Đề tài của chúng tôi vừa kế thừa thành quả từ những công trình đi trước vừa hứa hẹn mang đến một cái nhìn hệ thống về đặc điểm diện mạo, sự tiếp nối và mở rộng, sự tiếp nhận tinh hoa vă
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐINH THỊ PHƯƠNG THU
TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
TỪ THẾ KỈ X ĐẾN HẾT THẾ KỈ XVII
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN (Chuyên ngành Văn học Việt Nam)
HÀ NỘI - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐINH THỊ PHƯƠNG THU
TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đinh Thị Phương Thu
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè cũng như các thầy cô, đồng nghiệp, Bộ môn Khoa học Xã hội, Ban Giám hiệu trường THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội nơi tôi đang công tác vì đã luôn động viên và ủng hộ tôi để tôi hoàn thành công trình này
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đinh Thị Phương Thu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 Giới thuyết khái niệm dân và tư tưởng thân dân 7
1.1.1 Giới thuyết khái niệm dân 7
1.1.2 Giới thuyết khái niệm tư tưởng thân dân 9
1.1.3 Tiêu chí xác định tư tưởng thân dân trong tác phẩm văn học 11
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 13
1.2.1 Nghiên cứu tư tưởng thân dân từ góc độ tư tưởng, triết học, lịch sử liên quan tới đề tài 13
1.2.2 Nghiên cứu tư tưởng thân dân trong văn học 15
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2 NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC TỪ THẾ KỶ X ĐẾN HẾT THẾ KỶ XVII 23
2.1 Tiền đề lịch sử, xã hội của tư tưởng thân dân trong văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII 23
2.1.1 Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc 23
2.1.2 Chế độ giáo dục, khoa cử 26
2.2 Tiền đề tư tưởng, văn hóa của tư tưởng thân dân trong văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII 28
2.2.1 Tín ngưỡng bản địa và văn hóa dân gian 28
2.2.2 Nho giáo và tư tưởng thân dân 32
2.2.3 Phật giáo và tư tưởng thân dân 34
Tiểu kết chương 2 37
Chương 3 TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC TỪ THẾ KỈ X ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIV 38
3.1 Khái quát về tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam 38
3.2 Tư tưởng thân dân trong văn học thời Lí 42
3.2.1 Trọng dân và hướng tới ước nguyện của người dân 42
3.2.2 Ý thức về trách nhiệm trước người dân 47
Trang 63.3 Tư tưởng thân dân trong văn học thời Trần 53
3.3.1 Lấy dân làm gốc và khoan thứ sức dân trong thời Thịnh Trần 54
3.3.2 Thương xót người dân và xót xa trước thế sự trong văn học thời Vãn Trần 63
Tiểu kết chương 3 79
Chương 4 TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC THẾ KỶ XV 81
4.1 Tư tưởng thân dân trong văn học nửa đầu thế kỷ XV 81
4.1.1 Thương dân, đề cao vai trò sức mạnh của người dân trong văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn 81
4.1.2 Ý thức về trách nhiệm của kẻ sĩ đối với người dân 89
4.1.3 Tư tưởng thương dân, trọng dân và ơn dân trong sáng tác của Nguyễn Trãi 92
4.2 Tư tưởng thân dân trong văn học nửa cuối thế kỷ XV 103
4.2.1 Tư tưởng thân dân thể hiện qua tinh thần ca ngợi cuộc sống thái bình, trăm họ yên vui 103
4.2.2 Tư tưởng thân dân thể hiện qua tinh thần tự răn mình của đấng quân vương: Kính trời, thương dân; trên dưới đồng lòng, xã tắc bền vững 110
Tiểu kết chương 4 114
Chương 5 TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN HẾT THẾ KỶ XVII 116
5.1 Tư tưởng thân dân trong văn học thế kỉ XVI 116
5.1.1 Tư tưởng thân dân trong sáng tác văn học của Nguyễn Bỉnh Khiêm 116
5.1.2 Tư tưởng thân dân trong sáng tác văn học của Phùng Khắc Khoan 126
5.2 Tư tưởng thân dân trong văn học thế kỉ XVII 134
5.2.1 Tư tưởng trọng dân, thương dân 135
5.2.2 Cách nhìn lịch sử theo quan điểm của nhân dân, phù hợp với đạo lí, chính nghĩa 143
Tiểu kết chương 5 144
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC TÁC GIẢ, TÁC PHẨM THỂ HIỆN TƯ TƯỞNG THÂN DÂN 165
Trang 7tộc và định ra những đường lối chính trị, chính sách xã hội tiến bộ theo hướng thân dân
là một quá trình lâu dài trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Tư tưởng “Thân dân”, “Lấy
dân làm gốc” cũng là một bài học chính trị và lời dặn dò quý báu của ông cha ta thể
hiện ở các triều đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc đồng thời không ngừng được kế thừa, phát triển và biến đổi phù hợp với thực tiễn đất nước ta Tư tưởng thân dân chiếm vị trí quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến đường lối chính trị của mỗi triều đại, mỗi chế độ, trong qua khứ cũng như trong hiện tại
Tư tưởng thân dân được phản ánh trong văn học trở thành nội dung lớn của văn học Việt Nam, từ văn học dân gian đến văn học hiện đại Nền văn học Việt Nam, do hoàn lịch sử đặc biệt, đã luôn gắn bó máu thịt với vận mệnh đất nước, với số phận con người Việt Nam Từng bước đi của lịch sử dân tộc, từng niềm vui, nỗi buồn đau của đất nước, từng giọt nước mắt hay nụ cười trong mỗi số phận nhân dân, đều trở thành cảm hứng sáng tác của nhiều tác giả Vận mệnh dân tộc và vận mệnh nhân dân là những nhân tố được quan tâm phản ánh trong sáng tác văn chương Ở từng thời kì lịch sử,
nước và dân luôn gắn bó mật thiết với nhau: có dân, dựng nước, giữ nước thắng lợi,
không dân nước suy, nước mất; dân là công dân trong quan hệ dân nước, dân còn là con người trong quan hệ dân - cộng đồng người Tư tưởng thân dân do đó là đạo lí và cũng
là thành phần của lí tưởng thẩm mĩ dân tộc - một trong những thành phần cao đẹp có vị trí lớn đối với văn học muôn đời
Tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam có những đặc điểm riêng so với văn học hiện đại Trải qua quá trình phát triển thăng trầm của các triều đại phong kiến, các thế hệ Nho sĩ trí thức trung đại đã tiếp thu nguồn ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo đồng thời kết hợp với tinh thần dân tộc, tinh thần thời đại để đem đến cho văn học những màu sắc phong phú của tư tưởng thân dân Tư tưởng thân dân trong văn học trung đại từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII phản ánh những vấn đề lớn của lịch sử
tư tưởng Việt Nam, văn học Việt Nam Tìm hiểu tư tưởng thân dân góp phần tìm hiểu
Trang 8sâu hơn những vấn đề về tác giả, tác phẩm, những qui luật phát triển của văn học trung đại Việt Nam
Với những ý nghĩa đó, luận án lựa chọn đề tài Tư tưởng thân dân trong văn học
trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII Đề tài của chúng tôi vừa kế thừa
thành quả từ những công trình đi trước vừa hứa hẹn mang đến một cái nhìn hệ thống về đặc điểm diện mạo, sự tiếp nối và mở rộng, sự tiếp nhận tinh hoa văn hóa nước ngoài và yếu tố nội sinh trong tư tưởng thân dân ở các thế kỷ đầu của nền văn học viết Việt Nam
1.2 Về thực tiễn
Văn học trung đại được giảng dạy với số lượng lớn ở nhà trường từ phổ thông đến đại học, đặc biệt là nhóm tác phẩm văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII liên quan đến vấn đề tư tưởng thân dân Đề tài có ý nghĩa thiết thực trong việc vận dụng vào thực tiễn dạy - học và tiếp cận văn bản tác phẩm văn học trung đại
Với xã hội, người dân là vấn đề lớn của lịch sử, đồng thời là vấn đề quan trọng được quan tâm trong đời sống của đất nước, đời sống xã hội hiện nay Đề tài từ góc độ văn học góp phần lí giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống Nhân dân vừa là chủ thể lịch sử, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Vì vậy, bất cứ một giai cấp cầm quyền nào muốn duy trì được sự ổn định của mình thì phải gắn bó với dân, phải có chính sách dưỡng dân, giáo dân phù hợp Điều này đã được chứng minh qua hàng ngàn năm lịch
sử, nếu được dân tin, dân theo, thì chính quyền sẽ bền vững, quốc gia được củng cố, hưng thịnh
Quan điểm tích cực của Nho gia “Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” luôn
có giá trị đối với mọi thời đại Hiện nay, quan điểm “Lấy dân làm gốc” càng được cụ thể
hóa trong đời sống xã hội thành những phương châm, mục tiêu có ý nghĩa thực tiễn, tiến
bộ như “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “dân hưởng” Điều đó cho thấy, việc
đánh giá đúng đắn vị trí và vai trò của dân trong lịch sử có ý nghĩa quan trọng đến sự tồn vong của mỗi hình thái xã hội trong lịch sử, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng, phát triển đất nước Với những lý do trên, đề tài có tính cần thiết, thời sự, khoa học và thực tiễn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nghiên cứu là làm nổi bật tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII với sự vận động mang tính lịch sử qua các
Trang 9giai đoạn với những khuynh hướng, tác giả, tác phẩm tiêu biểu Trong đó, luận án tập trung phân tích, lý giải căn rễ của tư tưởng thân dân, những nội dung cơ bản của tư tưởng thân dân, xác định đặc trưng cũng như khả năng tiếp nối, phát triển trong quá trình vận động của tư tưởng này qua các giai đoạn Tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam gợi những bài học về tư tưởng thân dân trong thời hiện đại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án tập trung vào những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu:
- Khái niệm dân và tư tưởng thân dân Tiêu chí xác định tư tưởng thân dân trong tác phẩm văn học
- Nghiên cứu những nội dung biểu hiện của tư tưởng thân dân trong từng giai đoạn văn học với các khuynh hướng, tác giả, tác phẩm tiêu biểu
- Đánh giá về đặc điểm của tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn X - XVII, sự vận động phát triển của tư tưởng thân dân trong tiến trình lịch sử
- Nghiên cứu những phương diện nghệ thuật thể hiện tư tưởng thân dân khi cần thiết
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tìm hiểu tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam theo giai đoạn văn học với những khuynh hướng, tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn học trung đại từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII Ở bốn thế kỷ đầu, chủ yếu tập trung khảo sát các tác giả thời Lí - Trần (từ sáng tác của các thiền sư, vua chúa, tướng lĩnh cho tới sáng tác của các nhà nho, trong đó đi sâu vào hai tác giả Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh) Tư tưởng thân dân trong văn học thế kỷ XV thể hiện qua sáng tác của các nhà văn thời kì khởi nghĩa Lam Sơn, thời Hồng Đức, trong đó tập trung vào hai tác giả Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông Tư tưởng thân dân trong văn học thế kỷ XVI - XVII biểu hiện ở các tác phẩm thơ, phú thời Lê trung hưng, thời Mạc, tiêu
biểu là Nguyễn Bỉnh Khiêm; Phùng Khắc Khoan; hai tác phẩm khuyết danh Thiên Nam
minh giám, Thiên Nam ngữ lục,
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Tác giả luận án sẽ khảo sát tập trung những sáng tác của các tác giả thể hiện tư tưởng thân dân từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII Các nguồn tư liệu chính mà chúng tôi
Trang 10lấy làm căn cứ để sử dụng trong quá trình nghiên cứu là: Thơ văn Lí - Trần [12,13,16];
