến tầng nước ngấm thì mùa khô thường hết nước
Tầng nước ngầm này được tạo ra từ nước trên mặt đất thấm xuống, sau đó lại được
tháo tiêu ra sông, hồ
- Nước ứ: trên tầng thấm nước có một tầng đất khó thấm nước, khi mưa to tầng
đất này hút không kịp, nước tạm thời ứ lại trên tầng đất này và tạo thành nước ứ Sau
đó, một phần nước ứ tiếp tục thấm xuống, một phần bốc hơi, lượng nước ứ sẽ ít dần đi
hoặc mất hẳn Nước tầng này cách biệt hoàn toàn với nước mặt đất và hầu như không
giao lưu
Nước giữa tầng: nước trong tầng thấm nước nằm giữa 2 tầng không thấm gọi là
nước giữa tầng Nước giữa tầng ở sâu và nằm giữa 2 tầng đất sét nên lượng nước
không thay đổi nhiều theo mùa nắng và chất lượng nước tốt
Trang 13Lê Thị Ngọc Thắm 5 CB140373
1.1.3 Tầm quan trọng của nước ngầm [4]
- Nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt như: ăn, uống, tắm giặt, sưởi ấm…
- Nước ngầm phục vụ cho nông nghiệp: tưới hoa màu, cây ăn quả, các cây có giá
trị kinh tế cao
- Con người có thể sử dụng nguồn nước ngầm để mở rộng các hoạt động sản
xuất công nghiệp
- Nước ngầm có chất lượng tốt còn được sử dụng để chữa bệnh Nước ngầm
phục vụ cho sinh hoạt sẽ giảm hẳn các bệnh do nguồn nước mặt bị ô nhiễm như: đường
ruột, bệnh phụ khoa, bệnh ngoài da…
- Sử dụng nước ngầm giúp con người được giải phóng sức lao động do phải lấy
nước xa nhà, tiết kiệm chi phí “đổi nước”, tiết kiệm thời gian nâng cao hiệu quả sản xuất
1.2 Chất lượng nước và các thông số đánh giá chất lượng nước sinh hoạt
1.2.1 Các yêu cầu chung về chất lượng nước sinh hoạt
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những tiêu chuẩn riêng về chất lượng nước sinh
hoạt bao gồm quy định ngưỡng nồng độ của các chỉ tiêu để đảm bảo an toàn, không
ảnh hưởng tới sức khỏe người sử dụng Giới hạn các chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt
được thể hiện ở Bảng 20 (Phụ lục1) theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng
nước sinh hoạt QCVN02:2009/BYT
1.2.2 Các thông số cơ bản đánh giá chất lượng nước sinh hoạt
Các thông số đánh giá chất lượng nước sinh hoạt được đưa ra như sau:
• Các thông số vật lý: Độ đục, độ màu, mùi vị…
• Các thông số hóa học: pH, hàm lượng amoni, nitrat, nitrit, clo dư, COD…
• Các thông số sinh học: Coliform tổng, số vi trùng gây bệnh E.coli, HPC
(Heterotrophic Plate Count – VSV dị dưỡng cấy được)
1.2.2.1 Các thông số vật lý
* Độ đục
Nước nguyên chất thường trong suốt và có khả năng truyền ánh sáng tốt
Trang 14Lê Thị Ngọc Thắm 6 CB140373
Nếu nước có màu vàng là màu của hợp chất sắt và mangan, nước có màu xanh là
màu của tảo, hợp chất hữu cơ Nước có độ màu cao thường gây khó chịu về mặt cảm
quan.Với các quy trình xử lý như sục khí ozôn, clo hóa sơ bộ, keo tụ, lắng lọc có thể
làm giảm độ màu của nước Tiêu chuẩn nước sinh hoạt quy định độ đục của nước nhỏ
hơn 5 NTU [5]
Nếu nước có màu thì đó là nước không đảm bảo chất lượng, có thể gây tác động
không tốt đến sức khỏe con người
* Mùi vị
Nước giếng ngầm:
Mùi trứng thối: là do sự hiện diện của khí H2S, kết quả của quá trình phân hủy
các chất hữu cơ trong lòng đất và hòa tan vào mạch nước ngầm [5]
Mùi tanh của sắt và mangan
Nước mặt (sông, suối, ao hồ):
Mùi tanh của tảo: do sự xuất hiện của các loại tảo và vi sinh vật Trong trường
hợp này nước thường có màu xanh
- Nước máy:
Mùi hóa chất khử trùng (clo) còn dư lại trong nước
Mùi vị khác lạ sẽ gây cảm giác khó chịu khi dùng nước
* Nhiệt độ
Nhiệt độ của nước phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết hay môi trường của
khu vực đó Nhiệt độ có ảnh hưởng không nhỏ đến các quá trình xử lý nước và nhu cầu
tiêu thụ [5]
1.2.2.2 Các thông số hóa học
* Độ pH
Độ pH là một trong những yếu tố quan trọng trong nước Sự thay đổi giá trị pH
có thể dẫn tới những thay đổi về thành phần các chất trong nước do quá trình hòa tan
Trang 15Lê Thị Ngọc Thắm 7 CB140373
hoặc kết tủa, hoặc thúc đẩy hay ngăn chặn những phản ứng hóa học hay sinh học xảy
ra trong nước
Theo Tiêu chuẩn, pH của nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt là 6,0 – 8,5 và pH
của nước uống là 6,5 – 8,5 Trong đường ống cấp nước, giá trị pH của nước có liên
quan đến tính ăn mòn thiết bị và dụng cụ chứa nước Đặc biệt trong môi trường pH
thấp, khả năng khử trùng của Clo sẽ mạnh hơn
* Độ cứng của nước
Độ cứng trong nước do hàm lượng các muối canxi (Ca) và magie (Mg) trong
nước Độ cứng của nước được gọi là vĩnh cửu khi nó do các muối sulphat, clorua và
nhiều muối khác (trừ bicacbonat) khi đun sôi vẫn tồn tại trong dung dịch Độ cứng tạm
thời do các muối bicacbonat, khi đun sôi nước muối bicacbonat không tan và nước sẽ
bớt cứng.Nước cứng thường cần nhiều xà phòng hơn để tạo bọt, hoặc gây hiện tượng
đóng cặn trắng trong thiết bị đun, ống dẫn nước nóng, thiết bị giải nhiệt hay lò hơi
Ngược lại, nước cứng thường không gây hiện tượng ăn mòn đường ống và thiết bị
Nước mặt thường không có độ cứng cao như nước ngầm
Hiện nay, tùy theo độ cứng của nước người ta chia thành các loại sau:
Độ cứng = 0 – 50mg/l Nước mềm
Độ cứng = 50 – 150mg/l Nước hơi cứng
Độ cứng = 150 – 300mg/l Nước cứng
Độ cứng > 300mg/l Nước rất cứng
Theo tiêu chuẩn nước sạch, độ cứng được quy định nhỏ hơn 350 mg/l Đối với
nước ăn uống, độ cứng nhỏ hơn 300 mg/l Tuy nhiên, khi độ cứng vượt quá 50 mg/l,
trong các thiết bị đun nấu đã xuất hiện cặn trắng
* Hàm lượng clo dư
Clo là hóa chất khử trùng sử dụng trong hệ thống cung cấp nước sạch của Việt
Nam, nhằm ngăn cản các bệnh lan truyền qua đường nước Clo có ưu điểm hơn hẳn so
với các chất khử trùng khác là để lại một lượng clo dư sau khử trùng có tác dụng ngăn
Trang 16Lê Thị Ngọc Thắm 8 CB140373
ngừa sự tái nhiễm của vi khuẩn trong quá trình phân phối và trữ nước sạch tới các hộ
Nước cấp có hàm lượng clo dư cao hơn tiêu chuẩn (> 0,5mg/l) có thể gây ngộ độc
hoặc tạo ra hợp chất Trihalomethans gây ung thư cho người sử dụng
* Nhu cầu oxy hóa học (COD)
Chỉ số COD là lượng oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa của các chất hữu cơ
trong một đơn vị mẫu nước (mg/l) thành CO2 và H2O COD biểu thị lượng chất hữu cơ
oxy hóa bằng hóa học
Để xác định độ oxy hóa trong nước cấp sử dụng chỉ số pecmaganat
Tiêu chuẩn nước sạch quy định độ oxy hóa theo chỉ số pecmaganat nhỏ hơn 4
mg/l
* Hàm lượng sắt
Do ion Fe2+ dễ bị oxy hóa thành Fe3+, tự kết tủa và lắng nên sắt ít tồn tại trong
nguồn nước mặt Đối với nước ngầm, trong điều kiện thiếu khí, sắt thường tồn tại ở
dạng ion Fe2+ và hoà tan trong nước Khi được làm thoáng, Fe2+ sẽ chuyển hóa thành
Fe3+ , xuất hiện kết tủa có màu vàng, dễ lắng Trong trường hợp nguồn nước có nhiều
chất hữu cơ, sắt có thể tồn tại ở dạng keo (phức hữu cơ) rất khó xử lý Ngoài ra, khi
nước có độ pH thấp, sẽ gây hiện tượng ăn mòn đường ống và dụng cụ chứa, làm tăng
hàm lượng sắt trong nước Sắt không gây độc hại cho cơ thể Khi hàm lượng sắt cao sẽ
làm cho nước có vị tanh, màu vàng, độ đục và độ màu tăng nên khó sử dụng
Tiêu chuẩn nước sạch quy định hàm lượng sắt nhỏ hơn 0,5 mg/l
* Hàm lượng photpho
Trang 17Lê Thị Ngọc Thắm 9 CB140373
Photpho có thể tồn lưu trong nước dưới dạng H2PO4-, HPO42-, PO43-,
Polyphotphat và photpho vô cơ Ở nồng độ thấp chúng là chất dinh dưỡng cho tảo, vi
sinh vật trong nước
* Hàm lượng nitơ
Nitơ trong nước là nguồn dinh dưỡng cho các thực vật, vi sinh vật Trong nước có
thể xảy ra quá trình biến đổi oxy hóa:
VK Nitromonas VK Nitrobacte Khử Nitrat
Protein NH3 NO2- NO3- N2
Oxy hóa Oxy hóa khử nitrit
Các dạng thường gặp trong nước của hợp chất nitơ là amôni, nitrit, nitrat, Trong
đó, amôni là chất gây độc nhiều nhất cho cá và các loài thủy sinh Nitrit được hình thành
từ phản ứng phân hủy nitơ hữu cơ và amôni và với sự tham gia của vi khuẩn Sau đó
nitrit sẽ được oxy hóa thành nitrat Ngoài ra, nitrat còn có mặt trong nguồn nước là do
nước thải từ các ngành hóa chất, từ đồng ruộng có sử dụng phân hóa học, nước rỉ bãi rác,
nước mưa chảy tràn Sự có mặt hợp chất nitơ trong thành phần hóa học của nước cho
thấy dấu hiệu ô nhiễm nguồn nước
Tiêu chuẩn nước sạch qui định amôni nhỏ hơn 3mg/l
Tiêu chuẩn nước sạch qui định Nitrit nhỏ hơn 3mg/l, Nitrat nhỏ hơn 50mg/l
* Hàm lượng asen
Trong tự nhiên asen có trong nhiều loại khoáng vật như: Realgar As4S4, Orpoment
As2S3, Arsenolite As2O3, Arsenopyrite FeAsS (tới 368 dạng) Trong nước asen thường ở
dạng arsenic hoặc arsenate (AsO33-, AsO43-) Các hợp chất Asen methyl có trong môi
trường do chuyển hóa sinh học
Asen là một nguyên tố không chỉ có trong nước mà còn có trong không khí, đất, thực
phẩm và có thể xâm nhập vào cơ thể con người, nguyên nhân chủ yếu khiến nước ngầm ở
nhiều vùng thuộc nước ta nhiễm asen là do cấu tạo địa chất
Trang 18Lê Thị Ngọc Thắm 10 CB140373
Asen (As) tồn tại dưới dạng các hợp chất (Chính các hợp chất của asen mới là những
độc chất cực mạnh )
Trong nước Asen tồn tại ở 2 dạng hoá trị: hợp chất Asen hóa trị III và V (Hợp chất
Asen hóa trị III có độc tính cao hơn dạng hóa trị V.)