Tổng tập văn học Việt Nam [116,134]; Nguyễn Trãi toàn tập [94]; Nguyễn Trãi toàn tập Tân biên [95,96,97]; Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông [52]; Hồng Đức quốc âm thi tập
[42]; Tuyển tập thơ phú thời Mạc [184]; Toàn Việt thi lục [45]; Thơ văn Nguyễn Bỉnh
Khiêm (Tổng tập) [164]; Phùng Khắc Khoan, Hợp tuyển thơ văn [129]; Thiên Nam ngữ lục - Diễn ca lịch sử [117]; Thiên Nam minh giám [47] Ngoài văn học viết luận án còn
khảo sát thêm cả văn học dân gian
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
4.1 Phương pháp lịch sử
Sự phát triển của tư tưởng thân dân là hiện tượng mang tính lịch sử Để tìm hiểu thấu đáo tư tưởng thân dân trong văn học nhiều thế kỉ, chúng tôi vận dụng phương pháp lịch sử Đặt văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII trong bối cảnh chính trị, lịch sử Việt Nam thời trung đại để tìm hiểu cách nhìn, cách đánh giá của các tác giả qua những tác phẩm tiêu biểu đề cập đến tư tưởng thân dân Phương pháp lịch sử cũng cho phép chúng tôi nghiên cứu đối tượng trong sự phát triển mang tính lịch sử Vận dụng phương pháp lịch sử, luận án nghiên cứu tư tưởng thân dân phát triển qua các giai đoạn với đặc điểm riêng của từng giai đoạn Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV là giai đoạn đầu tiên định hình tư tưởng thân dân với thành tựu chủ yếu tập trung ở văn học thời Lí - Trần Tiếp đến,
tư tưởng thân dân phát triển sang thế kỉ XV với khuynh hướng thể hiện mới, đầu thế kỉ tư tưởng thân dân mang âm hưởng hào hùng với những tác giả thời khởi nghĩa Lam Sơn, tiêu biểu là Nguyễn Trãi Nửa sau thế kỉ XV, tư tưởng thân dân gắn với âm hưởng ngợi ca về triều đại hưng thịnh Lê Thánh Tông Khi lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam có những bước chuyển mới ở thế kỉ XVI - XVII theo chiều hướng đi xuống, tư tưởng thân dân vì thế cũng chuyển từ cảm hứng ngợi ca sang phê phán hiện thực xã hội gắn liền với cách nhìn, quan niệm của nhân dân
4.2 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Tư tưởng thân dân trong văn học có mối quan hệ tới lịch sử, xã hội, tư tưởng, văn hóa, triết học Vì thế, để đưa ra được những đánh giá có tính tổng hợp, chúng tôi cần đến phương pháp nghiên cứu liên ngành Những tri thức này rất có ý nghĩa khi chúng tôi tìm hiểu và lý giải nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng, điểm khác biệt về tư tưởng thân dân trong từng giai đoạn văn học hay ở các tác giả, khuynh hướng văn học
Trang 114.3 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu
về tư tưởng thân dân Trong luận án, người viết sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu lịch sử với văn học; so sánh các giai đoạn văn học; so sánh các tác gia văn học và chủ đề, thể loại văn học Từ đó, chỉ ra sự tiếp nối và phát triển của tư tưởng thân dân qua các giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII
4.4 Phương pháp hệ thống
Luận án vận dụng phương pháp hệ thống để xác định tư tưởng thân dân: thứ nhất, xem xét vận động của tư tưởng thân dân không chỉ qua văn học mà qua các yếu tố khác như triết học, lịch sử, văn hóa,… từ đó thấy tư tưởng thân dân là vấn đề có tính lịch sử chịu chi phối, tác động của nhiều yếu tố khác nhau; thứ hai là nghiên cứu hệ thống hóa các tác giả, tác phẩm, thể loại - quá trình tiếp thu, tiếp nối, tương tác lẫn nhau
và mở rộng tư tưởng thân dân ở các bình diện Với quan điểm hệ thống, hướng nghiên cứu của luận án là khai thác nội dung tư tưởng và khi cần có thể chú ý tới khía cạnh thẩm mỹ, hình ảnh, biểu tượng, hệ thống, điển tích, điển cố, văn liệu liên quan đến các
cấp độ Dân - Thân dân và “Tư tưởng thân dân”
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án được hoàn thành sẽ có những đóng góp sau:
- Xác lập và phân tích những tiền đề của tư tưởng thân dân trong văn học từ thế
kỉ X đến hết thế kỉ XVII
- Làm sáng rõ sự vận động mang tính lịch sử của tư tưởng thân dân trong văn học thế kỉ thứ X - hết thế kỉ XVII, sự kế thừa, tiếp nối và phát triển của tư tưởng thân dân qua các giai đoạn thế kỉ X - thế kỉ XIV; thế kỉ XV; thế kỉ XVI - thế kỉ XVII Phân tích nội dung tư tưởng thân dân ở từng giai đoạn, ở một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu
- Từ tư tưởng thân dân, luận án góp phần làm rõ hơn một số vấn đề mang tính quy luật trong sự phát triển của văn học trung đại Việt Nam
- Luận án là tài liệu tham khảo có ý nghĩa và thiết thực đối với công việc nghiên cứu, giảng dạy văn học trung đại Việt Nam, đồng thời có thể hữu ích với những người làm công tác xã hội quan tâm tới tư tưởng thân dân
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án
gồm 5 chương:
Trang 12Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề liên quan đến đề tài
Chương 2: Những tiền đề của tư tưởng thân dân trong văn học từ thế kỉ X đến hết thế
kỉ XVII
Chương 3: Tư tưởng thân dân trong văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV
Chương 4: Tư tưởng thân dân trong văn học thế kỉ XV
Chương 5: Tư tưởng thân dân trong văn học từ thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XVII
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Giới thuyết khái niệm dân và tư tưởng thân dân
1.1.1 Giới thuyết khái niệm dân
Dân là một khái niệm rất cơ bản trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Chữ
dân民 trong lịch sử Hán ngữ đã có một quá trình chuyển biến lâu dài qua các thời kỳ
Theo giáp cốt văn: chữ này phần trên là hình một con mắt, phần dưới là một vật nhọn
như kim đâm mù mắt Dân là người bị đâm mù một mắt, nghi là gốc từ chữ Manh盲 cũng nghĩa là người mù Vì sao Dân lại mù một mắt ? Họ hoặc là kẻ có tội, hoặc là tù
binh chiến tranh, hoặc là nô lệ của giai cấp thống trị Bọn thống trị chọc mù một mắt đề
phòng họ bỏ trốn Theo Quách Mạt Nhược, thời cổ, chữ Dân 民 và chữ Thần 臣đều là con mắt nhưng hình tượng Thần là con mắt đứng, còn hình tượng chữ Dân là con mắt
nằm ngang bị đâm thủng (vì người cổ xưa hết sức coi trọng mắt) Mắt đứng (thần) biểu thị sự cúi đầu nghe lệnh, thần phục; còn mắt ngang biểu thị sự chống lại mệnh lệnh, nên
phải chọc mù mắt,… Sang thời Tây Chu, chữ Dân chuyển nghĩa thành người dân bị thống trị, có nghĩa “nhân dân”, “bách tính” Nghĩa Dân bị mù một mắt dần mất đi
Trong các sách từ điển tiếng Việt, cách nêu khái niệm dân của mỗi cuốn từ điển
có sự khác nhau Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (1942) nghĩa của từ dân được
chiết tự như sau: dân có nghĩa là người, dân, loài người thuộc ở dưới quyền chính trị gọi là dân như: quốc dân - dân nước Trong cuốn Từ điển tiếng Việt (do Lê Văn Tân
chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, 1976) có nêu khái niệm dân với năm nghĩa như sau:
Từ dùng để gọi chung người trong một nước: như Dân Việt Nam; Quần chúng đông đảo gồm có: công nhân, nông dân, nhân dân lao động trong một nước có bóc lột; Quần chúng đông đảo nói chung; Công dân trong một địa phương: Dân Hà Nội; Những người thuộc một tầng lớp xã hội;
Trong Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên - 1994) nêu khái niệm dân với
ba nghĩa: Người sống trong một khu vực địa lý hành chính, trong quan hệ với khu vực
ấy (Ví dụ: Dân giàu nước mạnh; Làm dân một nước độc lập; Thành phố đông dân); Người dân thuộc tầng lớp đông đảo nhất, trong quan hệ với bộ phận cầm quyền, bộ
phận lãnh đạo hoặc quân đội Ví dụ: Người dân thường; tình quân dân; Người cùng
Trang 14nghề nghiệp, hoàn cảnh làm thành một lớp người riêng (Ví dụ: Dân thợ, dân buôn,
Tử, Tuân Tử luôn khẳng định địa vị xã hội của người dân là những người nô lệ, bị trị,
họ luôn chịu sự sai khiến, cai trị của tầng lớp thống trị "Dân khả sử do chi, bất khả sử
tri chi" (Luận ngữ, Thái Bá) - (Dân, có thể khiến họ đi theo con đường của chúng ta,
chứ không thể khiến họ biết đó là vì sao) [27, tr.56] là mang ý nghĩa như vậy
Dân có khi được gọi là kẻ “lao lực”, tức là những người lao động chân tay, lực
lượng sản xuất ra của cải để duy trì tồn tại của xã hội, của mỗi người và của cả tầng lớp
thống trị Có khi là kẻ “thứ dân”, “hạ dân”, “dã dân” - những người dân lao động
thuộc tứ dân bách tính bình thường trong xã hội Tuy nhiên, cũng trong quan điểm của
Mạnh Tử, ông lại gọi người bị điều khiển, bị sai khiến, dân là “lê dân” (dân đen), “xích
tử” (con đỏ) để nói về người dân nghèo khổ Khái niệm dân dần được mở rộng hơn để
chỉ bề tôi, tức thần dân trong thiên hạ, đối lập với nhà vua Họ còn được gọi là “bá tính”, “thiên hạ”, tức là tất muôn dân, trăm họ sống trong cõi trời đất này: “Chư hầu chi
bảo tam: Thổ địa, nhân dân, chính sự Bảo châu ngọc giả, ương tất cập thân” (Một vị
vua chư hầu nên quý trọng ba việc này: Thổ địa, nhân dân và chính sự Nếu chê ba điều
ấy mà quý trọng châu ngọc, ắt thân mình phải vướng lấy tai ương” [27,tr.270]
Từ khái niệm dân theo nghĩa gốc Hán và Nho giáo, ta thấy chữ dân và Nhân Dân ngày nay đã được mở rộng nội hàm khái niệm, tương đương với chữ People trong tiếng
Anh, dùng để chỉ một tập hợp những người sống trong một nước Nó là số nhiều không
xác định của chữ Person (cá nhân) Bản Hiến pháp Mỹ mở đầu là 3 từ “We The
People…” Dù People vẫn là khái niệm chưa rõ ràng, song 3 chữ đặt ở vị trí đặc biệt
này cho thấy một hàm ý trang trọng, đề cao
Ở thời kì hiện đại, dân là một khái niệm có tính chất chính trị, không phải là thực thể Dân bao gồm mọi tầng lớp trong xã hội, đối tượng chiếm số đông nhất vẫn là tầng
lớp nhân dân lao động - những người tạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống xã hội,
họ có sức mạnh to lớn trong mọi lĩnh vực của quốc gia dân tộc Tư tưởng về dân cũng
có bước tiến mới gắn liền với tư tưởng dân chủ; phương châm xây dựng một xã hội
Trang 15công bằng, đất nước do dân làm chủ, vì dân, lấy dân làm gốc Tư tưởng về dân gắn liền với việc duy trì và bảo vệ Tổ quốc, gắn bó và hòa quyện với tư tưởng yêu nước, với thực tiễn của công cuộc bảo vệ và xây dựng, phát triển quốc gia về mọi mặt
Từ những điều đã trình bày ở trên, tác giả luận án xin rút ra mấy điểm chung về
khái niệm dân (ở đây là trong thời trung đại, bởi tư tưởng “thân dân” mà luận án nghiên cứu gắn với thời này) với ý nghĩa khoa học sau: Dân là một khái niệm xuất hiện và tồn
tại khi xã hội có giai cấp, có nhà nước, dùng để chỉ những người lao động bình thường, đông đảo, không có chức quyền và tương phản với những người cầm quyền ở các địa bàn lãnh thổ, các nghề nghiệp khác nhau trong lĩnh vực sản xuất vật chất và hoạt động
tinh thần của một xã hội nhất định Do đó, khái niệm dân mang màu sắc và ý nghĩa
chính trị khá rõ rệt, phần nào phản ánh được các mối quan hệ xã hội Trong xã hội phong kiến, tuy không còn bị xem là những công cụ lao động biết nói nhưng dân vẫn nằm trong điạ vị phụ thuộc mà chế độ phong kiến Trung Quốc gọi là “thần dân” Nghĩa đen của từ này chỉ người bề tôi, phải chịu sự khuất phục, chịu sự chi phối và phụ thuộc
của nhà vua và dĩ nhiên, theo trật tự xã hội, thần dân vẫn phải xếp dưới tầng lớp quan
lại Điều này không phải ở phương Đông mà dưới chế độ phong kiến ở các nước
phương Tây, tình hình này cũng diễn ra tương tự Thần dân, tiếng Pháp là Sujets (nghĩa đen là thuộc, là phải phục tùng), tiếng Anh là Subjet (là khuất phục, là bắt phải chịu) Theo tiếng Nga là люди (nghĩa là chịu, bị, ngả theo) Trong xã hội hiện đại, vai trò của
người dân mới được nhận thức đầy đủ hơn Người dân được đặt trong mối quan hệ về mặt quyền lợi và nghĩa vụ với nhà nước Người dân có quyền bầu cử, bầu ra những người xứng đáng vào bộ máy nhà nước, có thể đại diện cho quyền lợi của mình thì khi
đó dân mới có tư cách là công dân
1.1.2 Giới thuyết khái niệm tư tưởng thân dân
Xuyên suốt hệ thống tư tưởng quan điểm trong các sách kinh điển của nho gia ta
thấy có một điểm chung là đề cao ý nghĩa, vai trò quan trọng của dân, dân là thần dân
nên cần được chăm lo, dạy dỗ Điều đó tạo nên giá trị nhân văn của tư tưởng thân dân Các nhà nho quan niệm dân là những người “lao lực”, họ là lực lượng to lớn trong xã hội, lực lượng chủ yếu sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội Bởi vậy cho nên, người cầm quyền phải quan tâm đến đời sống vật chất, đến những nhu cầu tối thiểu, thiết thực, trực tiếp của người dân Khổng Tử khuyên nhà cầm quyền phải giúp cho dân làm
giàu, muốn cai trị dân nhà cầm quyền cần phải có ba điều kiện này: “Túc thực, túc bình,
Trang 16dân tín chi hỷ” (Lương thực cho đủ để nuôi dân, binh lực cho mạnh để bảo vệ dân, lòng
tin cậy của dân đối với mình) (Luận ngữ) [27,tr.184] Trong ba điều ấy Khổng Tử xếp
lòng tin là điều quyết định, rồi đến lương thực và binh lực
Nho giáo đề cao dân trong quan niệm coi dân còn là gốc nước, là nền tảng, là cơ
sở của nền chính trị: “Dĩ dân vi bản” - (Khổng Tử), “dân vi bang bản” (Mạnh Tử)
“Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là đáng quý nhất, xã tắc sau dân, vua xem nhẹ hơn (dân và xã tắc) [27,tr.262] Đây là tư tưởng tiến bộ, đặc biệt là đối với một
xã hội mấy ngàn năm sống dưới sự ngự trị của các triều vua Cũng từ quan niệm này, các Nho gia đều cho rằng, lòng tin của dân, sự ủng hộ của dân quyết định sự thịnh, suy, tồn vong của một triều đại hay nền chính sự Mạnh Tử đã nêu lên một tư tưởng rất tiến
bộ và đi trước cả thời đại ông: “Kiệt, Trụ chi thất thiên hạ giã, thất kỳ dân giã Thất kỳ
dân giã, thất kỳ tâm giã Đắc thiên hạ hữu đạo: Đắc kỳ dân, tư đắc thiên hạ hỹ Đắc kỳ dân hữu đạo: Đắc kỳ tâm, tư đắc dân hỹ Đắc kỳ tâm hữu đạo: Sở dục, dữ chi tụ chi: Sở
ố, vật thi nhĩ dã.” (Kiệt và Trụ mất thiên hạ tức mất ngôi thiên tử, ấy vì mất dân chúng
Mất dân chúng, ấy vì mất lòng dân Muốn được thiên hạ, có một phương pháp nên theo:
Hễ được lòng dân, tự nhiên sẽ được dân chúng Muốn được dân chúng, có một phương pháp nên theo: dân muốn việc gì nhà cầm quyền nên cung cấp cho họ; dân ghét việc gì nhà cầm quyền đừng thi thố cho họ” (Mạnh Tử) [27, tr.18] Tuân Tử lấy hình ảnh ẩn dụ
“thuyền” và “nước” để nêu bật sức mạnh của nước, cũng là khẳng định vai trò to lớn
của dân trong việc ổn định xã hội: “Quân giả chu dã, thứ nhân giả thủy dã; thủy tắc tái
chu, thủy tắc phúc chu” (Vua là thuyền, dân là nước; nước có thể chở thuyền, nước có
thể lật thuyền” (Tuân Tử) [88, tr.121]
Trong lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại, có hai khái niệm “thân dân”
và “tân dân”, trong đó chữ tân có khi là viết tắt của chữ thân “Tân dân” là giác ngộ dân
chúng để dân chúng đổi mới; “Thân dân” là làm cho dân giàu có, an thuần Vấn đề làm
cho dân giàu có và vấn đề giáo dục dạy dỗ dân chúng là hai vấn đề song song, Thượng
Thư, Kinh Thi, Quản tử, Luận ngữ, Đổng Trọng Thư đề cao “tiên phú hậu giáo” (trước
làm cho dân giàu, sau giáo dục dân, đi từ phú đến giáo, với các khái niệm dưỡng dân,
khang dân, dụ dân, bảo dân, thứ chi - phú chi - giáo chi); Giản Nghị nhấn mạnh trước
giáo dục, sau làm cho dân giàu Chu Hy nhấn mạnh “nội thánh” (bậc đế vương phải gương mẫu đạo đức, “tu kỉ” để giáo dục dân chúng, minh minh đức), còn Vương Dương Minh chú ý đến “ngoại vương” (bậc đế vương phải “an bách tính”) Khổng Tử
Trang 17nêu rõ các phép tắc của người cai trị thiên hạ, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh lòng
nhân đức, từ ái đối với dân “Tử thứ dân, tắc bá tính khuyến” (Mình thương dân chúng
như con, thì bá tính rủ nhau phục tùng theo mệnh lệnh mình) (Luận ngữ) [27, tr 252] Mạnh Tử tiếp nối tư tưởng của Khổng Tử, ông giải thích rõ hơn chính sách giáo dân:
“Thiện chính bất như thiện giáo chi đắc dân giã Thiện chính, dân úy chi; thiện giáo,
dân ái chi Thiện chính, đắc dân tài; thiện giáo đắc dân tâm” (Lời nói có nhân làm cho
người ta cảm động chẳng sâu xa bằng danh tiếng có nhân Cai trị giỏi thâu hoạch dân chúng chẳng bằng giáo hóa hay Cai trị giỏi khiến dân sợ sệt; giáo hóa hay làm cho dân yêu mến Cai trị giỏi làm cho dân được giàu có no đủ; giáo hóa hay thì được lòng dân) [27, tr.224] Tư tưởng thân dân đó gắn với chủ nghĩa nhân đạo và có nhiều điểm tiến bộ
so với thời đại
Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm tư tưởng thân dân, luận án đề xuất nội hàm cơ bản của khái niệm tư tưởng thân dân như sau: Tư tưởng thân dân được hiểu là quan niệm,
nhận thức về dân, cách ứng xử với dân theo hướng: gần gũi, gắn bó với dân; thương
dân, đề cao sức mạnh của dân (trọng dân), ơn dân Tính chất phức tạp, nhiều chiều
trong khái niệm tư tưởng thân dân còn thể hiện ở việc xác định chủ thể của tư tưởng
thân dân Đây là tư tưởng của giai cấp thống chí và của cả các sĩ phu, nho sĩ trí thức
Tầng lớp thống trị dùng tư tưởng này để quản trị đất nước Với họ, dân có khi là mục
đích, có khi là phương tiện Dân là mục đích khi người cầm quyền hướng tới người dân
(thấy được sức mạnh của người dân để quan tâm tới họ) Dân là phương tiện khi người
cầm quyền hướng tới người dân nhưng mục đích là để duy trì địa vị giai cấp thống trị (không để dân khổ để dân không làm loạn, thấy được sức mạnh người dân, tìm cách chăn dân, vỗ về dân, “yên dân” để giữ yên địa vị của giai cấp thống trị Tư tưởng thân dân của các sĩ phu – trí thức phong kiến thì trong tư tưởng ấy có gửi gắm những mong ước, khát vọng của quần chúng Vì vậy, nội hàm “tư tưởng thân dân” ở từng triều đại tương ứng với khái niệm “dân” ở mỗi thời, qua đó cũng thể hiện trình độ, nhận thức của tầng lớp “quân tử” thời ấy Qua tư tưởng thân dân, có thể đánh giá được sự tiến bộ, văn minh hay bảo thủ, lạc hậu của các triều đại
1.1.3 Tiêu chí xác định tư tưởng thân dân trong tác phẩm văn học
Từ việc phân tích các mối quan hệ, các bình diện, các khía cạnh khác nhau trong
khái niệm dân và tư tưởng thân dân, luận án xác định tìm hiểu tư tưởng thân dân trong
văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII với các nội dung: Tư tưởng
Trang 18thân dân thể hiện một cách trực tiếp là khi nói đến người dân, đây là nội dung chủ yếu
mà đề tài quan tâm nghiên cứu Tư tưởng thân dân thể hiện một cách gián tiếp là khi
viết về đất nước, xã hội,… nhưng qua đó gửi gắm nguyện vọng về cuộc sống của người dân Khi viết về người dân trong cảnh đói khổ nhưng đồng thời bày tỏ niềm mơ ước về một đất nước hòa bình, thịnh vượng để người dân đỡ khổ Vì thế, có những trường hợp,
tư tưởng thân dân và tư tưởng yêu nước giao thoa với nhau Tuy nhiên, đây lại là hai phạm trù bởi lẽ, tư tưởng thân dân nhìn từ góc độ mục đích viết về người dân cơ bản đứng trên lập trường nhân bản - nhân đạo về quyền sống con người Còn tư tưởng yêu nước về cơ bản đứng trên lập trường dân tộc
Luận án của chúng tôi đề cập đến tư tưởng thân dân trong văn học tập trung qua
ba phương diện:
Thứ nhất, thân dân là thương dân (ái dân) Đây là nền tảng cũng là gốc rễ của tư
tưởng thân dân Xuất phát từ những tình cảm chân thành, nhân ái mà xúc động, rung cảm, đồng cảm với những niềm vui, nỗi buồn, nỗi đau khổ trong cuộc sống của người dân Chỉ khi gần gũi và chia sẻ có tình cảm mới hiểu và biết yêu, thương dân
Thứ hai, thân dân là trọng dân, tức là đề cao người dân, coi trọng vai trò, vị trí
của người dân; coi dân là gốc của nước Trong đời sống xã hội, người dân luôn luôn có một vị trí quyết định, sáng tạo ra những giá trị của cải vật chất và tinh thần Trọng dân
thì mới phát huy được sức mạnh của dân Do đó, trọng dân là mức độ thứ hai, tiến lên
một bước khi nhận ra vai trò, ý nghĩa của dân trong kiến tạo xã hội
Thứ ba, thân dân là ơn dân Khi giới cầm quyền biết “ơn dân” là vị thế của dân
đã được đánh giá cao và được tôn trọng thật sự Thái độ “biết ơn” dân là thái độ của kẻ dưới đối với người trên Chỉ khi có nhận thức cao mới có suy nghĩ và tình cảm biết ơn này và khi “biết ơn” mới có cách hành xử, đối xử tương ứng Về cơ bản nội dung này chỉ xuất hiện ở Nguyễn Trãi Tư tưởng của Nguyễn Trãi về dân là tư tưởng vượt lên thời đại ông và rất có ý nghĩa đối với thời hiện đại khi mà vai trò và vị trí cũng như nhận thức về dân đã có những bước tiến bộ vượt bậc
Rõ ràng, tư tưởng thân dân là một trong những tư tưởng lớn và quan trọng của
lịch sử chính trị phương Đông nói chung, ở Trung Quốc và Việt Nam nói riêng Tư tưởng thân dân cũng có sự phát triển và nó thể hiện sự phát triển của các triều đại phong
kiến Tư tưởng thân dân dù nằm trong lằn ranh của những vấn đề chính trị, xã hội, văn
hóa mang những tính chất phức tạp, song nếu xét sự biểu hiện trong văn học thì tư
Trang 19tưởng thân dân vẫn được tiếp cận theo hướng thuận chiều nhiều hơn là trái chiều Thuận chiều thể hiện sự đóng góp của các tác giả khi nhìn nhận rõ vai trò tích cực của người dân, phản ánh một cách sâu sắc các “tiêu chí” trên của tư tưởng thân dân trong quan điểm và các sáng tác văn học Trái chiều lại theo hướng xa dời, thậm chí có quan điểm, cách nhìn coi thường vị thế của người dân, đi ngược lại với các “tiêu chí” của tư tưởng thân dân
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nhìn chung có những hướng nghiên cứu sau liên quan tới đề tài của luận án:
1.2.1 Nghiên cứu tư tưởng thân dân từ góc độ tư tưởng, triết học, lịch sử liên quan tới đề tài
Các tài liệu nghiên cứu tư tưởng thân dân từ góc độ tư tưởng, triết học, lịch sử là yếu tố tiền đề giúp chúng tôi hình dung về diễn tiến của tư tưởng thân dân trong mối quan hệ với văn học Các nhà nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam một mặt chỉ ra rằng “thân dân” là một tư tưởng lớn của thời đại, nó có liên quan chặt chẽ với lịch sử, tư tưởng, văn hóa, triết học, tôn giáo, đặc biệt là Nho giáo, Phật giáo, mặt khác, tư tưởng thân dân còn là tinh hoa trong truyền thống yêu nước, nhân đạo và văn hóa Việt Nam được kết tinh trong sáng tác của nhiều tác gia lớn trong văn học trung đại Việt Nam Có
thể kể tới các tài liệu tiêu biểu sau: Lịch sử tư tưởng Việt Nam (1967 - 1970) của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Thục [186]; Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn
tham chiếu của tác giả Cao Xuân Huy [68]; Tư tưởng Việt Nam thời Trần (2014) của
Trần Thuận [185]; Khái lược lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (2016) của nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Đông, Nguyễn Tài Thư và nhiều tác giả khác [46]; Vấn đề con người
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỉ XV- XVIII của tác giả Nguyễn Bá Cường [29],…
Ngoài những công trình nghiên cứu trên đây, liên quan đến nội dung đề tài luận