Do thấm qua nhiều tầng địa chất khác nhau, nước ngầm thường chứa asen nhiều
hơn nước mặt Ngoài ra asen có mặt trong nguồn nước khi bị nhiễm nước thải công
nghiệp, thuốc trừ sâu Khi bị nhiễm asen, có khả năng gây ung thư da và phổi Tiêu
chuẩn nước sạch quy định hàm lượng asen nhỏ hơn 0,01 mg/l
* Hàm lượng mangan
Mangan có mặt trong hơn 100 loại khoáng khác nhau Thông qua quá trình rửa
trôi, phong hóa của đất đá và các hoạt động của con người mangan sẽ được tích tụ
trong các nguồn nước khác nhau như ao, hồ sông, suối, biển… gọi chung là nước bề
mặt rồi từ nước bề mặt mangan sẽ được ngấm vào những mạch nước trong lòng đất mà
ta gọi là nước ngầm Đó là lí do vì sao mangan nói riêng và nhiều nguyên tố kim loại
nặng nói chung hiện nay đã có mặt trong nguồn nước ngầm của nhiều quốc gia trên thế
giới
Hàm lượng mangan trong nước tự nhiên trung bình là 0,58mg/l, hàm lượng này
phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: địa hóa của khoáng vật, điều kiện hóa học của nước và
hoạt động của các vi sinh vật Ở hàm lượng cao hơn 0,15mg/l có thể tạo ra vị khó chịu,
làm hoen ố quần áo Ngay cả khi nồng độ mangan < 0,02mg/l thì nó có thể tạo ra lớp
cặn màu đen đóng bám vào thành và đáy bồn chứa
Tiêu chuẩn nước uống và nước sạch đều quy định hàm lượng mangan nhỏ hơn
0,5 mg/l
Hàm lƣợng kẽm (Zn)
Hàm lượng cần thiết của Zn mỗi ngày là 15 mg cho người lớn và 20-25 mg
cho phụ nữ có thai và cho con bú Nhiễm độc cấp tính Zn trong con người gồm các triệu
chứng như nôn mửa, mất nước, buồn ngủ, hôn mê, mất cân bằng điện phân, đau bụng,
Trang 19Lê Thị Ngọc Thắm 11 CB140373
thiếu sự phối hợp giữa các cơ bắp và suy thận Nhiễm độc mãn tính của Zn làm tăng nguy
cơ tăng bệnh thiếu máu, tổn thương tuyến tụy, làm giảm cholesterol HDL và tăng mức độ
cholesterol LDL và có thể tăng các triệu chứng của bệnh Alzheimer Theo các nghiên cứu
tiếp xúc với khói Zn từ việc nấu chảy hay hàn thường bị mắc bệnh trong thời gian ngắn
Hàm lƣợng chì (Pb)
Chì tiếp xúc với con người từ không khí và thức ăn.Trẻ em đặc biệt dễ bị nhiễm
Chì do sự hấp thu tiêu hóa cao Các mạch máu não thấm dần dẫn đến các triệu chứng
nhiễm độc thần kinh ngay cả khi tiếp xúc ở mức độ thấp Độc tính của Pb do sự tiếp xúc
trực tiếp của nó với sự hoạt động của các enzyme khác nhau và việc thay các ion kim loại
cần thiết từ Metalloenzymes Con đường tiếp xúc chính của Pb vô cơ thông qua việc ăn
và hấp thụ qua đường tiêu hóa, đường hô hấp và thở Thận và gan được xem là cơ quan
tiềm năng nhiễm độc Pb trước khi lưu trữ trong xương Tùy thuộc vào mức độ tiếp xúc,
Pb có khả năng gây ra 1 loạt các triệu chứng sinh học như giảm khả năng tổng hợp
hemoglobin, suy giảm chức năng hành vi thần kinh ngoại biên , tác động gián tiếp lên tim,
tổn thương ống thận và các vấn đề sinh sản
Hàm lƣợng đồng (Cu)
Đồng là nguyên tố cần thiết cho sự hình thành của enzyme trong cơ thể con
người Dùng liều lượng Cu quá mức dẫn đến kích ứng nặng niêm mạc, gan và tổn thương
thận, dây thần kinh trung ương, kích thích thần kinh trung ương dẫn đến trầm cảm Nhiễm
độc đồng bao gồm các triệu chứng như : tiêu chảy đi phân xanh có màu xanh và nước bọt,
tan, máu cấp tính, và các bất thường về chức năng của thận Bệnh Wilson là sự sai sót
bẩm sinh do sự trao đổi chất bị khiếm khuyết di truyền trong sự kết hợp của Cu2+ vào
Apocerplasmin để tạo thành Ceruloplasmin và khả năng của gan bài tiết Cu dẫn vào mật
dẫn đến Cu tích lũy trong các mô của gan, thận, não và giác mạc dẫn đến tổn thương các
cơ quan Chế độ ăn uống cung cấp đầy đủ và an toàn của Cu là 2-3mg cho người lớn và
1-3 mg cho trẻ em
Trang 20Lê Thị Ngọc Thắm 12 CB140373
Hàm lƣợng cađimi (Cd)
Ngoài nguồn nước, thực phẩm và thuốc lá là nguồn quan trọng nhất của Cd Chế
độ ăn uống hàng ngày của Cd khoảng từ 40 đến 50 ~ gl ngày (WHO, 1987) Cd tích lũy
trong thận và gan trong thời gian dài Tiếp xúc ở mức độ thấp dài hạn dẫn đến bệnh tim
mạch và ung thư Nó được biết đến chủ yếu ảnh hưởng đến chức năng ống thận tái hấp
thu protein, đường và axit amin Tiếp xúc cađimi kết hợp với Ca, Fe, Zn, protein, chất béo
và vitamin D thiếu hụt, dẫn đến loãng xương và gãy xương ở phụ nữ sau mãn kinh trong ô
nhiễm thung lũng Jintsu, Nhật Bản thường được gọi là bệnh Itai-Itai Cađimi có thể ảnh
hưởng đến canxi, phốt pho và chuyển hóa xương ở cả hai công nhân công nghiệp và
người dân tiếp xúc với Cd trong môi trường nói chung
Hàm lƣợng niken (Ni)
Lượng niken cần thiết cần cung cấp qua thực phẩm mỗi ngày khoảng 300g
(WHO, 1987) Niken gây phôi độc và tác động gây độc cho thận, phản ứng dị ứng và
viêm da tiếp xúc Nickel nhạy cảm cũng xảy ra ở dân số nói chung từ tiếp xúc với đồng
tiền, đồ trang sức, vỏ đồng hồ đeo tay, quần áo và ốc vít Nó gây ra viêm kết mạc, viêm
phổi tăng bạch cầu eosin, bệnh suyễn và địa phương hoặc hệ thống phản ứng với Ni có
chứa các bộ phận giả như thay thế khớp, chân, thay van tim, dây điện máy tạo nhịp tim và
khảm nha khoa Nickel là một chất gây ung thư tiềm năng cho phổi và có thể gây dị ứng
da, xơ hóa phổi và ung thư đường hô hấp ở những người tiếp xúc với chất này
Hàm lƣợng crom (Cr)
Lượng trung bình hàng ngày của crom trong khoảng giữa 100 và 300 ~ g / ngày
(WHO, 1984) Những tác hại của Cr đến con người được chủ yếu kết hợp với hình thức
crom hóa trị 6 Độc tính Crom bao gồm hoại tử gan, viêm thận và kích thích tiêu hóa