án còn có các luận văn, luận án triết học, các bài báo in trên Tạp chí đã được công bố
như Quan niệm về dân và tư tưởng thân dân trong “Luận ngữ”,“Mạnh Tử” của Trần Quang Ánh [3]; Một số nội dung cơ bản của Nho giáo Việt Nam thời Trần [208] của Vũ Văn Vinh; Đặc trưng thời đại Lí Trần [106] của Nguyễn Công Lý (Tạp chí Nghiên cứu Phật học, HN, số 3 - 2000), … Đáng chú ý là trong bài Chữ dân trong di cảo văn
chương của Nguyễn Trãi Phan Quý Bích nhấn mạnh tư tưởng “trọng dân” ở Nguyễn
Trãi: “không phải nhà nho nào cũng được như Nguyễn Trãi - kiên trì với tư tưởng trọng
“dân” đến mức, xem dân là động lực của mọi biến cố xã hội” [10,tr.4] Nhà nghiên cứu
Trang 20Doãn Chính trong bài Về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đã rất chú ý tới tư tưởng
thương dân của ông: “Đối với Nguyễn Trãi “yêu nước là thương dân, để cứu nước phải dựa vào dân, và cứu nước là để cứu dân, đem lại thái bình cho dân, cho mọi người”… Nguyễn Trãi là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nói đến “dân đen con đỏ” một cách tha thiết, cảm động và chân thành” [20,tr.35-36] Tác giả Trần Thị Hương với đề
tài nghiên cứu triết học Tư tưởng thân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đến đầu thế
kỉ XX đã đi sâu phân tích nguồn gốc và nội dung của tư tưởng thân dân trong lịch sử tư
tưởng Việt Nam từ tư tưởng lấy dân làm gốc của Trần Quốc Tuấn; tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi; tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đến tư tưởng thân dân, “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh [70]
Khi nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã chú ý tới sự ảnh hưởng và tác động rất to lớn của Nho giáo, Phật giáo đối với sự hình thành tư tưởng của con người Việt Nam cũng như tư tưởng thân dân Các tài liệu có đóng góp
lớn là: Nho giáo (1930) [81] của Trần Trọng Kim; Nho giáo và văn học Việt Nam trung
cận đại (1998) [71] của Trần Đình Hượu; Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIX) (2007) [14] của tác
giả Nguyễn Thanh Bình; Việt Nam Phật giáo sử luận (1979) [86] của Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh); Ảnh hưởng Phật giáo trong đời sống người Việt (1996) [148] của
Thích Nguyên Tạng,… Các nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim, Trần Đình Hượu đã chỉ ra
sự ảnh hưởng nhiều mặt của Nho giáo đối với văn học Việt Nam Trong phần viết về
Nguyễn Trãi và Nho giáo, tác giả Trần Đình Hượu nhấn mạnh: “không chỉ bàn về hình thức Nho trong tư tưởng Nguyễn Trãi mà bàn về khâu nhà Nho Nguyễn Trãi trong lịch
sử du nhập Nho giáo, trong lịch sử phát triển tư tưởng Việt Nam” [71,tr 77] Tác giả
cũng chỉ ra: “Suốt đời Nguyễn Trãi làm việc với tinh thần nhập thế có trách nhiệm, luôn
luôn để ý đến nhân dân, lo trước điều lo của thiên hạ … Đó là tinh thần vốn có của Nho gia” [71,tr.95] Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh) khi bàn về sự phát triển của Phật giáo
đời Lí, đời Trần nhấn mạnh đến những nhân vật như Trần Nhân Tông (vị tổ thứ nhất của thiền phái Trúc Lâm), sở dĩ được nhân dân ủng hộ và tôn kính cũng là vì vua có tư tưởng thân dân - cố kết được lòng dân, từ đó đem đạo Phật truyền bá đến muôn dân một
cách tự nhiên: “Một ông vua đã từng đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Nguyên, một ông
vua đã đem hòa bình và thịnh trị về cho dân, một ông vua như thế khi đi xuất gia chắc chắn đã gây nên một tiếng vang lớn và khiến tất cả mọi người trong nước hướng nhìn
Trang 21về ngọn núi Yên Tử Đạo Phật trở thành yếu tố tâm lý liên kết toàn dân lại trong mục đích xây dựng và bảo vệ quốc gia.” [86, tr.256] Thích Nguyên Tạng khẳng định rằng
đạo lí Phật giáo tác động tới truyền thống tư tưởng của người Việt Nam: “Đạo lí ảnh
hưởng nhất là giáo lí từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của Phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt” [148, tr35]
Nghiên cứu tư tưởng thân dân từ góc độ lịch sử, chúng tôi chú ý tới cuốn Đại
Việt sử kí toàn thư - bộ sử kí lớn của nước ta thời trung đại mang tinh thần Nho giáo
đậm nét [98] Bức tranh lịch sử cụ thể của các triều đại phong kiến Việt Nam đã được ghi chép tường tận trong các thế kỷ X đến hết thế thế kỷ XV Sự vô giá của bộ sử này ở nhiều khía cạnh, nhưng trong đó chúng tôi quan tâm tới thái độ nhìn nhận thẳng thắn, trung thực, nghiêm khắc của người chép sử đối với những sự kiện lịch sử, những triều đại vua, việc hay làm được cho dân và kể cả phê phán những việc dở dẫn đến sự suy
vong của triều đại ấy Đại Việt sử kí toàn thư cho ta thấy cả những khía cạnh thực tế
chính trị, lịch sử là điều kiện quan trọng để hiểu nội dung tư tưởng thân dân trong các văn bản văn học trung đại Tư tưởng thân dân, lấy dân làm gốc là tư tưởng lớn, trở thành cảm hứng sâu sắc trong tác phẩm văn học nhưng trên phương diện lịch sử xã hội,
nó đối lập với chế độ chuyên chế độc đoán, kể cả tàn bạo của các triều đại phong kiến Việt Nam
1.2.2 Nghiên cứu tư tưởng thân dân trong văn học
1.2.2.1 Nghiên cứu tư tưởng thân dân trong sự phát triển của lịch sử văn học Việt Nam
Những đóng góp vào việc nghiên cứu tư tưởng thân dân trong sự phát triển của lịch sử văn học Việt Nam được thể hiện trong các giáo trình văn học sử của trường Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp (nay là Đại học KHXHNV - ĐH Quốc gia Hà Nội) Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về lịch sử văn học trung đại Việt Nam đều nhấn mạnh tư tưởng thân dân là một truyền thống trong văn học Việt Nam Có thể kể đến các
tài liệu nghiên cứu của tác giả Đinh Gia Khánh trong Hợp tuyển Văn học Việt Nam từ
thế kỉ X - XVII (1962) [73]; Văn học Việt Nam (Thế kỉ X - nửa đầu thế kỉ XVIII) (1978)
[76]; Văn chương Nguyễn Trãi (1984) [126,tr.485] của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên; Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (2003) của Trần Nho Thìn [177] Văn học trung đại Việt Nam, Tập 1, (2011) [175] của Lã Nhâm Thìn; Văn học
trung đại Việt Nam (Thế kỉ X - cuối thế kỉ XIX) (2006) [199] của Đoàn Thị Thu Vân,…
Trang 22Tác giả Đinh Gia Khánh đánh giá về văn học đời Lí đã nhấn mạnh rằng các nhà
nho đời Lí rất chú ý đến trách nhiệm của mình đối với dân “không ngừng trau đức để
yên dân” [73,tr.65] Các nhà vua thời Lí đã nhận thức được mối quan hệ giữa vận mệnh
của nhân dân với vận mệnh của triều đại trong các bài Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn,
Nam quốc sơn hà (khuyết danh), Văn bia chùa Linh Xứng Đến thời Trần, các tác giả
càng nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, sức mạnh của nhân dân đối với cuộc kháng chiến
của dân tộc chống giặc Mông - Nguyên Đặc biệt phải kể đến tư tưởng khoan thư sức
dân được Trần Quốc Tuấn coi như thượng sách giữ nước Đến cuối đời Trần khi triều
đại có biểu hiện suy vi, các tác giả thể hiện niềm đau xót trước tình cảnh khổ cực của người dân như Chu Văn An, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh
Văn học thế kỉ XV tiếp tục thể hiện mạnh mẽ ý thức về vai trò của dân, nói lên hoài bão của người trí thức về dân như Nguyễn Mộng Tuân, Lí Tử Tấn Tiêu biểu nhất
ở thời kì này là Nguyễn Trãi: “Tấm lòng ưu quốc ái dân suốt đời cuồn cuộn như “nước
triều đông” ấy của Nguyễn Trãi quả là đã thể hiện trong sự nghiệp cứu quốc cũng như
sự nghiệp văn học của ông” [73,tr.215] Tác giả Bùi Văn Nguyên đánh giá cao tư tưởng
thân dân của Nguyễn Trãi: “Cái mà Nguyễn Trãi nói: cái “khó và bền của người quân
tử”, cái “mạnh và gắng của kẻ trượng phu” chính là cái chất kiên cường và liêm khiết của người anh hùng biết tự hào và tự trọng, luôn luôn mang nặng lòng lo nước thương dân như thủy triều ngày đêm tuôn ra bể” [126,tr.499]
Vấn đề tư tưởng thân dân nhìn chung đã được các nhà nghiên cứu chú ý nhưng mới đặt ra ở mức độ sơ lược, khái quát vì đó chưa phải là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng thân dân trong văn học Vì vậy, cần có sự tìm hiểu rõ hơn, hệ thống hơn về tư tưởng thân dân ở những tác giả, tác phẩm văn học cụ thể
1.2.3.1 Nghiên cứu về các tác gia văn học, đặc biệt là các tác gia lớn có đề cập đến tư tưởng thân dân
Nghiên cứu về tư tưởng thân dân từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII chúng tôi nhận thấy các công trình, tài liệu nghiên cứu tập trung bàn luận đến các tác gia lớn là Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, …Nhìn chung các ý kiến đều đánh giá cao tư tưởng thân dân của các nhà nho trung đại Việt Nam
Nguyễn Trãi là tác giả tiêu biểu nhất của văn học thế kỷ XV Chúng tôi nhận thấy số lượng công trình, bài viết nghiên cứu về thơ văn của Nguyễn Trãi rất phong phú
Trang 23và đề cập đến nhiều phương diện về cuộc đời, con người, tư tưởng cũng như nghệ thuật thơ văn của ông Thành tựu lớn trong nghiên cứu về Nguyễn Trãi được đánh dấu bằng
công trình Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa dân tộc (1980) do Viện Văn học biên
soạn Các tác giả đã bàn luận về nhiều vấn đề khác nhau nhưng hướng chung là giải
thích thời đại lịch sử tạo nên Nguyễn Trãi và đi sâu vào hai khía cạnh: Nguyễn Trãi -
nhà tư tưởng, và Nguyễn Trãi - nhà văn Điểm gặp gỡ chung của các nhà nghiên cứu là
đều đánh giá cao về giá trị tư tưởng, tình cảm vĩ đại của Nguyễn Trãi, coi ông là biểu tượng của người trí thức dân tộc cũng như tinh hoa văn hóa Việt Trong đó, nguồn gốc
và cơ sở trong tư tưởng của Nguyễn Trãi chính là tư tưởng thân dân Chúng tôi chú ý đến ý kiến đánh giá của Vũ Khiêu, theo ông để làm nên tầm vóc vĩ đại của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi thì một lí do quan trọng là từ sức mạnh của nhân dân:
“Nguyễn Trãi đã suốt đời gắn bó với nhân dân Ở ông, Tổ quốc và nhân dân là một
[…] Nguyễn Trãi vĩ đại không chỉ ở tình cảm sâu sắc của ông đối với nhân dân, mà còn ở chỗ ông nhận thức được sức mạnh to lớn của chính nhân dân” [193,tr.75] Ý kiến
của nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi nêu rõ: “Tóm lại, trong quan niệm của nhà trí
thức Nguyễn Trãi, rõ ràng nhân nghĩa có một nội dung xác định: yêu thương dân chúng; có một mục đích tự thân sáng rõ: vì hạnh phúc của toàn dân mà phấn đấu; và chính nó là một tiêu chuẩn hàng đầu của chủ nghĩa anh hùng” [193,tr.126] Phần
nghiên cứu về thơ văn của Nguyễn Trãi các nhà nghiên cứu đều đánh giá Nguyễn Trãi
là một nhà văn xuất sắc cả về tư tưởng và nghệ thuật trên nhiều loại hình văn học Chúng tôi đánh giá đây là một công trình khoa học công phu gợi mở rất nhiều vấn đề trong quá trình thực hiện luận án
Năm 1996, tác giả Võ Xuân Đàn khi nghiên cứu Tư tưởng Nguyễn Trãi trong
tiến trình lịch sử Việt Nam đã khẳng định: “Nội dung tư tưởng thân dân là nét biểu hiện tập trung trong toàn bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi Nó phản ánh xu thế đang trỗi dậy của quần chúng nhân dân đầu thế kỉ XV, muốn thoát khỏi chế độ điền trang thái ấp để trở thành nông dân tự do… tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi đã phản ánh tính chất quần chúng đông đảo - tính chất cơ bản nhất của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn” [39,128]
Đặc biệt, tác giả Lã Nhâm Thìn trong cuốn “Văn học trung đại Việt Nam”, Nxb
Đại học Sư phạm Hà Nội, ở chương viết về Nguyễn Trãi đã khẳng định Ức Trai là tác
giả đầu tiên nói lên chữ “ơn dân”: “Ông là người đầu tiên xem yếu tố văn hiến, yếu tố
truyền thống lịch sử là hạt nhân cơ bản để xác định dân tộc, là người đưa chữ “dân”
Trang 24vào phạm trù “ái quốc”… Nguyễn Trãi là một trong những tác giả văn học viết đầu tiên nói lên hai tiếng “ơn dân”, mà lại là ơn những người lao động chân lấm tay bùn:
“Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cầy” [175,tr.146]
Một công trình bề thế đáng chú ý nữa về Nguyễn Trãi đó là Nguyễn Trãi về tác
gia và tác phẩm (2000) do Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu, trong cuốn sách,
ta bắt gặp khá nhiều bài viết đề cập đến lòng thương dân yêu nước, nỗi đau đời của
Nguyễn Trãi qua những sáng tác của ông từ Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo đến Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập Đáng chú ý là các bài viết của Đinh Gia Khánh,
Phạm Thế Ngũ, Vũ Khiêu, Trần Văn Giàu, Mai Quốc Liên, Lê Trí Viễn, Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Huệ Chi, Xuân Diệu, Hoài Thanh, Tầm Vũ,… Có thể xem đó là những
cách tiếp cận liên quan đến tư tưởng thân dân Miễn Trai đi vào tìm hiểu “hai cảnh
ngộ, một tâm tình của nhà thơ Nguyễn Trãi” [143,tr.366] Trương Chính khám phá
“những vần thơ nặng suy tư” [143,tr.378] trong Ức Trai thi tập và nhận thấy tấm lòng
vì dân vì nước của Nguyễn Trãi hơn là “chất lửa trong lò” Lê Trí Viễn phát hiện ra
“chất Đại Việt trong Ức Trai thi tập” [143,tr.409] và khẳng định thiên tài Nguyễn Trãi quả phong phú, đúng là “một tâm hồn rộng mở bốn phương nhưng quy về một hướng
dân chủ - hướng yêu nước thương dân, hướng Việt Nam truyền thống Thiết tưởng đó là chỗ vĩ đại của Nguyễn Trãi” [143,tr.424] Nguyễn Huệ Chi xác định chiều sâu “niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trãi” [143,tr.466] Hoài Thanh cảm nhận tấm lòng vì
dân vì nước là điều quý giá nhất của Nguyễn Trãi qua thơ Nôm Đặc biệt Tầm Vu
khẳng định: “Nguyễn Trãi, người đứng đầu một văn phái yêu nước, thân dân, có lí
tưởng xã hội cao cả” [143,tr.786], và cũng chỉ ra mấy điểm sau: Trong văn chương
Nguyễn Trãi người dân chiếm vị trí trọng yếu, Nguyễn Trãi chân thành thân dân và luôn hướng tới xã hội lí tưởng cao quý,… Ngoài ra, Trần Thị Băng Thanh còn tìm hiểu thơ chữ Hán của Ức Trai trong mối quan hệ với thơ chữ Hán đời Trần Nhà nghiên cứu
cho rằng: “Nguyễn Trãi đã tiếp thu nét ưu tư, thương dân, băn khoăn về trách nhiệm
của kẻ sĩ của các nhà thơ cuối Trần mà nổi bật là Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh” [143, tr.425] Từ đó xác định điểm mới trong tư tưởng thân dân ở Nguyễn Trãi
so với các tác giả đời Trần như Trần Minh Tông, Nguyễn Phi Khanh là “thương dân, lo nghĩ phương sách để trị dân yên”, khẳng định vai trò của người dân
Năm 2009, trong Về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi nhà nghiên cứu Doãn
Chính nhấn mạnh tư tưởng thân dân là điểm nổi bật trong tư tưởng nhân nghĩa của
Trang 25Nguyễn Trãi Tác giả viết: “Nguyễn Trãi nhắc đến dân rất nhiều lần trong các tác
phẩm của ông - 155 lần Nguyễn Trãi là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nói đến
“dân đen con đỏ” một cách tha thiết, cảm động và chân thành” [20,tr.36]
Trần Nho Thìn trong bài viết Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi đăng trên Tạp chí Cửa Việt, Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Trị số 261, tháng 6/2016 đánh giá: “Nói
đến nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi, điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là một nhà tư tưởng thân dân vĩ đại […] Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi về bản chất là tư tưởng được phát biểu từ góc độ người dân Nội dung lớn của văn hóa chính trị mà Nguyễn Trãi suốt đời theo đuổi chính là nhân nghĩa […] Không nói thân dân, nhân nghĩa chung chung, sách vở, Nguyễn Trãi dựa vào thực tiễn để đấu tranh ngoại giao với kẻ thù tàn bạo, xảo quyệt” [180, tr.42]
Có thể thấy, nghiên cứu về tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi, nhìn chung các tác giả đều đánh giá cao vị trí và tầm ảnh hưởng lớn lao của Nguyễn Trãi trong nền văn học dân tộc Trên cơ sở tiếp thu nguồn tư liệu của những người đi trước, luận án tập trung làm sáng tỏ hơn tư tưởng thân dân của đại thi hào Nguyễn Trãi kết tinh qua toàn
bộ sự nghiệp văn chính luận và thơ ca của ông
Bên cạnh Nguyễn Trãi, nhà tư tưởng - nhà văn kiệt xuất đầu thế kỷ XV, Lê Thánh Tông cũng là một tác giả nổi bật của văn học nửa cuối thế kỷ XV Các ý kiến của các nhà nghiên cứu đều khẳng định Lê Thánh Tông là một tác giả có tư tưởng thân dân
sâu sắc Mai Xuân Hải (Chủ biên) trong cuốn Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông đánh giá:
“Tư tưởng tiến bộ ấy đã kế thừa được từ tư tưởng “thân dân”, “an dân” của những tác giả tiến bộ lớp trước như Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi,… và đã tiếp thu được ở phần tư tưởng tích cực “dân là gốc nước, gốc vững thì nước mới bền” (dân
vi bang bản, bản cố bang ninh) trong Kinh Thư” [52,tr.22]
Năm 2007, trong “Lê Thánh Tông về tác gia và tác phẩm” (Bùi Duy Tân, Lại
Văn Hùng tuyển chọn và giới thiệu), các tác giả đều đánh giá cao cuộc đời và sự nghiệp
vì nước vì dân của hoàng đế Lê Thánh Tông, đồng thời đề cao tư tưởng thân dân trong
thơ văn chữ Nôm và chữ Hán của ông Nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân trong bài Lê
Thánh Tông - Vị hoàng đế anh minh, nhà văn hóa lỗi lạc, một văn hào dân tộc đánh giả
rất cao tư tưởng thân dân của Lê Thánh Tông: Thân dân không phải là đạo đức hoặc
tình cảm riêng tư của vua tôi Lê Thánh Tông, mà là đường lối chính trị cơ bản của các vương triều phong kiến, trước khi có những thể chế dân chủ hiện đại ra đời Rút kinh
Trang 26nghiệm lịch sử qua các triều đại, đặc biệt là của ông cha, Lê Thánh Tông cho rằng, muốn thuận theo ý trời, giữ vững cơ nghiệp nhà Lê thì phải quan tâm đến lợi ích của nhân dân, phải thi hành chính sách thân dân” [155, tr 48]
Tác giả Nguyễn Duy Quý trong bài “Lê Thánh Tông - Nhà chính trị tài năng và
nhà văn hóa lớn” nhận định rằng Lê Thánh Tông là một vị hoàng đế có chính sách “an
dân” sâu sắc [155] Nguyễn Tài Thư trong bài “Tư tưởng Lê Thánh Tông và triều đại
thịnh trị của ông” nhấn mạnh "Ý thức vì dân đã quán xuyến trong tư tưởng của ông”
[155, tr.257]
Nghiên cứu về tác gia Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta chú ý đến những ý kiến của Đinh
Gia Khánh trong công trình nghiên cứu Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Là một tác giả
lớn của nền văn học nước ta, Nguyễn Bỉnh Khiêm giống như cây đại thụ tỏa bóng lên
cả thế kỉ thứ XVI Tuy không có sự nghiệp kinh bang tế thế như Nguyễn Trãi, nhưng tấm lòng son, lo trước thiên hạ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không bao giờ phai nhạt và xứng đáng với truyền thống tốt đẹp mà bậc tiền bối vĩ đại ấy đã để lại” [75,tr.67]
Năm 2000, trong công trình nghiên cứu “Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác
phẩm”, Trần Thị Băng Thanh - Vũ Thanh (Tuyển chọn và Giới thiệu), chúng tôi chú ý
tới các bài có đề cập đến tư tưởng thân dân của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Sức sống của thơ
ca và tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm của tác giả Vũ Thanh và Trần Thị Băng Thanh [160]; Nguyễn Bỉnh Khiêm và tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi tác giả Bùi Duy Tân [160,
tr.313]; “Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm chống chiến tranh phong kiến” của tác giả Vũ Thanh
[160, tr.379] Đáng nói tới học giả người nước ngoài là Thomas Engelbert nhân 400 năm
ngày mất của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết bài Giúp nước thương dân [160]
Ngoài ra, các bài viết của các tác giả khác như Nguyễn Đổng Chi, Lê Bảo, Lê Trí Viễn,
Lã Nhâm Thìn, N.I Niculin, Đặng Thanh Lê,…dù bàn về khía cạnh khác nhau nhưng điểm chung là đều khẳng định Nguyễn Bỉnh Khiêm và sự nghiệp thơ văn của ông toát lên tấm lòng ưu quốc ái dân vằng vặc
Một công trình nghiên cứu có giá trị nữa về Nguyễn Bỉnh Khiêm là Thơ văn
Nguyễn Bỉnh Khiêm (Tổng tập - 2014) do Trần Thị Băng Thanh và Phạm Ngọc Lan
chủ biên [164] Trong cuốn sách này, các tác giả đều tôn vinh Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thế kỉ XVI Một trong những giá trị xuyên suốt
về tư tưởng và tác phẩm của ông là tình cảm ưu quốc ái dân sâu sắc Sống trong một
hoàn cảnh lịch sử “đầy đau thương và ly tán”, tư tưởng thân dân của Nguyễn Bỉnh
Trang 27Khiêm vừa có những điểm kế thừa vừa có những điểm khác biệt so với Nguyễn Trãi Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những công trình đi trước, luận án của chúng tôi sẽ làm sáng tỏ những biểu hiện cụ thể của tư tưởng thân dân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVI, XVII được tiếp tục đề cập tới tác giả Phùng Khắc Khoan Hội thảo có ý nghĩa khoa học lớn tập hợp nhiều bài viết có giá trị nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 400 năm ngày mất của Phùng Khắc
Khoan là Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan - Cuộc đời và sự nghiệp [129] do Hội Nhà
văn Việt Nam phối hợp với họ Phùng Việt Nam tổ chức Trong cuốn sách này, chúng
tôi tìm hiểu sâu các bài viết: Trạng Bùng Khắc Khoan cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Duy Tân, bài tựa của Hữu Thỉnh, Ông Trạng của Trần Lê Văn, Phùng Khắc Khoan vào
đời và lo đời của Nguyễn Đổng Chi, Phùng Khắc Khoan có tâm huyết xây dựng nền văn hiến của Bùi Văn Nguyên, Đời và thơ Phùng Khắc Khoan trong bối cảnh văn hóa Đại Việt thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII của Nguyễn Hữu Sơn, Tư tưởng Phùng Khắc Khoan của Nguyễn Tài Thư, …
Ngoài ra, nghiên cứu về nội dung tư tưởng thân dân thế kỷ XVI - XVII còn phải
kể tới các công trình nghiên cứu về thơ thời Mạc trong cuốn Tuyển tập thơ, phú thời
Mạc (2016) [184], NXB Khoa học Xã hội; Đặc biệt là sự xuất hiện các bài thơ vịnh sử,
thơ đi sứ, những tác phẩm diễn ca lịch sử (truyện thơ Nôm) như Thiên Nam ngữ lục [116], Thiên Nam minh giám [47] - đó là những sáng tác có ý nghĩa gợi mở cho chúng
tôi trong việc tìm hiểu nội dung vấn đề nghiên cứu
Như vậy, khi đề cập đến tư tưởng thân dân trong văn học tám thế kỉ này, chúng tôi nhận thấy các công trình khoa học đã chú ý đề cập đến tư tưởng thân dân ở một số tác gia tiêu biểu, trong đó đậm nét nhất là tác gia Nguyễn Trãi - một đại diện sáng chói của văn học thế kỉ XV Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này ở tầm bao quát, đầy đủ về tư tưởng thân dân trong suốt hành trình phát triển của văn học trung đại Luận án xác định đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống tư tưởng thân dân,
từ đó nhìn nhận lại những biểu hiện của tư tưởng thân dân trong sự vận động mang tính lịch sử với văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII
Tiểu kết chương 1
Về tổng quan tình hình nghiên cứu, chúng tôi đã cố gắng làm rõ nội hàm của