Cr+6 cũng có thể sản xuất những thứ thuộc về da, mũi và viêm loét niêm mạc và gây viêm
da khi tiếp xúc với da Sự khác biệt giữa các tác động sinh học gây ra bởi Cr+6 và Cr+3 là
khó bởi vì sau khi xâm nhập qua màng Cr+6 được giảm xuống thành Cr+3 Một phản ứng
Trang 21Lê Thị Ngọc Thắm 13 CB140373
tương tự cũng được đưa ra bởi các hoạt động của dịch dạ dày cho crom (VI) mà tiêu thụ
qua đường miệng Crom có tác dụng gây ung thư mạnh trên con người và động vật khác
1.2.2.3 Các thông số sinh học
Đây là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng nước cấp sinh hoạt Tùy theo tính
chất, các loại VSV trong nước được chia thành hai nhóm: Nhóm VSV có hại và nhóm
VSV không gây hại Nhóm VSV gây hại bao gồm các vi khuẩn gây bệnh lỵ, tả, thương
hàn… Việc xác định sự có mặt của các loài VSV gây bệnh thường mất nhiều thời gian
do sự đa dạng về chủng loại Vì vậy trong thực tế thường áp dụng phương pháp xác
định chỉ số VSV đặc trưng Hai chỉ thị thông dụng nhất được sử dụng để đánh giá chất
lượng nước cấp sinh hoạt là E.coli và tổng coliform Ngoài ra, ở một số nơi trên thế
giới như Nhật Bản, Mỹ và hướng dẫn của WHO còn dùng chỉ thị HPC để đánh giá chất
lượng nước cấp sau phân phối
* E.coli
E.coli là những trực khuẩn gram âm, hình que, kích thước trung bình từ 1 - 3 µm,
hai đầu tròn, là VSV hiếu khí tùy tiện xuất hiện trong đường ruột của người và các loại
động vật như thú, chim E.coli thuộc nhóm Coliform phân Sự có mặt của E.coli trong
nước chứng tỏ nguồn nước bị nhiễm bẩn và khả năng tồn tại các vi khuẩn gây bệnh rất
cao Số lượng E.coli trong nước ít hay nhiều phụ thuộc vào mức độ nhiễm bẩn của
nguồn nước Đặc tính của vi khuẩn E.coli là có khả năng tồn tại cao hơn các vi khuẩn
gây bệnh khác , do đó nước sau xử lý phân tích không còn E.coli nữa cũng chứng tỏ
các VSV gây bệnh khác đã bị diệt hết [5]
* Tổng coliform
Coliform là những trực khuẩn gram âm, có hình que, không hình thành bào tử Có
khả năng lên men lactose sinh axit và khí ở nhiệt độ từ 35 - 370C trong 48h Nhóm
coliform có thể được tìm thấy trong đất, nước, đặc biệt trong ruột và phân của người và
động vật Coliforms được sử dụng làm một nhóm vi sinh vật chỉ thị, tuy vậy số lượng
vi sinh vật trong nhóm tồn tại trong môi trường đôi khi không tương ứng với mức độ ô
Trang 22Lê Thị Ngọc Thắm 14 CB140373
nhiễm của nước Việc xác định tổng coliforms sẽ bao gồm việc xác định cả những vi
sinh vật không ảnh hưởng trực tiếp về mặt sức khỏe đối với con người
1.2.3 Nguồn gây ô nhiễm
Nước ngầm nguyên thủy về cơ bản không phải là nguồn nước bị ô nhiễm, nước
ngầm chỉ có thể mang một số hàm lượng chất hóa học cao như asen, sắt hay mangan,
Coliform Nguồn gốc hình thành nước ngầm được bảo vệ qua tầng cách ly với tầng
nước mặt bởi tầng sét Do khai thác quá mức, lượng nước bổ sung không đáp ứng kịp,
kết cấu lỗ khoan không đảm bảo kỹ thuật có thể gây ra phá hủy tầng cách nước nên
khiến dòng chuyển lưu đã cuốn theo nước trên bề mặt vốn đã bị ô nhiễm ngấm vào
nước ngầm
Hiện nay, rất nhiều hoạt động có tác động xấu đến môi trường nước ngầm như
khoan, đào giếng khai thác nước ngầm phục vụ sinh hoạt, sản xuất, khoan khảo sát địa
chất công trình, xây dựng Khi thực hiện xong, các giếng khoan không được trám lấp
theo đúng quy định, là nguyên nhân dẫn đến các chất ô nhiễm có trong tầng nước mặt
ngấm xuống tầng nước ngầm một cách dễ dàng
Theo nhận định của các nhà khoa học, các nguyên nhân trên đây sẽ làm tăng nguy
cơ suy thoái về chất lượng của nước ngầm Ngoài ra suy thoái về mặt trữ lượng nước
ngầm còn xuất phát từ việc đào giếng, khoan giếng, khai thác nước ngầm phục vụ sinh
hoạt, sản xuất công nghiệp quá mức
Hiện nay, nước sạch rất được quan tâm trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội,
đã có nhiều dự án đầu tư tăng tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch Vấn đề nảy sinh khi
được cung cấp nước sạch thì nhiều hộ dân bỏ giếng khoan, giếng đào đã sử dụng trước
đó, không còn sử dụng cho mục đích nào và không tiến hành trám lấp lại đúng quy
định Các công trình khoan địa chất cũng không được trám lấp đúng quy trình, quy
chuẩn Chính những giếng khoan, công trình này đang ngấm ngầm phá thủng tầng sét
để tiếp tay cho ô nhiễm từ bề mặt xuống tầng nước ngầm
Trang 23Lê Thị Ngọc Thắm 15 CB140373
1.2.3.1 Các nguồn nhân tạo
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp: việc sử dụng phân bón hóa học, HCBVTV đã
góp phần quan trọng vào việc cải thiện năng suất cây trồng, song do tình trạng lạm
dụng quá mức, kém hiểu biết của người dân trong quá trình sử dụng, nên có thể dẫn
đến tình trạng suy thoái đất nông nghiệp và có nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm
- Chất độc chiến tranh và các điểm tồn trữ HCBVTV: Trong thời kỳ chiến tranh
có rất nhiều chất độc được sử dụng và còn tồn đọng trong môi trường đất và nước Đặc
biệt nhiều nơi nguồn nước ngầm đã bị ô nhiễm do lâu ngày nguồn nước pha lẫn các
chất độc ngấm xuống tầng nước ngầm, nếu không được xử lý và kiểm soát, cũng có thể
là những nguồn đe doạ ô nhiễm nguồn nước ngầm
- Chất thải rắn (chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp, y tế…): Hiện nay, phần lớn
chất thải rắn ở Hà Nội đã được thu gom vào bãi rác tập trung, nhưng hiệu quả thu gom
vẫn chưa cao Tuy vậy, việc xử lý chất thải rắn vẫn chưa đúng quy cách, chưa đúng