khái niệm dân và tư tưởng thân dân từ đó thiết lập các tiêu chí cơ bản của tư tưởng thân
Trang 28dân trong văn học Để mô tả tình hình nghiên cứu tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII chúng tôi triển khai theo ba hướng chủ yếu:
nghiên cứu về tư tưởng thân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam; nghiên cứu về tư tưởng thân dân trong sự phát triển của lịch sử văn học Việt Nam; nghiên cứu tư tưởng thân dân
ở các tác gia văn học, đặc biệt là các tác gia lớn của văn học trung đại Việt Nam Nhìn
chung các công trình, tài liệu nghiên cứu đều gặp nhau ở mấy điểm: thứ nhất, trong văn
học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII luôn tồn tại tư tưởng thân dân và
đã đề cập tới vai trò, vị trí của người dân; thứ hai, tư tưởng thân dân liên tục có sự vận
động, phát triển không ngừng trong từng giai đoạn văn học, ở mỗi tác gia văn học lại có những sự thể hiện riêng biệt trong sáng tác của mình theo quy luật vận động, phát triển của đời sống xã hội, lịch sử, văn học và vai trò, vị trí của người dân
Những công trình khảo sát lớn, vừa hay nhỏ đều có ý nghĩa to lớn đối với người nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài Vấn đề mà chúng tôi luôn quan tâm đặt ra là: trong suốt các thế kỷ tồn tại, phát triển của văn học trung đại Việt Nam, tư tưởng thân dân đã phát triển như thế nào? Mỗi tác giả đã thể hiện tư tưởng đó ở mức độ nào trong các sáng tác của mình? Và thực tế giữa tư tưởng, thời đại mà tác giả sống, sự vận dụng tư tưởng thân dân vào thực tiễn có như mong ước và lí tưởng của tác giả?, Rất nhiều những câu hỏi dẫn dắt chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu đề tài luận án này
Trang 29Chương 2 NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC
TỪ THẾ KỶ X ĐẾN HẾT THẾ KỶ XVII
Sự ra đời và phát triển của văn học bao giờ cũng gắn liền với những điều kiện lịch sử - xã hội Tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của những hiện tượng lịch sử - xã hội, tư tưởng, văn hóa, văn học Ở chương này, luận án sẽ đi sâu tìm hiểu cơ sở hình thành tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII
2.1 Tiền đề lịch sử, xã hội của tư tưởng thân dân trong văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII
2.1.1 Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc
Quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta luôn đề cao tư tưởng thân dân,
coi khoan thư sức dân là một quốc sách và thượng sách giữ nước Theo sử cũ và truyền
thuyết, vua Tổ Hùng Vương thứ nhất dựng nước và các vua Hùng nối đời kế nghiệp đã sớm biết chăm dân, dưỡng dân, dạy dân, kéo dài sự hưng thịnh của triều đại mình Ngay khi lập quốc ở Phong Châu (Phú Thọ), các vua Hùng đã biết “đặt chư hầu để làm phên giậu, chia nước làm 15 bộ, ngoài 15 bộ ấy đều có trưởng và tá, các con thứ cứ theo thứ
tự chia nhau” [98,tr.48] để chăm lo đời sống của dân Chính vì biết lưu tâm dưỡng sức dân, Nhà nước Văn Lang thời đại Hùng Vương là một Nhà nước sớm có các thiết chế,
tổ chức xã hội hoàn thiện, đất nước có quy củ, người dân yên hưởng thái bình Vì thế
mà kẻ thù ngoại bang không thể làm gì được trong suốt một thời gian dài Việc chăm dân, giữ dân để dân hết lòng tín phục là một trong những thành công đặc biệt của thời đại Hùng Vương Chính vì thế, nhân dân các dân tộc Việt Nam vẫn đời đời nhớ về công đức của tổ tiên Hàng năm, đến ngày 10 tháng 3 âm lịch, toàn dân hướng về ngày Quốc
lễ - Giỗ Tổ - cúng tế hết sức trọng thể: “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng
mười tháng ba”
Tiếp đến thời Thục An Dương Vương mà tiêu biểu là việc Thục Phán lập nước
Âu Lạc đã mạnh dạn dời kinh đô về đồng bằng, chọn đất Kẻ Chủ thuộc bộ Vũ ninh để định đô (nay thuộc Cổ Loa - Đông Anh, Hà Nội) đây cũng là kinh đô dầu tiên của người Việt tại đồng bằng, kề sát trung tâm Hà Nội ngày nay Việc định đô ở Cổ Loa cũng là dựa vào tâm nguyện và ý chí của nhân dân Chính vì biết dưỡng sức dân, mở đất, chăm dân nên việc định đô ở địa hình bằng phẳng rộng lớn, dựa vào các địa thế sông hồ cũng
Trang 30là biểu hiện trí tuệ của nhân dân là vô hạn mà những người đứng đầu Nhà nước Âu Lạc
đã biết cách sử dụng Thành Cổ Loa trải hơn hai nghìn năm lịch sử hiện vẫn đang là một di chỉ văn hóa lịch sử quan trọng, chứng minh bàn tay lao động tài tình của nhân dân Nhà nước Âu Lạc
Thời Trưng Nữ Vương kéo không dài đã được các nhà nghiên cứu lịch sử phân tích khá thấu đáo nhưng theo chúng tôi, sở dĩ việc lập nước và giữ nước không được lâu bền phần lớn là do kẻ thù quá tàn bạo đã gần như giết sạch người dân mà chúng bắt được, hoặc những người đứng đầu các bộ lạc bấy giờ chưa cố kết được các tầng lớp nhân dân để giành lại nước
Năm 938, lịch sử dân tộc sang trang mới, Ngô Quyền chính thức đặt nền móng cho kỷ nguyên độc lập dân tộc Nhưng lịch sử đã đặt nước Đại Việt độc lập trong tình thế luôn luôn phải đối phó với chiến tranh xâm lược từ phía Bắc và phía Nam Các triều đại phong kiến phương Bắc từ Tống, Nguyên đến Minh không thời nào không nhòm ngó, đe dọa và đã thực hiện nhiều cuộc xâm lược tàn bạo Đại Việt Từ phía Nam, quân Chiêm Thành cũng nhiều lần tấn công vào tận Thăng Long, đốt phá, cướp giết Sức ép đến từ hai phía nhiều khi tưởng như đe dọa sự tồn tại của nước Đại Việt độc lập Bên cạnh đó, phải nói đến tình hình đối nội không kém phần phức tạp: loạn mười hai sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh, các cuộc nổi dậy khá thường xuyên của các thủ lĩnh vùng
Hoan Châu, Ái Châu chống lại chính quyền trung ương Thăng Long mà Đại Việt sử kí
toàn thư chép khá tường tận trong khoảng các thế kỷ X - XV Tình thế đối nội, đối
ngoại đó đặt ra trước không chỉ các ông vua sáng nghiệp, những người kế tục mà cả các quan lại, trí thức vấn đề về đường lối cai trị, tổ chức xã hội, về hình mẫu con người lý tưởng để trước hết là vua chúa, quan lại, nho sĩ, tướng lĩnh noi theo, xứng đáng với vị trí hướng đạo xã hội, nhằm xây dựng một quốc gia hùng mạnh, thống nhất, độc lập Chính hoàn cảnh lịch sử của nước Đại Việt ở các thế kỉ này đã chi phối đời sống tư tưởng của xã hội cũng như cảm hứng chính trị văn hóa, văn học nói chung Những cuộc kháng chiến chống xâm lược, công cuộc xây dựng đất nước và những chủ trương, đường lối, quan niệm về tổ chức, quản lí, lãnh đạo xã hội ở mỗi triều đại phong kiến luôn luôn đặt ra một cách tất yếu và cấp bách
Lịch sử tư tưởng chính trị cổ trung đại lựa chọn đức trị làm nền tảng của văn hóa
chính trị Các trí thức Đại Việt cũng lựa chọn đường lối đức trị cho văn hóa chính trị của nước ta Đức trị là nền chính trị đề cao việc tu dưỡng đạo đức của mỗi cá thể, từ đó
Trang 31mở rộng ra trị quốc, bình thiên hạ Thực tế, khi luận về đức trị, phần lớn các nhà tư
tưởng cổ đại tập trung về đức của người nắm quyền lực cao nhất: đế vương, vua chúa
Trong lịch sử Đại Việt, các triều đại phong kiến Việt Nam được ghi nhận là có tinh thần độc lập dân tộc cao, kiên quyết đấu tranh chống lại sự bành trướng của các thế lực phong kiến phương Bắc Tuyệt đại đa số những vị vua sáng nghiệp được ca ngợi là những người yêu nước, có tài năng và đức độ, có tinh thần thân dân, lấy việc “ái dân trị quốc” làm đầu Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lí Công Uẩn, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông,… đã lãnh đạo đất nước lập nên những chiến công trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc Để đánh thắng giặc xâm lược hùng mạnh phương Bắc, những người lãnh đạo cuộc kháng chiến đã biết dựa vào lực lượng của toàn dân, toàn dân tộc cùng đánh giặc Đất nước có những đấng minh quân sáng suốt, thương dân, quân đội có nguồn gốc từ nhân dân, chiến đấu vì dân tộc, cho nên đi đâu cũng được nhân dân ủng hộ Lê Đại Hành, Lí Thường Kiệt đánh tan quân Tống Nhà Trần tạo nên những kì tích trong công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc Vua tôi nhà Trần đồng tâm nhất trí đã ba lần đánh tan quân xâm lược Mông - Nguyên Nhờ các bậc minh quân đến tướng lĩnh đời Trần đều có tư tưởng thân dân sâu sắc, đề cao vai trò của người dân trong cuộc đấu tranh chống xâm lược nên Đại Việt đã giành được thắng lợi oanh liệt, hào hùng Những sự kiện lịch sử như Bình Than bàn việc đánh giữ những nơi hiểm yếu năm 1282 và Hội nghị Diên Hồng cùng bàn kế sách đánh giặc năm 1284 đã chứng tỏ các vị vua rất coi trọng người dân, lắng nghe ý kiến muôn dân Đó là biểu hiện của tư tưởng thân dân, coi dân là gốc, là nền tảng của đất
nước Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn từng nói: “Chim hồng hộc bay cao được
là nhờ ở sáu cái trụ lông cánh, nếu không có sáu cái trụ lông cánh ấy thì cũng chỉ như chim thường thôi” [97, tr.304] Với cách nói hình ảnh, Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra mối
quan hệ khăng khít giữa giữa chủ tướng với quân sĩ, giữa nhân kiệt và nhân dân Đó chính là sức mạnh của chiến tranh giữ nước
Trong công cuộc xây dựng chính quyền ở giai đoạn chế độ phong kiến đang lên,
về cơ bản giai cấp phong kiến vẫn là lực lượng tiến bộ, giữ vai trò tích cực đối với lịch
sử, biết dựa vào sức mạnh của nhân dân, phát huy truyền thống yêu nước để xây dựng
và bảo vệ quốc gia, dân tộc Các triều đại phong kiến đã thực hiện chính sách “khoan dân, “thân dân”, quan tâm tới ý dân, lòng dân, đề cao vai trò, sức mạnh của người dân
Trang 32Tinh thần thân dân được thể hiện đậm nét trên nhiều phương diện của đời sống xã hội
Ý dân, lòng dân là căn cứ cũng là mục đích cho những chủ trương, kế hoạch lớn như việc thay đổi vương triều, việc dời đô, kế vị, việc bàn kế sách đánh giặc hay phát động chiến tranh của các triều đại Bảy thế kỉ từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII là chặng đường chế
độ phong kiến xây dựng, phát triển theo tiến trình từng bước đi tới thịnh vượng Người khởi dựng triều Lí là Lí Công Uẩn (974 - 1028) Vì có chí lớn khác thường lại rất nhân
ái nên ông được các quan trong triều và dân chúng đồng lòng tôn lên ngôi hoàng đế Dù
ở đỉnh cao quyền lực, vua Lí Thái Tổ vẫn luôn quan tâm đến lợi ích lâu dài của đất nước và nhân dân Điều đó được thể hiện trước tiên ở quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La Việc dời đô không chỉ nói lên khát vọng phát triển đất nước hùng mạnh, bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn xa trông rộng mà còn khẳng định tấm lòng thương dân của nhà vua
Các trí thức chân chính thời phong kiến (như thiền sư, nho gia) là những người yêu nước, thân dân Từ sử sách đọc được, từ thực tiễn cuộc sống phong phú đã trải nghiệm, họ nhận thức được vai trò lịch sử to lớn của dân, họ hiểu được những đau khổ, mất mát của người dân dưới ách chuyên chế độc đoán của chế độ phong kiến, họ cũng biết các mặt trái của chế độ quân chủ chuyên chế này Nhưng trong hoàn cảnh văn hóa chính trị nói trên, họ phải tìm cách khéo léo diễn đạt, biểu hiện được tư tưởng thân dân,
để ngăn chặn, kìm hãm bớt sự chuyên quyền độc đoán của đấng quân vương, làm sao
để có lợi cho dân mà mình cũng được đảm bảo sự an toàn cho bản thân Chúng ta chứng kiến nhiều trường hợp nho sĩ trí thức đã can gián vua chúa nhưng không được chấp nhận, có khi còn bị tai vạ vì lời can gián thẳng thắn của mình
Như vậy, tìm hiểu lịch sử - xã hội thời trung đại chính là một nền tảng quan trọng để tìm hiểu tư tưởng thân dân trong văn học Bởi lẽ, qua bức tranh lịch sử, xã hội của thời đại ta thấy được các khía cạnh đa dạng trong đời sống của nhân dân Cảm hứng, tư tưởng trong văn học cũng không nằm ngoài quy luật đó
2.1.2 Chế độ giáo dục, khoa cử
Thế kỷ X - XIV là giai đoạn đầu xây dựng Nhà nước phong kiến Việt Nam Các
vị vua của cả triều Lý và triều Trần đều chú trọng đến giáo dục và tổ chức các cuộc thi
để tuyển chọn người tài giúp dân, giúp nước Tuy nhiên, giáo dục và khoa cử thời Trần phát triển hơn nhiều so với thời Lí Đầu thời Trần, Phật giáo rất thịnh hành Sau đó, Nho giáo ngày càng được đề cao Triều đình quy định rõ ràng cần học theo các cuốn
Trang 33sách Ngũ kinh, Tứ thư, Bắc sử Triều đình đã mở rộng Quốc tử giám để đào tạo con em
quý tộc, quan lại Tại các lộ, phủ, kinh thành đều có các trường công Hơn nữa, việc học còn được mở rộng đến người dân, con em thứ dân nếu có tài năng cũng được theo học,
đỗ đạt sẽ được bổ nhiệm làm quan Các kì thi được tổ chức đều đặn để tuyển chọn nhân tài giúp nước, giúp dân Năm 1232, khoa thi đầu tiên của triều đình được tổ chức Kể từ
đó, cứ bảy năm, nhà nước lại mở một khoa thi tiến sĩ Những người đỗ đạt cao trong các
kì thi này được triều đình bổ nhiệm giữ các chức quan ở viện Hàn lâm, cơ quan hành khiển Họ là những nhân tố quan trọng đảm nhận việc đi sứ phương Bắc Có thể kể đến những tên tuổi rất nổi tiếng như Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh…
Sang thế kỷ XV, Nho giáo thịnh trị thì triều đình nhà Lê càng chú trọng đến giáo dục, thi cử, khuyến khích nhân tài ra giúp nước Ngay năm 1427, giặc chưa tan, Lê Lợi
đã mở kỳ thi ở doanh Bổ Đề Đất nước giải phóng, hòa bình lập lại, nhà nước lập Quốc
tử giám ở kinh đô, mở các trường học ở phủ, lộ Thành phần học trong Quốc tử giám được mở rộng Điều này cho thấy việc sử dụng nhân tài không câu nệ vào đẳng cấp và hướng đến cả người dân Lê Thánh Tông ngoài việc mở rộng Quốc tử giám (nhà Thái học), năm 1467 còn đặt chức bác sĩ dạy Ngũ kinh, in sách Ngũ kinh làm tài liệu học tập Việc thi cử dần dần theo nền nếp nhất định Triều đình đặt nhiều hình thức khuyến khích việc học: từ năm 1439 có lệ xướng danh, treo bảng, ban mũ áo, cấp ngựa, ăn yến, vinh quy bái tổ; từ năm 1442 có lệ khắc bia tiến sĩ,… Giáo dục phát triển có ảnh hưởng tích cực tới văn hóa, văn học Những trí thức lớn đồng thời là những tác giả văn học tiêu biểu của thời kỳ này là Nguyễn Trãi, Lí Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Nguyễn Thiên Tích, Chu Tam Tỉnh, Phan Phu Tiên, Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn
Thế kỷ XVI - XVII, tuy chế độ phong kiến trên đà suy thoái nhưng việc học, việc thi vẫn được các tập đoàn phong kiến coi trọng Nhà Mạc ngay sau khi xây dựng triều chính, nhanh chóng tổ chức thi cử để chọn nhân tài Từ năm 1527 đến năm 1592, nhà Mạc đã mở 22 khoa thi Hội, lấy đỗ 468 Tiến sĩ và 11 Trạng nguyên Nho giáo vẫn được đề cao, tầng lớp nho sĩ, những người vốn đắc lực cho Nhà nước phong kiến vẫn được trọng dụng Nhưng do sự biến động của thời cuộc, sự tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến dẫn dến tầng lớp nho sĩ bị phân hóa, xuất hiện tầng lớp nho sĩ không tham gia triều chính mà về làng quê ẩn thân Nếu thời Lê sơ có Hội tao đàn với nhị thập bát tú, những văn nhân tinh tú đương thời, thì trong giai đoạn triều Mạc cũng
Trang 34nổi lêm một số văn nhân danh tiếng như Nguyễn Giản Thanh (1498 - ?), Bùi Vịnh (1498 - 1545), Nguyễn Hàng (1488 - ?), Hoàng Sĩ Khải (? - ?),… Tiêu biểu hơn cả là Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), một nhà văn hóa, một nhà thơ lớn, không chỉ của văn học thời Mạc mà là của văn học trung đại Việt Nam Họ sống gần dân, hiểu dân và thương yêu nhân dân Những hiện tượng nổi bật của xu hướng này là Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Phùng Khắc Khoan,…
2.2 Tiền đề tư tưởng, văn hóa của tư tưởng thân dân trong văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII
2.2.1 Tín ngưỡng bản địa và văn hóa dân gian
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp lúa nước và có nền văn hóa bản địa phong phú, đa dạng mà phần lớn được hình thành từ trong đời sống, sinh hoạt của nhân dân lao động, cho nên không thể không quan tâm đến văn hóa dân gian nói chung cũng như tín ngưỡng dân gian nói riêng vốn là tài sản của họ được lưu truyền và gìn giữ từ nhiều thế hệ, bên cạnh hình thái văn hóa do nhà nước xây dựng các thiết chế, ban hành
cơ chế quản lý và lưu hành Vì vậy, tín ngưỡng dân gian là hình thức tín ngưỡng quan trọng, phổ biến trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta bao đời nay, và thậm chí nó thường xuyên được các nhà nước phong kiến Việt Nam coi trọng, công nhận Nền văn hóa cổ truyền dân tộc và tín ngưỡng dân gian chính là nguồn sức mạnh
to lớn, là cơ sở để người Việt cổ chống lại sự “Hán hóa” suốt một ngàn năm Bắc thuộc của phong kiến Trung Hoa Những hình thức tín ngưỡng sinh hoạt tâm linh mang màu sắc bản địa, luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của đại bộ phận
cư dân Việt Với đa số người Việt, gia đình dòng họ là quan trọng nhất, nên tín ngưỡng thờ kính tổ tiên có thể coi như là "quốc đạo" Nói chung những thao tác cầu cúng, với các nghi thức trang trọng phong phú, đa dạng luôn hiện diện thường xuyên ở mọi thành phần dân tộc khác nhau trên đất nước Tục thờ thần, thờ thánh thể hiện tính chất tín ngưỡng đa thần đã có từ xa xưa Trong lịch sử, ông cha ta đã bảo lưu rất nhiều hình thái tín ngưỡng tôn giáo khác nhau như tín ngưỡng vạn vật hữu linh, các tín ngưỡng thờ sinh thực khí, tín ngưỡng thờ động vật, thờ nhân thần - các nhân vật được thờ phụng thường
là các anh hùng có công với nước, giúp dân khai hoang lập ấp hay dựng nghề khởi nghiệp (thờ vua Hùng, thờ Thành hoàng làng), đạo thờ Thánh Mẫu hay còn gọi tín ngưỡng Tam Phủ (ba bà mẫu ở ba vùng chăm sóc cho dân ở nơi đó), Tứ Phủ (mây, mưa, sấm, chớp) Đây là một tín ngưỡng thuần Việt vô cùng đặc sắc, mang một tín lý
Trang 35tinh tế giản dị, sâu sắc, dung hòa Phật giáo Ấn Độ, Đạo giáo Trung Hoa vào tục thờ thần thánh đậm đà bản địa "Tháng tám giỗ cha” (hình ảnh thiêng hóa từ vị anh hùng lỗi lạc Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn), “tháng ba giỗ mẹ” (bà Chúa Liễu Hạnh, Thánh Mẫu của người Việt) Các tín ngưỡng tôn giáo thuần chất bản địa là kết tinh đặc sắc của tâm thế Việt Không phải ngẫu nhiên mà vào ngày 1-12-2016, UNESCO đã tự hào chính thức công nhận "Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" là
di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Cùng với nghi thức cúng lễ bản địa, cũng có rất nhiều nghi lễ tôn giáo ảnh hưởng từ bên ngoài, đặc biệt là từ nền văn minh sông Hằng, sông Dương Tử và còn có thêm Thiên Chúa giáo tới từ Tây phương, bởi bản chất của người Việt vốn khoan hòa cởi mở Có điều, hầu hết những nghi lễ này đã được Việt hóa sâu sắc, tinh tế
Cùng với tín ngưỡng văn hóa bản địa, những cơ sở tư tưởng cũng đã sớm xuất hiện từ thời dựng nước: yêu nước và thương người hay tư tưởng yêu nước, tư tưởng nhân văn, nhân đạo Những truyện lưu truyền trong dân gian về các vị thành hoàng, về
nhân tài đất Việt; các truyền thuyết Lạc long Quân - Âu Cơ, Thánh Gióng, Tản Viên, An
Dương Vương,…; các truyện cổ tích Trầu cau, Bánh chưng bánh giầy, Dưa hấu, Sọ Dừa… chính là những bằng chứng sắc nét thể hiện sức mạnh vai trò sáng tạo của nhân
dân Những đặc điểm về văn hóa tín ngưỡng dân gian đó phát triển dần lên qua các chặng đường lịch sử nhiều thế kỉ Nó tồn tại với nhân dân trong khuôn khổ cộng đồng nông thôn và nhân dân là người giữ gìn lưu truyền thành truyền thống dân tộc Nó tiếp thu các yếu tố ngoại lai để phát triển Các nhà trí thức phong kiến tuy học theo các hệ tư tưởng nước ngoài, nhưng những người ưu tú đều giữ vững truyền thống dân tộc, và dựa trên cơ sở đó mà tiếp thu ở những hệ tư tưởng ngoại lai những gì có thể bồi bổ cho truyền thống và có ích cho đời sống dân tộc
Thế kỷ X - XIV, bốn thế kỉ đầu đất nước độc lập, bước vào giai đoạn phục hưng
về mọi mặt Văn hóa dân tộc có điều kiện phát triển mạnh mẽ Triều đình có nhiều cố gắng khôi phục phong tục, tập quán, tín ngưỡng dân gian và phát triển những giá trị vốn
có của văn hóa dân tộc Hàng năm, nhà nước tổ chức những ngày lễ dâng hương cho các anh hùng dân tộc, kết hợp những lễ hội dân gian với các sinh hoạt văn hóa khác như: ca hát, đua thuyền, đánh vật, ném còn, đá cầu, mứa rối nước,… Nhà Lí và Trần đã xây dựng được một đời sống văn hoá, tinh thần giản dị, cởi mở và lành mạnh Giữa vua
và các tướng lĩnh, giữa nhân dân và triều đình chưa có sự cách biệt đáng kể Từ thế kỉ X
Trang 36đến thế kỷ XIV, các vương triều đã cho xây dựng nhiều công trình văn hóa nổi tiếng, trong đó có “An nam tứ đại khí” từng được Trung Quốc ca ngợi: tháp Báo Thiên, Phật Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh Lăng mộ nhà Trần ở Thái Đường (Thái Bình) cũng là một công trình kiến trúc có giá trị Những di tích văn vật còn lại cho phép khẳng định rằng nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc trong các công trình của Nhà nước đời Lí, đời Trần đã tiếp thu những truyền thống nghệ thuật dân gian và tận dụng khả năng, đặc điểm của vật liệu có sẵn trong nước Việc tiếp thu những truyền thống của văn hóa dân gian để xây dựng văn hóa chính thống của Nhà nước Đại Việt là một hiện tượng có tính tất yếu lịch sử, thể hiện bản sắc và bản lĩnh của nhân dân
Đến thế kỉ XV, giặc Minh xâm lược nước ta, chúng thực hiện chính sách đồng hóa và ngu dân với phương châm đốt sạch, phá sạch Giặc Minh đã tàn phá một cách khốc liệt nền văn hóa Đại Việt Nhưng nền văn hóa nước nhà vẫn quật khởi vùng lên với một sức sống mãnh liệt đó là nhờ nhân dân không ngừng sáng tạo, lưu truyền, phát
triển Nguyễn Trãi khẳng định trong Bình Ngô đại cáo: “Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” Nhà Lê khi giành được độc lập đã bắt tay ngay vào việc bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc, như bảo vệ thuần phong mĩ tục, thu thập văn hóa dân gian,… Trong khí thế đi lên của Đại Việt, nhà Lê đã đưa chế độ phong kiến tới giai đoạn cực thịnh mà đỉnh cao là triều đại Lê Thánh Tông ở nửa sau thế kỷ XV Bước sang thế kỷ XVI và cả thế kỷ XVII, khi chế độ phong kiến khủng hoảng thì nền văn hóa dân gian càng có điều kiện phát triển Các loại hình sân khấu múa rối, chèo, tuồng hầu như được cả vua quan và nhân dân ưa chuộng và được mở ở khắp nơi
Từ các nhân tố của văn hóa, tín ngưỡng dân gian truyền thống và sức sống nội tại của tinh thần dân tộc đã tạo nên nét riêng trong đạo lí làm người của người Việt Từ
xa xưa, trong kho tàng văn học dân gian , nhân dân lao động vừa là tập thể sáng tác văn học vừa là “nhân vật” trung tâm của đời sống xã hội Truyền thống của người Việt Nam bao đời nay luôn coi trọng con người Họ đề cao lối sống thủy chung, tình nghĩa; đề cao tinh thần đoàn kết, yêu thương gắn bó giữa gia đình, làng xóm với cộng đồng, xã hội, dân tộc,… Những quan niệm đó được diễn tả súc tích qua nhiều câu thành ngữ, tục ngữ,