quy trình của một bãi chôn lấp hợp vệ sinh, lượng chất thải rắn được thu gom vào các
bãi rác tập trung còn rất ít, nên chủ yếu vẫn nằm phát tán trong môi trường Các bãi rác
tập trung cũng như chất thải rắn phân tán trong môi trường cũng là một trong những
nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước ngầm…
1.2.3.2 Các nguồn tự nhiên
Tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ chứa trên cả
nước và nước dưới đất ở nhiều vùng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng Ngoài nguyên
nhân khách quan do diễn biến theo quy luật tự nhiên của tài nguyên nước, do điều kiện
khí hậu, thủy văn, do tác động của biến đổi khí hậu, Nước sạch đang ngày một khan
hiếm An ninh về nước cho đời sống và phát triển kinh tế một cách bền vững và bảo vệ
môi trường đã và đang không được bảo đảm ở nhiều nơi
Trang 24Lê Thị Ngọc Thắm 16 CB140373
1.3 Nguồn gây ô nhiễm As, Mn, NH 4 + trong nước ngầm
1.3.1 Nguồn gây ô nhiễm As
a Nguồn gốc tự nhiên
Từ các loại khoáng, trầm tích trong lòng đất: asenopyrit FeAsS, Hùng Hoàng, Thư
Hoàng, dưới tác dụng của các quá trình oxi hóa khử, quá trình sinh hóa, asen sẽ di
chuyển từ trầm tích vào nước ngầm [6]
Cơ chế di chuyển asen từ trong khoáng vào nước ngầm [6]:
- Cơ chế 1: Oxy hóa hòa tan các khoáng vất chứa asen như asenopyrit, FeAsS
4FeAsS + 13 O2 + 6H2O → 4FeSO4 + 4H3AsO4 (I.2)
Quá trình này xảy ra khi khai thác khoáng sản thì đất đá bị phá vỡ và các khoáng nguyên
sinh bị phơi lộ, có điều kiện tiếp xúc với không khí mạnh, quá trình phong hóa diễn ra ở
mức độ cao hơn Asenopyrit bị rửa trôi làm cho một lượng H3AsO4 di chuyển vào môi
trường nước, hấp phụ vào đất, bùn và thực vật
- Cơ chế 2:
Khử hòa tan các hydroxit sắt (Hfo) hấp phụ trên bề mặt khoáng Đại diện của Hfo là
goethite và tác nhân khử là các vật chất hữu cơ tự nhiên (NOM- CH2O) có trong bồi tích
phù sa:
4FeOOH(As) + CH2O + 7H+ = Fe2+ + HCO3- + 6 H2O + As (I.3)
- Cơ chế 3:
Khử hòa tan các Hfo hấp phụ As trên bề mặt do các hoạt động của một số chủng vi khuẩn
như Geospirillum barnesii:
FeOOH(As) + CH2O + enzym → Fe2+ + HCO3- + H2O + As (I.4)
- Cơ chế 4:
Asen hấp phụ trên Hfo được thay thế bằng bicacbonat:
FeOOH(As) + HCO3- → FeOOH(HCO3- ) + As (I.5)
Trang 25Lê Thị Ngọc Thắm 17 CB140373
b Nguồn gốc nhân tạo:
Asen được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp: luyện kim, sản xuất gốm và
thủy tinh, bán dẫn, điện tử, hóa chất - thuốc nhuộm; trong nông nghiệp: thuốc trừ sâu, diệt
cỏ, diệt côn trùng, chất bảo quản gỗ; trong y tế Do vậy, có khả năng là asen từ nước thải
của các ngành trên cũng đóng góp vào lượng asen trong nước ngầm
1.3.2 Nguồn gây ô nhiễm Mn
a Nguồn gốc tự nhiên
Mangan là một nguyên tố tương đối phổ biến trong tự nhiên, nó đứng thứ 3 trong
các kim loại chuyển tiếp sau Fe và Ti Trữ lượng của mangan trong vỏ Trái Đất là 0,032%
Mangan không tồn tại ở trạng thái tự do mà tồn tại trong các quặng và các khoáng vật
Mangan có mặt trong hơn 100 loại khoáng khác nhau Khoáng vật chính của mangan là
hausmanit (Mn3O4) chứa khoảng 72% Mn, priolusit (MnO2) chứa khoảng 63% Mn,
braunit (Mn2O3) và manganit (MnOOH) [7]
Khi nước chảy qua các vỉa quặng chứa mangan đã bị phong hoá, mangan sẽ di
chuyển vào nguồn nước ngầm làm cho nồng độ của mangan trong nước tăng lên
Thông qua quá trình rửa trôi, phong hóa của đất đá và các hoạt động của con người
mangan sẽ được tích tụ trong các nguồn nước khác nhau như ao, hồ sông, suối,
biển…gọi chung là nước bề mặt rồi từ nước bề mặt mangan sẽ được ngấm vào
những mạch nước trong lòng đất mà ta gọi là nước ngầm Đó là lí do vì sao mangan
nói riêng và nhiều nguyên tố kim loại nặng nói chung hiện nay đã có mặt trong
nguồn nước ngầm của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam
b Nguồn gốc nhân tạo
Ứng dụng lớn nhất của mangan là trong công nghiệp sản xuất sắt, gang, hợp
kim thép, nhất là trong việc chế tạo thép không gỉ Ứng dụng lớn thứ hai của
mangan là sản xuất các hợp kim nhôm Các hợp chất của mangan được ứng dụng
trong các lĩnh vực khác nhau như: điện tử, làm sạch, khử màu, tẩy uế…Do vậy, có
khả năng có mangan từ nước thải công nghiệp đóng góp vào lượng mangan trong
Trang 26Lê Thị Ngọc Thắm 18 CB140373
nước ngầm Bên cạnh đó, việc khoan giếng nước không hợp lý hoặc khai thác mỏ
khoáng sản có thể làm mangan bị hòa tan vào dòng nước ngầm [7]
1.3.3 Nguồn gây ô nhiễm NH 4 +
Hiện nay, hàm lượng amoni trong nước ngày càng tăng, vượt quá tiêu chuẩn cho phép
của BYT (3mg/l) rất nhiều Có 4 nguyên nhân chủ yếu làm cho hàm lượng Amoni trong
nước ngày càng tăng, đó là :
– Khí thải công nghiệp, nhà máy, chất thải từ các bệnh viện, lò giết mổ động vật
thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt được mức độ an toàn đã thải ra môi trường
khiến nguồn nước mặt bị ô nhiễm một cách nặng nề
– Do thói quen trong sản xuất, dùng quá nhiều thuốc trừ sâu, phân bón hóa học
– Đường ống nước bị vỡ bị sự cố nứt làm giải phóng Nito trong bùn đất, làm cho
hàm lượng Nito trong nước ngầm ngày càng cao
– Khi nước ngầm bị khai thác mạnh nhưng lượng nước mới chưa bổ sung kịp, sẽ
làm xuất hiện những chiếc phễu hút nước trên các tầng nước mặt, các nước từ sông hồ,
ao, đen ngòm, đặc quánh chất bẩn sẽ ngấm dần xuống mạch nước ngầm, đầu độc người
dân