ca dao: “Thương người như thể thương thân”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Một mặt
người hơn mười mặt của”, “Bẻ đũa chẳng bẻ được cả nắm”, “Cả bè hơn cây nứa”,
“Chết cả đống còn hơn sống một người”, “Dựng nhà cần nhiều người, đánh giặc cần nhiều sức”, “Chung lưng đấu cật”, “Khi đói cùng chung một dạ, khi chết cùng chung
Trang 37một lòng”, “Tướng chuộng nhiều quân, dân chuộng nhiều người”, “Bầu ơi thương lấy
bí cùng//Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương//Người trong một nước phải thương nhau cùng”, “Dân ta nhớ một chữ đồng//Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”, “Một cây làm chẳng nên non//Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”,…
Thấm sâu trong tình cảm, huyết mạch của mỗi người Việt Nam là nền tảng gia
đình: Hiếu đạo với đấng sinh thành: “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước
trong nguồn chảy ra”; coi trọng tình anh em ruột thịt: “Anh em như thể tay chân”, “Máu chảy ruột mềm”, “Một giọt máu đào hơn áo nước lã”; tình nghĩa vợ chồng thủy chung
son sắt “đầu gối, tay ấp”, “tình sâu nghĩa nặng”: “Tay nâng chén muối đĩa gừng//Gừng
cay muối mặn xin đừng quên nhau” Mở rộng hơn là tình làng xóm láng giềng, “chín bỏ làm mười”, “nhường cơm, xẻ áo”, “lá lành đùm lá rách”, “tối lửa, tắt đèn có nhau” và
bao trùm hơn cả là tình yêu thương đồng bào “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong
một nước phải thương nhau cùng”… Người Việt Nam quý trọng tình nghĩa hơn của cải
vật chất:“Người sống, đống vảng” hay“Cầm vàng mà lội qua sông//Vàng rơi không tiếc,
tiếc công cầm vàng” Họ ghét lối sống bạc tình, bạc nghĩa, theo kiểu “ăn cháo, đá bát”
Quan điểm này thể hiện cả trong mối quan hệ với người thân: “Người dưng có ngãi
(nghĩa) thì đãi người dưng, anh em vô ngãi thì dừng anh em”
Không chỉ biểu hiện trong đời sống hàng ngày, tình yêu thương, sự khoan dung,
độ lượng với con người của dân tộc Việt Nam còn được nâng lên thành những chuẩn tắc trong các bộ luật của Nhà nước; đồng thời là cơ sở của tinh thần yêu chuộng hoà bình và tình hữu nghị với các dân tộc trên thế giới Trong lịch sử, nhân dân ta luôn đề cao và coi trọng việc giữ tình hoà hiếu với các nước, tận dụng mọi cơ hội có thể để giải quyết hoà bình các xung đột, cho dù nguyên nhân từ phía kẻ thù “Đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại” Ý thức đầu tiên về sự cố kết cộng đồng của người Việt
Nam đã được dân gian, thần thánh hóa bằng thiên truyền thuyết đẹp với hình ảnh “bọc
trăm trứng” để lý giải cộng đồng cùng chung nguồn cội con cháu Rồng Tiên - truyền
thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ Truyền thuyết Thánh Gióng là một trong những câu
chuyện mà bao thế hệ người Việt đều đã nghe qua ít nhất một lần trong đời Đây là tác phẩm văn học dân gian đầu tiên về công cuộc giữ nước chống ngoại xâm Truyện
Thánh Gióng là sự đan xen chặt chẽ giữa các yếu tố thần thoại, truyền thuyết dân gian,
lịch sử dân tộc, được nhân dân xây dựng thành một câu chuyện huyền thoại nhằm gửi
Trang 38gắm những khao khát, lý tưởng, giá trị yêu nước như một bài học lưu truyền cho đời sau Trong tâm thức dân gian, Thánh Gióng là một trong bốn hình tượng tứ bất tử của Việt Nam, được suy tôn như biểu tượng của sự trường tồn, bất diệt của dân tộc, đất nước từ thuở xa xưa cho tới ngày nay
Truyền thống “thương người như thể thương thân” của người Việt Nam còn có
nguồn gốc sâu xa từ trong xã hội công xã nông thôn thời kì nguyên thuỷ, buổi đầu dựng nước Chúng ta đều biết, dân tộc Việt Nam có lịch sử nhiều ngàn năm, có nhà nước Văn Lang tồn tại lâu dài Trong thời gian dài như vậy, dân tộc ta đã hình thành nền văn hoá mang bản sắc riêng của mình, trong đó, lòng yêu thương con người là một tình cảm đạo đức lớn, có nét đẹp riêng, như là một giá trị văn hoá rất cơ bản trong hệ giá trị của người Việt Nam Mặt khác, do những điều kiện lịch sử riêng khiến vận mệnh dân tộc và
vận mệnh nhân dân, nước và dân là những nhân tố luôn gắn chặt với nhau Dân có vai
trò dựng nước, giữ nước thắng lợi, ngược lại nếu không có dân thì nước suy, nước mất
Dân là công dân trong quan hệ dân nước, dân còn là con người trong quan hệ dân -
cộng đồng người Do đó mà có công thức: Nước - dân - người - nhất thể, có tư tưởng
yêu nước, thương dân, thương người hay yêu nước, nhân đạo, nhân văn
2.2.2 Nho giáo và tư tưởng thân dân
Nho giáo là một học thuyết triết học, chính trị - xã hội, đạo đức lớn nhất ở Trung Quốc và phương Đông thời cổ đại Trong nội dung của Nho giáo, chứa đựng nhiều học thuyết, nhiều tư tưởng, đề cập đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của đời sống xã hội và con người, trong đó có tư tưởng về dân Theo nhiều tài liệu từ nguồn sử học, văn học và các công trình nghiên cứu khác, Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc thông qua việc xác lập bộ máy xâm lược, cai trị và thông qua quá trình xâm lược và thực hiện chính sách Hán hóa của nhiều vương triều phong kiến phương Bắc ở nước ta Từ chỗ là công cụ xâm lược, nô dịch của ngoại xâm, theo thời gian và yêu cầu phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, giai cấp phong kiến Việt Nam đã chủ động tiếp nhận Nho giáo và
sử dụng nó thành công cụ của chính mình trong việc xây dựng, củng cố và phát triển chế
độ phong kiến, trong việc xây dựng, phát triển đất nước về mọi mặt, trong việc giữ nước
và bảo vệ chủ quyền đất nước
Những nhận thức, tư tưởng, quan điểm của Nho giáo Khổng - Mạnh về dân và
vai trò, vị trí của người dân như “Dân vi bang bản”, “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân
vi khinh”,… cho ta thấy có nhiều yếu tố hợp lí, tiến bộ mà chúng ta không thể phủ nhận
Trang 39và hơn thế, cần phải tiếp thu, kế thừa Tất nhiên, cũng trong nội dung của tư tưởng ấy, cần thiết thấy một số điểm hạn chế của Nho giáo
Từ thế kỉ XI trở đi, các vương triều phong kiến Việt Nam ý thức được vai trò của
Nho giáo trong quản lí và xây dựng đất nước Nho giáo với quan niệm “Thiên mệnh”,
“Thiên tư” quan niệm rằng, dưới vòm trời (thiên hạ), đâu cũng là đất của vua, đâu cũng
là thần dân của vua Cùng với đó là quan niệm về “nhân chính”, “đức trị” - một hệ
thống luân thường đạo lí gồm những chuẩn mực, giá trị ràng buộc con người vào gia đình, xã hội, vào vua và triều đại… thực sự là một công cụ sắc bén cho việc bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, đồng thời cũng tạo điều kiện cho sự thống nhất và cố kết dân tộc Hơn thế, Nho giáo với lí luận, học thuật còn góp phần nâng cao tư duy, làm phong phú đời sống học thuật và đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc trong thời đại
ấy
Dưới thời Lí - Trần, dù Nho giáo được Nhà nước phong kiến sử dụng như một thành tố của hệ tư tưởng Nho - Phật - Lão, nhưng theo thời gian, xu hướng Nho giáo ngày càng có vị trí và vai trò lớn hơn, nhiều hơn trong đời sống tinh thần, tư tưởng của người Việt Ảnh hưởng tư tưởng về dân của Nho giáo thể hiện khá cụ thể trong đường lối cai trị, quản lí xã hội, pháp luật và việc thực hiện những chủ trương chính trị lớn của đất nước như việc dời đô, kế vị ngôi báu, phát động kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước Các nhà tư tưởng thời Lí
- Trần đã tiếp thu những yếu tố tích cực, tiến bộ, đậm tính nhân văn của Nho giáo và vận dụng một cách cụ thể vào hoàn cảnh thực tiễn của đất nước, phù hợp với truyền thống tình cảm, tâm hồn của người Việt
Đến thời Lê Sơ (từ năm 1428 đến năm 1527), sau khi giành được độc lập dân tộc
và thiết lập triều Lê, nhằm phát triển bộ máy Nhà nước phong kiến tập quyền hùng mạnh, trong nhiều biện pháp mà nhà Lê đưa ra để đạt mục đích trên đây, thì Nho giáo được đưa lên địa vị “độc tôn” trong lĩnh vực hệ tư tưởng So với thời Lí - Trần, Nho giáo đã có sự phát triển mạnh mẽ về vị trí và vai trò của nó đối với xã hội và chế độ phong kiến Việt Nam Các vị quân vương triều đại Lê Sơ, các nhà Nho, nhà tư tưởng Việt Nam đã sử dụng Nho giáo để phục vụ các nhiệm vụ chính trị của mình như xây dựng và phát triển bộ máy Nhà nước, kiến lập và thực thi pháp luật, giáo dục - khoa cử, xây dựng và phát triển đất nước,… Việc phát huy những yếu tố khả thủ của Nho giáo như tư tưởng thân dân, chủ trương nhập thế, nêu cao phẩm chất, khí tiết trong sạch của
Trang 40kẻ sĩ,…đã khiến cho tư tưởng Nho học thời kỳ này đạt tới mức cực thịnh Tư tưởng về dân trong thời kỳ này đã kết tinh thành những hiện tượng tiêu biểu nhất, rực rỡ nhất của truyền thống tư tưởng, văn hóa, văn học Việt Nam thời trung đại
Sang thế kỉ XVI, với biểu hiện khủng hoảng của chế độ phong kiến, Nho giáo nói riêng và tình hình tư tưởng, văn hóa trong các thế kỉ XVI, XVII có những chuyển biến rõ rệt và sâu sắc Nho giáo vẫn được đề cao và được các tập đoàn phong kiến sử dụng để củng cố trật tự phong kiến, ràng buộc kiềm chế hành vi, tình cảm và lý trí con người Các tập đoàn phong kiến có ý thức dùng khoa cử để tranh thủ nho sĩ khi ấy vẫn là tầng lớp đông đảo và có uy tín trong xã hội Nhưng do sự suy yếu của chế độ phong kiến, việc học hành thi cử cũng như nho phong sĩ khí ngày càng đồi bại xuống cấp Đạo đức và trật tự phong kiến bị phá vỡ ngay từ trong hàng ngũ nho sĩ quan liêu Triều thần lấn át vua, triều thần cướp ngôi vua, anh em nhà vua, nhà chúa bức hại lẫn nhau Bên cạnh vương triều nhà Lê “hữu danh vô thực”, phủ chúa nắm hết thực quyền, tự tiện phế lập ngôi vua Tình hình chính sự ấy khiến người dân rơi vào cảnh chiến tranh loạn lạc, ly tán Sự ảnh hưởng của Nho giáo tất yếu làm cho tư tưởng thân dân trong văn học thời kỳ này có màu sắc khác với thời Lí - Trần
2.2.3 Phật giáo và tư tưởng thân dân
Nói đến ảnh hưởng của tôn giáo tới tư tưởng thân dân, không thể không bàn đến
Phật giáo Đạo Phật chủ trương bình đẳng, từ bi, bác ái Từ bi, bác ái của Phật làm cho
lòng thương dân, thương người phong phú, tốt đẹp hơn Những tư tưởng và hạt nhân tích cực của giáo lí Phật giáo được người Việt Nam tiếp thu và truyền bá một cách rộng rãi trong đời sống xã hội Phật giáo chính là một tiền đề tôn giáo quan trọng của tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam trong nhiều thế kỉ
Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV là thời kì phát triển của Phật giáo Việt Nam, qua các vương triều phong kiến như triều Đinh (968 - 980), Tiền Lê (980 - 1009), Lí (1009 - 1225), Trần (1226 - 1400),… Đạo Phật được sự nâng đỡ của chính quyền phong kiến, đã trở thành trụ cột tinh thần của bộ phận phong kiến thống trị Lúc đó “Đế và Tăng cùng cai trị thiên hạ”, không ít tăng nhân đã ra vào trong cung đình, trực tiếp tham gia triều chính, nắm giữ quân quyền, chế định pháp lệnh, hưởng các loại đặc quyền Suốt thời Lí cho đến đầu thời Trần, Phật giáo chiếm địa vị quốc giáo nên có ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống chính trị, văn hóa Sự ảnh hưởng của Phật giáo lan toả đến mọi tầng lớp nhân dân, mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Nó không xa rời mà gắn liền với thực tiễn Các nhà sư