1.4 Ảnh hưởng của Asen, Mangan, Amoni tới sức khỏe của con người
1.4.1 Ảnh hưởng của Asen
Từ hàng ngàn năm nay, asen luôn được coi là một trong những chất rất độc, trong dân
gian vẫn gọi loại chất độc này là “thạch tín” Ở một nồng độ thấp thì nó tác dụng như là
một chất kích thích sinh trưởng, nhưng ở nồng độ cao asen lại gây độc cho người và động
vật Nước ngầm chưa qua xử lý là nguồn chủ yếu gây nhiễm độc asen Tính độc của asen
đối với sức khỏe con người theo các mức độ từ tổn thương da đến ung thư não, gan, thận
và dạ dày Độc tính của asen được xác định phụ thuộc vào các dạng tồn tại của asen Đối
với cơ thể sống, bao gồm con người và các động vật khác, những dạng asen vô cơ thường
độc hơn các dạng asen hữu cơ
Nhiễm độc mãn tính asen do sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm asen phát sinh sau một
khoảng thời gian dài sử dụng nước chứa hàm lượng asen cao
Trang 27Lê Thị Ngọc Thắm 19 CB140373
Những biểu hiện khi nhiễm bệnh [6]
- Xuất hiện các mảng dày sừng: trên lòng bàn tay bàn chân nổi lên các sẩn giống như
mụn cơm, bé bằng hạt tấm rồi lớn dần bằng hạt đậu xanh hay hạt lạc, lan rộng thành
mảng Chúng thường mọc đối xứng hai bên, đôi khi xuất hiện cả ở lưng, bụng, đùi, cẳng
chân, cánh tay Da vùng này vàng, có thể có vết nứt nẻ
- Tăng hoặc giảm sắc tố da: các nốt đen thâm nhỏ (bằng phẳng hoặc nổi cao) có thể
xuất hiện khắp nơi, nhất là vùng được che kín như ngực, bụng, cẳng chân Ngoài ra, có
thể xuất hiện các nốt nhỏ trắng, phẳng ở bụng, lưng, ngực, ngang thắt lưng, cẳng tay cẳng
chân Giảm hoặc tăng sắc tố thường xuất hiện trong giai đoạn đầu
- Tê buốt đầu ngón tay ngón chân: là biểu hiện tê đầu chi Từ tê, bệnh nhân dần cảm
thấy đau buốt do thiếu máu, các ngón có thể bị hoại tử
- Các biểu hiện khác bao gồm sạm da từng đám lan tỏa, rụng tóc nhiều, tê tay chân,
rối loạn tiêu hóa, xơ gan, tăng huyết áp, nhiễm độc thai nghén, sinh con nhẹ cân, sẩy
thai…
1.4.2 Ảnh hưởng của Mangan
Mangan là nguyên tố vi lượng cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày
của con người (30 - 50 µg/kg trọng lượng cơ thể) Mangan đi vào cơ thể con người
chủ yếu là do ăn uống và tích luỹ dần Vì vậy sự có mặt của mangan ở trong các
nguồn nước tự nhiên là cần thiết cho sức khỏe của con người Tuy nhiên, ở nồng độ
cao lại gây ra nhiều tác động tiêu cực Sử dụng nước có chứa mangan ở nồng độ
khoảng 200 μg/L đã là chất độc gây ức chế thần kinh ở trẻ nhỏ; sử dụng trong thời
gian dài sẽ gây nhiễm độc mangan và dẫn tới những bệnh mạn tính [8] Nhiễm độc
mangan từ nước uống làm giảm khả năng ngôn ngữ, giảm trí nhớ, giảm khả năng
vận dụng sự khéo léo của đôi tay và tốc độ chuyển động của mắt, gây độc với
nguyên sinh chất của tế bào, đặc biệt là tác động lên hệ thần kinh trung ương, gây tổn
thương thận, bộ máy tuần hoàn Phơi nhiễm mangan lâu dài (hơn 10 năm) có thể
gây bệnh parkison, mất đi một số chức năng vận động vật lý [9,10]
Trang 28Lê Thị Ngọc Thắm 20 CB140373
Như vậy, nước ngầm bị ô nhiễm mangan là tác nhân gây hại với sức khỏe con
người
1.4.3 Ảnh hưởng của amoni
Khi nồng độ amoni trong nước cao, rất dễ sinh nitrit (NO2) Trong cơ thể động vật,
nitrit và nitrat có thể biến thành N -nitroso - là tiền chất có tiềm năng gây ung thư Mặc dù
bằng chứng dịch tễ học chưa đầy đủ về tác hại đối với con người, nhưng Tổ chức Y tế thế
giới cũng như Tiêu chuẩn 1329/2002 (Bộ Y tế) đã đề ra mức giới hạn 3 và 50mg/l đối với
nitrit và nitrat tương ứng nhằm ngăn ngừa bệnh mất sắc tố máu (methaemoglobinaemia)
đối với trẻ sơ sinh dưới 3 tháng tuổi
Các hợp chất nitơ trong nước có thể gây nên một số bệnh nguy hiểm cho người
sử dụng nước Nitrat tạo ra chứng thiếu vitamin và có thể kết hợp với các amin để tạo
nên những nitrosamin là nguyên nhân gây ung thư ở người cao tuổi Trẻ sơ sinh đặc
biệt nhạy cảm với nitrat vào sữa mẹ, hoặc qua nước dùng để pha sữa Sau khi vào cơ
thể, nitrat được chuyển hoá nhanh thành nitrit nhờ vi khuẩn đường ruột Nitrit còn
nguy hiểm hơn nitrat đối với sức khoẻ con người Khi tác dụng với các amin hay alkyl
cacbonat trong cơ thể người chúng có thể tạo thành các hợp chất chứa nitơ gây ung
thư
1.5 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.5.1 Vị trí địa lý, địa chất [6][12]
Hà Nội là một thành phố nằm ở hai bên bờ sông Hồng trên vùng đồng bằng trù phú
và nổi tiếng từ lâu đời Thành phố này nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, giới hạn
trong khoảng từ 20053’ đến 21023’ vĩ độ Bắc, từ 105044’ đến 106002’ kinh độ Đông
Theo chiều sâu từ mặt đất, dựa vào cấc cột địa tầng của khoảng 400 giếng khoan khu
vực Hà nội, địa chất thủy văn của vùng được chia thành các phân vị sau:
- Lớp cách nước trầm tích Holocene (qh) gồm cát, sét, cát pha
- Tầng chứa nước trầm tích Pleistocene gồm sét, sét pha
- Lớp cách nước trầm tích Pleistocene (qp) gồm cát, cuội, sỏi
Trang 29Lê Thị Ngọc Thắm 21 CB140373
- Phức hệ chứa nước khe nứt Neogene (m 4 ) gồm cuội kết, sét kết, cát kết
- Đới chứa nước khe nứt lục nguyên phùn trào Triat (t) gồm cát kết, bội kết
Tầng chứa nước qh phân bố rộng khắp khu vực thành phố Thạch học của tầng này
gồm cát pha, sét pha, sét, bùn sét, cát có lẫn bùn hữu cơ và thực vật Chiều dày tầng chứa
nước qh từ 0-15.5 m, trung bình 14 m Đây là tầng giàu nước Lớp chứa nước của tầng qh
phân bố ở độ sâu 15 đến 25 m, nên nói chung có chất lượng nước tốt Loại hình hóa học
chủ yếu là bicacbonat-clorua, hàm lượng vi khuẩn nhỏ hoặc không có (trừ những khu vực
bị ô nhiễm Nito và vi sinh như nghĩa trang Văn Điển, ô nhiễm Hg như khu bãi rác Tam
Hiệp, Mễ Trì có hàm lượng Hg lên tới 0.4 mg/l) Trữ lượng nước dưới đất trong tầng qh
không lớn, nhưng có bổ cấp tự nhiên từ nước mưa, nước sông, hồ nên có thể đáp ứng
cho khai thác quy mô nhỏ phục vụ ăn uống sinh hoạt
Tầng chứa nước qp (tầng giữa-trên) gồm qp2 và qp1, có bề dày thay đổi trong phạm vi
khá lớn, từ 9.97 m đến 30.8 m (khu vực bắc sông Hồng) hoặc từ 35 đến 45 m, có nơi
60-70 m (khu vực nam sông Hồng) Nước ngầm trong tầng này thuộc loại nửa cứng, chất
lượng tốt
1.5.2 Khí hậu
Khí hậu vùng Hà Nội hàng năm chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa nóng ẩm, mưa
nhiều và ma lạnh hanh khô
Nhiệt độ trung bình mùa lạnh là 16oC, mùa nóng là 29oC Mùa mưa bắt đầu từ
cuối tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, đôi khi mùa mưa có thể đến sớm hơn vào tháng
3 (năm 1990) và kết thúc muộn vào tháng 11 (năm 1996) Lượng mưa nhỏ nhất năm là
1.239mm (năm 1995), lớn nhất là 2.536mm (năm 1994), trung bình nhiều năm
(1990-1997) là 1.604mm
Mùa khô lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất là 1,9 mm thường là vào tháng 12
và tháng 1 Mùa mưa, lượng mưa trung bình tháng lớn hơn 100mm, nhỏ nhất 37,8mm
(tháng 8 năm 1992), lớn nhất là 595.5mm (tháng 8 năm 1995)
Trang 30Lê Thị Ngọc Thắm 22 CB140373
1.6 Một số nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước ngầm ở Hà Nội
Theo số liệu từ Bộ Tài nguyên và Môi trường thì ở nước ta, nước ngầm chiếm
khoảng 35% đến 40% tổng số lượng nước sinh hoạt của người dân Ngoài ra, nó còn là
nguồn nước quan trọng của ngành nông nghiệp và công nghiệp Tuy nhiên hiện nay, ô
nhiễm và suy thoái nước ngầm đang diễn ra rất phổ biến, đặc biệt là ở các khu đô thị hay
thành phố như Hà Nội Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ
vào môi trường nước chất thải công nghiệp và nước thải độc hại không xử lý hoặc xử lý
không đạt yêu cầu Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác động tiêu cực tới môi trường
sống của sinh vật và con người bởi kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn,
Fe, v.v… thường không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hóa của các thể sinh
vật và thường tích lũy trong cơ thể chúng Kim loại nặng tích lũy theo chuỗi thức ăn thâm
nhập và cơ thể người Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước
ngầm, vào đất và các thành phần môi trường liên quan khác
Nguồn nước ngầm ở phía Nam nội thành Hà Nội có hàm lượng Fe, NH4+ rất cao,
thậm chí còn bị nhiễm As Các hộ dùng nước nhà máy Pháp Vân với hàm lượng amoni
vượt 5-20 lần mức cho phép 3,0 mg/l Nồng độ các hợp chất Nitơ, Fe, NH4+ trong nước
của một số giếng khai thác thuộc nhà máy nước Pháp Vân, Tương Mai, Hạ Đình có xu
hướng tăng theo thời gian Cả hai tầng chứa nước đều có hàm lượng Fe và Mn khá cao,
vượt giới hạn cho phép như khu vực Thanh Trì, Gia Lâm
Chất lượng nước khai thác từ giếng khoan chưa xử lý có hàm lượng asen dao động
0,02 mg/l - 0,038 mg/l Khu vực có hàm lượng asen tương đối cao từ 0,016- 0,018 mg/l
tại các giếng khoan của các nhà máy nước ngầm Pháp Vân, Ngô Sỹ Liên, Kim Liên… Xử
lí asen trong nước sinh hoạt là vấn đề cấp bách hiện nay
Theo kết quả các cuộc khảo sát của bộ Tài Nguyên và môi trường phối hợp với
UNICEF và các tổ chức quốc tế khác thì nguồn nước ngầm của một số vùng ở Hà Nội có
hàm lượng kim loại nặng rất cao, vượt quá mức cho phép của Bộ Y Tế, đặc biệt là chỉ tiêu
Asen (Thạch Tín), một chỉ tiêu rất độc hại đối với sức khỏe con người Qua nghiên cứu,
Trang 31Lê Thị Ngọc Thắm 23 CB140373
khảo sát hiện trạng ô nhiễm asen trong nước ngầm khu vực ở Hà Nội liên tục từ năm 1998
đến nay, các kết quả cho thấy có tới trên 50% các mẫu nước giếng đem phân tích có hàm
lượng asen vượt ngưỡng 0,01 mg/l Theo công bố của Viện Y học lao động và Vệ sinh
môi trường, trong số 11500 mẫu nước ở 11 huyện thì thấy 40% trong đó bị nhiễm asen, có
nơi với nồng độ cao gấp hàng chục lần Việt Nam đã được đánh dấu trên bản đồ ô nhiễm
asen của thế giới
Kết quả khảo sát hiện trạng asen tại các bãi giếng đang khai thác nước ngầm của
các nhà máy nước ở Hà Nội cho thấy: Nguồn nước giếng Mai Dịch (I), Ngọc Hà (II) và
Lương Yên (V) gần như không bị nhiễm Asen còn các Bãi giếng của nhà máy nước Yên
Phụ (III), Hạ Đình (VI), Pháp Vân (VIII), Hà Đông (I) đều bị nhiễm Asen Với nguồn
nước mặt thì hàm lượng Asen thấp hơn và tỷ lệ nhiễm các mẫu nước sinh hoạt cũng thấp
hơn
Nước sinh hoạt nhiễm amoni đang ngày càng phổ biến tuy nhiên việc phát hiện
nước nhiễm amoni rất khó Nước nhiễm amoni thường rất khó nhận biết bằng mắt
thường, chỉ khi nồng độ > 10mg/l thì mới có thể quan sát rõ bằng mắt thường với hiện
tượng nước màu vàng nhạt, trong, không có cặn, mùi khai và một vài trường hợp luộc thịt
có hiên tượng thịt đỏ
Theo nghiên cứu của Michael Berg và các đồng nghiệp (năm 2010) [12] nồng độ
Asen thay đổi đáng kể ở đồng bằng (< 0,1 - 810 μgl -1) và 27% giếng vượt quá giá trị cho
phép của WHO là 10 μgl -1 Kết quả nghiên cứu cho thấy có khoảng ba triệu người đang
sử dụng nước ngầm bị ô nhiễm vì nồng độ > 10 μgl-1 và một triệu người sử dụng nước
ngầm có chứa > 50 μgl-1, với cả người dân nông thôn và thành thị bị ảnh hưởng bởi mức
độc hại của As
Asen là nguyên nhân gây ra mối quan tâm về độc tính lớn nhất trong vùng nước
ngầm Tiếp đến là mangan (Mn) có thể gây ra sự cố trong sự phát triển của trẻ Với nồng
độ trung bình là 0,83 mgl-1
(tối đa 16,4 mgl -1), 44% giếng khoan vượt quá chỉ dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (Mn WHO) là 0,4 mgl -1 Ước tính tỷ lệ này tương ứng với gần 5 triệu
Trang 32Lê Thị Ngọc Thắm 24 CB140373
người tiêu thụ nước với mức độ Mn đe dọa đến sức khoẻ Tiếp xúc với nồng độ Mn trong
nước uống có liên quan đến các tác động gây độc thần kinh ở trẻ em, ví dụ như chức năng
trí tuệ giảm đi Sự phân bố không gian của Mn (<0,01 - 16,4 mgl -1) (Hình 2) không đồng
nhất qua vùng đồng bằng
Theo báo cáo quan trắc nước Hà Nội năm 2013 hàm lượng trung bình nhiều năm và
năm 2013 của amoni luôn cao hơn giới hạn cho phép trong nước dưới đất và ít dao động
Trang 33Lê Thị Ngọc Thắm 25 CB140373
theo mùa Điều đó chứng tỏ các chất hữu cơ có nguồn gốc từ bản thân đất đá chứa nước
Hàm lượng amoni có xu hướng tăng dần theo thời gian, nguyên nhân có thể do khai thác
nước dưới đất làm thay đổi môi trường chứa nước làm tăng sự hoà tan các hợp chất hữu
cơ trong nước dưới đất Các điểm có hàm lượng amoni trung bình nhiều năm trong nước
dưới đất cao hơn giới hạn ô nhiễm nước dưới đất (từ 3mg/l đến 10mg/l) chiếm 45,39%
(mùa khô) và 45,2% (mùa mưa) Các điểm có hàm lượng amoni cao hơn giới hạn ô nhiễm
trên 10mg/l chiếm 26,7% (mùa khô) và 27,0% (mùa mưa) Vùng bị nhiễm bẩn nặng phân
bố chủ yếu ở phía nam của thành phố thuộc các quận Thanh Xuân, Đống Đa, Hai Bà
Trưng, huyện Thanh Trì, một phần phía Nam huyện Từ Liêm và một phần quận Long
Biên Vùng có hàm lượng amoni trong khoảng 3mg/l - 10mg/l chủ yếu tập trung ở phía
Đông Nam như Thanh Trì, Thanh Xuân, Hạ Đình, Pháp Vân, Tương Mai [13]
P.3b P.2b P.1b
P.96b P.95b P.92b
P.90b
P.89b
P.88bP.87b P.86b P.85b
P.82b P.81b
P.61b
P.60b
P.58b P.55b
P.54b P.53b P.47b
P.41b
P.40b
P.15b P.13b
P.25b
P.21b
P.17b
105°55'0"E 105°55'0"E
105°50'0"E 105°50'0"E
0.1 - 3.0 3.1 - 10.0 10.1 - 20.0 20.1 - 30.0 30.1 - 40.0 40.1 - 60.0
Hình 3 Bản đồ phân bố hàm lượng amoni trong nước dưới đất vùng Nam sông Hồng
Vùng có hàm lượng asen lớn hơn giới hạn cho phép chủ yếu tập trung ở phía đông
nam như Thanh Xuân, Hạ Đình, Pháp Vân, Tương Mai, Long Biên và phía tây nam như
Trang 34Lê Thị Ngọc Thắm 26 CB140373
Từ Liêm, Thanh Trì Giá trị cao nhất mùa khô đạt 0,14 mg/l (thuộc khu vực bãi giếng
Nam Dư), mùa mưa đạt 0,26 mg/l (P Trần Phú – Quận Hoàng Mai) Hàm lượng trung
bình các mẫu năm 2012 từ 0,029 mg/l mùa khô đến 0,035mg/l mùa mưa Kết quả phân
tích hàm lượng asen năm 2013 mùa khô có giá trị trung bình là 0,027mg/l và 0,028 vào
mùa mưa Vào mùa khô có 1/8 mẫu vượt giới hạn ô nhiễm nước dưới đất (chiếm 12,5%)
và mùa mưa có 1/18 mẫu vượt giới hạn (chiếm 12,5%)
2
P.3b P.2b P.1b
P.96b P.95b P.92b
P.90b
P.89b
P.88bP.87b P.86b P.85b
P.84bP.83bP.82b
P.80b
P.79b P.78b
P.77b P.76b P.65b
P.61b
P.60b
P.58b P.55b
P.54b P.53b P.47b
P.41b
P.40b
P.15b P.13b
P.25b
P.21b
P.17b
105°55'0"E 105°55'0"E
105°50'0"E 105°50'0"E
0.000 - 0.049 0.050 - 0.070 0.071 - 0.090 0.091 - 0.120 0.121 - 0.170
Hình 4 Bản đồ phân bố hàm lượng asen trong nước dưới đất vùng Nam sông Hồng mùa
Trang 35Lê Thị Ngọc Thắm 27 CB140373
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí và thời gian quan trắc
2.1.1 Vị trí
Địa điểm thu mẫu được thực hiện ở các vị trí như sau (Hình 5):
* Đợt 1: 3 khu vực
- Khu vực Liệp Tuyết - Quốc Oai - Hà Nội
- Khu vực Hậu Ái - Vân Canh - Hoài Đức - Hà Nội
- Khu vực Thôn Lời - Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội
* Đợt 2: 6 khu vực
- Khu vực Phố Nam Dư - Lĩnh Nam - Hoàng Mai - Hà Nội
- Khu vực Làng Vạn Phúc - Hà Đông - Hà Nội
- Khu vực Tân Tây Đô - Đan Phượng - Hà Nội
- Khu vực Giẽ Hạ - Phú Xuyên
- Khu vực Thị trấn Văn Điển - Hà Nội
- Khu vực huyện Ứng Hòa – Hà Nội
Trang 36Lê Thị Ngọc Thắm 28 CB140373
Hình 5 Bản đồ tổng hợp các khu vực lấy mẫu
2.1.2 Thời gian quan trắc
Thời gian bắt đầu lấy mẫu và phân tích được chia làm hai đợt:
- Đợt 1: tháng 06/2017
- Đợt 2: tháng 10/2017
2.2 Phương pháp lấy và bảo quản mẫu
2.2.1 Phương pháp lấy mẫu
Quy trình lấy mẫu, xử lý và bảo quản mẫu được áp dụng theo hướng dẫn của các bộ
Trang 37Lê Thị Ngọc Thắm 29 CB140373
- TCVN 6000: 1995 (ISO 5667 - 11:1992): chất lượng nước - lấy mẫu - hướng dẫn lấy
mẫu [16]
a Thiết bị lấy mẫu
- Chai nhựa 350 ml rửa sạch, làm khô, dán nhãn
b Số lượng mẫu
- 36 mẫu đựng trong chai nhựa loại 350ml
c Cách lẫy mẫu
* Kiểm tra
- Tài liệu: khảo sát địa điểm lấy mẫu, vị trí lấy mẫu
- Thời tiết: khí tượng thủy văn
- Các thiết bị lấy mẫu trước khi ra hiện trường
- Phương tiện phục vụ hoạt động lấy mẫu và vận chuyển mẫu về PTN
* Tiến hành lấy mẫu
- Xả nước khoảng 5 phút để rửa sạch đường ống và xả bỏ hết nước cũ, bọt khí trong
ống dẫn ra ngoài để đảm bảo nước bơm lên không chứa bọt khí và ở tầng ngầm
- Tráng bình đựng mẫu vài lần bằng nước ở nơi lấy mẫu sau đó mới tiến hành lấy
mẫu trực tiếp hoặc cho vào xô rồi lấy mẫu
- Sau khi cho mẫu nước vào chai đựng mẫu xong , nhanh chóng vặn chặt nút chai,
tránh rò rỉ và làm nhiễm bẩn mẫu
- Ghi nhãn và đem mẫu đã lấy bỏ vào thùng đã được ướp lạnh bằng nước đá
- Cuối cùng vận chuyển mẫu về phòng thí nghiệm